Hiện nay, các cơ hội để sản phẩm lâm sản của Việt Nam bước vào thị trường toàn cầu đang rộng mở, tuy nhiên, ngành cũng đối mặt với rất nhiều thách thức từ thị trường nội địa và quốc tế..
Trang 1I, Đặt vấn đề
Việt Nam được đánh giá là một đất nước trẻ Kinh tế Việt Nam đang trên đà tăng trưởng và phát triển mạnh mẽ, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng Một bộ phận của nền kinh tế, kinh tế lâm nghiệp cũng đang cũng đang vươn mình lớn lên hoà chung với sự phát triển của đất nước Lâm nghiệp là một ngành sản xuất vật chất đặc biệt, sản phẩm lâm nghiệp có tác dụng nhiều mặt trong nền kinh
tế quốc dân và trong đời sống xã hội Trong Luật bảo vệ và phát triển rừng có ghi
“Rừng là tài nguyên quý báu của đất nước, có khả năng tái tạo là bộ phận quan trọng của môi trường sinh thái, có giá trị to lớn đối với nền kinh tế quốc dân, gắn liền đời sống của nhân dân với sự sống còn của các dân tộc”
Trong vòng 6 năm (từ năm 2003 đến năm 2008), lâm nghiệp ở Việt Nam tăng trưởng với tốc độ bình quân 30%/năm và sản xuất lượng sản phẩm chất lượng cao cho xuất khẩu Đặc biệt tốc độ tăng trưởng rất cao sau khi Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa để trở thành thành viên đầy đủ của WTO Hiện nay, các cơ hội
để sản phẩm lâm sản của Việt Nam bước vào thị trường toàn cầu đang rộng mở, tuy nhiên, ngành cũng đối mặt với rất nhiều thách thức từ thị trường nội địa và quốc tế Mặc dù thị trường lâm sản hoạt động sôi động song vẫn còn nhiều thách thức và khó khăn nên đòi hỏi cần có sự đánh giá đầy đủ nhằm duy trì mức tăng trưởng của ngành lâm nghiệp Việt Nam
Tìm hiểu thực trạng của thị trường xuất khẩu lâm sản Việt Nam trong 5 năm
2003 -2008 sẽ giúp ta có cái nhìn sâu sắc hơn về tình hình phát triến kinh tế lâm nghiệp Việt Nam, giúp ta chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu, nguyên nhân, cơ hội, thách thức của thị trường này Từ đó đề ra những giải pháp để xây dựng một thị trường xuát khẩu lâm sản linh hoạt, vững manh Đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế xã hội trong thời kì CNH-HĐH đất nước
Trang 2II, Nội dung
1, Tìm hiểu một số khái niệm
1.1 Lâm nghiệp
Có nhiều khái niệm khác nhau về lâm nghiệp, hiểu khái quát nhất thì lâm nghiệp
là ngành sản xuất vật chất độc lập của nền kinh tế quốc dân có chức năng xây dựng rừng, quản lý bảo vệ rừng, khai thác lợi dụng rừng, chế biến lâm sản và phát huy chức năng phòng hộ của rừng
1.2 Thị trường lâm sản
Cho đến nay có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm thị trường Ta có thể gặp một số khái niệm phổ biến sau:
Thị trường là một tập hợp các dàn xếp mà thông qua đó người bán và người mua tiếp xúc với nhau để trao đổi hàng hoá và dịch vụ
Thị trường là một khuôn khổ vô hình trong đó người này tiếp xúc với người kia để trao đổi một thứ gì đó, họ cùng xác định giá và số lượng trao đổi
Thuật ngữ thị trường lâm sản, hiểu một cách chung nhất, là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu lâm sản ở một thời điểm nhất định Hay nói một cách khác, thị trường lâm sản là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, chuyển nhượng, trao đổi hàng hoá lâm sản Như vậy, bản chất thị trường lâm sản chính là sự chuyển giao quyền sở hữu lâm sản từ người chủ này sang người chủ khác với một giá cả nhất định do họ thoả thuận định ra
1.3 Xuất khẩu lâm sản (XKLS)
Hiểu chung nhất, XKLS là các hoạt động trong thị trường lâm sản nhằm di chuyển một lượng hàng hoá( lâm sản)và các dịch vụ đi kèm từ trong nước ra nước ngoài để thu về lơị nhuận
Trang 32 Phân tích tình hình XKLS tại Việt Nam từ năm 2003- 2008
2.1 Năm 2003:
- Năm 2000, kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ cả nước là 219 triệu USD, năm 2002 con số này tăng rất nhanh, đạt gần 500 triệu USD 8 tháng đầu năm 2003, theo thống kê của Bộ Thương mại, kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ tăng 41,6% so với cùng
kỳ 2002 Ngành chế biến gỗ và thủ công mỹ nghệ đã được chọn là ngành xuất khẩu chủ lực của cả nước vì sự phát triển nhanh chóng trong thời gian qua Tuy chỉ chiếm tỷ trọng 2,8% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước nhưng tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của ngành đứng thứ ba cả nước Gỗ Việt Nam đã xây dựng được những thị trường quen thuộc như châu Âu, Nhật và một số nước châu Á khác,
là những khu vực tiêu thụ đồ gỗ mạnh trên thế giới
- Các lâm sản ngoài gỗ như song, mây tre Đã có nhiểu khởi sắc, sản phẩm đẹp, được ưa chuộng
Nhìn chung trong năm 2003, thị trường lâm sản Việt Nam có nhiều biến đổi, tuy nhiên các DN chế biến lâm sản Việt Nam phần lớn có quy mô vừa và nhỏ, không đủ năng lực đáp ứng các đơn hàng lớn Hơn nữa, DN Việt Nam chưa chú trọng đầu tư cho mẫu mã, các hợp đồng phần lớn là hàng gia công theo mẫu mã của đối tác nước ngoài và tình trạng sao chép mẫu mã lẫn nhau vẫn còn phổ biến Đó chính là những nguyên nhân làm sản phẩm xuất khẩu Việt Nam giảm giá trị gia tăng và vẫn "dậm chân" ở thị trường cấp thấp
2.2 Năm 2004
Từ năm 2004, ngành xuất khẩu lâm sản tạo sự bứt phá ngoạn mục, kim ngạch xuất khẩu đạt 1,1 tỷ USD, tăng 88% so với năm 2003 và duy trì tốc độ tăng trưởng cao Cả nước hiện có hơn 1.200 cơ sở chế biến gỗ và lâm sản, sản xuất 2,5-3 triệu
Trang 4m3 gỗ/năm Từ một nước xuất khẩu nguyên liệu gỗ là chủ yếu, Việt Nam đã vươn lên thành nước xuất khẩu lâm sản đứng hàng thứ 15 trên thế giới
Sản phẩm về lâm sản Việt Nam hiện có mặt tại 120 nước, trong đó có Mỹ, Nhật Bản, Đức, Pháp, Hà Lan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Tây Ban nha, Italia, Thuỵ Điển, Canađa, Hy Lạp Năm 2004 là năm đánh dấu thành công lớn của ngành chế biến gỗ Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu đạt gần 1,2 tỷ USD, tăng 86% so với năm 2003 Nhiều doanh nghiệp chế biến gỗ không chỉ đầu tư mở rộng quy mô nhà xưởng mà còn thuê nhà thiết kế nước ngoài để tạo ra mẫu mã bắt kịp xu thế mới, phù hợp với thị hiếu khách hàng
Đạt được những thành tựu trên là nỗ lực không ngừng của Việt Nam, tuy nhiên Việt Nam lại đang đúng trước nguy cơ về thiếu nguyên liệu, khi diện tích rừng trong nước đang ngày càng suy giảm do cháy rừng, thiên tai và nạn chặt phá rừng chưa được kiểm soát hiệu quả.Không chỉ gặp khó khăn về nguyên liệu, ngành
gỗ đang thiếu đội ngũ công nhân lành nghề vốn đầu tư sản xuất chưa cao, chưa áp dụng được nhiều thành tựu công nghệ vào sản xuất
2.3 Năm 2005
Năm 2005, xuất khẩu lâm sản tiếp tục bứt phá, đạt mức tăng trưởng cao (khoảng 45%) và đứng đầu trong nhóm những mặt hàng nông - lâm sản xuất khẩu, ước đạt kim ngạch 1,5 tỷ USD
Theo con số thống kê, hiện Việt Nam có khoảng hơn 1.500 doanh nghiệp hoạt động trong ngành sản xuất và chế biến lâm sản, trong đó có khoảng 50 công ty có vốn đầu tư nước ngoài Ngành chế biến gỗ đã hình thành một số khu sản xuất tập trung
ở thành phố Hồ Chí Minh, Biên Hoà, miền Trung, Tây Nguyên; khu công nghiệp Phú Bài (Bình Định) có tới vài chục doanh nghiệp Nguyên nhân tạo nên sự bứt phá của ngành chế biến gỗ là do Nhà nước có cơ chế thông thoáng, cởi mở trong việc
Trang 5nhập khẩu nguyên liệu và xuất khẩu sản phẩm chế biến Và, quan trọng là, việc xuất khẩu sản phẩm gỗ ít chịu biến động của giá cả, tiền tệ, thị trường cùng các rào cản như với nông sản, thực phẩm Sản xuất cung chưa đủ cầu, dường như khó bão hoà
Tuy nhiên, các sản phảm Xk chưa đạt yêu cầu cao về mẫu mã, chủng loại, còn phải nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất nên lợi nhuận thu được chưa cao
2.4 Năm 2006
Từ đầu năm đến nay, kim ngạch xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ (chủ yếu là mây, tre, cói, thảm…) đạt 1,7 tỷ USD, tăng 27,5% so với cùng kỳ năm ngoái
Với sự chuẩn bị ra nhập WTO, thị trường lâm sản Việt Nam sẽ phải đứng trước nhiều thách thức mới
2.5 Năm 2007
Sau khi chính thúc ra ra nhập WTO, chịu nhiều áp lực về thuế, giá, chính sách, cạnh tranh trên thị trường Kim ngạch xuất khẩu có phần giảm dần, song vẫn đạt được kết quả nhất định Tháng 12/07, kim ngạch xuất khẩu lâm sản cả nước đạt 261,22 triệu USD, tăng 19,8% so với tháng 11/07 và tăng 45,1% so với tháng 12/06 Tổng kim ngạch xuất khẩu lâm sản cả năm 2007 đạt 2,37 tỷ USD, tăng 22,8% so với năm 2006 Cả năm 2007, sản phẩm lâm sản của Việt Nam đã xuất khẩu được sang 94 thị trường trên thế giới, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm của ta sang một số thị trường đã có sự tăng trưởng cao như Mỹ, Anh, Đức, Trung Quốc, Hàn Quốc, Ý, Canada, Áo, Nga…
Trang 6Thị trường xuất khẩu gỗ, sản phẩm gỗ tháng 12/07 và 12 tháng năm 2007
Thị trường Trị giá
(USD)
So T11/07 (%)
So T12/06
S0 12T/06 (%)
Nhật Bản 23.165.217 18,16 -24,19 300.600.797 6,70
Trung Quốc 13.510.122 -5,74 43,22 168.537.081 78,57
Hà Lan 9.801.037 104,37 95,30 50.086.217 9,20
Hàn Quốc 8.153.963 8,29 30,60 83.771.180 27,85
Australia 6.011.745 -5,41 27,91 59.909.463 10,65 Tây Ban Nha 5.909.828 177,05 45,95 34.402.399 23,44 Canada 5.296.827 -2,05 62,22 47.282.187 41,38
Đài Loan 3.937.490 3,45 -18,92 45.414.715 -9,38
Thuỵ Điển 3.333.918 157,98 145,05 18.671.535 -0,26
Đan Mạch 2.602.850 149,03 40,56 18.458.726 -4,91
Phần Lan 2.476.805 171,67 72,32 14.043.687 28,01
Ai Len 2.158.576 38,44 44,73 20.139.699 21,26
Trang 7Ba Lan 1.406.299 102,67 53,30 6.253.820 41,39
Thổ Nhĩ Kỳ 1.062.522 532,39 552,74 4.323.514 34,08
New Zealand 1.001.687 -32,04 28,48 17.023.454 10,27
Singapore 941.551 -40,63 34,54 7.891.023 -15,08
Malaysia 803.678 -13,24 -37,67 11.608.355 -23,17
Hồng Kông 727.862 -12,33 10,91 6.929.364 -3,97
Campuchia 146.154 12,32 -50,47 1.052.050 -17,52
2.6 Năm 2008
Trong những năm qua, ngành công nghiệp gỗ và các sản phẩm ngoài gỗ Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc Kim ngạch xuất khẩu không ngừng tăng lên Sản phẩm gỗ là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực và đóng góp quan trọng vào sự tăng trưởng xuất khẩu của cả nước
Tuy nhiên từ cuối năm 2007 và 2008 do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu cùng với những khó khăn ở trong nước như thiếu vốn, lãi xuất cao, chi phí đầu tư tăng,… Lâm nghiệp đang gặp phải rất nhiều khó khăn và đối mặt với nguy cơ giảm mạnh tăng trưởng trong giai đoạn tới Năm 2008 dự kiến kim ngạch
Trang 8xuất khẩu các sản phẩm gỗ là 3 tỷ USD, nhưng đến hết tháng 10/2008 mới đạt 2,3
tỷ USD và dự kiến 2 tháng còn lại đạt 500 triệu USD, do đó kim ngạch xuất khẩu
cả năm cao nhất cũng chỉ đạt được 2,8 tỷ USD
Một số biểu đồ phản ánh về hoạt động XK gỗ sang hoa kỳ năm 2008:
Trang 93 Điểm mạnh, điểm yếu của thị trường XKLS trong 5 năm qua
3.1 Điểm mạnh
Nhìn chung thị trường xuất khẩu trong 5 năm qua có nhiều thay đổi tích cực Các mặt hàng xuất khẩu ngày càng đa dạng về mẫu mã, chủng loại, tiếp thu nhiều thành tựu về quản lí, về khoa học công nghệ vào sản xuất, thúc thi nhiều chính sách ưu đãi Xk có hiệu quả, hoạt động khai thác song song với các hoạt động bảo vệ rừng Các doanh nghiệp xuất khẩu lâm sản có ấuc cạnh tranh
3.2 Điểm yếu
Trang 10- Bên cạnh những mặt đạt được như trên, thị trường XKLS còn gặp nhiều khó khăn, bất cập Trình độ tay nghề của người lao động chưa cao, tiếp thu KH-KT lạc hậu, hoạt động khai thác còn nhỏ lẻ không tập trung gây lãng phí tài nguyên Nước
ta có 3/4 diện tích đất rừng trong khi vẫn phải nhập khẩu nguyện liệu từ các nươc khác Các chính sách về đẩy mạnh XKLS chưa đạt được hiệu quả thật so với số vốn
bỏ ra Nhìn chung thị trường XKLS còn mờ nhạt
- Tăng trưởng thấp, chưa bền vững, năng suất, lợi nhuận thấp, sức cạnh tranh kém, chưa khai thác tổng hợp tiềm năng tài nguyên rừng, nhất là lâm sản ngoài gỗ và các dịch vụ môi trường sinh thái
4 Cơ hội, thách thức
4.1 Các cơ hội
a Tiềm năng của các mặt hàng Lâm sản của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường EU và Hoa Kỳ là rất lớn, ngay mặt hàng đồ gỗ Việt Nam, mặt hàng Lâm sản có giá trị lớn nhất thì kim ngạch xuất khẩu mới chiếm khoảng 6% đồ gỗ nhập khẩu vào thị trường Mỹ
b Các DN Châu Âu và Hoa Kỳ đang ồ ạt vào Việt Nam để đầu tư sau khi
VN ra nhập WTO vì coi đây là nơi làm ăn yên bình – có chế độ chính trị ổn định GDP/hàng năm tăng cao nhất khu vực Đông Nam Á (tương lai một vài năm tới, Hoa Kỳ sẽ trở thành
nhà đầu tư số 1 tại Việt Nam)
c Thị phần Lâm sản xuất khẩu của Việt Nam có nhiều mặt hàng của vùng nhiệt đới, nó sẽ chiếm vị trí xứng đáng tại các nước ôn đới Nó chiếm khoảng 0,2% thị phần nhập khẩu vào EU và Hoa Kỳ và 0,5% thị phần nhập khẩu vàoHoa Kỳ
Trang 11d Việt Nam có lực lượng lao động dồi dào để sản xuất ra các mặt hàng Lâm sản lại cần cù khéo tay, giá nhân công hạ
e Doanh nghiệp xuất khẩu NLS Việt Nam đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm quý báu từ những thành công và không thành công trong xuất khẩu những năm qua Đội ngũ chuyên gia cán bộ và nhân viên làm nhiệm vụ xuất khẩu Nông lâm sản từng bước được củng cố hoàn thiện Việc bảo quản chế biến Lâm sản đóng gói bao bì ngày càng có chất lượng khá hơn, giúp các DN XK vươn ra cạnh tranh với thị trường khu vực và thế giới
f Nhà nước Việt Nam có những chính sách đầu tư ưu đãi đặc biệt là trong lĩnh vực Nông Lâm nghiệp đảm bảo cho mặt hàng này tăng nhanh cả về mặt số lượng và chất lượng trong những năm tới
4.2 Thách thức
a Các mặt hàng lâm sản Việt Nam chưa thật đa dạng, chất lượng sản phẩm thấp Các DN lại có tình trạng tranh mua, tranh bán, năng lực cạnh tranh thấp.
b.Vùng nguyên liệu lâm sản phần lớn không tập trung
c Việc xây dựng các tiêu chuẩn ISO, thương hiệu, nhãn mác, bao bì tiến hành chậm chạp không đồng đều Thông tin quảng bá tiếp cận thị trường còn rất
hạn chế! Thiếu dự báo thị trường nên đôi khi xuất khẩu mà bị thua lỗ.
d Công nghệ bảo quản lâm còn ít tiến bộ kỹ thuật, nơi có nhà máy chế biến
thì thiếu nguyên liệu trầm trọng Nơi không có nhà máy thì khó bảo quản
e Việc tổ chức tiêu thụ và xuất khẩu: Theo “chuỗi hành trình của sản phẩm Nông lâm nghiệp” còn nhiều ách tắc Các công ty kinh doanh xuất khẩu lâm sản
thường chưa thật sự gắn bó với người dân với vùng nguyên liệu Mạng bảo quản, vận chuyển, lưu kho chuyên dụng đều không vận hành thông suốt Việc tiếp cận thị trường, Marketing còn rất chắp vá đã và đang làm giảm thiểu tiềm lực xuất khẩu
lâm sản nước ta
Trang 125 Nguyên nhân
5.1 Nguyên nhân khách quan
Thứ 1, Đó là khó khăn trong sản xuất lâm nghiệp: do tính đăc thù của sản xuất lâm
nghiệp là sản xuất ngoài trời và theo mùa vụ nên gặp chịu nhiều hậu quả của thiên tai, lũ lụt, xạt lở đất Quá trình sản xuất không liên tục gây nhiều khó khăn trong sản xuất
Thứ 2, thị trường lâm sản thế giới có nhiều biến động không ngừng, gây khó khăn
cho hoạt động quản lí, sản xuất và chế biến các sản phẩm xuất khẩu lâm sản
Thứ 3, dư âm của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu.
5.2 Nguyên nhân chủ quan
- trình độ quản lí còn non kém
- Tư tưởng coi nhẹ phát triển lâm nghiệp
- Sử dụng nhiều chính sách bảo hộ xuất khẩu làm xuất hiện tư tưởng ỷ lại của các doanh nghiệp XKLS, gây mất công bằng
- Nhà nước thi hành nhiều chính sách không hiệu quả
6.Một số giải pháp nhằm mở rộng thị trường lâm sản
1 Giải pháp về chính sách
Nhà nước cần hoàn thiện hệ thống chính sách ở cả cấp vĩ mô và cấp vi mô nhằm đầu tư, hỗ trợ, thúc đẩy đồng thời giám sát kiểm tra việc khai thác, chế biến
và tiêu thụ lâm sản cả trong và ngoài nước
2 Giải pháp về quản lý, bảo vệ
Trang 13Các cấp, các ngành có liên quan từ Trung ương đến địa phương cần phải tổ chức quản lý, bảo vệ rừng chặt chẽ nhằm hạn chế đến mức thấp nhất việc khai thác, săn bắn trái phép, từ đó sẽ triệt tiêu được thị trường phi chính ngạch
3 Giải pháp về kỹ thuật
- Thực hiện việc quy hoạch, phân vùng (có thể tiến hành quy hoạch những vùng chuyên môn hoá sản xuất lâm sản), chọn các loại cây có giá trị kinh tế cao, được thị trường ưa thích, thích hợp với chất đất của từng vùng để đưa vào trồng
- Để kích thích nhu cầu của người tiêu dùng, đồng thời tăng khả năng cạnh tranh, thì các sản phẩm lâm nghiệp phải đa dạng về chủng loại, mẫu mã, và có giá trị sử dụng cao Muốn vậy thì thiết bị, công nghệ khai thác, chế biến phải hiện đại
4 Các giải pháp về kinh tế
- Tổ chức lại mạng lưới tiêu thụ sản phẩm, chú trọng đến các kênh tiêu thụ lâm sản ở cả trong và ngoài nước, từ đó đánh giá hiệu quả của từng kênh tiêu thụ để
có những giải pháp thiết thực nhất
- Phát triển các vùng nguyên liệu chuyên ngành và xen canh Tùy theo mặt hàng lâm sản để tập trung đầu tư xây dựng chuyên canh, xen canh kể từ khâu nghiên cứu lại giống có phẩm chất tốt, vật tư, quy trình sản xuất để các nguyên liệu lâm sản xuất ra có chất lượng và năng suất bắt kịp các nước trong khu vực như Thái Lan, Trung Quốc, Singapore (quy mô vùng nguyên liệu nên ở loại vừa và nhỏ) Chúng ta chỉ có thể đuổi kịp và vượt các nước khu vực nếu nông sản làm ra
có chất lượng tốt, giá thành hạ
- Nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN xuất khẩu lâm sản: Các DN xuất khẩu lâm sản Việt Nam cần phải mau chóng nâng cao năng lực đội ngũ chuyên gia đầu ngành, các kỹ sư và công nhân kỹ thuật giỏi để làm hàng xuất khẩu có chất lượng Hơn ai hết họ phải nắm vững các luật TM quốc tế, những cam kết của VN
và các dòng