ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN
Đối tượng
- Lợn nái ngoại sinh sản nuôi tại trang trại công ty CP KTKS Thiên Thuận Tường - Quảng Ninh.
Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm: trại lợn công ty CP KTKS Thiên Thuận Tường - Quảng Ninh
- Thời gian tiến hành: từ ngày 18/05/2018 đến ngày 18/11/2018.
Nội dung thực hiện
- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trang trại công ty CP KTKS Thiên Thuận Tường - Quảng Ninh
- Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho lợn
- Biện pháp phòng trị bệnh cho đàn lợn.
Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện
3.4.1 Các chỉ tiêu thực hiện
- Tìm hiểu tình hình chăn nuôi lợn tại trại lợn công ty CP KTKS Thiên ThuậnTường - Quảng Ninh trong 3 năm (2016 - 2018)
- Thực hiện quy trình đỡ đẻ cho lợn nái của trại
- Thực hiện nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn con theo mẹ tại trại
- Thực hiện công việc vệ sinh, phòng bệnh
- Thực hiện tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn nái tại trại
- Theo dõi tình hình mắc bệnh trên đàn lợn nái của trại
- Tham gia chẩn đoán và điều trị bệnh trên đàn lợn nái của trại
3.4.2.1 Phương pháp đánh giá tình hình chăn nuôi tại công ty CP KTKS Thiên Thuận Tường - Quảng Ninh Để đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại, chúng em tiến hành thu thập thông tin từ trại, kết hợp với kết quả theo dõi tình hình thực tế tại trang trại
3.4.2.2 Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái sinh sản, lợn con tại trại
* Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc nái chửa
Lợn nái chửa chủ yếu được nuôi trong chuồng bầu, nơi cần kiểm tra thường xuyên để phát hiện các vấn đề như lợn phối không đạt, sẩy thai hay mang thai giả Việc vệ sinh chuồng trại rất quan trọng, bao gồm dọn phân, đảm bảo lợn không nằm trên phân, cung cấp thức ăn, rửa máng và phun thuốc sát trùng hàng ngày Cuối ngày, cần chở phân ra khu xử lý để giữ môi trường sạch sẽ Lợn nái chửa được cho ăn loại cám viên hỗn hợp De Heus để đảm bảo dinh dưỡng.
3030 với khẩu phần ăn chia theo tuần chửa, thể trạng, lứa đẻ
Chế độ ăn đối với nái chửa được thể hiện trong bảng 3.1
Bảng 3.1 Chế độ ăn của nái chửa Loại lợn
Lứa 2 đến lứa 7 (kg/ ngày)
(Nguồn: Theo chế độ ăn cho nái chửa của trại)
* Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc nái đẻ và nuôi con
Lợn nái chửa nên được chuyển đến chuồng đẻ trước 7 - 10 ngày so với ngày dự kiến Trước khi chuyển, chuồng cần được dọn dẹp và vệ sinh sạch sẽ Thông tin đầy đủ về lợn phải được ghi lên bảng ở đầu mỗi ô chuồng.
Thức ăn của lợn nái đẻ là De Heus 3060, hỗn hợp dùng cho lợn nái nuôi con, cho ăn khẩu phần khác nhau trong các giai đoạn:
Thức ăn của lợn chờ đẻ được cho ăn với tiêu chuẩn ăn 3 kg/ngày, chia làm 2 bữa sáng, chiều
Lợn nái chửa trước ngày đẻ dự kiến 3 ngày, giảm tiêu chuẩn ăn xuống 0,5 kg/con/bữa
Khi lợn nái đẻ được 2 ngày, cần tăng dần lượng thức ăn lên từ 0,5 đến 5 kg/con/ngày, chia làm hai bữa sáng và chiều, mỗi bữa tăng thêm 0,5 kg Đối với những nái quá gầy hoặc nuôi nhiều con, lượng thức ăn có thể tăng lên 6 kg/con/ngày Trước khi lợn nái đẻ 5 - 7 ngày, cần đảm bảo một số điều kiện chăm sóc cần thiết.
- Vệ sinh chuồng trại sạch sẽ
- Tắm sát trùng cho lợn nái
- Cung cấp nước đầy đủ cho lợn nái
- Điều chỉnh nhiệt độ trong chuồng từ 25 - 28 0 C là thích hợp nhất
- Cần giảm khẩu phần ăn trước khi đẻ 5 ngày
* Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn con theo mẹ
Sau khi đẻ 1 ngày lợn con được tiến hành mài nanh, bấm đuôi và cho uống baytril 0,5% phòng tiêu chảy
Lợn con 3 ngày tuổi được tiêm Fe – Dextran và cho uống baycox 5% phòng thiếu máu và cầu trùng
Lợn 4 - 5 ngày tuổi tiến hành bấm tai đối với lợn cái và thiến đối với lợn đực không để làm giống
Để nâng cao khối lượng cai sữa, giảm hao mòn lợn mẹ và tăng sức đề kháng cho lợn con, việc tập ăn sớm từ 4 - 6 ngày tuổi là rất quan trọng Bắt đầu bằng cách cho một ít thức ăn vào máng ăn đặt trong ô chuồng, giúp lợn con làm quen dần với thức ăn Khi lợn con đã quen và bắt đầu ăn, cần từ từ tăng lượng thức ăn để hỗ trợ sự phát triển của chúng.
Lợn 7 ngày tuổi được tiêm vắc xin phòng bệnh suyễn và glasser lần 1 Lợn 21 ngày tuổi được tiêm vắc xin phòng bệnh glasser lần 2
Lợn 28 ngày tuổi được tiêm vắcxin phòng bệnh tai xanh
3.4.2.3 Quy trình đỡ đẻ cho lợn nái của trại
Chuẩn bị lồng úm: chuẩn bị bao khâu lồng úm, bao khâu lồng úm phải được nhúng nước sát trùng, giặt sạch, phơi khô, sau đó khâu lồng úm
Chuẩn bị đỡ đẻ cho lợn mẹ là rất quan trọng, bao gồm việc vệ sinh âm hộ và mông cho sạch sẽ, làm sạch sàn chuồng, và chuẩn bị thảm lót cùng lồng úm cho lợn con Ngoài ra, cần có bóng điện để giữ ấm cho lợn con, cũng như chuẩn bị các dụng cụ đỡ đẻ như vải màn hoặc vải mềm khô, sạch, cồn iod để sát trùng, kéo để cắt dây rốn và chỉ để buộc dây rốn.
- Một tay cầm chắc lợn, một tay dùng khăn khô lau sạch dịch nhờn ở mồm, mũi và toàn thân cho lợn để lợn hô hấp thuận lợi
Cắt rốn là quy trình thắt dây rốn cách cuống rốn 3 cm, sau đó dùng kéo cắt phần bên ngoài nút thắt khoảng 1,5 cm Để đảm bảo vệ sinh, cần sát trùng dây rốn và vùng cuống rốn bằng cồn iod.
- Cho lợn con vào lồng úm tº = 33 - 35ºC
- Trước khi cho lợn con ra bú cần lau sạch vú lợn mẹ, lót thảm cho lợn con ra bú
- Phải trực liên tục cho đến khi lợn nái đẻ xong hoàn toàn, nhau ra hết, lợn nái trở về trạng thái yên tĩnh và cho con bú
Không can thiệp khi quá trình đẻ của lợn nái diễn ra bình thường, chỉ can thiệp khi lợn mẹ rặn đẻ lâu và khó khăn
* Kĩ thuật can thiệp lợn đẻ khó
Một số biểu hiện lợn đẻ khó:
-Khi lợn đã vỡ nước ối mà lợn mẹ lại không có biểu hiện rặn đẻ
Lợn rặn đẻ liên tục với bụng căng do sức rặn mạnh, đuôi cong lên khi lợn con đã đến cổ tử cung nhưng không thể ra ngoài do trọng lượng quá lớn hoặc do ngôi thai bị ngược.
-Mắt của lợn mẹ trở nên rất đỏ do quá trình rặn đẻ liên tục
-Lợn mẹ trở nên kiệt sức, thở nhanh, yếu ớt do quá trình rặn đẻ nhiều nên kiệt sức
Cách can thiệp lợn đẻ khó:
- Dùng nước sát trùng vệ sinh âm hộ và mông lợn Sát trùng tay, bôi gel bôi trơn
- Đưa tay vào trong tử cung, nắm lấy lợn con, đưa lợn con ra ngoài
- Sử dụng thuốc cho lợn đẻ
Với lợn đẻ bình thường không phải tiêm oxytoxin
Lợn lứa từ 5 - 6 trở lên có thể tiêm oxytoxin tùy thuộc vào tình huống Nếu lợn mẹ kiệt sức hoặc rặn kém trong quá trình đẻ, và đã sinh từ 5 - 6 con trở lên, việc tiêm oxytoxin là hợp lý Đối với lợn hậu bị, lợn sức khỏe yếu hoặc lợn già, việc tiêm cũng được thực hiện tùy theo tình trạng sức khỏe Liều lượng tiêm oxytoxin là 2 ml cho mỗi con.
* Thao tác mài nanh, bấm đuôi: lợn con sau khi đẻ khoảng nửa ngày hoặc một ngày thì được mài nanh, bấm đuôi
Lợn con 3 ngày tuổi cần được tiêm chế phẩm Fe - Dextran với liều lượng 2ml/con và nhỏ cầu trùng bằng Baycox 5% để đảm bảo sức khỏe và phát triển tốt.
* Bấm tai, thiến: khi lợn con được 5 ngày tuổi thì tiến hành bấm tai đối với lợn cái và thiến đối với lợn đực không để làm giống
- Bấm tai: lợn con được bấm tai theo quy định riêng của trại
Trước khi tiến hành thiến lợn đực, cần chuẩn bị đầy đủ dụng cụ như dao thiến, cồn sát trùng, panh kẹp, bông, khăn vải sạch, xi-lanh tiêm và thuốc kháng sinh.
Người thiến ngồi trên ghế cao, kẹp lợn con giữa hai đùi với đầu lợn hướng xuống Một tay nặn để làm lộ dịch hoàn, tay còn lại dùng dao rạch hai vết giữa mỗi bên dịch hoàn Sau đó, nặn dịch hoàn ra ngoài, dùng panh kẹp để kéo dịch hoàn ra và lau sạch vùng này bằng khăn, đồng thời bôi cồn vào vị trí thiến Cuối cùng, tiêm cho lợn con 1 ml Gluco - K - C - Namin và 0,5 ml Penstrep - 400.
3.4.2.4 Quy trình vệ sinh, phòng bệnh Để góp phần nâng cao chất lượng, năng suất của đàn lợn trong thời gian thực tập tại trại, em đã tích cực tham gia công tác vệ sinh cùng cán bộ kĩ sư, công nhân trong trại với lịch trình như sau:
Mỗi ngày, trước khi bắt đầu công việc trong chuồng, các kỹ sư, công nhân và sinh viên đều phải thực hiện quy trình an toàn, bao gồm việc đi ủng, mặc đồ bảo hộ và đi qua hố sát trùng.
Để đảm bảo môi trường sạch sẽ cho lợn mẹ, việc đầu tiên khi vào chuồng đẻ là cào dọn phân, tránh tình trạng lợn nằm đè lên phân Sau đó, cần vệ sinh máng ăn thật sạch sẽ và chuẩn bị thức ăn đầy đủ cho lợn mẹ.
- Hàng ngày chúng em tiến hành thu gom phân thải, rửa chuồng, quét lối đi lại giữa các dãy chuồng
KẾT QUẢVÀ THẢO LUẬN
Tình hình chăn nuôi lợn tại trại lợn công ty CP KTKS Thiên Thuận Tường -Quảng Ninh qua 3 năm từ 2016 – 2018
Qua điều tra từ số liệu, sổ sách theo dõi tại trại thì cơ cấu đàn lợn trong
3 năm gần đây (2016 – 2018) được thể hiện qua bảng 4.1
Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại lợn công ty CP KTKS Thiên Thuận Tường - Quảng Ninh qua 3 năm 2016 – 2018
Tính đến năm 2018, cơ cấu đàn lợn của công ty đạt 6.391 con, bao gồm 23 lợn đực làm việc và 418 lợn nái sinh sản.
Từ năm 2016 đến 2018, số lượng lợn nuôi tại trại có sự biến động rõ rệt, với sự chênh lệch đáng kể giữa các năm Số lượng lợn nái sinh sản có xu hướng tăng giảm không đồng đều qua từng năm, đặc biệt năm 2016 ghi nhận số lượng lợn nái cao.
Năm 2017, tổng số lợn nái đạt 471 con, tăng lên 529 con vào năm 2018 nhưng sau đó giảm xuống còn 418 con Việc loại thải lợn nái sinh sản kém vẫn diễn ra hàng tháng, cùng với sự giảm giá lợn thịt đã kéo theo giá lợn con giảm, buộc trại phải giảm số lượng lợn nái để tránh thua lỗ.
Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái sinh sản
Chăm sóc và nuôi dưỡng là quy trình thiết yếu trong mọi trại chăn nuôi Trong thời gian thực tập tại trại, tôi đã tích cực tham gia vào các công việc chăm sóc và nuôi dưỡng đàn lợn Kết quả cụ thể của quá trình này được trình bày trong bảng 4.2.
Bảng 4.2 Số lượng lợn nái trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng tại trại trong thời gian thực tập
Tháng Nái chửa Nái đẻ, nuôi con
Kết quả bảng 4.2 cho thấy số lợn nái chửa, số lợn nái đẻ, nuôi con em trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trong 6 tháng thực tập là 180 con
Chăm sóc và nuôi dưỡng lợn nái đóng vai trò quan trọng trong sức khỏe và khả năng sinh sản của chúng Để đảm bảo lợn nái phát triển tốt, cần cung cấp chế độ ăn uống hợp lý với đủ lượng dinh dưỡng theo quy định Đặc biệt, lợn nái đang mang thai, lợn nái sau khi đẻ và nuôi con nên được cho ăn hai bữa mỗi ngày, vào buổi sáng và chiều.
Quá trình chăm sóc lợn nái chửa, nái đẻ và nuôi con được thực hiện theo chỉ đạo của kỹ sư trưởng tại trại, giúp tôi học hỏi nhiều kiến thức về dinh dưỡng và cách cho ăn phù hợp Tôi đã nhận ra rằng lợn nái cần chế độ ăn tăng cường sau khi tách con để tăng số trứng rụng và số con đẻ, nhưng lượng thức ăn cần điều chỉnh theo thể trạng của lợn mẹ Bên cạnh đó, việc giữ chuồng trại sạch sẽ và thoáng mát là rất quan trọng, tuy nhiên cần hạn chế tắm cho lợn trong những ngày lạnh, ẩm để tránh làm tăng độ ẩm và nguy cơ nhiễm bệnh.
Khi xác định lượng thức ăn cho lợn nái mang thai, cần chú ý đến giống, khối lượng cơ thể, giai đoạn mang thai, thể trạng và tình trạng sức khỏe của lợn, cũng như nhiệt độ môi trường và chất lượng thức ăn Không nên tiêm phòng, tẩy giun sán hay tắm ghẻ trong tháng chửa đầu và 15 ngày trước khi đẻ, vì những tác động này có thể gây sẩy thai và đẻ non Việc ghi chép ngày phối giống là cần thiết để tính toán thời điểm lợn đẻ và lên kế hoạch trực lợn đẻ.
Vào mùa đông, cần chuẩn bị bóng úm cho lợn con và đảm bảo lợn mẹ được cung cấp dinh dưỡng đầy đủ Giữ chuồng trại khô ráo, sạch sẽ và ấm áp, không tắm cho lợn con Khi mài nanh và bấm đuôi, cần sát trùng dụng cụ để tránh tổn thương và nhiễm bệnh Khi bắt lợn để tiêm, hãy thực hiện nhẹ nhàng, không đuổi bắt Để lợn con tập ăn sớm, thức ăn tập ăn sẽ kích thích hệ tiêu hóa phát triển, đồng thời cung cấp nước sạch để tránh tiêu chảy và không để thức ăn tồn lâu trong máng.
Kết quả thực hiện quy trình đỡ đẻ cho lợn nái nuôi tại trại lợn công ty
ty CP KTKS Thiên Thuận Tường - Quảng Ninh
Trong thời gian thực tập tại trang trại em đã được tham gia đỡ đẻ cho
405 nái đẻ Kết quả được trình bày ở bảng 4.3
Bảng 4.3 Tình hình sinh sản của lợn nái nuôi tại trại
Tháng Số con đẻ Đẻ bình thường Tỷ lệ (%) Số con đẻ khó phải can thiệp
Trong nghiên cứu theo dõi 180 nái đẻ, có 171 nái đẻ bình thường, chiếm 95,00%, trong khi 9 nái gặp khó khăn trong quá trình sinh, chiếm 5,00% Khi nái xuất hiện các triệu chứng như rặn nhiều lần, chảy nước ối, hoặc co một chân sau mà không đẻ được, hoặc đã sinh một số con nhưng ngưng đẻ hơn một giờ, cần thực hiện các biện pháp can thiệp kịp thời.
Trong quá trình can thiệp lợn đẻ khó, cần kiểm tra nguyên nhân gây đẻ khó trước khi sử dụng thuốc kích thích Để xác định nguyên nhân, hãy cắt ngắn móng tay, rửa tay bằng xà phòng và thoa một ít vazơlin, sau đó nhẹ nhàng đưa tay vào âm hộ lợn theo nhịp rặn đẻ Nếu thai nằm ngang, hãy nhẹ nhàng xoay theo hướng thuận và lôi ra ngoài Chỉ khi xác định thai không nằm ngang, mới tiêm oxytocin cho lợn nái Sau khi can thiệp, cần thụt rửa âm đạo bằng nước muối pha loãng và sử dụng kháng sinh để ngăn ngừa viêm Đồng thời, bổ sung thuốc để tăng cường sức đề kháng cho lợn.
Qua quá trình can thiệp lợn đẻ khó tại trại, tôi đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm và kỹ năng quý báu Việc can thiệp được thực hiện theo đúng quy trình kỹ thuật, giúp lợn con sinh ra an toàn và không ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của trại.
Kết quả nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn con theo mẹ tại trại
Tại trại, ngoài việc chăm sóc đàn lợn nái, em còn tham gia vào công tác nuôi dưỡng đàn lợn con Hàng ngày, em ghi chép số lượng lợn con sinh ra và theo dõi tỷ lệ sống sót của chúng đến khi cai sữa Kết quả này được thể hiện trong bảng 4.4.
Bảng 4.4.Kết quả nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn con theo mẹ tại trại
Số lợn con sinh ra (con)
Số lợn con nuôi đến cai sữa (con)
Số con đẻ ra/nái/lứa ( x m x )
Số con còn sống đến cai sữa/nái/lứa ( x m x )
Kết quả nuôi dưỡng lợn con theo mẹ tại trại cho thấy số con đẻ ra trung bình trong 6 tháng đạt 11,56 ± 0,23, trong khi số con sống đến cai sữa trung bình là 10,71 ± 0,21, với tỷ lệ sống đạt 92,84% Tuy nhiên, có nhiều nguyên nhân làm giảm số lượng lợn con cai sữa, bao gồm việc lợn mẹ đè chết con, loại thải những con gầy yếu không đạt tiêu chuẩn, cũng như một số lợn con bị nhiễm trùng hoặc chết.
Kết quả thực hiện các biện pháp phòng bệnh cho lợn nái sinh sản, lợn
Quy trình tiêm vắc xin phòng bệnh cho đàn lợn tại trang trại được thực hiện thường xuyên và bắt buộc nhằm tạo ra sức miễn dịch chủ động trong cơ thể lợn, giúp chống lại vi khuẩn và tăng cường sức đề kháng Trong 6 tháng thực tập, tôi đã tham gia quy trình tiêm vắc xin cho lợn nái và lợn con, với kết quả được trình bày trong bảng 4.5.
Bảng 4.5 Kết quả tiêm vắc xin phòng bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con tại trại
Số lợn được tiêm (con)
Số lợn an toàn sau tiêm (con)
Trại đã thực hiện quy trình tiêm vắc xin phòng bệnh cho lợn nái và lợn con một cách nghiêm ngặt, đạt tỷ lệ an toàn cao Cụ thể, lợn nái được tiêm các loại vắc xin như dịch tả, lở mồm long móng và khô thai vào các tuần thứ 10, 11 và 12 của thai kỳ.
Quy trình tiêm vắc xin cho lợn con bao gồm: nhỏ vắc xin phòng bệnh cầu trùng cho lợn con 3 ngày tuổi, tiêm vắc xin phòng bệnh suyễn và viêm đa xoang (glasser) lần 1 cho lợn 7 ngày tuổi, tiêm nhắc lại vắc xin viêm đa xoang lần 2 cho lợn 21 ngày tuổi, và tiêm vắc xin phòng bệnh tai xanh cho lợn 28 ngày tuổi.
Ngoài việc tiêm phòng cho đàn lợn con, em còn tham gia tiêm phòng cho đàn lợn nái tại trại Tuy nhiên, do thiếu kinh nghiệm và kỹ thuật, em chỉ được tham gia gián tiếp và không thực hiện tiêm vắc xin trực tiếp cho đàn lợn nái Vì vậy, tỷ lệ tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn nái của em thấp hơn so với đàn lợn con.
Quá trình tiêm vắc xin phòng bệnh cho đàn lợn tại trại đã giúp tôi tích lũy nhiều kiến thức và rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp, bao gồm việc tiêm vắc xin đúng thời điểm, liều lượng và phương pháp Sau khi tiêm, đàn lợn tạo được miễn dịch tốt và không xảy ra dịch bệnh, chứng tỏ quy trình tiêm vắc xin được thực hiện hiệu quả và đúng kỹ thuật.
Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại lợn công
Trong 6 tháng thực tập tại trại, tôi đã tham gia vào công tác chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn nái cùng với các kỹ sư Qua trải nghiệm này, tôi đã nâng cao kiến thức và kinh nghiệm về chẩn đoán các bệnh thường gặp, nguyên nhân gây bệnh và phương pháp điều trị hiệu quả Dưới đây là kết quả từ công tác chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn nái tại trại.
4.6.1 Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn nái sinh sản tại trại lợn công ty CP KTKS Thiên Thuận Tường - Quảng Ninh
Kết quả tình hình mắc bệnh trên đàn lợn nái được trình bày ở bảng 4.6
Bảng 4.6 Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn nái sinh sản tại trại
Số nái theo dõi (con)
Số nái mắc bệnh (con)
Theo Bảng 4.6, trong số các bệnh thường gặp ở đàn lợn nái, tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung cao nhất với 6,67% Tiếp theo là bệnh viêm khớp, chiếm 5,56%, trong khi bệnh viêm vú có tỷ lệ thấp nhất, chỉ đạt 3,33%.
Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung cao chủ yếu do đàn lợn nái ngoại có năng suất sinh sản cao nhưng chưa thích nghi với khí hậu và chăm sóc tại Việt Nam Ngoài ra, việc phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo không đúng kỹ thuật làm tổn thương niêm mạc tử cung, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập Thêm vào đó, quá trình can thiệp khi lợn đẻ không đảm bảo vô trùng cũng tạo điều kiện cho vi khuẩn gây viêm dễ dàng xâm nhập.
Tỷ lệ mắc bệnh viêm khớp ở lợn nái đạt 5,56%, chủ yếu do việc nuôi nhốt khiến lợn không được vận động Trong thời kỳ mang thai, nhu cầu về canxi (Ca) và photpho (P) tăng cao, trong khi thức ăn cần đảm bảo đủ hàm lượng Ca và P Thiếu hụt này dẫn đến việc cơ thể phải huy động Ca và P từ xương, đồng thời có thể do các bệnh lý khác hoặc vi khuẩn xâm nhập qua máu vào khớp, gây ra bệnh viêm khớp.
Tỷ lệ lợn mắc bệnh viêm vú thấp nhất chiếm 3,33% Nguyên nhân là do vú bị tổn thương làm cho vi khuẩn xâm nhập và gây bệnh
4.6.2 Kết quả điều trị bệnh ở đàn lợn nái sinh sản tại trại lợn công ty CP KTKS Thiên Thuận Tường - Quảng Ninh
Bảng 4.7 Kết quả điều trị bệnh trên đàn nái sinh sản tại trại
Tên bệnh Thuốc điều trị
Số lợn điều trị (con)
Số lợn điều trị khỏi (con)
Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn nái sinh sản tại trại cho thấy tỷ lệ khỏi bệnh khá cao, đặc biệt là đối với bệnh viêm tử cung, viêm vú, mất sữa và sót nhau, với tỷ lệ khỏi đạt 100% Bệnh viêm khớp có tỷ lệ khỏi thấp hơn, chỉ 80%, do khả năng phục hồi của lợn mắc bệnh này không cao và gặp khó khăn trong việc di chuyển Để nâng cao hiệu quả điều trị, ngoài việc sử dụng thuốc, trại còn chú trọng vào việc chăm sóc và nuôi dưỡng lợn, đảm bảo cung cấp đầy đủ thức ăn và nước uống chất lượng Đối với những lợn nái không có khả năng phục hồi, trại sẽ tiến hành loại thải để bảo vệ sức khỏe của đàn.
Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn con tại trại lợn công ty CP
CP KTKS Thiên Thuận Tường - Quảng Ninh
Ngoài việc chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn nái, tôi còn tham gia vào việc chẩn đoán và điều trị một số bệnh ở lợn con Dưới đây là kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn con tại trại.
4.7.1 Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn con nuôi tại trại lợn công ty CP KTKS Thiên Thuận Tường - Quảng Ninh
Bảng 4.8 Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn con nuôi tại trại
Số lợn theo dõi (con)
Số lợn mắc bệnh(con)
Kết quả từ bảng 4.8 cho thấy trong số 2081 lợn con được theo dõi tại trại, có 248 lợn mắc hội chứng tiêu chảy, chiếm 11,92%, và 155 lợn mắc hội chứng hô hấp, chiếm 7,44% Nguyên nhân chủ yếu là do sức đề kháng yếu của lợn con mới đẻ, dễ bị ảnh hưởng bởi vi sinh vật và điều kiện môi trường không phù hợp Để hạn chế tình trạng bệnh tiêu chảy ở lợn con, việc cho lợn bú sữa đầu ngay sau khi sinh và giữ ấm cơ thể là biện pháp hiệu quả nhất.
Thời tiết lạnh khiến lợn con dễ mắc bệnh hô hấp nếu không được giữ ấm đúng cách Ngoài ra, vệ sinh chuồng nuôi kém, không khí ô nhiễm, thức ăn khô hoặc mốc cũng góp phần làm gia tăng tỷ lệ lợn con mắc hội chứng hô hấp.
Việc giữ ấm cho lợn con trong thời tiết lạnh là rất quan trọng, đồng thời cần cung cấp đầy đủ thức ăn với chất lượng và số lượng đảm bảo, cùng với nước uống sạch sẽ.
4.7.2 Kết quả điều trị bệnh ở đàn lợn con nuôi tại trại lợn công ty CP KTKS Thiên Thuận Tường - Quảng Ninh
Bảng 4.9 Kết quả điều trị bệnh ở đàn lợn con tại trại
Tên bệnh Thuốc điều trị
Số lợn điều trị (con)
Số lợn điều trị khỏi (con)
Kết quả từ bảng 4.9 cho thấy trong số 248 lợn mắc bệnh tiêu chảy, có 120 lợn đã khỏi bệnh, đạt tỷ lệ 88,7% Đối với lợn mắc bệnh hô hấp, trong tổng số 155 con, 141 con đã hồi phục, chiếm tỷ lệ 90,97% Tỷ lệ khỏi bệnh cao này là nhờ vào việc kết hợp sử dụng thuốc điều trị với chế độ nuôi dưỡng và chăm sóc tốt, nhằm nâng cao sức đề kháng cho lợn con và tăng cường công tác vệ sinh thú y.