1. Trang chủ
  2. » Mẫu Slide

de tai nghien cuu khoa hoc ung dung lop 5

16 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 55,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

* Giả thuyết nghiên cứu: Sử dụng PP dạy học theo nhóm hợp tác trong dạy học các bài toán có lời văn sẽ nâng cao và rèn được kĩ năng giải toán cho các em học sinh lớp 5/5 và học sinh sẽ c[r]

Trang 1

Mục lục I/ TÓM TẮT ĐỀ TÀI ……….…Trang 2 II/ GIỚI THIỆU……… Trang 3

1) Hiện trạng……….Trang 3 2) Giải pháp thay thế………Trang 4 3) Vấn đề nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu Trang 5

III/ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:……… …Trang 6

1) Khách thể nghiên cứu……… …Trang 6 2) Thiết kế nghiên cứu……… …Trang 6 3) Quy trình nghiên cứu……….… Trang 6 4) Đo lường và thu thập dữ liệu……… Trang 7

IV/ PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ BÀN LUẬN KẾT QUẢ……… …Trang 7 1/ Kết quả……… ….Trang 7 2/ Phân tích dữ liệu …… ……….…… ….Trang 9 3/ Bàn luận ……… … Trang 9 V/ KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ……… Trang 10 VI/ TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ……… Trang 11 VII/ PHỤ LỤC……… ……… Trang 11

* Kế hoạch bài học môn Toán………… … …Trang 11

* Đề và đáp án ( biểu điểm chấm) kiểm tra Toán……… …Trang 14

* Thang đo thái độ với môn Toán……….… …Trang 15

* Bảng điểm……… ….Trang 15

Trang 2

ĐỀ TÀI GIÁO DỤC KĨ NĂNG CHO HỌC SINH QUA PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

THEO NHÓM

I/ TÓM TẮT ĐỀ TÀI:

Giáo dục kĩ năng cho học sinh - đó là một yêu cầu khách quan và bức thiết Điều đó ai cũng hiểu song giáo dục như thế nào ? Con đường tiến hành ra sao? các nhà giáo dục cần có cái nhìn khách quan hơn, thiết thực hơn về vấn đề này

Môn Toán rèn cho các em kĩ năng thực hành giải toán vì môn Toán cũng gắn liền với thực tế hàng ngày của các em Ví dụ như các bài về tính diện tích, thời gian, vận tốc, quãng đường, phần trăm mua bán

Giải pháp của tôi đưa ra là thông qua rèn kĩ năng giải các bài toán có lời văn

để giáo dục kĩ năng học theo nhóm, với các dạng toán phù hợp với từng đối tượng

để qua đó phân loại và giáo dục các em một cách hợp lý

II/ GIỚI THIỆU:

Trong SGK toán 5, các bài toán giải có lời văn chiếm số lượng cũng tương đối, hầu như tiết học nào cũng có ít nhất là 1 bài toán giải có lời văn để HS rèn luyện Các bài toán “khó” có cách giải phức tạp ( mang tính chất đánh đố) hầu như không có Thay vào đó, có 1 số bài ( số lượng không nhiều) mang tính chất “phát triển”, đòi hỏi HS phải “suy nghĩ” độc lập để giải

Ở mỗi bài toán khi giải có không quá 4 bước tính Tuy nhiên trong toán 5 khi giải mỗi bài toán cần tăng cường nội dung dạy học “phương pháp” giải toán, HS phải biết tìm hiểu, phân tích đề bài, biết “đặt vấn đề”, biết tìm ra cách giải bài tập (biết giải quyết vấn đề) và biết cách trình bày bài giải bài tập (biết giải quyết vấn đề) Tăng cường khả năng diễn đạt của HS khi giải các bài tập có lời văn (diễn đạt bằng lời khi cần trao đổi, thảo luận, trình bày miệng bài giải tại lớp, hoặc diễn đạt bằng viết khi cần viết bài giải bài tập trên bảng

Trong một số bài tập HS hầu như các em tìm ra kết quả, đáp số của bài toán nhưng khi trình bày lý luận, những câu trả lời của bài tập các em còn hạn chế trong cách trình bày, trong cách lý luận không chặt chẽ đầy đủ dẫn đến kết quả của bài giải đó không đạt điểm tối đa Chủ yếu các em vận dụng câu trả lời cho yêu cầu bài tập một cách máy móc: ‘hỏi gì thì trả lời nấy”, mà không có sự tư duy lô-gic, không

có sự sáng tạo trong câu trả lời

1) Hiện trạng:

Giáo viên khi lên lớp với tiết toán đã đảm bảo được quy trình tiết dạy, cung cấp kiến thức có hệ thống, thường các tiết học người giáo viên vẫn áp dụng cách truyền thụ kiến thức cho HS làm việc trên cả lớp, hoạt động cá nhân mà chưa tăng cường dạy học theo nhóm Giáo viên vẫn thường hạn chế trong sử dụng các phiếu bài tập để giao nhiệm vụ cho các nhóm hoạt động, sử dụng những câu hỏi, sơ đồ,

mô hình gợi mở để các em học sinh cùng bàn bạc theo nhóm khám phá, để cùng nhận xét sửa sai cho bạn

Trang 3

GV chủ yếu lên lớp hình thành kiến thức cho HS, thực hành rèn luyện kĩ năng qua hoạt động cả lớp hoặc cá nhân mỗi HS, qua làm bảng con, bảng phụ, bảng lớp Để HS được chiếm lĩnh kiến thức thông qua kiến thức GV cung cấp, tự thực hành làm các BT Giao viên cũng đã cố gắng đưa ra hệ thống những câu hỏi gợi mở dẫn dắt HS tìm hiểu vấn đề HS tích cực suy nghĩ, trả lời câu hỏi giáo viên đưa ra, phát hiện giải quyết vấn đề, thực hành rèn kĩ năng giải toán và thực hành tính Kết quả là HS cũng đã thuộc bài, biết tính toán nhưng hiểu chưa sâu sắc, kĩ năng trình bày lý luận chưa cao, kĩ năng vận dụng toán trong thực tế còn ít Kĩ năng sống của các em chưa được hình thành cao Ví dụ như: kĩ năng độc lập tính, kĩ năng trao đổi, đặt câu hỏi, trình bày diễn đạt, phân tích trong nhóm, kĩ năng làm việc tập thể, kĩ năng vận dụng vào thực tế cuộc sống hàng ngày Qua đó thấy được hoạt động dạy học chưa gắn chặt với hoạt động giáo dục, đặc biệt là giáo dục kĩ năng sống Kĩ năng giải toán có lời văn trình bày diễn đạt của các em còn hạn chế Một số HS thì

kĩ năng vận dụng các phép tính còn lúng túng, chậm chạp, sai khi thực hành bài giải

Để thay đổi được hiện trạng trên, đề tài nghiên cứu này đã sử dụng Phương pháp dạy học theo nhóm với mảng kiến thức về giải các bài toán có lời văn để bổ

sung kết hợp cùng các hình thức, PPDH khác như cá nhân, cả lớp

Quan sát quá trình học tập của HS trong lớp tôi nhận thấy: Đối tượng trong lớp thường bao gồm những HS có khả năng học tập khác nhau Giáo viên không thể hỗ trợ mọi HS trong cùng một lúc Mặt khác hầu hết các em rất phụ thuộc vào

GV Nếu các em không được quan tâm, chú ý thì thường ỷ lại nhiệm vụ, không cố gắng để giải quyết vấn đề Học sinh tỏ ra chán nản, mệt mỏi, thiếu tập trung Do đó các em thường đạt kết quả thấp trong các bài KT, cuối cùng là mất đi hứng thú đối với môn học

2) Giải pháp thay thế:

Trong mỗi tiết học GV thay đổi cách truyền đạt kiến thức, thay vào đó là cho các em hoạt động nhóm dưới sự tác động trực tiếp của GV là hoàn thành các phiếu bài tập, tình huống, bài tập có vấn đề trong nội dung giải toán có lời văn để các em hợp tác theo nhóm cùng tháo gỡ, giúp nhau trong việc đưa ra bài giải Có thể cho các em hoạt động nhóm cùng thực hành trong thực tế về kĩ năng giải toán; kĩ năng đặt câu hỏi cho nhau và cùng nhau giải quyết tìm ra kết quả Giải pháp khả thi mà tôi đã nghiên cứu để tìm ra cách thu hút HS cùng tham gia vào hoạt động

Trong giải toán nên cho các em vào cùng tham gia hoạt động trao đổi, tự đặt câu hỏi và trả lời, GV cần hình thành những phiếu bài tập, tình huống có vấn đề Ví

dụ như: phân nhóm cho các em trao đổi tự đặt ra được 1 đề toán và tự giải ( Dạng toán quan hệ tỷ lệ)

5 quyển vở : 22 000 đồng

12 quyển vở : ………đồng ? Hay tự đặt một bài toán giải có phép tính: (34,5 + 21,6) x 2 = 112,2 (m) hoặc trong dạng giải toán về tỷ số phần trăm, cho các em đặt một đề toán với bài giải có phép tính 45 : 60 = 75%

Trang 4

Hoặc đặt bài toán giải theo sơ đồ ( dạng toán tìm 2 số khi biết Tổng và Tỷ số của 2 số):

Số thóc kho 1:

Số thóc kho 2:

Qua những tình huống trên các em cùng nhau trao đổi tự ra được bài toán và

tự giải, trình bày bài giải, hỗ trợ cho nhau trong kĩ năng giải toán có lời văn

Đối với hoạt động theo nhóm HS được hỗ trợ lẫn nhau, mỗi HS được phân theo cặp với một bạn khác, trong nhóm không phân loại đối tượng, các em được cùng nhau tháo gỡ, học tập lẫn nhau Các em học tập tốt hơn sẽ đóng vai người hỗ trợ, có nhiệm vụ giải thích và đặt câu hỏi cho bạn nhận hỗ trợ và đưa ra phản hồi trong thời điểm thích hợp

Đã có nhiều nhà nghiên cứu, nhiều giáo viên nghiên cứu quan tâm đến việc

sử dụng PP học sinh hoạt động theo nhóm hợp tác nhưng chủ yếu ở các môn khác như Lịch sử - Địa lý, Khoa học, đạo đức còn môn toán thì ít

3) Vấn đề nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu:

Vấn đề nghiên cứu:

Bản thân tôi muốn nghiên cứu cụ thể và đánh giá được hiệu quả việc đổi mới PPDH thông qua sử dụng PP dạy học nhóm, hỗ trợ cho GV khi dạy loại kiến thức trừu tượng như các bài toán giải có lời văn, những bài toán luôn gắn liền trong thực

tế Thông qua cách đó HS tự mình khám phá ra kiến thức cho mình, tự mình có thể đưa ra được các bài tập để các bạn trong nhóm cùng trao đổi, thực hành Từ đó truyền cho các em lòng tin vào toán học, say mê tìm tòi, khám phá, ứng dụng vào trong đời sống hàng ngày về tính toán

Trong nghiên cứu này, tôi tìm câu trả lời cho những câu hỏi:

Việc sử dụng PPDH theo nhóm trong các bài toán giải có lời văn có nâng cao

và rèn kĩ năng giải toán có lời văn ở học sinh lớp 5 không ?

Bằng cách nào để HS có thể hỗ trợ lẫn nhau trong việc hình thành kĩ năng kiến thức toán của các em ?

Học sinh có cảm thấy việc hoạt động nhóm có đem lại kết quả tích cực trong việc nâng cao kĩ năng sống cho các em không ?

* Giả thuyết nghiên cứu:

Sử dụng PP dạy học theo nhóm hợp tác trong dạy học các bài toán có lời văn

sẽ nâng cao và rèn được kĩ năng giải toán cho các em học sinh lớp 5/5 và học sinh

sẽ cảm thấy hoạt động đó đem lại hiệu quả cao trong việc chiếm lĩnh tri thức và hình thành kĩ năng sống cho các em

II/ PHƯƠNG PHÁP:

1) Khách thể nghiên cứu:

Tôi lựa chọn lớp 5/5 do tôi chủ nhiệm nên có nhiều thuận lợi trong việc vận dụng nội dung giáo dục kĩ năng giải toán cho các em

120,5 tạ

Trang 5

Học sinh: 2 nhóm được tham gia nghiên cứu đều có sĩ số đồng đều (20 em/1nhóm) Về ý thức học tập của các em: tất cả các em đều có ý thức học tập tốt, đều tích cực hăng say, chủ động trong học tập, tích cực tham gia vào hoạt động tập thể, hăng hái trao đổi và phát biểu ý kiến

2) Thiết kế nghiên cứu:

Chọn 2 nhóm, nhóm 1 là nhóm thực nghiệm, nhóm 2 là nhóm đối chứng Tôi dùng bài kiểm tra chất lượng học kì 1 làm bài kiểm tra trước tác động Kết quả kiểm tra cho thấy điểm trung bình của 2 nhóm có sự khác nhau rõ rệt do đó tôi đã dùng phép kiểm chứng T-Test để kiểm chứng sự chênh lệch giữa điểm số TB của 2 nhóm trước khi tác động

Sau khi có bảng kiểm chứng để xác định các nhóm

Nhóm đối chứng Nhóm thực nghiệm

P > 0,05 nên kết luận sự chênh lệch của 2 nhóm là không có ý nghĩa => 2 nhóm được coi là tương đương

Tôi đã sử dụng thiết kế 2: KT trước và sau tác động đối với các nhóm tương đương

Thiết kế nghiên cứu:

trước tác động

Thực nghiệm O1 Dạy học theo nhóm hợp tác

trong giải toán có lời văn ở lớp 5

O4

Đối chứng O2 Dạy học không theo nhóm hợp

tác

O3

Ở thiết kế này chúng tôi đã sử dụng phép đối chứng T-Test độc lập

3) Quy trình nghiên cứu:

Chuẩn bị của giáo viên:

Ngay từ đầu năm học, GV đã giới thiệu về cách HS hỗ trợ hợp tác lẫn nhau, mỗi tháng đổi chỗ cho các em 1 lần Hoạt động khảo sát trước tác động được thực hiện nhằm thu thập thông tin về nhận thức và hành vi của HS trong giờ toán Sau

đó GV thực hiện trong 10 - 12 giờ học Sau mỗi bài học GV ghi lại quan sát của mình để tìm cách cải thiện cho bài sau

Tiến hành dạy thực nghiệm:

Thời gian tiến hành dạy thực nghiệm vẫn tuân thủ theo kế hoạch dạy học của nhà trường để đảm bảo được tính khách quan chính xác lượng kiến thức cho các em

Bảng: Thời gian tiến hành thực nghiệm

Trang 6

Thứ Môn/lớp Tiết

theo PPCT

Tên bài dạy

Thứ 2 Toán lớp 5 101 Luyện tập về tính diện tích

4) Đo lường và thu thập dữ liệu:

Trong quá trình nghiên cứu, trước tác động tôi đã sử dụng bài KT học kì 1 do

Sở GD&ĐT Bạc Liêu ra đề chung cho các trường trong toàn tỉnh Còn bài KT sau tác động tôi sử dụng sau khi học kĩ các bài về diện tích các hình, do tôi cùng thiết

kế ( phần phụ lục) Bài KT này gồm 4 câu trắc nghiệm và 3 bài tự luận là 3 bài toán giải trong thời gian là 60 phút

Ngoài ra để nghiên cứu về kĩ năng sống của các em tôi và 2 GV còn xây dựng bảng kiểm quan sát để thu thập dữ liệu về hành vi kĩ năng cũng như thang đo thái độ để thu thập

Tiến hành KT, chấm, đánh giá, phân tích:

Sau khi thực hiện dạy xong các bài học, tôi tiến hành kiểm tra 1 tiết, dùng bảng kiểm quan sát, thang đo thái độ để lấy thông tin từ HS và GV Sau đó GV tiến hành chấm bài theo đáp án, phân tích và đánh giá chất lượng giáo dục kĩ năng sống của HS

IV PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ BÀN LUẬN KẾT QUẢ:

1) Kết quả:

B ng: So sánh i m trung bình b i KT sau tác ảng: So sánh điểm trung bình bài KT sau tác động: điểm trung bình bài KT sau tác động: ểm trung bình bài KT sau tác động: ài KT sau tác động: điểm trung bình bài KT sau tác động:ộng:ng:

KT ngôn ngữ

KT trước tác động

KT sau tác động

Giá trị chênh lệch

(c = a – b)

Có ý nghĩa (p < 0,05) Không có

ý nghĩa

Không có

ý nghĩa

Có ý nghĩa

Bảng: Thái độ hành vi với môn học.

Trang 7

Trước tác động tác độngSau tác độngTrước tác độngSau

Tôi thích tham gia hoạt động nhóm 54,6% 65,5% 53,4% 64%

Kĩ năng giải toán tốt và trình bày chặt

chẽ

Tôi thường không lơ mơ hoặc ngủ gật 43,5% 44,7% 42% 44% Trong giờ học thảo luận nhóm tôi thường

đặt ra câu hỏi cho bạn

Tôi không tin mình có thể giải toán có

lời văn thành thạo

Giải toán có lời văn không quan trọng

lắm

Giải toán có lời văn nên thảo luận nhóm 64,6% 68,7% 45,5% 54%

- Bảng: Biểu đồ so sánh điểm trung bình các bài KT trước tác động và sau tác động của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng:

0 5 10 15 20 25

Nhóm đối chứng Nhóm thực nghiệm

2) Phân tích dữ liệu:

Trong bảng trên cho ta thấy điểm trung bình các bài kiểm tra sau tác động của nhóm thực nghiệm là 8,97 (SD = 0,67) và nhóm đối chứng là 7,25 (SD = 0,86) Thực hiện phép kiểm chứng T-Test độc lập với các kết quả trên tính được giá trị p

= 0,00012) Điều này cho thấy kết quả chênh lệch giữa các nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng là rất có ý nghĩa, tức là chênh lệch kết quả điểm trung bình nhóm thực nghiệm cao hơn điểm trung bình nhóm đối chứng là không ngẫu nhiên mà do kết quả của tác động

Bảng: Biểu đồ so sánh điểm trung bình các bài KT trước tác động và sau tác động của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng:

Trang 8

+ Giả thuyết của đề tài: Giáo dục kĩ năng cho học sinh qua phương pháp dạy học theo nhóm đã được kiểm chứng.

+ Qua bảng kiểm quan sát: nhận thấy việc hoạt động nhóm hợp tác là một cách làm hiệu quả đảm bảo cho các em tích cực tham gia vào nhiệm vụ giờ học Trong nghiên cứu đo hành vi của học sinh bằng một hệ thống câu hỏi và so sánh

kết quả trước và sau tác động bằng tỷ lệ % ( số học sinh lựa chọn câu trả lời “đồng ý” ) để xác định sự tiến bộ của học sinh.

3/ Bàn luận:

Với các kết quả thu được ta thấy giá trị p cả phép kiểm chứng T-Test độc lập

cho thấy chênh lệch giá trị trung bình giữa các bài kiểm tra ngôn ngữ và bài KT trước tác động của 2 nhóm là 0,051 Điều này coi chênh lệch là không có ý nghĩa

nhưng giá trị p cho biết chênh lệch giữa giá trị trung bình của các bài KT sau tác

động của 2 nhóm là 0,00012 Có nghĩa là chênh lệch không có khả năng xảy ra ngẫu nhiên => coi chênh lệch là có ý nghĩa

Bài kiểm tra sau tác động của nhóm thực nghiệm với kết quả = 8,97; bài kiểm tra tương ứng của nhóm đối chứng điểm trung bình = 7,25 Độ chênh lệch của

2 nhóm là 1,72 Qua đó thấy được điểm trung bình của 2 nhóm đối chứng và thực nghiệm đã khác biệt, nhóm được tác động có điểm trung bình cao hơn Có thể kết luận tác động đã có kết quả và giả thuyết đặt ra là đúng

Qua bảng thái độ hành với môn học cho thấy, kết quả tác động được thể hiện ở số % của câu trả lời của HS Trước tác động số % thấp hơn kết quả % sau tác động Sau khi thực hiện hoạt động HS hỗ trợ hợp tác lẫn nhau, nhiều HS đã chú tâm hơn trong giờ học toán, kĩ năng trình bày bài giải của các em tốt hơn, các kết quả trong nghiên cứu cho thấy việc HS hỗ trợ lẫn nhau là 1 hoạt động hữu ích, đảm bảo cho HS thực hiện tốt nhiệm vụ trong các giờ học toán Chúng tôi đã quan sát thấy hầu hết các em đã thích được tạo cơ hội liên kết và hợp tác với nhau Hành vi trong lớp học của các em được cải thiện, các em trở thành những người học tập độc lập hơn Qua đó các em được hình thành có được kĩ năng diễn đạt tốt, kĩ năng trình bày, hoạt động nhóm có hiệu quả

* Hạn chế:

Nghiên cứu này đòi hỏi người GV cần phải có cách vận dụng một cách linh hoạt PPDH theo nhóm hợp tác trong giờ học toán vì phần bài tập giải có lời văn thường là bài tập để trình bày vở nên thời gian dành cho các em thảo luận thường là

ít Vì vậy khi vận dụng cần chọn những tiết có từ 2 bài giải có lời văn trở lên Mặt khác trong nghiên cứu GV là người cần phải thường xuyên nắm bắt được tình hình đặc điểm tâm lý của các em trong lớp mình dạy thì mới có thể phân nhóm một cách hợp lý phù hợp để tạo thuận lợi cho việc giáo dục kĩ năng sống Các tiết học ngoài lớp nhằm giúp các em áp dụng vào tính thực tế trong giải toán thường là rất ít

V/ KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ:

+ Kết luận:

Có thể nói rằng việc học sinh tham gia nhóm hợp tác đã thu hút được các em vào hoạt động một cách tích cực và có hiệu quả Qua đó không chỉ hình thành ở các

Trang 9

em kĩ năng giải toán có lời văn mà còn rèn kĩ năng vận dụng kiến thức toán vào thực tế

Việc sử dụng PPDH theo nhóm hợp tác trong giải toán có lời văn đối với HS lớp 5/5 Trường Tiểu học Gành Hào B đã nâng cao được giáo dục kĩ năng sống cho học sinh

+ Khuyến nghị:

Đối với các cấp lãnh đạo, BGH nhà trường: cần nâng cao chất lượng sinh hoạt chuyên môn, đổi mới PP và hình thức tổ chức DH để chất lượng bài dạy môn toán đạt hiệu quả cao Qua đó phải thu hút được HS vào hoạt động và phát huy được tính tích cực của mình

Đối với GV: phải không ngừng học tập, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ,

để hiểu biết về các PPDH, biết khai thác thông tin trên mạng internet, biết nắm bắt

và tìm hiểu đặc điểm tâm lý của từng em HS

Với kết quả của đề tài này, tôi mong muốn được các bạn đồng nghiệp quan tâm, chia sẻ đóng góp những ý kiến để bổ sung cho đề tài được tốt hơn; đặc biệt đối với GV cấp Tiểu học có thể ứng dụng đề tài vào việc vận dụng dạy học không chỉ môn toán mà còn ở các môn khác nhằm tạo hứng thú trong dạy học và nâng cao chất lượng giáo dục kĩ năng sống cho HS

Tôi xin chân thành cảm ơn

Gành Hào, ngày 18 tháng 4 năm 2013 Người viết

Nguyễn Bích Tuyền

Trang 10

VI/ TÀI LIỆU THAM KHẢO:

SGK Toán 5, tác giả Đỗ Đình Hoan (chủ biên), NXB Giáo dục 2006

SGV Toán 5, Nhà xuất bản giáo dục

Tạp chí KH giáo dục, Viện chiến lược và chương trình Giáo dục

Giáo dục học, tác giả Nguyễn Sinh Huy, Nguyễn Hữu Dũng, NXB giáo dục 2002

Đổi mới PP dạy học ở Tiểu học, Dự án phát triển giáo viên Tiểu học, NXB Giáo dục 2006

Dạy lớp 5 theo chương trình tiểu học mới, Dự án phát triển giáo viên Tiểu học, NXB Đại học Sư phạm 2006

Nghiên cứu KHSP ứng dụng, NXB giáo dục

Tạp chí toán tuổi thơ các số mới 2010 và 2011

VII/ PHỤ LỤC:

Một số bài soạn phục vụ cho quá trình nghiên cứu:

a) Kế hoạch bài học:

Tiết 58 TOÁN

NHÂN MỘT SỐ THẬP PHÂN VỚI SỐ THẬP PHÂN

1/ MỤC TIÊU:

Giúp HS:

- Nắm được quy tắc nhân một số thập phân với một số thập phân

- Bước đầu nắm bắt được tính chất giao hoán của phép nhân hai số thập phân

2/ ĐỒ DÙNG DẠY HỌC:

- Bảng phụ kẻ bảng ví dụ SGK/58

3/ CÁC HO T ẠT ĐỘNG DẠY HỌC: ĐỘNG DẠY HỌC:NG D Y H C:ẠT ĐỘNG DẠY HỌC: ỌC:

1/ KTBC: ( 2 – 3’)

Đặt tính rồi tính:

12,34 x 7 và 34,7 x 50

2/ Bài mới;

a/ Giới thiệu bài: 1-2’

b/ Hình thành kiến thức: 10-12’

* GV đưa ví dụ 1(SGK) trên bảng phụ

- Cho HS đọc yêu nội dung ví dụ, tóm tắt

- Muốn tính diện tích mảnh vườn ta phải

thực hiện phép tính gì ?

- Yêu cầu HS dựa vào kiến thức chuyển

đổi đơn vị và tính

( Đặt tính 64 x 48 = 3072 dm2 = 30,72

m2)

- HS làm bảng con

- trình bày cách làm và nhận xét

- HS đọc ví dụ, tóm tắt

- Tính 6,4 x 4,8 = ? 6,4 m = 64dm và 4,8 m = 48dm

- HS nêu cách làm

- HS quan sát cách đặt tính

Ngày đăng: 10/07/2021, 04:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w