XẾP HẠNG VÀ LỰA CHỌN DỰ ÁN ĐẦU TƯ CỦA CÔNG TY HARDING PLASTIC MOLDING XẾP HẠNG VÀ LỰA CHỌN DỰ ÁN ĐẦU TƯ CỦA CÔNG TY HARDING PLASTIC MOLDING XẾP HẠNG VÀ LỰA CHỌN DỰ ÁN ĐẦU TƯ CỦA CÔNG TY HARDING PLASTIC MOLDING XẾP HẠNG VÀ LỰA CHỌN DỰ ÁN ĐẦU TƯ CỦA CÔNG TY HARDING PLASTIC MOLDING XẾP HẠNG VÀ LỰA CHỌN DỰ ÁN ĐẦU TƯ CỦA CÔNG TY HARDING PLASTIC MOLDING XẾP HẠNG VÀ LỰA CHỌN DỰ ÁN ĐẦU TƯ CỦA CÔNG TY HARDING PLASTIC MOLDING
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI VIỆN HỢP TÁC QUỐC TẾ
oOo
-BÀI THẢO LUẬN
ĐỀ TÀI: “XẾP HẠNG VÀ LỰA CHỌN DỰ ÁN ĐẦU TƯ CỦA
CÔNG TY HARDING PLASTIC MOLDING”
NHÓM 10 TÊN HỌC PHẦN: QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH
MÃ LỚP HỌC PHẦN: 2029FMGM0211 GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: NGÔ THÙY DUNG
HÀ NỘI, 2020
Trang 2CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
oOo
-BIÊN BẢN HỌP NHÓM THẢO LUẬN
Nhóm 10 (Lần 1)
I Thời gian: Từ 14 giờ 30 ngày 30 tháng 10 năm 2020
II Địa điểm: nhà D, Đại học Thương Mại
III Thành phần: Số lượng thành viên tham gia là 9/11
- Vắng: Đồng Hương Trang, Bạch Tuấn Hùng
IV Nội dung cuộc họp:
- Nghiên cứu tổng quan về case study
- Bàn về nội dung của case study
- Nhóm trưởng đề ra các yêu cầu và cả nhóm cùng nghiên cứu case study
V Kết luận:
- Cả nhóm làm việc tích cực, sôi nổi trao đổi đưa ra nhiều ý tưởng, nghiêm túc
- Cuộc họp kết thúc vào lúc 16 giờ cùng ngày
Hà Nội, ngày 30 tháng 10 năm 2020
Nhóm trưởng
TúHoàng Văn Tú
Trang 3CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
oOo
-BIÊN BẢN HỌP NHÓM THẢO LUẬN
Nhóm 10 (Lần 2)
I Thời gian: Từ 15 giờ ngày 4 tháng 11 năm 2020
II Địa điểm: V305, Đại học Thương Mại
III Thành phần: Số lượng thành viên tham gia là 9/11
- Vắng: Đồng Hương Trang, Đỗ Văn Tứ
IV Nội dung cuộc họp:
- Các thành viên cùng nhau làm bài qua word, excel
- Cùng nhau đánh giá các cá nhân trong suốt quá trình làm việc nhóm
V Kết luận:
- Cả nhóm làm việc tích cực, sôi nổi trao đổi đưa ra nhiều ý tưởng, nghiêm túc
- Cuộc họp kết thúc vào lúc 17 giờ 20 phút cùng ngày
Hà Nội, ngày 4 tháng 11 năm 2020
Nhóm trưởng
TúHoàng Văn Tú
Trang 5ĐỀ TÀI THẢO LUẬN XẾP HẠNG VÀ LỰA CHỌN DỰ ÁN ĐẦU TƯ
Vào tháng 11/01/1998, ủy ban tài chính của công ty Harding
Plastic Molding (HPMC) đã nhóm họp để thảo luận về 8 dự án ngân sáchvốn Tham gia cuộc họp có Chủ tịch và là người sáng lập công ty Robert
L Harding, kiểm soát viên Susan Jorgensen và trưởng bộ phận nghiên cứu và phát triển Chris Woelk Trong vòng 5 năm qua, ủy ban này đã họp định kỳ hàng tháng để xem xét và đưa ra quyết định cuối cùng về tất cả các đề xuất vốn cần được thẩm định trong thời kỳ này
Công ty Harding Plastic Molding được thành lập vào năm 1970 bởiRobert L Harding để sản xuất các phụ tùng và khuôn nhựa cho công ty sản xuất ôtô Detroit Trong 10 năm đầu họat động, HPMC chỉ họat độngnhư là nhà thầu phụ cho các công ty sản xuất ôtô nhưng sau đó công ty
đã rất nỗ lực để đa dạng hóa nhằm tránh những chu kỳ suy thoái xảy ratrong ngành công nghiệp ôtô Đến năm 1998, nỗ lực đa dạng hóa này
đã giúp HPMC sản xuất được hơn 1.000 sản phẩm khác nhau, bao gồm
đồ dùng nhà bếp, thiết bị chụp hình và vỏ camera Nỗ lực này cũng giúp công ty tăng doanh số tới 800% trong giai đoạn 1990-1998 Do doanh số tăng xảy ra song hành với việc tăng khối lượng sản xuất nên vào cuối năm 1996, HPMC buộc phải mở rộng cơ sở sản xuất Việc mở rộng diện tích nhà máy và mua thêm máy móc thiết bị đòi hỏi một khoản chi phí vốn vào khoảng 10,5 triệu USD và đưa năng lực sản xuất của công ty tăng thêm 40% Do năng lực sản xuất tăng, HPMC đã
không ngừng nỗ lực tìm kiếm các đối tác mới và gần đây đã ký được hợp đồng với một công ty sản xuất đồ chơi lớn và một chuỗi cửa hàng bách hóa giá rẻ Mặc dù lĩnh vực không liên quan đến ôtô (non-auto) đã
có những bước tăng trưởng đáng kể nhưng nó mới chỉ chiếm tỷ trọng khoảng 32% trong tổng họat động kinh doanh của công ty Do vậy, HPMC vẫn tiếp tục mở rộng lĩnh vực này và nhờ những nỗ lực không ngừng nghỉ cũng như thành quả của bộ phận nghiên cứu và phát triển trong công ty, HPMC đã lập ra được 4 nhóm dự án loại trừ lẫn nhau để đưa ra xem xét trong cuộc họp lần này của ủy ban
Trang 6Trong vòng 10 năm qua, phương pháp ra quyết định đầu tư của HPMC đã phát triển thành một chu trình khá phức tạp, trong đó các đề xuất đầu tư mới được phân thành 3 lĩnh vực: lợi nhuận, nghiên cứu và phát triển và an toàn Các dự án thuộc lĩnh vực lợi nhuận và nghiên cứu
và phát triển được đánh giá bằng cách sử dụng kỹ thuật tính giá trị hiệntại với chi phí cơ hội được giả định là 10%; các dự án thuộc lĩnh vực an toàn được thẩm định dựa trên những tiêu chí mang tính chủ quan hơn Mặc dù các dự án thuộc lĩnh vực nghiên cứu và phát triển phải tạo ra những lợi ích dựa trên các tiêu chí về giá trị hiện tại nhưng những dự ánloại này còn bị giới hạn về vốn, thông thường không được vượt quá 750.000 USD/1 năm Mức trần này được Harding đưa ra chủ yếu là vì sốlượng các nhà nghiên cứu giỏi trong ngành công nghiệp nhựa không nhiều Harding thấy rằng nếu chi nhiều tiền hơn con số giới hạn trên thì
“chúng ta không thể tìm được số nhân lực cần thiết để quản lý nó một cách hiệu quả” Mặt khác, những lợi ích đến từ các dự án thuộc lĩnh vực
an toàn lại không ở dạng các dòng tiền; do đó phương pháp giá trị hiện tại không thể được sử dụng để đánh giá các dự án này Phương pháp cótính chủ quan được áp dụng để thẩm định các dự án thuộc lĩnh vực an toàn là kết quả của một nhiệm vụ rất khó thực hiện trên thực tế là lượng hóa những lợi ích của dự án thành tiền Do đó, các dự án này được đánh giá một cách chủ quan bởi một ủy ban có thành phần gồm một số người trong ban giám đốc và công nhân với một ngân sách bị giới hạn Tất cả 8 dự án được thẩm định trong tháng 1 đều rơi vào lĩnh vực lợi nhuận
Nhóm các dự án đầu tiên được đưa ra xem xét trong chương trình của cuộc họp liên quan đến việc sử dụng tối đa những thiết bị chính xáccủa công ty Dự án A đề nghị sản xuất các bình chân không chứa trong các loại phích để cung cấp cho một chuỗi cửa hàng bán đồ dùng giảm giá Những chiếc bình này sẽ được sản xuất theo 5 kích cỡ và có nhiều màu khác nhau Dự án này sẽ được thực hiện trong vòng 3 năm, trong
đó công ty sẽ được bảo đảm một khoản lợi nhuận tối thiểu cộng với % doanh số Dự án B liên quan đến việc sản xuất các thiết bị chụp hình giá rẻ để cung cấp cho một cơ sở chụp hình quốc gia Mặc dù năng lực
Trang 7sản xuất của nhà máy hiện đang dư thừa nhưng mỗi dự án kể trên đều phải sử dụng các loại thiết bị chính xác có năng lực sản xuất bị giới hạn Do vậy việc thực hiện một trong hai dự án sẽ sử dụng hết năng lựcsản suất của các thiết bị chính xác Ngoài ra, giá mua sản phẩm mới trong cả hai dự án đều quá cao và đòi hỏi một khoảng thời gian chờ lên đến gần 2 năm và làm cho các dự án này loại trừ lẫn nhau (Các dòng tiền liên quan đến hai dự án này được trình bày ở Bảng 1).
Các dự liệu dự án như sau (Đơn vị tính: USD):
khách hàng do công ty Advanced Computer đề xuất Theo hệ thống này, tất cả các thủ tục lập hóa đơn và ghi sổ kế toán hiện đang được phòng kế toán của công ty HPMC thực hiện sẽ được tiến hành bởi
Advanced Ngoài việc tiết giảm những chi phí liên quan đến quá trình ghi sổ kế toán, Advanced còn cung cấp một hệ thống lập hóa đơn có hiệu quả hơn và thực hiện phân tích tình hình tín dụng của những
khách hàng nợ quá hạn và hệ thống này có thể được sử dụng vào việc phân tích sâu tình hình tín dụng trong tưong lai Dự án D do công ty International Computer đưa ra và bao gồm một hệ thống lập hóa đơn tương tự như hệ thống của công ty Advanced và ngoài ra còn có một hệthống quản lý hàng tồn kho có khả năng theo dõi được tình hìnht cả cácloại nguyên vật liệu và phụ tùng trong kho
và tiến hành đặt hàng khi cần, do vậy iảm được nguy cơ hết hàng dự trự, một vấn đề xảy ra ngày càng thường xuyên tại công ty trong vòng
3 năm qua (Các dòng tiền của hai dự án này được trình bày tại Bảng 2)
Bảng 2 Dự án C & D:
Trang 8E và F được trình bày tại Bảng 3) Hiện nay, quy trình này chưa được thử nghiệm đầy đủ và nếu HPMC dự định tung nó ra bán trên thị trườngthì công ty cần phải hoàn tất quá trình thử nghiệm này cũng như bắt tay ngay vào việc chuẩn bị các thiết bị sản xuất cần thiết cho nhà máy.Mặt khác, việc bán quyền sáng chế cho công ty Polyplastics chỉ đòi hỏi phải thử nghiệm và chỉnh sửa đôi chút nên có thể được thực hiện trong vòng 1 năm Do vậy, việc đưa ra được một quyết định hợp lý về phương
án lựa chọn có tầm quan trọng cấp thiết
Trang 9hợp lý với vòng đời dự đoán là 5 năm; dự án H đề nghị mua một chiếc máy có giá tương tự mặc dù năng suất có kém hơn với vòng đời dự đoán là 10 năm (Các dòng tiền của hai dự án này được trình bày ở Bảng4)
Trang 10Đến đây cuộc thảo luận được chuyển sang việc tìm một phương pháp thích hợp để xử lý vấn đề vòng đời khác nhau của các dự án loại trừ lẫn nhau E và F, G và H Woelk cho rằng đây không phải là một vấn
đề đáng bận tâm bởi vì tất cả các dòng tiền từ những dự án này đều có thể tính được và phương pháp ra quyết định đầu tư theo tiêu chí dòng tiền chiết khấu tỏ ra thích hợp trong các trường hợp này Jorgensen lập luận rằng mặc dù ý kiến của Woelk là đúng nhưng cũng cần phải tính đến một thực tế là các dự án đang được xem xét có vòng đời khác
nhau
Câu hỏi thảo luận:
1 Harding có đúng không khi cho rằng các chỉ số NPV, PI và IRR sẽ cho ra cùng một kết quả khi xếp hạng các dự án? Trong những điều kiện nào thì NPV, PI và IRR sẽ cho ra những kết quả xếp hạng khác nhau? Giải thích lý do?
2 Tính NPV, PI, IRR của hai dự án A & B Nguyên nhân nào gây ra xung đột khi xếp hạng? Nên lựa chọn dự án nào? Câu trả lời của bạn liệu có thay đổi hay không nếu B là một dự án điển hình trong ngành công nghiệp khuôn nhựa?
3 Tính NPV, PI, IRR của hai dự án C & D Dự án C hay dự án D nên được chọn? Câu trả lời của bạn liệu có thay đổi hay không nếu các dự án đang được cân nhắc
bị giới hạn về vốn? Tỷ suất lợi nhuận đối với khoản 12.000 USD dôi ra không sử dụng trong dự án C cần là bao nhiêu để khiến công ty không biết lựa chọn dự án nào trong hai dự án trong trường hợp nguồn vốn bị giới hạn?
4 Tính NPV, PI và IRR của hai dự án E & F Các dự án này có so sánh được với nhau hay không ngay cả khi chúng có vòng đời khác nhau? Tại sao? Dự án nào nên được lựa chọn? Giả sử rằng hai dự án đang được xem xét không bị giới hạn về vốn
5 Tính NPV, PI và IRR của hai dự án G và H Các dự án này có so sánh được với nhau hay không? Tại sao? Giả sư rằng hai dự án đang được xem xét không bị giới hạn về vốn
Trang 11I Cơ sở lý thuyết
uản trị tài chính là một môn khoa học quản trị, nghiên cứu các mối quan hệ tài
chính phát sinh trong quá trình sản xuất và kinh doanh của một doanh nghiệp haymột tổ chức, trên cơ sở đó đưa ra các quyết định nhằm đạt được mục tiêu đề ra.Nói một cách khác, quản trị tài chính là quản trị nguồn vốn (bao gồm vốn tiềnmặt, vốn, tài sản và các quan hệ tài chính phát sinh như: khoản phải thu - khoản phải trả),nhằm tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp
Q
Trong quá trình nghiên cứu, ta sẽ gặp những giá trị cần phải thực hiện để đưa ra những quyết định hợp lí nhất cho doanh nghiệp như: NPV, PI và IRR,… trong đó:
- NPV là từ viết tắt của Net Present Value (Giá trị hiện tại ròng) là giá trị tại thời điểm
hiện nay của toàn bộ dòng tiền dự án trong tương lại được chiết khấu về hiện tại NPV được sử dụng trong ngân sách vốn và lập kế hoạch đầu tư nhằm mục đích phân tích lợi nhuận của một dự án nào đó hay một khoản đầu tư dự kiến
- PI là từ viết tắt của Profitability Index (chỉ số lợi nhuận) là giá trị hiện giá của những
khoản thu nhập của dự án đầu tư chia cho khoản đầu tư ban đầu
- IRR là từ viết tắt của Internal Rate of Return (tỷ suất sinh lợi nội bộ) là tỉ lệ chiết
khấu làm cho giá trị hiện tại ròng (NPV) của tất cả các dòng tiền (cả dương và âm) từmột dự án cụ thể = 0 Nói một cách khác, khoản đầu tư ban đầu sẽ bằng với giá trịhiện tại của dòng tiền trong tương lai của khoản đầu tư đó IRR là một số liệu được sửdụng để ước tính khả năng sinh lời của một khoản đầu tư tiềm năng Nếu IRR lớn hơnhoặc bằng với chi phí vốn, công ty sẽ coi dự án đó là một khoản đầu tư tốt Giả sử, tất
cả dự án đều yêu cầu một khoản đầu tư bằng nhau, dự án nào có mức IRR cao nhất sẽđược xem là tốt nhất và thực hiện đầu tiên
II Giải quyết bài tập
Trang 122 Những điều kiện mà NPV, PI và IRR cho ra những kết quả xếp hạng khác nhau:
* Khác biệt về quy mô: Chi phí các dự án là khác nhau
* Khác biệt về dạng luồng tiền: Tính thời gian của luồng tiền khác nhau
(Ví dụ như luồng tiền của một dự án tăng theo thời gian, trong khi luồng tiền của một
dự án khác lại giảm)
* Khác biệt về tuổi thọ của dự án: Các dự án có thời gian hữu ích không giống nhau
3 Nguyên nhân:
* Khác biệt về quy mô
- Ta có kết quả của phương pháp IRR được diễn đạt dưới dạng % => quy mô của dự án
Trang 13Nếu quy mô của dự án lớn hơn thì mặc dù thực tế IRR và PI có thấp hơn dự án kia, nhưng NPV lại có ưu thế cao hơn thì vẫn được ưu tiên chọn hơn do có giá trị hiện tại thuần lớn hơn.
* Khác biệt về dạng luồng tiền
- Trường hợp này thì các dự án có đòi hỏi luồng tiền ra ban đầu như nhau và có cùng thời gian hữu ích Tuy nhiên, dạng luồng tiền của chúng lại khác nhau Một dự án có thể
có luồng tiền giảm theo thời gian, trong khi dự án khác lại có luồng tiền tăng theo thời gian
- Vì luồng tiền ra ban đầu và thời gian hữu ích là như nhau nên sự khác biệt liên quan đến lãi suất tái đầu tư đối với luồng tiên trung gian được giải phóng từ các dự án Mỗi phương pháp chiết khấu luồng tiền đều giả định ngầm rằng ngân quỹ có thể tái đầu tư lại tại tỷ lệ thu hồi nội bộ giữ nguyên trong suốt thời gian tồn tại của dự án Tuy nhiên, phương pháp NPV và PI giả định ngầm rằng tái đầu tư với lãi suất bằng với lợi tức đòi hỏi được sử dụng với tư cách là tỷ lệ chiết khấu
- Đối với phương pháp IRR, tỷ lệ tái đầu tư ngầm định sẽ khác nhau giữa các dự án tùy thuộc vào dạng của luồng tiền đối với dự án được cân nhắc Đối với dự án có IRR cao, một lãi suất tái đầu tư cao sẽ được giả định Đối với dự án có IRR thấp, một lãi suất tái đầu tư thấp sẽ được rút ra Chỉ có 2 dự án nếu có cùng IRR là có lãi suất tái đầu tư như nhau Tuy nhiên, đối với phương pháp NPV, lãi suất tái đầu tư ngầm định – được gọi là lợi tức đòi hỏi là như nhau đối với mỗi dự án
=> Sẽ có những mâu thuẫn, xung đột về xếp hạng giữa các phương pháp
* Khác biệt về tuổi thọ của dự án
- Vấn đề cơ bản là điều gì sẽ xảy ra khi kết thúc dự án có tuổi thọ ngắn hơn? Hầu hết công ty sẽ lựa chọn 2 cách:
+ Thay thế đầu tư bằng một dự án tương tự
+ Tái đầu tư vào một hay một số dự án khác
- Đầu tiên là trong tình huống dự án sẽ không được thay thế khi kết thúc thời gian hữu ích của nó Chúng ta sẽ thấy sự xung đột giữa các phương pháp ở chỗ: chúng ta có khuynh hướng lựa chọn dựa trên phương pháp NPV – tức là phải chọn dự án cộng thêm
số tuyệt đối tăng thêm lớn nhất vào giá trị của công ty Nếu dựa vào điểm này thì sẽ
Trang 14nhanh chóng đưa ra được sự lựa chọn một dự án Tuy nhiên, chúng ta có thể băn khoăn một số nhân tố:
+ IRR của dự án không được chọn (B) ở trên gấp 2 lần dự án được chọn (A) trong khi chúng có cùng chi phí
+ Bạn sẽ phải đợi thời gian lâu hơn để nhận luồng tiền dương từ dự án A trong khi dự án
B tạo ra toàn bộ luồng tiền của nó nhanh hơn
+ Bạn có thể đưa luồng tiền dương từ dự án B vào hoạt động trong khi dự án A không tạo ra khoản nào
=> Nếu lựa chọn dự án theo phương pháp NPV sẽ gây ra xung đột, mâu thuẫn trong kết quả xếp hạng với 2 phương án còn lại
100 000(1+10 %)3−75 000)=34015 ,78(USD)+ IRRA
Giả sử r1 = 27% => NPV1 =
10 000(1+27 %)1+
30.000(1+27 %)2+
100 000(1+27 %)3−75 000=293 , 05 (USD)
> 0
Giả sử r2 = 29% =>NPV2=
10 000(1+29 %)1+
30.000(1+29 %)2+
100 000(1+29 %)3−75.000=−2636 , 93 (USD)
< 0