1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề cương ôn tập luật dân sự bộ đề 149 câu hỏi tự luận có đáp án

140 54 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 241,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: làm phát sinh hậu quả pháp lý VD: quyết định của tòa án về bồi thường thiệt hại.b Xử sự pháp lý: Là hành vi không nhằm phát sinh hậu quả

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI DÂN SỰ 1

1. Phân tích và cho ví dụ về quan hệ tài sản là đối tượng điều chỉnh của luật Dân sự ?

Trả lời:

Khái niệm: Quan hệ tài sản là quan hệ giữa người với người thông qua một tài sản Quan hệ tài sản

bao giờ cũng gắn với một tài sản nhất định thông qua dạng này hay dạng khác

- Tài sản( điều 163 BLDS) gồm: Vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản

- Tài sản không bao gồm vật thuộc về ai, do ai chiếm hữu, sử dụng, định đoạt mà còn bao gồm cả việc dịch chuyển những tài sản đó từ chủ thể này sang chủ thể khác

- Quan hệ tài sản đa dạng bởi các yếu tố cấu thành: chủ thể tham gia, khách thể tác động và nội dung các quan hệ đó

• Quan hệ tài sản phát sinh giữa các chủ thể là những quan hệ kinh tế cụ thể trong quá trình sảnxuất, phân phối, lưu thông và tiêu thụ những sản phẩm, cũng như cung ứng dịch vụ cho xãhội Mỗi chủ thể khi tham gia vào quan hệ kinh tế luôn đặt ra những mục đích và động cơnhất định Quan hệ tài sản mà các chủ thể tham gia mang ý chí của chủ thể, phù hợp với ý chícác chủ thể tham gia và phải phù hợp với ý chí của Nhà nước thông qua các quy phạm phápluật dân sự

• Quan hệ tài sản do luật DS điều chỉnh mang tính chất hàng hóa và tiền tệ Dưới định hướngchiến lược của nước ta phát triển kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, định hướng

xã hội chủ nghĩa, trong mô hình kinh tế này, các tài sản thể hiện dưới dạng hàng hóa và đượcquy thành tiền Sản xuất hàng hóa và dịch vụ để bán, để trao đổi

• Quy luật của nền kinh tế thị trường trong sản xuất xã hội chi phối các quan hệ tài sản mà mộttrong các biểu hiện của nó là quan hệ tiền – hàng Sự trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong nềnkinh tế thị trường chủ yếu thông qua hình thức tiền-hàng

• Sự đền bù tương đương trong trao đổi là biểu hiện của quan hệ hàng hóa và tiền tệ Nhưngkhông phải tất cả sự dịch chuyển tài sản đều có sự đền bù tương đương ví dụ: cho tặng, thừa

kế, => không phổ biến do nó không chỉ đơn thuần là quan hệ pháp luật mà còn chi phối bởicác quan hệ xã hội khác

Ví dụ: quan hệ mua bán hàng hóa Cho vay, thế chấp

2 Phân tích và cho ví dụ về quan hệ nhân thân là đối tượng điều chỉnh của luật Dân sự ?

Trả lời:

1

Trang 2

Khái niệm : Quan hệ nhân thân là quan hệ giữa người với người về một giá trị nhân thân của cá nhân

hay tổ chức Việc xác định một giá trị nhân thân là quyền nhân thân phải được pháp luật thừa nhận nhưmột quyền tuyệt đối của cá nhân, tổ chức

Quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với bản thân mỗi chủ thể, không thể chuyển

giao cho chủ thể khác Mỗi người đề có nghĩa vụ tôn trọng quyền nhân thân của người khác

+ Luật Hành chính: quy định về trình tự thủ tục xác định các quyền nhân thân: phong danh hiệu cao

quý, tặng thưởng huân chương, công nhận chức danh…

+ Luật Hình sự: Bảo vệ các giá trị nhân thân bằng các quy định: hành vi nào xâm phạm tới những giá

trị nhân thân nào được coi là tội phạm?

+ Luật Dân sự điều chỉnh các quan hệ nhân thân bằng các quy định:

- Những giá trị nhân thân nào được coi là quyền nhân thân?

- Trình tự thực hiện, giới hạn của các quyền nhân thân đó?

- Các thức, biện pháp bảo vệ quyền nhân thân

Phân nhóm quan hệ nhân thân: Hai loại là QHNT gắn với tài sản và QHNT không gắn với tài

sản

Đặc điểm của QHNT:

2

Trang 3

- QNT gắn với một chủ thể nhất định, về nguyên tắc không thẻ dịch chuyển cho các chủ thể khác, trừmột số trường hợp( công bố tác phẩm của tác giả các tác phẩm, các đối tượng sở hữu côngnghiệp…)

- QNT không xác định bằng tiền Giá trị nhân thân và tiền tệ không phải là đại lượng tương đương vàkhông thể trao đổi ngang giá

+ Các QNT không gắn với tài sản: danh dự, uy tín, nhân phẩm của cá nhân, của tổ chức; quyền đối

với họ tên, quyền xác định dân tộc, thây đổi dân tộc, kế hôn, ly hôn, bí mật đời tư, bí mật hìnhảnh…

+QNT không gắn với tài sản: là những giá trị nhân thân khi xác lập giá trị nhân thân làm phát sinh

các quyền tài sản Chỉ phát sinh khi có sự kiện pháp lý nhất định như các tác giả các tác phẩm vănhọc, nghệ thuật, khoa học kỹ thuật, quyền sáng chê, nhuận bút,…

3 Phương pháp điều chỉnh của Luật Dân sự ?

Trả lời:

KHÁI NIỆM : Phương pháp điều chỉnh được hiểu là cách thức, biện pháp mà nhà nước tác động vào

các hành vi của chủ thể, nhằm định hướng cách thức xử sự của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ đó

Phương pháp điều chỉnh của Luật Dân sự: là cách thức, biện pháp mà nhà nước tác động

lên các quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân làm cho các quan hệ này phát sinh, thay đổi, chấm dứt theo ýchí của nhà nước phù hợp với ba lợi ích (nhà nước, xã hội, cá nhân )

Luật dân sự điều chỉnh các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân theo nghĩa rộng: dân sự, hôn nhân gia đình, thương mại, kinh doanh, thương mại, lao động.

về địa vị pháp lý thì không tạo ra sự đền bù tương đương được

-Tự định đoạt của các chủ thể trong việc tham gia các quan hệ tài sản Do tham gia QHTS, mỗi chủ thể

đều có mục đích + động cơ nhất định > căn cứ vào khả năng, điều kiện, mục đích để họ lựa chọn mộtQuan hệ cụ thể mà tham gia vào

+Tự định đoạt còn thể hiện : chọn đối tác sẽ tham gia, nội dung quan hệ tham gia, biện pháp thực hiệnquyền và nghĩa vụ, cách đảm bảo, hình thức và phạm vi trách nhiệm, cách thức áp dụng trách nhiệmkhi có một bên không thực hiện đúng thỏa thuận

Trang 4

+Tự định đoạt # Tự do định đoạt Pháp luật luôn đặt ra các giới hạn, vạch ra hành lang pháp lý an

toàn, cần thiết mà trong các hành lang đó, các chủ thể có quyền tự do hành động ( Điều 10 BLDS)Khi vi phạm nguyên tắc này, làm thiệt hại tới quyền và lợi ích của người khác sẽ phải bồi thường

-Phương pháp giải quyết các tranh chấp dân sự là “hòa giải” :Do sự bình đẳng giữa các chủ thể, quyền

tự định đoạt của họ khi tham gia QHDS (quy định tại điều 12).Vì thế các tranh chấp dân sự do các bên

tự thỏa thuận, k thỏa thuận được > Hòa giải

-Trách nhiệm dân sự đặt ra trước tiên là trách nhiệm tài sản: Do QHDS điều chỉnh chủ yếu các quan hệ

tài sản(tính chất hàng hóa-tiền tệ) => vi phạm nghĩa vụ của một bên sẽ dẫn tới thiệt hại đối với bênkia Trách nhiệm DS có thể không chỉ do pháp luật quy định mà có thể do các bên quy định và phươngthức áp dụng trách nhiệm

4 Áp dụng tương tự pháp luật: Nguyên nhân, điều kiện và hậu quả ? Cho ví dụ minh hoạ ?

Trả lời:

Khái niệm: Áp dụng tương tự pháp luật là dùng những quy phạm pháp luật đang có hiệu lực đối với

những quan hệ tương tự như quan hệ cần xử lý để điều chỉnh những quan hệ cần xử lý đó nhưng không cóquy phạm trực tiếp điều chỉnh quan hệ đó

Hiểu theo cách khác thì:

+ có quan hệ A thuộc lĩnh vực dân sự điều chỉnh nhưng không có quy phạm A

Trang 5

+ Có quan hệ B, quy phạm B trực tiếp điều chỉnh quan hệ B tương tự như A thuộc lĩnh vực do Luật Dân

- Quan hệ tranh chấp thuộc lĩnh vực Luật Dân sự điều chỉnh

- Trong pháp luật dân sự chưa có quy phạm trực tiếp điều chỉnh

- Với các quy phạm về chế định hiện tại không thể giải quyết được tranh chấp đó

- Có tập quán được cộng đồng thừa nhận như chuẩn mực ứng xử trong những trường họp đó

- Hiện có các quy phạm (chế định khác) trong Luật DS điều chỉnh các quan hệ tương tự (gần giống quan hệ cần điều chỉnh)

Hậu quả: Giải quyết được các QHPLDS không có QPPL điều chỉnh.

Việc áp dụng tạo tiền đề cho các nhà làm luật hoàn thiện và bổ sung pháp luật

Ví dụ: Dùng quan hệ vay để xử lý cho quan hệ hụi họ (chơi phường) hay dùng các quan hệ về dịch vụ để

điều chỉnh các quan hệ về đổi công cho nhau

5 Đối tượng điều chỉnh của Luật Dân sự ?

Trả lời:

Đối tượng điều chỉnh của Luật Dân sự là những nhóm quan hệ về nhân thân và tài sản trong quan hệ dân

sự, hôn nhân và gia đình, thương mại, lao động, kinh doanh

Trong đó đối tượng điều chỉnh gồm: quan hệ tài sản ( học câu 1) và Quan hệ nhân thân (học câu 2)

6 Phân tích quyền bí mật đời tư của cá nhân (Điều 38) ?

Trả lời:

Quyền bí mật đời tư là quyền cơ bản trong hệ thống các quyền nhân thân của cá nhân Quyền bí mật đời tưđược thừa nhận rộng rại trên pháp luật nhiều nước trên thế giới được ghi nhận trong Bộ Luật Dân sự 2005Tại điều 38 như sau:

1) Quyền bí mật đời tư của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

2) Việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phải được người đó đồng ý Trong trường hợp người đó đã chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, me, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp thu thập, công bố thông tin theo quyết định của cơ quan tổ chức có thẩm quyền

3) Thư tín , điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân được đảm bảo an toàn và bí mật.

Trang 6

Việc kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân được thực hiện trong trường hợp pháp luật có quy định và phải có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Bí mật đời tư là một trong những quyền dân sự cơ bản của cá nhân được thế giới thừa nhận rộngrãi Việc bảo vệ quyền bí mật đời tư còn đảm bảo cho việc thực hiện một số quyền khác của cá nhân( nhưquyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, quyền hiến xác, bộ phận cơ thể, quyền tự do tín ngưỡng ) được đảmbảo triệt để hơn Xác định rõ tầm quan trong của quyền bí mật đời tư với cá nhân, pháp luật Việt namcũng có những quy định nhằm bảo vệ quyền này

Điều 73 Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Thư tín, điện thoại, điện tín của công dân đựơc bảo đảm an toàn bí mật Việc khám xét chỗ ở, việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện tín cảu công dân phải do người có thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật.” Không chỉ

luật dân sự, một số ngành luật khác như luật hình sự, luật hôn nhân gia đình, luật báo chí…cũng có nhữngquy định bảo vệ quyền bí mật đời tư của cá nhân

1 Định nghĩa về “Quyền bí mật đời tư”.

Như đã nói ở trên, mặc dù pháp luật nước ta có nhiều quy định liên quan đến quyền bí mật đời tưcủa cá nhân song vẫn chưa có một văn bản nào đưa ra được một định nghĩa chính thức về quyền này.Trước hết, xét về mặt ngữ nghĩa “bí mật” là “được giữ kín trong phạm vi một số ít người, không để lộ cho

Trang 7

người ngoài biết” hoặc theo cuốn Đại từ điển tiếng Việt thì “bí mật” còn được giải thích là “giữ kín, không

để lộ ra, không công khai” Như vậy, về cơ bản có thể hiểu “bí mật đời tư” là những thông tin, tư liệu…của cá nhân được cá nhân đó giữ kín, không công khai (phạm vi “công khai” có thể khác nhau tuỳ từngtrường hợp) và những thông tin, tư liệu này nếu được công khai thường sẽ gây bất lợi cho bản thân cánhân đó và những người có liên quan

Tuy nhiên, những “thông tin”, những “tư liệu”… như thế nào mới được coi là bí mật cá nhân và cầnđược pháp luật bảo vệ Như chúng đã biết, đời sống cá nhân là một phạm trù rộng bao gồm rất nhiềuphương diện, nhiều khía cạnh Do vậy, không thể coi tất cả các mặt liên quan đến các nhân là bí mật đời

tư, việc xác định phạm vi của “bí mật đời tư” có ý nghĩa rất quan trọng trong thực tiễn pháp luật hiện nay

“Theo quan điểm của một số người làm công tác pháp luật, bí mật đời tư có thể được hiểu là những gì gắnvới nhân thân con người, là quyền cơ bản Đó có thể là những thông tin về hình ảnh, cuộc sống gia đình,tên gọi, con cái, các mối quan hệ gắn liền với một cá nhân mà người này không muốn cho người khácbiết Những bí mật đời tư này chỉ có bản thân người đó biết hoặc những người thân thích, người có mốiliên hệ với người đó biết và họ chưa từng công bố ra ngoài cho bất kỳ ai “Bí mật đời tư” có thể hiểu là

“chuyện trong nhà” của cá nhân nào đó Ví dụ: con ngoài giá thú, di chúc, hình ảnh cá nhân, tình trạng sứckhỏe, bệnh tật, các loại thư tín, điện thoại, điện tín, v.v…”

định nghĩa về khái niệm bí mật đời tư như sau: “Bí mật đời tư là những thông tin, tư liệu (gọichung là thông tin) về tinh thần, vật chất, quan hệ xã hội hoặc những thông tin khác liên quan đến cá nhântrong quá khứ cũng như trong hiện tại, được pháp luật bảo vệ và những thông tin đó được bảo mật bằngnhững biện pháp mà pháp luật thừa nhận”

7 Phân tích quyền của cá nhân đối với hình ảnh (Điều 31) ?

8. Phân tích quyền hiến bộ phận cơ thể người (Điều 33) ?

9. Nguồn của Luật Dân sự ? Cho ví dụ ?

Trả lời:

Nguồn của Luật Dân sự là những văn bản pháp luật (hình thức của pháp luật) do CQNN có thẩm

quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân

Một văn bản được coi là nguồn của Luật Dân sự phải đáp ứng các yêu cầu:

- Văn bản do CQNN có thẩm quyền ban hành

- Chứa đựng các quy phạm pháp luật DS

- Phải ban hành theo trình tự thủ tục do Luật định

Ví dụ: Bộ Luật Dân Sự, Nghị định của chính phủ….

• Phân loại: Căn cứ theo tên gọi ta chia thành các nguồn:

Trang 8

- Hiến pháp: chương 2 Chế độ kinh tế và hình thức sở hữu, Chương 5 quy định quyền và nghĩa vụ

cơ bản của công dân

- Bộ luật dân sự: Là nguồn chủ yếu, và quan trọng nhất, quy định hầu hết các vấn đề liên quan tới lĩnh vực dân sự

- Luật, và các văn bản dưới luật Được coi là nguồn của luật Dân sự, khi nó có liên quan tới linh vựcdân sự

+ Đối với luật: nó có thể là luật hôn nhân và gia đình, đất đai, doanh nghiệp

+ Văn bản dưới luật: Nghị định, pháp lệnh, Nghị quyết

10 Phân tích đặc điểm của quan hệ pháp luật dân sự ?

Trả lời:

Khái niệm: QHPLDS là các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực Dân sự được pháp luật điều chỉnh

QHPLDS là một dạng của quan hệ pháp luật=> mang đầy đủ các đặc điểm chung của một QHPL đó là: Thể hiện ý chí của nhà nước, được nhà nước đảm bảo thực hiện, cưỡng chế bằng các biện pháp nhà nước Đặc điểm của QHPLDS:

- Chủ thể tham gia QHDS đa dạng: là cá nhân, pháp nhân,hộ gia đình, tổ hợp tác (các chủ thể

độc lập về tổ chức và tài sản) Do LDS điều chỉnh các QHNT và QHTS, các quan hệ phát sinh

Trang 9

trong đời sống thường nhật của các cá nhân, tổ chức => mọi cá nhân, tổ chức đều là chủ thể củaQHDS

- Địa vị pháp lý của các chủ thể dựa trên cơ sở Bình đẳng, không bị phụ thuộc vào các yếu tố khác.

Khi tham gia QHPLDS, một bên chủ thể mang quyền, một bên gánh nghĩa vụ và thông thường,trong quan hệ DS các bên thường có quyền và nghĩa vụ đối với nhau Điều này không làm mất đi

sự bình đẳng mà chỉ hạn chế đi sự bình đẳng so với trước khi tham gia Các bên không được áp đặt

ý chí của mình buộc bên kia phải thực hiện NV, mà phải tạo điều kiện cho họ lựa chọn cách thứcthực hiện các quyền và NV sao cho có lợi nhất cho các bên

- Lợi ích(trước hết là lợi ích kinh tế) là tiền đề phần lớn trong các quan hệ dân sự Do tính chất của

quan hệ tài sản là hàng hóa- tiền tệ và sự đền bù tương ứng là đặc trưng, nên quan hệ dân sự chủyếu là quan hệ tài sản, giúp thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần của chủ thể Quan hệ dân sự

có yếu tố tài sản là cơ sở cho sự phát sinh các Mqh Việc đảm bảo bằng tài sản để buộc bên cónghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ, bên có quyền sẽ có các biện pháp thỏa mãn quyền tài sản của mình

- Biện pháp cưỡng chế có thể do các bên quy định cụ thể Đặc tính của tài sản là đặc trưng cho các

cưỡng chế trong quan hệ pháp luật dân sự

11 Phân tích căn cứ phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự ?

Căn cứ phát sinh, thay đổi, chấm dứt QHPLDS cũng như các QHPL khác đó chính là các sự kiện nhất định > sự kiện pháp lý

Sự kiện pháp lý: là sự kiện thực tế mà pháp luật đã dự liệu, quy định làm phát sinh các hậu quả

pháp lý ( Có thể làm phát sinh, thay đổi chấm dứt Qhplds)

Một sự kiện xảy ra trong thực tế có thể làm phát sinh nhiều hậu quả pháp lý: Ví dụ: một cái chết củamột người sẽ làm chấm dứt tư cách chủ thể của họ, phát sinh quan hệ thừa kế

Có thể nhiều sự kiện pháp lý mới làm phát sinh một quan hệ dân sự Đa số các QHPLDS phát sinh

từ nhiều sự kiện pháp lý

Phân loại sự kiện pháp lý: Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh

a) Hành vi pháp lý: Là hành vi có mục đích của các chủ thể nhằm phát sinh hậu quả pháp lý

HVPL được coi là căn cứ phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ PLDS Vì nó thể hiện được ý chí của các chủ thể ra các QHXH nói chung và QHPLDS nói riêng

Trang 10

- Quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: làm phát sinh hậu quả pháp lý ( VD: quyết định của tòa án về bồi thường thiệt hại.

b) Xử sự pháp lý: Là hành vi không nhằm phát sinh hậu quả nhưng theo quy định của pháp luật, hậu

quả pháp lý được phát sinh

VD: đào móng nhà, phát hiện được vàng

c) Sự biến pháp lý :Sự biến pháp lý là những sự kiện xảy ra không phụ thuộc vào ý muốn của con

người nói chung và những người tham gia vào quan hệ dân sự nói riêng.

SBPL chỉ có ý nghĩa khi pháp luật quy định trước hậu quả

- Sự biến tuyệt đối: Sự kiện xảy ra trong thiên nhiên không phụ thuộc vào ý chí con người (lũ lụt,động đất…)

- Sự biến tuyệt đối: sự kiện xảy ra do hành vi của con người, nhưng không phụ thuộc vào hành vi củachủ thể tham gia nhưng làm phát sinh hậu quả pháp lý với họ

d) Thời hạn: là sự kiện pháp lý đặc biệt làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự.

Thời gian trôi đi không phụ thuộc và ý chí con người Đến một thời điểm > làm phát sinh hậu quảpháp lý

VD: Thời hiện miễn trừ nghĩa vụ dân sự, thời hiệu khởi kiện

12 Cho ví dụ về các loại sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự

Trang 11

Ví dụ: Một người chết > thì có những sự kiện pháp lý nào?? Xem thêm câu 10.

13 Năng lực chủ thể của cá nhân ?

Trả lời:

Các yếu tố cấu thành năng lực chủ thể của cá nhân

Khái niệm: Năng lực chủ thể của cá nhân là khả năng đề cá nhân có thể tham gia vào quan hệ pháp luật với tư cách là một chủ thể và tự mình thực hiện các quyền, NV phát sinh từ mqh pháp luật đã tham gia

Cấu thành bởi hai yếu :

- Khả năng do pháp luật quy định (NLPLDS).là khả năng xem xét chủ thể nào là cá nhân, chủ thể

nào k được thừa nhận trong từng QHPL cụ thể

- Khả năng tự có của chủ thể: căn cứ vào độ tuổi, mức độ nhận thức của cá nhân xem xét khả năng

tham gia các QHPL nào

Mối quan hệ giữa các yếu tổ:

Hai yếu tố trên là cần và đủ để tạo nên NLCT của cá nhân

-Năng lực PL là tiền đề pháp lý cho chủ thể thực hiện năng lực hành vi,

Hiểu là: đây là phạm vi các quyền do pháp luật quy định cho cá nhân > cá nhân chỉ được thực hiệncác quyền trong phạm vi đó  Cá nhân được phép thực hiện những hành vi nhất định (PL cho phép or

k cấm)

-NLHVDS là “phương tiên” hiện thực hóa NLPLDS

Hiểu là: PL ghi nhận các quyền cho chủ thể, chỉ được thành hiện thực khi chủ thể thực hiện bằng hành

vi của mình

-NLPL có khi sinh ra, NLHV có khi đạt độ tuổi nhất định

-NLPL mọi cá nhân là như nhau, NLHV k như nhau

-NLPL chấm dứt khi cá nhân chết, NLHV chấm dứt ngay cả khi cá nhân còn sống

Năng lực chủ thể của cá nhân bao gồm năng lực hành vi và năng lực pháp luật Xem thêm câu 14,15

14 Các mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân ?

Khái niệm: Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả nằng bằng hành vi của minh xác lập, thực hiện

quyền và nghĩa vụ dân sự (điều 17 BLDS)

Mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân:

Căn cứ vào khả năng của cá nhân về nhận thức và điều khiển hành vi và hậu quả của hành vi đó, phápluật phân biệt mức độ năng lực pháp luật hành vi của cá nhân Độ tuổi được xem là tiêu chí chung nhất đểphân biệt mức độ năng lực hành vi của cá nhân:

Không có năng lực hành vi

Hạn chế năng lực hành vi dân sự

Mất năng lực hành vi.

Trang 12

NLHVDS một phần

Người chưa đủ 6 tuổi không có năng lực hành vi dân sự.

Người có năng lực hành vi dân

sự nhưng do một sự kiện, hiện tượng mà

toàn quyền tham

gia vào quan hệ

dân sự với tư cách

chủ thể độc lập và

chịu trách nhiệm

với hành vi do họ

Người có NLHV một phần là người chỉ có thể xác lập, thực hiện quyền

và NV và trách nhiệm trong một giới hạn nhất định

do PLDS quy định

Mọi GDDS của người này đều do người đại diện xác lập và thực hiện.

Do người này k đủ NLHV điều khiển hành vi và hậu quả của hành vi đó.

Người nghiện ma túy, các chết kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người bị

Mọi GDDS của người này đều

do người đại diện họ xác lập

và thực

Trang 13

Ý nghĩa: các mức độ NLHVDS của cá nhân thể hiện khả năng xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ của

cá nhân Căn cứ vào việc xác định các mức độ hành vi dân sự của cá nhân có thể xác định được đầy đủ tưcách của cá nhân trong các quan hệ dân sự về hành vi do họ thực hiện

15.Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân ?

Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân quy định tại điều 14 BLDS “Năng lực dân sự của cá nhân

là khả năng cá nhân có quyền và có nghĩa vụ dân sự

NLPLDS của một người là tiền đề, điều kiện cần thiết để công dân có quyền và có nghĩa vụ

Đặc điểm của năng lực pháp luật dân sự của cá nhân:

- NLPLDS của cá nhân được nhà nước ghi nhận trong các văn bản pháp luật mà nội dung của nó phụ

thuộc vào các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội; hình thái kinh tế tại một thời điểm lịch sử nhất định

- Mọi cá nhân đều bình đẳng về NLPL khoản 2 Điều 14 quy định: “Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật

như nhau” NLPL k bị hạn chế bởi bất cứ lý do nào.

NLPLDS của cá nhân # Quyền DS chủ quan của cá nhân: NLPL là tiền đề cho CD có các quyền DS

cụ thể chứ bản thân nó không phải là quyền

-NLPLDS của cá nhân do Nhà nước quy định cho tất cả cá nhân, nhưng Nhà nước cũng không cho

phép công dân tự hạn chế NLPLDS của chính họ

Điều 16 BLDS: “năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không thể bị hạn chế trừ trường hợp do pháp

luật quy định” Như vậy theo quy định của pháp luật, cá nhân có thể bị hạn chế NLPLDS theo hai dạng:

+ Văn bản Pháp luật chung quy định một loại người nào đó không được phép thực hiện các GDDS

cụ thể VD: không cho người nước ngoài thuê nhà (389/CP); không được kinh doanh những nghềnhất định

+ Quyết định đơn hành của CQNN có thẩm quyền VD: tòa án quyết định cấm cư trú với ngườinào đó trong khoảng thời gian xác định

 Về bản chất chỉ là tạm đình chỉ khả năng chứ không phải tước bỏ NLPLDS

- Tính đảm bảo của BLPLDS Quyền và NV của các chủ thể chỉ tồn tại là những quyền khách quan

mà pháp luật đã quy định cho các chủ thể, để biến những “Khả năng” thành quyền ds cụ thể cần nhiềuđiều kiện khách quan (kinh tế, xã hội, chính sách của đảng) và điều kiện chủ quan khác

16. Hạn chế năng lực hành vi dân sự của cá nhân ?

Trả lời:

Khái niệm :Năng lực hành vi Dân sự là gì?

Trang 14

Năng lực hành vi dân sự của người đã thành niên có thể bị hạn chế trên cơ sở những điều kiện và thủ

tục được quy định tại điều 25 BLDS

NLHV của một người thành niên bị hạn chế # NLHV một phần của người đủ 6 tuổi tới chưa đủ 18 tuổi

- Người từ đủ 6 tới chưa đủ 18 tuổi mặc nhiện được công nhận là NLHV đầy đủ khi đủ độ tuổi nhất định

- Người được coi là hạn chế NLHVDS phải thông qua Tòa án theo trình tự tố tụng dân sự và được áp

dụng với người “nghiện ma túy và các chất kích thích” dẫn tới “phá tán tài sản của gia đình”

Khi tuyên bố một người bị HCNLHVDS phải căn cứ vào tình hình thực tế và theo yêu cầu củanhững người có quyền , lợi ích liên quan, tổ chức hữu quan >Tòa án mới có thể tuyên bố

Người đại diện theo pháp luật của người hạn chế NLHVDS và phạm vi do Tòa án quyết định.GDDS của người bị HCNLHVDS phải có sự đồng ý của người đại diện, trừ giao dịch nhằm phục vụ sinhhoạt hàng ngày

Khi không còn căn cứ tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu củachính người đó hoặc người có quyền lợi liên quan, cơ quan hữu quan > Tòa án tuyên hủy bỏ quyết định

Hậu quả pháp lý của việc hạn chế NLHVDS: tư cách chủ thể của những người này như người có

năng lực hành vi một phần

Trang 15

17 Mất năng lực hành vi dân sự của cá nhân ?

Khái niệm “Mất”: sự đang tồn tại của một hiện tượng sự vật, sau đó không còn nữa

NLHVDS của cá nhân cũng là thuộc tính nhân thân của cá nhân và đầy đủ khi đến tuổi thành niên

Cá nhân bị tuyên bố là bị mất NLHVDS nếu có đủ điều kiện, với trình tự, thủ tục nhất định Nếu cá nhân

bị bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác mà không thể nhận thức và điều khiển hành vi của mình thì được coi

là mất NLHVDS ( Điều 22 BLDS)

Tuyên bố là Mất NLHVDS: Trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định có thẩm quyền + theo yêu

cầu của người có quyền và lợi ích liên quan

Hủy bỏ quyết định tuyên bố mất NLHVDS: Không còn những nguyên nhân trên + theo yêu cầu

của người có quyền và lợi ích liên quan

Mọi GDDS của Người mất NLHVDS do người đại diện của họ xác lập, thực hiện

18 Tuyên bố mất tích đối với cá nhân: điều kiện, hậu quả pháp lý ?

Trả lời:

Cơ sở pháp lý: Điều 88 BLDS.

Điều kiện: Một người được coi là mất tích nếu

+ Biệt tích từ hai năm liền trở lên

+ Phải hoàn thành các thủ tục thông báo, tìm kiếm người vắng mặt Đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của PL nhưng không có tin tức

+ Theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan => Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích

- Biệt tích hai năm trở lên không có một tin tức gì, các căn cứ xác định tin tức theo điều 74 của BLDS:

+ Nơi cư trú cuối cùng của cá nhân được xác định tại mục 3, chương III- Phần thứ nhất BLDS

+Về chủ thể có quyền yêu cầu tuyên bố một người mất tích đó là người có mối liên hệ nào đó mà quyềnlợi của họ bị ảnh hưởng khi vắng mặt chủ thể này Về nguyên tắc, người nào có tài sản liên quan tới ngườibiệt tích sẽ bị thiệt hại nếu không tuyên bố người đó mất tích > họ có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố mấttích

+ Thời hạn 2 năm tính theo quy định khoản 1 Điều 78.( sau khi đã thông báo, tìm kiếm người vắng mặt với thời hạn luật định)

- Từ ngày biết được tin tức cuối cùng của người đó, người có quyền lợi có quyền yêu cầu Tòa tuyên bố người đo mất tích

Hậu quả pháp lý:

Hậu quả của việc tuyên bố một người là mất tích:

Trang 16

 Về Tài sản: Tài sản của người bị tuyên bố mất tích sẽ quản lý theo quyết định của Tòa án theo quy định tại điều 75, 76, 77, 79

- Đối với TS đã được người vắng mặt ủy quyền quản lý thì ng quản lý tiếp tục quản lý

- TS chung do CSH còn lại quản lý

- TS do vợ chồng đang quản lý thì vợ hoặc chồng tiếp tục quản lý

- Nếu những trường hợp được nói k có , Tòa chỉ định người thân thích của người vắng mặt là người quản lý

 Tạm thời đình chỉ tư cách chủ thể của người bị tuyên bố là mất tích # Chấm dứt tư cách chủ thể

 Về Hôn nhân: Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì tòa giải quyếtcho ly hôn

Hủy bỏ việc quyết định tuyên bố mất tích:

Giải quyết theo hai phương hướng – Phục hồi năng lực chủ thể hoặc chấm dứt tư cách chủ thể.

Phục hồi tư cách chủ thể xảy ra khi: + Người tuyên bố mất tích trở về

Trang 17

19 Tuyên bố chết đối với cá nhân: điều kiện, hậu quả pháp lý?

Cơ sở pháp lý: Điều 81 BLDS

Điều kiện:

 Có yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan

 Phải hoàn thành thủ tục thông báo, tìm kiếm

 Khi cá nhân đã biệt tích qua một thời hạn nhất định

Thuộc bốn trường hợp sau đây, Tòa có thể tuyên bố một người đã chết.

1) Sau ba năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn

không có tin tức xác thực là còn sống Tạm dừng năng lực chủ thể > Chấm dứt tư cách chủ thể

2) Biệt tích trong chiến tranh sau năm năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức

xác thực là còn sống ( nếu không tuyên bố là mất tích trước đó)

3) Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau một năm, kể từ ngày có tai nạn, thảm họa, thiên tai đó

chấm dứt mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp có quy định khác ( ngườituyên bố ở đây phải ở trong số người bị nạn )

4) Biệt tích 5 năm mà không có tin tức gì xác thực là còn sống hay không Thời hạn được tính theo

quy định tại khoản 1 Điều 78

Hậu quả pháp lý: Chấm dứt tư cách chủ thể của người bị tuyên bố chết Tài sản của người được tuyên bố

là chết sẽ thực hiện nghĩa vụ tài sản của họ và chia thừa kế Quan hệ hôn nhân chấm dứt ngay từ thời điểmTòa Tuyên bố người đó chết

Xác định ngày chết: Ngày có hiệu lực của ban án hoặc ngày thảm họa thiên tai xảy ra

20 Các hình thức giám hộ?

Trả lời:

- Khái niệm: (theo điều 58 BLDS) giám hộ là việc cá nhân, tổ chức (sau đây gọi chung là người giám

hộ) được pháp luật quy định hoặc được cử để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự (sau đây gọi là người được giám hộ).

-Tồn tại hai hình thức giám hộ là : giám hộ đương nhiên và giám hộ được cử.

Khái niệm là hình thức giám hộ do pháp luật quy

định

là hình thức cử người giám hộ theo trình

tự pháp luật quy định Người giám

hộ

Người giám hộ đương nhiên chỉ có thể là

cá nhân Quan hệ này được xác định: các

quy định về người giám hộ, người đượcgiám hộ; quyền và nghĩa vụ của ngườigiám hộ đối với người được giám hộ và

cá nhân, cơ quan, tổ chức đều có thể trở

thành người giám hộ Một người có thểgiám hộ cho nhiều người, nhiều người cóthể giám hộ cho một người Trừ các trườnghợp quy định tại khoản 2, 3 Điều 62 BLDS

Trang 18

21 Phân tích các điều kiện của cá nhân làm người giám hộ?

Trang 19

3) Các điều kiện cần thiết đảm bảo thực hiện việc giám hộ Các điều kiện cần thiết đó là: sức khỏe, thời gian, tiền bạc…

22 Phân tích quyền và nghĩa vụ của người giám hộ?

Quyền và nghĩa vụ của người giám hộ được quy định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của họ một cách tốt nhất Quy định tại điều 65, 66, 67 BLDS

Nghĩa vụ của người giám hộ là:

Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được giám hộ: Thể hiện đó là người giám hộ thay cho

người được giám hộ quản lý tài sản của mình, tự mình hoặc giám sát người được giám hộ trong việc

sử dụng và định đoạt tài sản vì lợi ích của NĐGH sao cho hiệu quả nhất

Chăm sóc, giáo dục NĐGH là người <15t; chăm sóc, bảo đảm việc điều trị cho NĐGH là người mất

năng lực hành vi dân sự

Quản lý tài sản của NĐGH: NGH có trách nhiệm quản lý tài sản của NĐGH như với tài sản của mình

(bảo quản, giữ gìn, không làm hư hỏng, mất mát, không cho tặng tài sản), chỉ được sử dụng tài sản vìlợi ích của NĐGH; GDDS có gtri lớn phải có sự đồng ý của người giám sát

Đại diện cho NĐGH tham gia các GDDS: Đại diện cho NĐGH không chỉ là mà nghĩa vụ còn là

quyền Trừ khi người >6 tới <18t có thể tự mình thực hiện GDDS theo điều 20 BLDS

Quyền của người giám hộ là:

Căn cứ: Quyền của NGH theo điều 67 BLDS.

Mục đích đặt ra: Nhằm đảm bảo cho việc giám hộ trong việc thực hiện các hvpl thay mặt người được

giám hộ trong việc thực hiện quyền và NV của người được giám hộ NGH được quyền sử dụng tài sảncủa NĐGH thực hiện thanh toán các chi phí sinh hoạt, chi phí quản lý tài sản, bồi thường thiệt hại chocác hành vi của NĐGH gây ra

Người giám hộ có thể thay đổi nếu:

+ Không đủ các điều kiện làm giám hộ

+ Cá nhân chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là mất tích, chết; tổ chức làm giám hộ bị chấm dứt hoạt động.+ Vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ NGH

+ NGH đề nghị được thay đổi và có người khác nhận làm giám hộ

23 Nơi cư trú của cá nhân ? Ý nghĩa pháp lý của việc xác định nơi cư trú của cá nhân ?

Trả lời:

Căn cứ pháp lý: quy định tại Điều 52 tới điều 57 BLDS

Nơi cư trú được hiểu là: + nơi người đó thường xuyên sinh sống

Trang 20

+ Trường hợp không xác định được nơi thường xuyên sinh sống thì nơi cư trú là

nơi người đó đang sinh sống

Nơi cư trú của cá nhân là:

Người chưa thành niên: (Điều 53) là nơi cư trú của cha mẹ, nếu cha mẹ có nơi cư trú khác nhau thì

nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha hoặc của mẹ mà người chưa thành niên

thường xuyên chung sống => vẫn có thể cư trú nơi khác, nếu cha mẹ hoặc người giám hộ đồng ý hoặc pháp luật có quy định

Người được giám hộ: (Điều 54) là nơi cư trú của người giám hộ hoặc nơi khác nếu có sự đồng ý

của NGH hoặc PL có quy định khác

Vợ chồng (Điều 55): là nơi vợ chồng thường xuyên chung sống hoặc nơi khác nếu có thỏa thuận.

Quân nhân (Điều 56): là nơi quân nhân đó đóng quân, đơn vị của những người đó đóng quân trừ

khi có quy định khác theo khoản 2 Điều 52

Người làm nghề lưu động(Điều 57): là nơi đăng ký tàu , thuyền, phương tiện đó, trừ trường hợp họ

có nơi cư trú theo khoản 1 Điều 52

Ý nghĩa của việc xác định nơi cư trú của cá nhân.

- Bảo vệ quyền của cá nhân, bảo đảm sự ổn định các quan hệ dân sự về quản lý nhà nước đối với cánhân

Trang 21

- Là nơi thực hiện các quyền và NVDS, nơi mở thừa kế khi công dân chết, nơi xác định cá nhân đãchết, hoặc mất tích, nơi Tòa án có quyền giải quyết các giấy tờ mà cá nhân là bị đơn (thẩm quyềnquản hạt của Tòa án)

24 Phân tích hậu quả pháp lý của việc tuyên bố mất tích và tuyên bố chết đối với cá nhân ?

Xem câu 18, 19

25 Phân tích các điều kiện của pháp nhân ?

Trả lời:

Lý do: Cơ quan, tổ chức cũng tham gia QHDS với tư cách chủ thể > phải có những điều kiện nhất định

do pháp luật quy định > Khái niệm pháp nhân (phân biệt với thể nhân là những cá nhân khi tham giaQHPL)

Khái niệm: Pháp nhân là một tổ chức (1)thống nhất, (2)độc lập, (3) có tài sản riêng và (4) chịu trách

nhiệm bằng tài sản của mình, (5) nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập => có

5 ý lớn giúp phân tích đặc điểm của pháp nhân

- Các điều kiện của pháp nhân: (Hiểu đơn giản điều kiện của pháp nhân cũng chính là điều kiện của

một cá nhân để có được tư cách chủ thể )

a) Được thành lập một các hợp pháp

Làm thế nào để được coi là thành lập hợp pháp??

Thành lập phải có mục đích, nhiệm vụ, theo trình tự, thủ tục do luật định Tổ chức hợp pháp đượcNhà nước công nhận dưới các dạng: CQNN có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, đăng ký hoặccông nhận Nhà nước ra quyết định thành lập, thủ tục, điều kiện thành lập các tổ chức đều chi phối đến các

tổ chức tồn tại trong xã hội => Tổ chức đảm bảo được lợi ích phù hợp với lợi ích của Nhà nước, giai cấpthống trị

b) Cơ cấu tổ chức chặt chẽ

-Tổ chức phải là một tập thể người được sắp xếp dưới một hình thái nào đó (doanh nghiệp, công ty, bệnhviện…) phù hợp với chức năng và lĩnh vực hoạt động, đảm bảo tính hiệu quả trong hoạt động của loạihình tổ chức đó Cơ cấu của tổ chức phải biến một tập thể người thành một thể thống nhất + thực hiệnnhiệm vụ hiệu quả của tổ chức đó

Việc lựa chọn hình thức tổ chức phụ thuộc vào: mục đích, nhiệm vụ của tổ chức, cách góp vốn thành

tài sản của tổ chức, do tính chất, truyền thống về loại hình tổ chức và tên gọi của tổ chức đó Sự thốngnhất về tổ chức được quy định trong quyết định thành lập, điều lệ mẫu, VBPL, điều lệ của từng loại tổchức đơn lẻ

-Phải là một tổ chức độc lập Thể hiện: sự độc lập của tổ chức được coi là pháp nhân chỉ giới hạn trong

quan hệ DS, KT, LĐ với các chủ thể khác; không bị chi phối bởi các chủ thể khác khi qđ những vấn đề

Trang 22

liên quan đến nhiệm vụ của tổ chức đó Pháp nhân có ý chí riêng và hành độc theo ý chí của mình Sựđộc lập còn thể hiện ở chỗ nó không phụ thuộc vào sự thay đổi của các thành viên của pháp nhân.

c) Có tài sản độc lập và tự chịu trách nhiệm độc lập bằng tài sản đó

- Khi tham gia vào các QHTS với tư cách là một chủ thể độc lập, chủ thể đó phải có tài sản riêng củamình – Tài sản độc lập

- Nguồn hình thành: gồm tài sản thuộc sở hữu của pháp nhân và Nhà nước giao cho tổ chức được

quyền quản lý của pháp nhân đó

- Tính chất: tài sản của pháp nhân độc lập với tài sản của cá nhân – Thành viên của pháp nhân; độc

lập với cơ quan cấp trên của pháp nhân và các tổ chức khác

- Quyền: Pháp nhân có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình trong phạm vi nhiệm

vụ, phù hợp với mục đích của pháp nhân

- Dạng tài sản: gồm vốn, tư liệu sản xuất và các loại tài sản khác phù hợp với từng loại pháp nhân.

- Pháp nhân phải chịu trách nhiệm bằng tài sản riêng của mình: Pháp nhân tham gia các QHTS,

QHNT như một chủ thể độc lập Pháp nhân không chịu trách nhiệm thay cho cơ quan cấp trên củapháp nhân hoặc cho thành viên của pháp nhân Các thành viên cũng k phải dùng tài sản riêng đểthực hiện nghĩa vụ riêng của pháp nhân

d) Nhân danh mình tham gia các QHPL một cách độc lập, có thể là nguyên đơn, bị đơn trước Tòa án.

Trang 23

Chủ thể độc lập  tham gia các QHPL cũng có tư cách riêng, có khả năng hưởng quyền và chịuNVDS do pháp luật quy định phù hợp với các điều lệ của pháp luật.

Chủ thể độc lập  Không núp dưới danh nghĩa của tổ chức khác và ngược lại Nếu pháp nhânkhông thực hiện NV thì có thể là bị đơn trước Tòa, hoặc gây thiệt hại cho pháp nhân thì cũng có quyềnkhởi kiện trước Tòa

26 Phân tích trách nhiệm dân sự của pháp nhân ? Cho ví dụ minh hoạ ?

Trả lời:

Trách nhiệm dân sự của Pháp nhân

Trên cơ sở có tài sản riêng, pháp nhân phải chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình Pháp nhân tham giavào các QHTS, QHNT như một chủ thể độc lập và phải chịu trách nhiệm về những hành vi được coi làhành vi của pháp nhân Cơ quan cấp trên không chịu trách nhiệm thay hay bổ sung cho pháp nhân, Phápnhân cũng không chịu trách nhiệm thay cho cơ quan quản cấp trên hoặc thành viên của pháp nhân

Trách nhiệm của pháp nhân thuộc dạng trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi tài sản riêng của pháp nhân

Khác

Nhau

Năng lực pháp luật dân sự và năng

lực hành vi dân sự là khác nhau

Năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự

là một, phát sinh vào thời điểm xác lập pháp nhân.NLHVDS của cá nhân có nhiều

mức độ

NLHVDS của pháp nhân không phân cấp mức độTrách nhiệm vô hạn bằng tài sản

của mình kkhi tham gia các GDDS

Trách nhiệm hữu hạn, chỉ trong phạm vi vốn điều lệcủa pháp nhân Pháp nhân chỉ được tham gia một sốGDDS nhất định, dựa trên hành vi của người đại diện

chế khi pháp luật có quy định

Chấm dứt khi pháp nhân k còn tồn tại

Xác định trong các VB luật Xác định trong các quy định, điều lệ của pháp nhân đóNhư nhau giữa các nhân NLPLDS

của cá nhân không bị hạn chế trừ

trường hợp do pháp luật quy định

Khác nhau giữa các cá nhân NLPLDS của pháp nhânphụ thuộc vào chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền cụ thểcủa từng pháp nhân

Năng lực

hành vi

Khả năng thực hiện hành vi Khả năng hoạt động

Phụ thuộc vào mức độ trưởng thành

và nhận thức, độ tuổi của cá nhân

Phụ thuộc vào NLPL của từng pháp

Trang 24

28 Năng lực chủ thể và trách nhiệm dân sự của hộ gia đình ?

Trả lời:

Khái niệm: Hộ gia đình được quy định tại điều 106 BLDS “hộ gia đình mà các thành viên có tài sản

chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và một

số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này.

Năng lực chủ thể của hộ gia đình:

Trang 25

Để tham gia vào các quan hệ dân sự thì HGĐ cũng phải có năng lực chủ thể Năng lực chủ thể của

hộ gia đình có nét tương đồng năng lực chủ thể của pháp nhân ở chỗ:

- NLPL và NLHV của hộ gia đình phát sinh đồng thời với việc hành thành hộ gia đình với tư cáchchủ thể

- Năng lực chủ thể của HGĐ do pháp luật quy định và có tính chất hạn chế trong một số lĩnh vực(xem thêm điều 106 giới hạn ở nông, lâm, ngư nghiệp,…)

 HGĐ là chủ thể bị hạn chế trong các QHDS chỉ được tham gia vào các QHDS liên quan tới quyền sửdụng đất, chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp, đất ở, vay vốn ngân hàng để sản xuất, kinh doanh…

và tham gia một số quan hệ phục vụ nhu cầu chung của cả hộ

 Yếu tố ảnh hưởng: Do ảnh hưởng của đặc thù gia đình nói chung và hộ gia đình nói riêng = sự cộngđồng các thành viên trong gia đình, là trật tự gia đình truyền thống; sự phân hóa các gia đình thành các

hộ gia đình, một hộ gia đình thành nhiều hộ gia đình Miễn là thỏa mãn điều kiện “có tài sản chung đểhoạt động kinh tế chung” > có thể hình thành hộ gia đình với tư cách chủ thể tham gia các quan hệdân sự luật định

Trách nhiệm dân sự của hộ gia đình:

- Khi tham gia vào bất kỳ một quan hệ pháp luật dân sự nào, hộ gia đình phải chịu trách nhiệm dân sựtrong quan hệ mà họ tham gia

- Người đại diện cho hộ gia đình xác lập, thực hiện các GDDS làm phát sinh quyền và NV của cả hộ,đồng thời làm phát sinh trách nhiệm cho cả hộ với tư cách chủ thể

- ( điều 110)Thể hiện: trách nhiệm của HGĐ được thực hiện bằng tài sản chung của cả hộ, nếu tài sảnchung không để thực hiện nghĩa vụ chung của cả hộ thì các thành viên phải chịu trách nhiệm liênđới bằng tài sản riêng của mình > 15t > chịu trách nhiệm liên đới > TRÁCH NHIỆM TÀI SẢNCỦA HỘ GIA ĐÌNH LÀ TRÁCH NHIỆM VÔ HẠN

29 Năng lực chủ thể và trách nhiệm dân sự của tổ hợp tác ?

Trả lời:

Khái niệm: tổ hợp tác được định nghĩa theo điều 111 “Tổ hợp tác được hình thành trên cơ sở hợp đồng

hợp tác có chứng thực của UBND xã, phường thị trấn từ ba cá nhân trở lên, có đóng góp tài sản, công sức để thực hiện những công việc nhất định, cừng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm là chủ thể trong các quan hệ dân sự.”

Năng lực chủ thể của tổ hợp tác:

Để tham gia các GDDS, tổ hợp tác cũng phải có điều kiện về năng lực chủ thể

- Tổ hợp tác được hình thành trên cơ sở hợp đồng để hợp tác thực hiện “những công việc nhất định” Bởi vậy, “những công việc nhất định” là phạm vi hoạt động và giới hạn năng lực chủ thể của tổ hợp

Trang 26

tác…Do không quy định những công việc đó là gì nên khi thành lập, THT phải ghi rõ nội dung côngviệc đó.(công việc hợp pháp, k trái đạo đức)

- Năng lực chủ thể của THT là năng lực chuyên biệt chỉ được dành cho công việc đã ghi nhận trong hợpđồng hợp tác Việc giao kết hợp đồng hợp tác phải tuân thủ các điều kiện về GDDS và hợp đồng

- Năng lực chủ thể của tổ hợp tác phát sinh cùng với việc thành lập và chấm dứt khi chấm dứt sự tồn tạicủa tổ hợp tác với tư cách là một chủ thể

Thời điểm thành lập thời điểm UBND chứng nhận hợp đồng hợp tác

Thời điểm chấm dứt= điều 129 BLDS (hết hạn hợp đồng, mục đích hợp tác đã đạt được, các tổ viên thỏa thuận chấm dứt hợp tác)

Chấm dứt hợp đồng= báo cáo UBND nơi chứng nhận HĐ+ thanh toán các khoản nợ bằng tài sảnchung, nếu không đủ thì dùng tài sản của tổ viên để thanh toán

Trách nhiệm của tổ hợp tác:

Với tư cách là chủ thể của QHPLDS thì trách nhiệm cũng được quy định tài điều 117BLDS.TNDS của tổ hợp tác là Trách nhiệm vô hạn Việc thực hiện nghĩa vụ của những tổ viên phải tuânthủ cách thức thực hiện nghĩa vụ liên đới được quy định tại điều 298 BLDS Sự liên đới có phân chiathành phần tương ứng với phần vốn mà các tổ viên đóng góp và tài sản chung Nếu một tổ viên đã thựchiện nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu các tổ viên khác phải thực hiện nghĩa vụ theo phần đối với họ

Trang 27

Tài sản= đóng góp của các thành viên +được tăng cho chung+Thỏa thuận về việc trích các hoa lợi, lợi tứclàm tài sản chung.

30 Phân loại giao dịch dân sự ?

Trả lời:

GDDS theo điều 121 BLDS : là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương (Trích cách nhớ của thầy côthì đó là hành vi pháp lý đơn phương hoặc đa phương), làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụdân sự

Là loại GDDS mà hiệu lực của nóphát sinh hoặc bị hủy bỏ phụ thuộcvào sự kiện nhất định

Ngoài điều kiện của một GDDS thìcần phải có sự kiện nhất định mới

đủ điều kiện cho GDDS đó phátCác chủ thể tham gia

hướng tới một kết quả

chung, mục đích nhưng lợi

ích mà mỗi bên hướng tới

là khác nhau

Vấn đề mà chủ thể thể hiện

đã được luật DS dự liệu hậuquả pháp lý, chủ thể thựchiện hành vi nhằm làm phátsinh QHNV với chủ thể

Nó là sự kiện của tương lai, có thểxảy ra, có thể không xảy ra màkhông phụ thuộc vào ý chí của chủthể trong GDDS

Luôn có yếu tố thỏa thuận

Khi A làm hợp đồng tặng cho đấtcho con trai là B, HĐ chỉ phát sinhkhi vợ B sinh con trai (hoặc khi B

31 Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự ?

Trả lời:

Căn cứ pháp lý: Điều 122 BLDS năm 2005

a) Người tham gia giao dịch phải có năng lực hành vi dân sự.

Người tham gia giao dịch dân sự phải hiểu theo nghĩa rộng: gồm cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác

Trang 29

+ Người từ đủ 6 tới 18 tuổi có năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ khi xác lập, thực hiện GDDS phải có

sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật trừ những GDDS nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt

+ Người từ đủ 15 tới chưa đủ 18t được xác lập, thực hiện các GDDS trong phạm vi tài sản riêng của họ,trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

+ Người chưa đủ 6t mất năng lực hành vi dân sự không được phép xác lập GDDS Mọi GDDS của ngườinày đều do người đại diện xác lập, thực hiện

- Chủ thể khác (pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác)

Các chủ thể này tham gia GDDS thông qua người đại diện của họ (đại diện theo pháp luật, theo ủyquyền) Các quyền, NV do người đại diện xác lập làm phát sinh quyền, NV của pháp nhân, HGĐ, THT).Tuy nhiên, phạm vi các GDDS được giới hạn bởi đặc thù của mỗi chủ thể khác nhau

+ Pháp nhân: phạm vi trong nhiệm vụ , mục đích

+Hộ gia đình: Phạm vi trong liên quan tới quyền sử dụng đất, hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp

và một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác

+ Tổ hợp Tác: Phạm vi liên quan tới các hợp đồng sản xuất, kinh doanh xác định trong hợp đồng.

 Người đại diện chỉ xác lập GDDS làm phát sinh quyền, NV trong phạm vi nhiệm vụ của chủ thể đó

b) Mục đích và nội dung của giao dịch không được trái pháp luật và đạo đức xã hội.

- Mục đích của GDDS là lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó

(mục đích thực tế)

- Nội dung của GDDS là tổng hợp các điều khoản mà các bên đã cam kết, thỏa thuận trong giao dịch.

Mục đích và nội dung có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Xác lập GDDS, con người phải cam kết,thỏa thuận về nội dung để đạt được mục đích nhất định của GDDS Để GDDS có hiệu lực pháp luật thìmục đích và nội dung không trái pháp luật và đạo đức xã hội Đạo đức= chuẩn mực ứng xử chung giữacon người với con người trong xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng Điều cấm của pháp luật lànhững quy định của pl không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định => GDDS trái phápluật, đạo đức xã hội không làm phát sinh hiệu lực pháp luật của giao dịch đó

c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

Bản chất của giao dịch dân sự = sự thống nhất ý chí +bày tỏ ý chí = tự do ý chí + bày tỏ ý chí

NOT (tự do+bày tỏ) ý chí= NOT tự nguyện Sự tự nguyện là nguyên tắc chung của quan hệ dân sự đượcquy định tại điều 4

d) Hình thức của giao dịch phù hợp với quy định của pháp luật.

Khái niệm: Hình thức của GDDS là phương tiện thể hiện nội dung của GDDS Hình thức = phương tiện

để bên thứ 3 biết được nội dung của GDDS đã được xác lập, là chứng cứ để xác nhận các quan hệ đã,đang tồn tại giữa các bên, qua đó xác định được TNDS khi có HVVP

GDDS được thể hiện bằng lời nói hoặc bằng văn bản, hoặc bằng hành vi cụ thể

Trang 30

- Hình thức miệng (bằng lời nói): hình thức miệng được coi là hình thức phổ biến.

+ Áp dụng với các GDDS thực hiện ngay và chấm dứt ngay sau đó (mua bán trao tay)

+ Giữa các chủ thể có quan hệ thân thiết, tin cậy, giúp đỡ lẫn nhau (bạn bè, người thân cho vay, mượn tài sản)

+ Hoặc phải đảm bảo những điều kiện nhất định mới có giá trị (di chúc miệng- 654 BLDS)

- Hình thức văn bản.

+ Văn bản thông thường: Các bên thỏa thuận hoặc PL quy định các bên phải thể hiện bằng hình

thức văn bản Nội dung VB có chữ ký xác nhận của chủ thể, đây là chứng cứ xác thực chủ thể này

đã tham gia GDDS rõ ràng hơn nhiều trường hợp hình thức miệng

+ Văn bản có công chứng, chứng nhận UBND cấp có thẩm quyền chứng thực: Được áp dụng trong

các trường hợp pháp luật có quy định về GDDS cần lập thành văn bản và có chứng nhận, chứngthực , đăng ký, xin phép thì khi xác lập cần phải tuân thủ hình thức, thủ tục đó

Trang 31

Xem thêm câu 30.

33 Giao dịch dân sự được xác lập do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội ? Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự được xác lập do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội ?

Trả lời: (vô hiệu tuyệt đối)

Điều 128 Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội

Giao dịch dân sự có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì

Hậu quả pháp lý: Tài sản GD có thể bị tịch thu, sung quỹ nhà nước Nếu có thiệt hại thì còn phảichịu phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi Nếu bên nào có lỗi thì phải bồi thường thiệt hại tương ứngcho bên kia

34 Giao dịch dân sự được xác lập bởi sự giả tạo ? Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự được xác lập bởi sự giả tạo ?

Trả lời (vô hiệu tương đối)

Điều 129 Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo

Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu, còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng

vô hiệu theo quy định của Bộ luật này.

Trong trường hợp xác lập giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch đó vô hiệu.

Trường hợp này, các bên tham gia GDDS hoàn toàn tự nguyện giao dịch nhưng lại cố ý bày tỏ ý chíkhông đúng với ý chí thực sự của họ (Có tự nguyện nhưng không có sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ýchí)

Có hai trường hợp giả tạo:

Giả tạo để nhằm che giấu một GD khác Giả tạo nhằm trốn tránh NV với người thứ 3

Khi đó GD giả tạo vô hiệu, còn GD bị che giấu vẫn

có hiệu lực, nếu như GD bị che giấu vẫn đáp ứng

đầy đủ các điều kiện có hiệu lực của GDDS

GD giả tạo sẽ bị vô hiệu

Trang 32

VD: Giao kết hợp đồng thuê mượn tài sản nhằm

che giấu hợp đồng vay mượn tiền

Giao kết hợp đồng tặng cho nhằm che giấu hợp

đồng gửi giữ

VD: Giao kết hợp đồng tặng cho nhưng không làmphát sinh quyền của người được tặng cho nhằm trốntránh NV trả nợ người cho vay trước đó

Hậu quả pháp lý: GDDS giả tạo sẽ bị vô hiệu, không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và NV của

các bên khi tham gia GD

35 Giao dịch dân sự được xác lập bởi sự nhầm lẫn? Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự được xác lập bởi sự nhầm lẫn ?

Trả lời( vô hiệu tương đối)

Điều 131 Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn

Khi một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch dân sự mà xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu Trong trường hợp một bên do lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch thì được giải quyết theo quy định tại Điều 132 của Bộ luật này.

Trang 33

Nhầm lẫn là việc các bên khi tham gia GD hình dung sai về nội dung của GD mà tham gia vào,gây thiệt hại cho mình hoặc cho bên còn lại Sự nhầm lẫn do nhận thức của các bên hoặc phán đoán sai vềđối tượng sự việc, sự nhầm lẫn phải được thể hiện rõ ràng mà căn cứ vào nội dung của GD phải được xácđịnh Nếu bên bị nhầm lẫn chứng minh được sự nhầm lẫn của mình thì GDDS có thể bị tuyên bố vô hiệu.

Lỗi là lỗi vô ý ( lỗi cố ý thì đó là lừa dối) Một bên có lỗi > bên kia nhầm lẫn về nội dung mà xáclập GD, bên nhầm lẫn có thể yêu cầu bên kia thay đổi nội dung, NOT chấp nhận = có quyền yêu cầu Tòa

án tuyên GDDS vô hiệu

Hậu quả pháp lý: tương tự câu 34

36 Giao dịch dân sự được xác lập bởi sự lừa dối, đe doạ? Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự được xác lập bởi sự lừa dối ?

Trả lời:

Điều 132 Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa

Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.

Đe dọa trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình.

Lừa dối là hành vi cố ý của một bên nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của

đối tượng hoặc nội dung của giao dịch nên đã xác lập giao dịch đó (che giấu hành vi bất hợp pháp để đượchưởng thừa kế theo di chúc, dùng thủ đoạn nói vật tốt để bán với giá đắt (mẫu bán hàng đa cấp))

Đe dọa là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba nhằm làm cho bên kia sợ hãi mà thực hiện

giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, tài sản, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của mình hoặccủa cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình Sự đe dọa này phải nghiêm trọng và có thực

Những GDDS xác lập do bị lừa dối, đe dọa chỉ bị đình chỉ khi có yêu cầu của bên bị lừa dối, đedọa và Tòa chấp nhận yêu cầu đó Nếu k có yêu cầu của bên bị lừa dối, đe dọa thì GDDS không bị vôhiệu

Hậu quả pháp lý: tương tự câu 34 GDDS bị tuyên bố vô hiệu, bên lừa dối, đe dọa phải bồi thường thiệt

hại xảy ra với bên bị lừa dối, đe dọa

Trang 34

37 Giao dịch dân sự được xác lập do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện? Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự được xác lập bởi sự đe doạ ?

Trả lời: (Vô hiệu tương đối)

Điều 130 Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện

Khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người

đó, Toà án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện.

Người không có năng lực hành vi dân sự hoặc có năng lực hành vi dân sự không đầy đủ không đủ điều kiện để tự do thể hiện ý chí của mình > GD của họ thực hiện = sự kiểm soát của người khác

 GD của người này k mặc nhiên vô hiệu mà chỉ vô hiệu khi có sự yêu cầu của người đại diện cho họ (người nào đã xác lập giao dịch với họ cũng k có quyền yêu cầu)

Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

 GD của họ sẽ có hiệu lực nếu k yêu cầu Tòa tuyên vô hiệu

38 Giao dịch dân sự vô hiệu ?

Trả lời:

Điều 127 Giao dịch dân sự vô hiệu

Trang 35

Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 122 của Bộ luật này thì

vô hiệu.

GDDS chỉ vô hiệu khi không tuân thủ ba điều kiện có hiệu lực của một GDDS (một số trường hợp mới cần tuân thủ điều kiện về hình thức)

Ý nghĩa:- Thiết lập trật tự, kỷ cương xã hội

- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân và Nhà nước

- Bảo đảm an toàn pháp lý cho các chủ thể trong giao lưu dân sự

Phân loại GDDS vô hiệu gồm: vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tương đối

Đặc điểm GDDS vô hiệu tuyệt đối

(vô hiệu đương nhiên)

GDDS vô hiệu tương đối.

(vô hiệu bị tuyên) Trình tự

vô hiệu

Mặc nhiên coi là vô hiệu K mặc nhiên vô hiệu trừ, chỉ khi có

yêu cầu của người có liên quan và bịTòa tuyên bố vô hiệu

Thời hạn

yêu cầu

Thời hạn không bị hạn chế trừ trường hợp theo

điều 134, thời hiệu áp dụng là 2 năm

Điều 136 Thời hiệu khởi kiện là

2 năm kể từ ngày GDDS xác lập.

Giá trị

GD

GDDS vô hiệu không phụ thuộc vào quyết

định của Tòa án mà đương nhiên k có giá trị

Quyết định của tòa án làm cho GD trở nên vô hiệu, có tính chất phán

xử Bên nào yêu cầu có NV chứng

Mục đích Bảo vệ lợi ích công(của nhà nước và xã hội nói

Gồm GD theo điều 128 vi phạm các điều cấm

Điều 129 xác lập giả tạo Theo điều 134 GD k

tuân thủ hình thức quy định

Gồm GD theo 130 131 132 133

39 Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu ?

Trả lời:

Điều 137 Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

1 Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.

2 Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.

Như vậy, hậu quả pháp lý của GDDS vô hiệu đó là:

Thứ nhất: quyền và nghĩa vụ của các bên Giao kết hợp đồng.

GD vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thờiđiểm xác lập  Pháp luật không công nhận và bảo vệ quyền và NV của các bên khi GD vô hiệu ngay cảkhi các bên đã thực hiện xong hợp đồng

Trang 36

Do đó, GD mới xác lập chưa thực hiện > các bên k thực hiện, các bên đang thực hiện > k tiếptục thực hiện.

Thứ hai: Hoàn trả lại tài sản:

Hậu quả này đặt ra khi các bên đang thực hiện hoặc đã thực hiện xong GD mà không áp dụng trong

trường hợp: + GD mới xác lập và chưa được thực hiện

+ Đối tượng của GD là tài sản bị tịch thu theo quy định của pháp luật

Về nguyên tắc, các bên phải trả lại chính tài sản đã giao cho bên kia nhưng nếu không trả bằng hiện vật thì phải trả bằng tiền Khi hoàn trả các bên phải chứng mình được những tài sản mình đã nhận

trong khi thực hiện hợp đồng

Thứ ba, khôi phục lại tình trạng ban đầu:

Trang 37

Khôi phục tình trạng ban đầu và hoàn trả cho nhau những gì đã nhận là hai khái niệm hoàn toàn khácnhau Tòa án buộc các bên GD vô hiệu phải khôi phục lại tình trạng ban đầu khi tài sản hoàn trả lại khôngđúng với hiện trạng thời điểm xác lập hợp đồng.

- Tài sản đã hư hỏng, giảm giá trị => buộc phục hồi giá trị tài sản.

- Tài sản đã được tu sửa, làm tăng giá trị => Giải quyết theo hướng có lợi cho các bên, Tòa buộc

một bên nhận lại tài sản đã được làm tăng giá trị và thanh toán phần tiền tương ứng với phần giá trịtài sản tăng thêm cho bên kia

Thứ tư, bồi thường thiệt hại:

Theo điều 137 BLDS, bên có lỗi làm cho hợp đồng vô hiệu mà gây ra thiệt hại thì phải bồi thường.Chú ý: GD vô hiệu hoặc do một hoặc do cả hai bên có lỗi Do đó, Tòa án phải xác định mức độ lỗi củatừng bên làm GD vô hiệu để xác định trách nhiệm bồi thường

40 Vấn đề bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu ?

Trả lời:

Điều 138 Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu

1 Trong trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản giao dịch là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại Điều 257 của Bộ luật này.

2 Trong trường hợp tài sản giao dịch là bất động sản hoặc là động sản phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ

ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá

hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa.

GDDS là công cụ để các chủ thể trao đổi lợi ích Thực tế, có trường hợp chủ thể đã xác lập hoặc thực hiện một GDDS nhưng không đạt được lơi ích mà mình mong muốn mặc dù họ hoàn toàn thiện chí và ngay thẳng khi tham gia GD đó  nhà làm luật gọi chủ thể này là Người thứ ba ngay tình.

Nguyên nhân: do lợi ích của họ đối kháng với lợi ích của một người khác – người chủ sở hữu đíchthực của tài sản trong GD  Người xác lập GD với người thứ 3 ngay tình là người không có quyền với tàisản đó

(THAM KHẢO)

Quyền lợi của người thứ ba ngay tình sẽ được bảo vệ trong 2 trường hợp sau: 1

Trường hợp 1: Chủ sở hữu được đòi lại tài sản theo các điều kiện luật định (xem điều 257 và 258

– BLDS 2005) Lúc này, người thứ ba ngay tình phải trả lại tài sản mà mình đang chiếm giữ chochủ sở

Trang 38

hữu đích thực của tài sản và lợi ích của họ sẽ được pháp luật bảo hộ dưới các góc độ sau:

- Được yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại (giá trị đòi bồi thường là giá trị của giao dịch mà họ đã xác lập và

các thiệt hại khác nếu có như hệ số trượt giá của tài sản…) từ người đã trực tiếp chuyển giao tài sản chomình Quy định này hoàn toàn lô gíc về mặt lý thuyết: tuy mục đích trong giao dịch đã xác lập không đạtđược (họ muốn sở hữu tài sản nhưng nay tài sản đã phải trả về cho chủ sở hữu) nhưng họ được quyền đòi

lại những gì đã mất từ người đã trực tiếp xác lập giao dịch; nhưng xét dưới góc độ thực tế thì đây không

phải là quy định mang tính lý tưởng Bởi lẽ, chỉ có thể thi hành quy định này trên thực tế nếu thoả mãnđược hay điều kiện:

1 tìm được người đã chuyển giao tài sản đó cho người thứ ba ngay tình;

2 người phải bồi thường có khả năng tài chính và tự nguyện thực hiện nghĩa vụ.

Điều kiện thứ 1 là khó thực hiện được bởi vốn dĩ họ là người có động cơ tham lam, không trong sáng nênsau khi thực hiện giao dịch xong, đạt được lợi ích mong muốn họ thường tìm cách xoá mọi tin tức để tránhtrách nhiệm sau này Điều kiện thứ 2 phụ thuộc vào điều kiện thứ nhất có tồn tại hay không và cũngthường gặp những phức tạp như: người phải thi hành nghĩa vụ không có tiền để bồi thường hoặc họ tìmcách biển thủ tài sản để chây ì không chịu thực hiện nghĩa vụ

1 Bài viết: Bảo vệ quyền lợi cho người thứ 3 ngay tình: cô Vũ Hồng Yến – Khoa Luật Dân sự, Đại Học Luật Hà Nội.

Trang 39

- Được hưởng hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu đến thời điểm phải hoàn trả tài sản cho chủ sở hữu.

- Được thanh toán những chi phí đã bỏ ra để làm tăng giá trị cho tài sản.

Lưu ý: Nếu là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng không ngay tình phải trả lại tài sản chochủ sở hữu đích thực nhưng không bao giờ được hưởng tất cả các quyền lợi trên, cụ thể như sau:

- Không được quyền yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại từ người đã trực tiếp chuyển giao tài sản cho mình, bởi họ bị coi như vị trí của người tiêu thụ tài sản do hành vi bất hợp pháp mà có

- Phải hoàn trả toàn bộ hoa lợi, lợi tức đã thu được từ tài sản

- Không được thanh toán những chi phí đã bỏ ra để làm tăng giá trị cho tài sản, bởi nhà làm luật coi đó như là hành vi nguỵ trang đối với tài sản

- Phải bồi thường toàn bộ khoản lợi nhuận mà chủ sở hữu bị mất do khai thác và giá trị tài sản

Trường hợp thứ 2: Chủ sở hữu đích thực không có quyền kiện đòi tài sản trong 2 trường hợp:

không đáp ứng được các điều kiện về đòi tài sản được quy định tại điều 257, 258 – BLDS 2005 ;và ngườichiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình được xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu theo quyđịnh tại điều 247 – BLDS 2005

Quyền lợi của người thứ ba ngay tình được bảo vệ trong trường hợp này là được công nhận là chủ

sở hữu hợp pháp đối với tài sản mà mình đang chiếm hữu Đây là phương thức bảo vệ lợi ích của ngườithứ ba ngay tình ưu việt nhất và có tính khả thi cao hơn so với cách thức đòi bồi thường thiệt hại như đãphân tích ở trên Tuy nhiên cách thức bảo vệ này vẫn bộc lộ những khó khăn trong việc xác định các loạigiấy tờ cần thiết nào và các trình tự thủ tục cụ thể gì để đăng ký quyền sở hữu tài sản cho người thứ bangay tình trong trường hợp họ đang chiếm hữu những tài sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy địnhcủa pháp luật

41 Giao dịch dân sự được xác lập do vi phạm quy định của pháp luật về hình thức ? Hậu quả pháp

lý của giao dịch dân sự được xác lập do vi phạm quy định của pháp luật về hình thức ?

Trả lời:

Điều 134 Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức

Trong trường hợp pháp luật quy định hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch mà các bên không tuân theo thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Toà án, cơ quan nhà nước

có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu.

Có những GD bắt buộc phải thê hiện bằng văn bản, phải có chứng thự, chứng nhận, đăng ký hoặc xin phép mà các bên k thực hiện đúng quy định này thì mới bị vô hiệu

Trang 40

GD chỉ vô hiệu khi:

Các bên không tuân thủ quy định + Có yêu cầu của một hoặc cả hai bên với Tòa > Tòa sẽ buộc các bênthực hiện quy định về hình thức trong một thời hạn nhất định (thời hạn do Tòa đưa ra cụ thể) Nếu hoàntất > không bị tuyên vô hiệu Ngược lại > bên nào có lỗi k hoàn tất thì sẽ bồi thường thiệt hại

42.Các loại đại diện ?

Trả lời:

Khái niệm : Điều 139 Đại diện

1 Đại diện là việc một người (sau đây gọi là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác (sau đây gọi là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện.

Đại diện là một quan hệ pháp luật mà chủ thể gồm người đại diện và người được đại diện Ngườiđại diện là nhân danh người được đại diện xác lập GDDS với người thứ 3, vì lợi ích của người được đại

diện Người đại diện xác lập đúng thẩm quyền đại diện Theo khoản 2 thì họ là “Cá nhân, pháp nhân, chủ

thể khác có thể xác lập, thực hiện giao dịch dân sự thông qua người đại diện Cá nhân không được để người khác đại diện cho mình nếu pháp luật quy định họ phải tự mình xác lập, thực hiện giao dịch đó” và

Ngày đăng: 09/07/2021, 23:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w