Áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai tại tòa án nơi có đất tranh chấp” với mong muốn đóng góp một phần công sức vào việc hoàn thiện pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp đất đại tại tòa án hiện nay
Trang 1KHOA LUẬT
BÀI TẬP MÔN:
PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI
Đề tài: Áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai tại tòa án nơi có đất tranh chấp” với mong muốn đóng góp một phần công sức vào việc hoàn thiện pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp đất đại tại tòa án hiện nay.
Thành viên nhóm 7: 1 Bùi Long Thành
2 Phan Phương Thảo
3 Nguyễn Phương Thảo
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1 Tính cấp thiết của đề tài 4
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 5
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
3.1 Mục đích nghiên cứu 6
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 7
4.1 Đối tượng nghiên cứu 7
4.2 Phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài 8
6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 8
7 Cấu trúc của đề tài 8
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI TÒA ÁN NƠI CÓ ĐẤT TRANH CHẤP 9
1.1 Những vấn đề lý luận chung về áp dụng pháp luật 9
1.2 Khái quát về tranh chấp đất đai và các phương thức giải quyết tranh chấp đất đai 13
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của tranh chấp đất đai 13
1.2.2 Các dạng tranh chấp đất đai hiện nay 15
1.2.3 Các phương thức giải quyết tranh chấp đất đai 17
1.3 Hệ thống Tòa án nhân dân và vai trò của Tòa án nơi có đất tranh chấp trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Việt Nam 19
1.3.1 Khái luận chung về hệ thống Tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay 19
1.3.2 Thẩm quyền của hệ thống Toà án nhân dân trong giải quyết tranh chấp đất đai ở Việt Nam hiện nay 20
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 25
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN NƠI CÓ ĐẤT TRANH CHẤP 26
2.1 Thực trạng quy định của pháp luật thực định về giải quyết tranh chấp đất đai tại tòa án nơi có đất tranh chấp 26
2.1.1 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án nhân dân nơi có đất tranh chấp 26
2.1.2 Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân nơi có đất tranh chấp 28
2.2 Thực trạng áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai tại toà án nhân dân 30
2.2.1 Tình hình giải quyết tranh chấp đất đai tại Toà án nhân dân 30
2.2.2 Những thành tựu về áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Toà án 31
2.2.3 Những vấn đề phát sinh trong việc giải quyết tranh chấp đất đai tại Toà án nhân dân 33
Trang 3KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 36
CHƯƠNG 3: TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI TÒA ÁN NƠI CÓ ĐẤT TRANH CHẤP 37 3.1 Quan điểm của Đảng trong việc đổi mới, hoàn thiện hệ thống pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai của hệ thống Tòa án nhân dân 37 3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân nơi có đất tranh chấp 40
3.2.1 Kiến nghị về hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai tại tòa án nơi có đất tranh chấp 40 3.2.2 Kiến nghị về áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai tại tòa án nhân dân nơi có đất tranh chấp 41 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 43
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai, tài nguyên thiên nhiên ban tặng cho mỗi quốc gia, là hiện thân của chủquyền quốc gia, của lãnh thổ và là nguồn nội lực cho sự phát triển của kinh tế, xã hội, anninh và quốc phòng Đối với mỗi người dân, đất đai đã vượt ra khỏi ý nghĩa chỉ là nơi ăn,chốn ở, nguồn sống, nguồn việc làm, là tư liệu sản xuất, đất đai đã và đang trở thành mộtphương thức tích lũy của cải lâu dài và vững chắc nhất Hiện nay, đất đai không chỉ làphục vụ cho các mục đích hiện hữu của đời sống hàng ngày mà còn trở thành một loạihàng hóa đặc biệt lưu thông trên thị trường dưới sự tác động mạnh mẽ của nền kinh tế thịtrường
Xã hội ngày càng phát triển, theo đó, các quan hệ đất đai cũng ngày càng được thiếtlập đa dạng phong phú cả về bề rộng lẫn bề sâu Đặc biệt với sự phát triển nhanh chóngcủa nền kinh tế thị trường, các quan hệ đất đai cũng ngày càng lan rộng cả quy mô vàmức độ phức tạp Kéo theo đó, các tranh chấp, mâu thuẫn, bất đồng của các chủ thể thamgia vào các quan hệ đất đai cũng phát sinh và phát triển theo chiều hướng đa dạng, phứctạp về tính chất, mức độ và ngày càng phổ biến Tình trạng TCĐĐ kéo dài với số lượngngười dân khiếu kiện ngày càng đông là vấn đề rất đáng được quan tâm TCĐĐ phát sinhnhiều ảnh hưởng tiêu cực đến các mối quan hệ trong cộng đồng dân cư, ảnh hưởng đếnphong tục đạo đức tốt đẹp của người dân Việt Nam, gây ra sự mất ổn định về chính trị,trật tự an toàn xã hội
Trong những năm qua, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà các TCĐĐ ngày cànggia tăng Nhìn chung, ngành TAND đã giải quyết thành công một số lượng lớn các vụ ánTCĐĐ, chất lượng xét xử ngày càng được nâng cao, phần nào bảo vệ được quyền và lợiích hợp pháp của các tổ chức xã hội và công dân Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằngnhiều lúc, nhiều nơi hoạt động giải quyết TCĐĐ chưa thực sự đem lại hiệu quả nhưmong muốn trong đó bao gồm cả các yếu tố khách quan và chủ quan Một số nguyênnhân khách quan có thể kể đến như: pháp luật chưa thực sự đồng bộ, nhiều quy địnhpháp luật không còn phù hợp với đời sống xã hội nhưng chậm được điều chỉnh, sửa đổi,
bổ sung, ; còn về nguyên nhân chủ quan: chất lượng đội ngũ làm công tác tiến hành tố
Trang 5tụng chưa thực sự nhận thức đầy đủ về tính chất đặc thù của các TCĐĐ, chậm khắc phụcnhững tồn tại, hạn chế, trình độ chuyên môn của một số thẩm phán còn hạn chế, Vìvậy, việc nghiên cứu TCĐĐ và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành
để giải quyết các TCĐĐ tại TAND nhằm phát hiện ra những hạn chế, thiếu sót, bất cậpcủa hệ thống pháp luật và từ đó đưa ra những kiến nghị, các giải pháp giúp cơ quan nhànước có thẩm quyền có những điều chỉnh phù hợp, góp phần tiếp tục hoàn thiện các vănbản pháp luật về đất đai cho phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước là việclàm hết sức cần thiết và mang ý nghĩa to lớn
Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, nhóm em đã nghiên cứu đềtài “Áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai tại tòa án nơi có đất tranhchấp” với mong muốn đóng góp một phần công sức vào việc hoàn thiện pháp luật trongviệc giải quyết tranh chấp đất đại tại tòa án hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong bối cảnh TCĐĐ ngày càng phức tạp, khó xử lý, tồn đọng, kéo dài, việc giảiquyết tranh chấp còn nhiều bất cập, thiếu thống nhất thì TCĐĐ và giải quyết TCĐĐ cóthể được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, phạm vi khác nhau Cho đến nay, cónhiều công trình nghiên cứu và các bài viết liên quan đến đề tài này dưới nhiều góc độtiếp cận khác nhau, mục đích nghiên cứu khác nhau và dẫn đến quan điểm khác nhau, kếtquả nghiên cứu khác nhau tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu, cách tiếp cận vấn đề Liênquan đến đề tài luận văn, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu khoa học khác như:
“Tranh chấp đất đai và thẩm quyền giải quyết của Tòa án” Luận văn thạc sỹ luật học củatác giả Châu Huế (2003), Khoa luật, đại học quốc gia Hà Nội; “Giải quyết tranh chấp đấtđai theo Luật đất đai 2003”, Luận văn thạc sỹ luật học của Phạm Thị Hương Lan (2009),Viện Nhà nước và pháp luật; “Giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất bằng tòa án tạiViệt Nam”, Luận văn thạc sỹ luật học của Lý Thị Ngọc Hiệp (2006), Trường Đại họcLuật thành phố Hồ Chí Minh; “Cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả giảiquyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất tại tòa án nhân dân”; “Tranh chấp đất đai vàgiải quyết tranh chấp đất đai bằng tòa án ở nước ta”, Luận án tiến sỹ luật học của MaiThị Tú Oanh (năm 2013); đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ năm 2001 của Tòa án nhân
Trang 6dân tối cao do Nguyễn Văn Luật làm chủ nhiệm đề tài; Báo cáo tham luận “Tranh chấpđất đai và khiếu kiện kéo dài: Những nguyên nhân có tính lịch sử” của TS NguyễnQuang Tuyến tại hội thảo “Tình trạng tranh chấp và khiếu kiện đất đai kéo dài: Thựctrạng và giải pháp” ngày 08 – 09 tháng 10 năm 2008 tại Buôn Mê Thuật – Đắc Lắc; bàiviết “Giải quyết tranh chấp đất đai bằng tòa án qua thực tiễn tại một địa phương” của MaiThị Tú Oanh đăng trên tạp chí Nhà nước và pháp luật số 08/2009; Các công trình nàychủ yếu nghiên cứu các quy định của pháp luật đất đai 2003, Bộ luật tố tụng dân sự 2004,
Bộ luật dân sự 2005, các luật có liên quan khác về giải quyết TCĐĐ nói chung và giảiquyết bằng con đường tòa án nói riêng để thấy được những điểm phù hợp và những điểmchưa phù hợp để từ đó có những đề xuất để hoàn thiện những quy định của pháp luật vềgiải quyết TCĐĐ Đồng thời, cũng đánh giá chất lượng và hiệu quả giải quyết TCĐĐbằng Tòa án để từ đó đề ra các biện pháp, cơ chế bảo đảm cho việc thực thi các quy địnhcủa pháp luật và nâng cao hiệu quả giải quyết các TCĐĐ Nhìn chung những công trìnhnghiên cứu về TCĐĐ và giải quyết TCĐĐ đã làm giàu thêm kiến thức lý luận và thựctiễn về vấn đề TCĐĐ và giải quyết TCĐĐ Các công trình nghiên cứu, bài viết nêu trênđược tiếp cận, nghiên cứu, nhận định và đánh giá dưới nhiều khía cạnh và ở những mức
độ khác nhau về những nội dung có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến pháp luật vềTCĐĐ và giải quyết TCĐĐ
Tuy nhiên, vấn đề giải quyết TCĐĐ bằng Tòa án chưa được nghiên cứu một cáchtổng thể dưới góc độ nhìn từ thực tiễn qua công tác giải quyết TCĐĐ của ngành TANDcủa một địa phương cụ thể Vì vậy đề tài: “Áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấpđất đai tại tòa án nơi có đất tranh chấp” trên cơ sở kế thừa và phát huy những thành côngcủa các công trình nghiên cứu trước đó để nghiên cứu một cách toàn diện cả về lý luận
và thực tiễn các quy định của pháp luật về TCĐĐ và giải quyết TCĐĐ nhằm đưa ranhững giải pháp hiệu quả về của công tác giải quyết tranh chấp bằng Tòa án
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trang 7Đề tài “Áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai tại tòa án nơi có đấttranh chấp” có mục đích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về giải quyếtTCĐĐ tại tòa án nơi có đất tranh chấp Từ đó có những giải pháp hoàn thiện pháp luật và
tổ chức thực hiện việc áp dụng pháp luật trong giải quyết TCĐĐ
- Trên cơ sở kế thừa các thành tựu của khoa học pháp lý, Luận văn tiếp tục đi sâutìm hiểu nhằm chỉ ra hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xác lập thẩm quyền củaTAND trong giải quyết TCĐĐ;
- Tìm hiểu, phân tích pháp luật về giải quyết TCĐĐ thông qua TAND và đề xuấtcác giải pháp cơ bản góp phần hoàn thiện mảng pháp luật về lĩnh vực này;
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về giải quyết TCĐĐ bằng Tòa án từ thựctrạng áp dụng pháp luật trong việc giải quyết TCĐĐ trong thực tế hiện nay để từ đó chỉ
ra những khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết TCĐĐ bằng Tòa án hiện nay
- Nêu ra những phương hướng và đề xuất những giải pháp cụ thể, thích hợp gópphần hoàn thiện các quy định của pháp luật về giải quyết TCĐĐ bằng Tòa án tránh việckhiếu kiện kéo dài gây ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các văn bản quy phạm pháp luật nội dung về giải quyết TCĐĐ bằng Tòa án; thựctiễn công tác giải quyết TCĐĐ bằng Tòa án;
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về khái niệm, đặc điểm, nguyên nhân phátsinh TCĐĐ và cơ chế giải quyết TCĐĐ;
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về cơ sở xác định thẩm quyền giải quyết TCĐĐcủa TAND; trình tự, thủ tục giải quyết TCĐĐ tại tòa án cấp sơ thẩm; đặc điểm của việcgiải quyết TCĐĐ thông qua Tòa án so với các phương thức giải quyết TCĐĐ khác;
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng thực thi pháp luật về giải quyết TCĐĐ bằngTAND để nhận diện những mâu thuẫn, bất cập, hạn chế và chỉ ra những nguyên nhân củanhững hạn chế này để từ đó tìm giải pháp để khắc phục
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 8Hệ thống các quy phạm pháp luật thực định về giải quyết TCĐĐ nói chung và giảiquyết TCĐĐ thông qua Tòa án nói riêng từ năm 1986 đến nay.
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản mà luận văn đặt ra, Luận văn sửdụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
- Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, được sử dụng trong Chương 1khi nghiên cứu tổng quan những vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật trong giải quyếttranh chấp đất đai tại tòa án nơi có đất tranh chấp;
- Phương pháp phân tích, phương pháp so sánh luật học, phương pháp thống kê,phương pháp diễn giải, được sử dụng trong Chương 2 khi tìm hiểu, đánh giá thực trạng,thực tiễn áp dụng pháp luật trong giải quyết TCĐĐ tại TAND nơi có đất tranh chấp;
- Phương pháp quy nạp, phương pháp khái quát, được sử dụng trong Chương 3khi đưa ra kinh nghiệm quốc tế về giải quyết tranh chấp đất đai tại TAND và giải phápcho Việt Nam
6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề tài cung cấp những bất cập, hạn chế trong những quy định của pháp luật về vấn
đề giải quyết TCĐĐ và những thực tiễn trong công tác áp dụng pháp luật để giải quyếtTCĐĐ tại Tòa án, từ đó có những kiến nghị, đề xuất giúp nâng cao hiệu quả giải quyếtTCĐĐ trong thực tiễn hiện nay
7 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục những từ viết tắt, Danh mục tài liệu thamkhảo Luận văn có bố cục gồm 03 chương:
Chương 1 Những vấn đề lý luận của áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấpđất đai tại toàn án nơi có đất tranh chấp
Chương 2 Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật trong giải quyếttranh chấp đất tại tòa án nơi có đất tranh chấp
Chương 3 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật trong giải quyết tranh chấp đấtđai tại tòa án nơi có đất tranh chấp
Trang 9CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA ÁP DỤNG PHÁP LUẬT
TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI TÒA ÁN NƠI CÓ ĐẤT TRANH CHẤP 1.1 Những vấn đề lý luận chung về áp dụng pháp luật
Pháp luật là một công cụ để đảm bảo cho một xã hội phát triển ổn định ở bất kìmột hình thức nhà nước nào khi đặt ra những quy phạm pháp luật Thực hiện đúng đắn
và nghiêm chỉnh pháp luật là một yêu cầu khách quan của quản lý nhà nước bằng phápluật Pháp luật được ban hình nhiều nhưng ít đi vào cuộc sống thì điều đó chứng tỏ côngtác quản lý nhà nước kém hiệu quả Do đó, xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật làhai hoạt động có quan hệ chặt chẽ với nhau
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội
do nhà nước ban hành, thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền và được thực hiện bằng cácbiện pháp cưỡng chế của nhà nước
Áp dụng pháp luật (ADPL) là một hình thức thực hiện pháp luật Trong giao tinh
Lý luận nhà nước và pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội và giáo trình Lý luậnchung về nhà nước và pháp luật của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội đều cùng một
quan điểm: “Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật” Quan điểm này gần như đã được coi là “chân lý” vì nó đã tồn tại
và được sử dụng trong một thời gian khá dài Mục đích của áp dụng pháp luật là đảm bảocho những quy phạm pháp luật được thực hiện trong đời sống xã hội Thực hiện phápluật có các hình thức sau tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và ápdụng pháp luật như là hình thức đặc biệt của áp dụng pháp luật
Trong thực tế đời sống xã hội thì áp dụng pháp luật được thể hiện rất rõ trong cáctrường hợp như: khi một chủ thể thực hiện hành vi phạm tội thì ngay sau đó trách nhiệmhình sự không phát sinh và người vi phạm tự giác chấp hành hình phạt tương ứng mà cẩn
có hoạt động của Tòa án và các cơ quan bảo vệ pháp luật để xét xử, ra bản án trong đó ấnđịnh trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, hay khi xảy ra tranh chấp giữa các bên
Trang 10tham gia quan hệ pháp luật nhưng các chủ thể không tự mình giải quyết được, trongtrường hợp này quan hệ pháp luật đã phát sinh nhưng quyền và nghĩa vụ giữa các bênkhông thực hiện được và có sự tranh chấp, thì áp dụng pháp luật sẽ được áp dụng khi cácchủ thể yêu cầu cơ quan Tòa án giải quyết.
Trong thực tiễn và khoa học pháp lý có nhiều quan niệm khác nhau về áp dụng
pháp luật có thể hiểu rằng “ Áp dụng pháp luật là hoạt động có tính tổ chức, thể hiện quyền lực nhà nước được thực hiện thông qua những cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, nhà chức trách hoặc các tổ chức xã hội khi được Nhà nước trao quyền, cá biệt hóa những quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể đối với cá nhân, tổ chức cụ thể”.
Từ nghiên cứu có thể thấy, về cơ bản áp dụng pháp luật như là hình thức đặc biệtcủa thực hiện pháp luật có những đặc điểm sau :
Thứ nhất, áp dụng pháp luật về nguyên tắc chỉ do những cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành Pháp luật quy định các cơ quan nhà nước khác nhau có thẩm
quyển áp dụng pháp luật khác nhau Hoạt động áp dụng pháp luật chỉ do những cơ quannhà nước hay những người có thẩm quyền tiến hành và mỗi cá nhân, cơ quan nhà nước
có thẩm quyền chỉ được giao một số hoạt động áp dụng pháp luật nhất định trong phạm
vi thẩm quyền của mình Trong một số trường hợp cá biệt, một số tổ chức xã hội đượcnhà nước trao quyền cũng có thể tiến hành áp dụng pháp luật Hoạt động áp dụng phápluật được tiến hành chủ yếu theo ý chí đơn phương của các cơ quan nhà nước hay nhữngngười có thẩm quyền, không phụ thuộc vào ý chí của những chủ thể có liên quan Trườnghợp cần thiết, áp dụng pháp luật được bảo đảm thực hiện bằng sự cưỡng chế của nhànước Trong quá trình áp dụng pháp luật các cơ quan nhà nước hay những người có thẩmquyền phải xem xét, cân nhắc thận trọng và dựa trên những quy phạm pháp luật đã đượcxác định đề ra văn bản áp dụng pháp luật cụ thể
Thứ hai, áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính tổ chức - quyền lực nhà nước Trong nhiều trường hợp, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành áp dụng
pháp luật theo ý chí đơn phương, không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể bị áp dụng Sự
áp dụng này có tính bắt buộc đối với chủ thể bị áp dụng và được bảo đảm bởi sức mạnhcưỡng chế nhà nước Pháp luật xác định rõ ràng cơ sở, điều kiện, trình tự, thủ tục, quyền
Trang 11lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia trong quá trình áp dụng pháp luật Các cơ quan nhànước, người có thẩm quyền và các bên liên quan trong quá trình áp dụng pháp luật phảituân thủ nghiêm ngặt các quy định có tính thủ tục đó, để tránh những sự tùy tiện có thểdẫn đến việc áp dụng pháp luật không đúng, không chính xác Hình thức thể hiện củahoạt động áp dụng pháp luật là văn bản áp dụng pháp luật do cơ quan nhà nước, người và
tổ chức có thẩm quyền ban hành có tính chất cá biệt, một lần đối với các cá nhân, tổ chức
cụ thể trong những trường hợp xác định, phải phù hợp với pháp luật và dựa trên nhữngquy phạm pháp luật cụ thể được thể hiện trong những hình thức pháp lý xác định như bản
án, quyết định, lệnh… Văn bản áp dụng pháp luật có hai loại : văn bản xác định quyền vànghĩa vụ của chủ thể; văn bản bảo vệ pháp luật chứa đựng những biện pháp trừng phạtcưỡng chế đối với những cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật
Thứ ba, áp dụng pháp luật là hoạt động điều chỉnh cá biệt, cụ thể đổi với các quan hệ xã hội xác định Trên cơ sở những quy tắc xử sự chung trong quy phạm pháp
luật, hoạt động áp dụng pháp luật cá biệt hóa một cách cụ thể và chính xác những quyphạm pháp luật nhất định Các quy phạm pháp luật là những quy tắc xử sự chung nênkhông chỉ rõ được áp dụng vào việc giải quyết một vụ việc thực tế của một chủ thể cụthể
Thứ tư, áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính sáng tạo Bởi vì, áp dụng
pháp luật là quá trình vận dụng cái chung (các quy phạm pháp luật) để giải quyết các vụviệc cụ thể Điều này đòi hỏi người có thẩm quyền áp dụng pháp luật phải vận dụng cáichung cái phù hợp với cái riêng rất phong phú, đa dạng và phức tạp
Tóm lại, áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính tổ chức, tính quyền lực nhà
nước, được thực hiện thông qua cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền hoặc các tổchức xã hội khi được nhà nước trao quyền, nhằm cá biệt hóa những quy phạm pháp luậtvào các trường hợp cụ thể đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể
Giai đoạn 1 : Phân tích đánh giá nội dung, điều kiện hoàn cảnh sự kiện thực tế cần áp dụng pháp luật.
Trang 12Đây là giai đoạn khởi đầu có tính chất bản lề Trước hết cần xác định đúng nộidung, đối tượng, bản chất pháp lý của sự kiến thực tế đó Nếu cần áp dụng pháp luật thìlàm rõ chủ thể nào có thẩm quyền giải quyết sự việc đó Khi điều tra, xem xét phải đảmbảo sự khách quan, toàn diện và đầy đủ những tỉnh tiết của vụ việc, phải nghiên cứu xácđịnh vụ việc đó thực sự có ý nghĩa pháp lý hay không, đánh giá được tầm quan trọng vềmặt pháp lý của nó; tuân thủ các quy định mang tính thủ tục gắn với mỗi loại vụ việc.Tiếp theo về mặt tổ chức, nhân sự,…; xác định thuận lợi khó khăn nhưng nhìn chunghướng đến sự thuận lợi, tiết kiệm chi phí, thời gian đạt hiệu quả cao nhất.
Giai đoạn 2 : Lựa chọn quy phạm pháp luật làm cơ sở pháp lý cho việc đưa ra các quyết định áp dụng pháp luật.
Giai đoạn này là giai đoạn quan trọng trong quy trình áp dụng pháp luật vì nếukhông đưa ra cơ sở pháp lý có sức thuyết phục, phù hợp sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến cácgiai đoạn sau và đến kết quả của quá trình áp dụng Trước hết, phải xác định ngành luậtđiều chỉnh để đi đến lựa chọn quy phạm pháp luật cụ thể thích ứng với vụ việc Quyphạm được lựa chọn phải từ các văn bản quy phạm pháp luật đang có hiệu lực tại thờiđiểm xảy ra sự việc cần áp dụng Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật có quyđịnh hiệu lực trở về trước (hiệu lực hồi tố) thì áp dụng theo quy định đó Trong trườnghợp văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thi áp dụngquy phạm trong văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn Trong trường hợp vănbản quy phạm pháp luật không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy trách nhiệm pháp
lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra trước ngày văn bản có hiệu lực thì áp dụng quy phạmpháp luật của văn bản mới
Khi đã lựa chọn được quy phạm pháp luật cụ thể, cơ quan nhà nước, người cóthẩm quyền phải tư duy khoa học, logic, biện chứng làm sáng tỏ, nhận thức đúng đắn nộidung và ý nghĩa của quy phạm pháp luật
Giai đoạn 3 : Đưa ra quyết định áp dụng pháp luật
Đây là giai đoạn phản ánh kết quả thực tế quá trình áp dụng pháp luật, là quantrọng nhất của quá trình áp dụng pháp luật, văn bản áp dụng pháp luật cá biệt hóa, cụ thểhóa những quyền và nghĩa vô chung chứa đựng trong các văn bản quy phạm pháp luật để
Trang 13ấn định những quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của các chủ thể pháp luật hoặc nhữngbiện pháp, trách nhiệm pháp lý đối với những người vi phạm.
Về bản chất, đây là giai đoạn chuyển hoá những quy định chung được nêu trongquy phạm pháp luật thành quyết định cụ thể, cá biệt Sự phù hợp của quyết định đượcxem xét ở 2 khía cạnh pháp lý thực tế
Văn bản áp dụng pháp luật: những văn bản do cơ quan nhà nước hoặc cá nhân cóthẩm quyền ban hành theo một trình tự, thủ tục, tên gọi luật định, chứa nhũng quy tắc xử
sự cá biệt, cụ thể và được thực hiện một lần trong đời sống pháp lý : Do cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền ban hành; Trình tự thủ tục, hình thức, tên gọi văn bản áp dụngpháp luật và được pháp luật quy định; Chứa đựng quy tắc xử sự cá biệt, cụ thể; Đượcthực hiện một lần đối với chủ thể có liên quan; Đảm bảo thực hiện bằng các biện phápnhà nước
Giai đoạn 4 : Tổ chức thực hiện quyết định áp dụng pháp luật trên thực tế
Đây là giai đoạn cuối cùng của quá trình áp dụng pháp luật, tiến hành những hoạtđộng tổ chức nhằm bảo đảm cho việc thực hiện đúng văn bản áp dụng pháp luật như việc
tổ chức thi hành bản án vv Trong quá trình tổ chức thực hiện văn bản cần tiến hành cáchoạt động kiểm tra, giám sát việc thi hành quyết định áp dụng pháp luật nhằm đảm bảo
để quyết định đó được thực hiện nghiêm chỉnh, đúng pháp luật
1.2 Khái quát về tranh chấp đất đai và các phương thức giải quyết tranh chấp đất đai
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của tranh chấp đất đai
Trong đời sống xã hội, các tranh chấp có nhiều loại và xảy ra trên nhiều lĩnh vực.Tùy theo loại tranh chấp mà nó có các khái niệm khác nhau về "tranh chấp" như:
Theo Từ điển giải thích từ ngữ luật học, khái niệm tranh chấp trong các lĩnh vựcdân sự, kinh doanh, hợp đồng được khái quát với các nội dung sau: Tranh chấp dân sự cóthể hiểu là những mâu thuẫn, bất hoà về quyền và nghĩa vụ hợp pháp giữa các chủ thểtham gia vào quan hệ pháp luật dân sự Tranh chấp kinh doanh là những mâu thuẫn, bấtđồng, xung đột giữa những chủ thể kinh doanh với nhau trong các hoạt động kinh
Trang 14doanh…Hay tranh chấp hợp đồng được hiểu là những xung đột, bất đồng, mâu thuẫngiữa các bên về việc thực hiện hoặc không thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong hợpđồng.1
Trong lĩnh vực đất đai, khi các chủ thể tham gia các quan hệ pháp luật đất đai,không phải lúc nào cũng nhất trí với nhau về tất cả các vấn đề trong quan hệ pháp luật, vìthế sẽ xuất hiện những ý kiến khác nhau, những mâu thuẫn, những bất đồng Theo đó,hiện tượng này phát sinh manh nha từ những bất đồng, mâu thuẫn giữa những người sửdụng đất với nhau hoặc giữa họ với tổ chức, cá nhân khác về quyền và nghĩa vụ hay lợiích trong quá trình quản lý, sử dụng đất Và dựa trên những khái niệm cơ bản về "tranhchấp" nêu trên có thể gọi hiện tượng đó là tranh chấp đất đai
Theo quy định tại Khoản 2, Điều 4 Luật Đất đai, tranh chấp đất đai là tranh chấp
về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đấtđai
Vậy có thể khái quát rằng : Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về mặt lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ đất đai trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai.
Đặc điểm của tranh chấp đất đai
Quan hệ đất đai là một dạng đặc biệt của quan hệ dân sự nên bên cạnh những đặcđiểm chung của một tranh chấp dân sự, tranh chấp đất đai còn mang những đặc điểm đặctrưng riêng khác với các tranh chấp dân sự, tranh chấp lao động, tranh chấp kinh tế Sựkhác biệt đó thể hiện ở những điểm chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, chủ thể của tranh chấp đất đai chỉ có thể là chủ thể của quyền quản lý
và quyền sử dụng đất mà không phải là chủ thể của quyền sở hữu đất đai Quyền sử dụngđất của các chủ thể được xác lập dựa trên quyết định giao đất, cho thuê đất của Nhà nướchoặc được Nhà nước cho phép nhận chuyển nhượng từ các chủ thể khác hoặc được Nhànước thừa nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với diện tích đất đang sử dụng Nhưvậy, chủ thể của tranh chấp đất đai là các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tham gia với tưcách là người quản lý hoặc người sử dụng đất
1 Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), “ Từ điển Giải thích thuật ngữ luật học ( Luật Đất đai, Luật Lao động, Tư pháp quốc tế), NXB Công an nhân dân, Hà Nội - 1999
Trang 15Thứ hai, nội dung của tranh chấp đất đai rất đa dạng và phức tạp Hoạt động quản
lý và sử dụng đất trong nền kinh tế thị trường diễn ra rất đa dạng, phong phú với việc sửdụng đất vào nhiều mục đích khác nhau, với diện tích, nhu cầu sử dụng khác nhau Trongnền kinh tế thị trường, việc quản lý và sử dụng đất không đơn thuần chỉ là việc quản lý
và sử dụng một tư liệu sản xuất Đất đai đã trở thành một loại hàng hóa đặc biệt, có giátrị thương mại, giá đất lại biến động theo quy luật cung cầu trên thị trường, nên việc quản
lý và sử dụng nó không đơn thuần chỉ là việc khai thác giá trị sử dụng mà còn bao gồm
cả giá trị sinh lời của đất (thông qua các hành vi kinh doanh quyền sử dụng đất) Tấtnhiên, khi nội dung quản lý và sử dụng đất phong phú và phức tạp hơn thì những mâuthuẫn, bất đồng xung quanh việc quản lý và sử dụng đất đai cũng trở nên gay gắt và trầmtrọng hơn
Thứ ba, tranh chấp đất đai phát sinh gây hậu quả xấu về nhiều mặt như: Có thể
gây mất ổn định về chính trị, phá vỡ mối quan hệ xã hội, làm mất đoàn kết trong nội bộnhân dân, phá vỡ trật tự quản lý đất đai, gây đình trệ sản xuất, ảnh hưởng trực tiếp đếnlợi ích không những của bản thân các bên tranh chấp mà còn gây thiệt hại đến lợi ích củaNhà nước và xã hội
Thứ tư, đối tượng của tranh chấp đất đai là quyền quản lý và quyền sử dụng đất.
Đất đai là loại tài sản đặc biệt không thuộc quyền sở hữu của các bên tranh chấp màthuộc quyền sở hữu của Nhà nước
1.2.2 Các dạng tranh chấp đất đai hiện nay
Tranh chấp đất đai được xem là một hiện tượng rất phổ biến hiện nay và thườnghết sức đa dạng, phong phú Do vậy, việc xác định được các dạng tranh chấp đất đai phổbiến sẽ giúp cho con đường giải quyết tranh chấp rõ ràng, nhanh chóng hơn Theo khoản
24 Điều 3 Luật Đất đai 2013 thì: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai.”
Hiến pháp ghi nhận đây là tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ
sở hữu và thống nhất quản lý (Điều 53) Vì vậy, có thể thấy định nghĩa về tranh chấp đấtđai xác định: đối tượng của tranh chấp đất đai không phải là quyền sở hữu đất, các chủ
Trang 16thể tham gia tranh chấp không phải là các chủ thể có quyền sở hữu đối với đất mà chỉ làchủ thể sử dụng đất.
Về cơ bản tranh chấp đất đai được chia thành ba dạng như sau:
+ Tranh chấp về quyền sử dụng đất có liên quan đến tranh chấp về địa giới hànhchính Loại tranh chấp này thường xảy ra giữa người ở hai tỉnh, hai huyện, hai xã vớinhau
+ Tranh chấp đòi lại đất: Thực chất đây là dạng tranh chấp đòi lại đất, đòi lại tàisản gắn liền với đất có nguồn gốc trước đây thuộc quyền sở hữu của họ hoặc người thâncủa họ mà do nhiều nguyên nhân khác nhau họ không còn quản lý, sử dụng nữa Bây giờnhững người này đòi lại người đang quản lý, sử dụng dẫn đến tranh chấp: đất đã chongười khác mượn sử dụng mà không trả lại, hoặc tranh chấp giữa người dân tộc thiểu sốvới người đi xây dựng vùng kinh tế mới…
Hai là, tranh chấp về quyền, nghĩa vụ phát sinh trong quá trình sử dụng đất:
Trong các dạng tranh chấp này thì người đang sử dụng đất đã sử dụng hợp phápđất, không có ai tranh chấp Tuy nhiên, khi sử dụng quyền và nghĩa vụ sử dụng đất củamình là thực hiện các giao dịch về dân sự mà dẫn đến tranh chấp Bản chất của tranhchấp trong các trường hợp này là tranh chấp về hợp đồng dân sự.Dạng tranh chấp nàythường xảy ra khi các chủ thể có những giao dịch dân sự về quyền sử dụng đất như: tranhchấp về quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng chuyển nhượng, cho thuê quyền sử dụng đất
Trang 17hoặc các tranh chấp liên quan đến việc bồi thường giải phóng mặt bằng, tái định cư, bảolãnh,…
Các tranh chấp này có thể là yêu cầu thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng, công nhậnhiệu lực của hợp đồng, tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu… Bên cạnh đó, một loại tranhchấp khác cũng thuộc dạng này đó là tranh chấp về mục đích sử dụng đất: đây là dạngtranh chấp liên quan đến việc xác định mục đích sử dụng đất là gì; đặc biệt là tranh chấp
về đất nông nghiệp với đất lâm nghiệp, giữa đất nông nghiệp với đất thổ cư trong quátrình phân bố và quy hoạch sử dụng
Ba là, tranh chấp liên quan đến đất
Tranh chấp này thường thể hiện dưới hai dạng chính tranh chấp về thừa kế liênquan đến đất đai và tranh chấp tài sản vợ chồng khi ly hôn Theo đó:
+ Tranh chấp quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn là trường hợp tranh chấp đấthoặc tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn Tranh chấp có thể làgiữa vợ chồng với nhau hoặc giữa một bên ly hôn với hộ gia đình vợ hoặc chồng hoặc cóthể xảy ra khi bố mẹ cho con đất, đến khi con ly hôn thì cha mẹ đòi lại…
+ Tranh chấp về quyền thừa kế quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với quyền sửdụng đất Đây là dạng tranh chấp do người có quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đấtchết mà không để lại di chúc hoặc để lại di chúc không phù hợp với quy định của phápluật và những người hưởng thừa kế không thỏa thuận được với nhau về phân chia thừa kếhoặc thiếu hiểu biết về pháp luật dẫn đến tranh chấp
1.2.3 Các phương thức giải quyết tranh chấp đất đai
Pháp luật hiện hành công nhận các phương thức giải quyết tranh chấp sau: Thươnglượng, hòa giải trọng tài và toà án Theo đó, khi xảy ra tranh chấp các bên có thể giảiquyết tranh chấp thông qua việc trực tiếp thương lượng với nhau Trong trường hợpkhông thương lượng được, việc giải quyết tranh chấp có thể được thực hiện với sự trợgiúp của bên thứ ba thông qua phương thức hóa giải trọng tài hoặc toà án
Trang 18Hòa giải là một biện pháp giúp các bên tìm ra tiếng nói chung để tháo gỡ nhữngvấn đề mâu thuẫn bất đồng trên cơ sở tự thỏa thuận.Nếu hòa giải thành tranh chấp sẽ kếtthúc Trường hợp các bên không thể tự thương lượng hòa giải được với nhau thì việc giảiquyết tranh chấp sẽ được thông qua tổ hòa giải cơ sở Nếu hòa giải cơ sở vẫn khôngthống nhất thi các bên có quyền gửi đơn đến UBND cấp xã nơi có tranh chấp xảy ra đểyêu cầu hòa giải.
Thời hạn hòa giải là 30 ngày kể từ ngày tiếp nhận đơn Kết quả phải được lậpthành biên bản có sự xác nhận của UBND cấp xã và có chữ ký của các bên
Trường hợp kết quả hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng sử dụng đất thìUBND cấp xã gửi biên bản đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với tranh chấp giữa
hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở tài nguyên và môi trườngđối với trường hợp khác Các cơ quan này trình UBND cung cấp quyết định công nhậnviệc thay đổi đó và cấp mới GCNQSDĐ
Giải quyết tranh chấp đất đai bằng việc khởi kiện tại Tòa án nhân dân
Căn cứ khoản 1, 2 Điều 203 Luật Đất đai 2013, những tranh chấp sau đây thìđương sự được khởi kiện tại Tòa án nhân dân gồm:
- Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loạigiấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai
- Tranh chấp về tài sản gắn liền với đất (nhà ở, công trình xây dựng…)
- Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có mộttrong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai
Đề nghị UBND cấp huyện, cấp tỉnh giải quyết
Căn cứ khoản 2 Điều 203 Luật Đất đai 2013, tranh chấp mà đương sự không cóGiấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quyđịnh tại Điều 100 Luật Đất đai 2013 thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hìnhthức giải quyết:
- Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại UBND cấp có thẩm quyền (nếu tranhchấp giữa hộ gia đình, cá nhân với nhau thì nộp tại UBND cấp huyện)
Trang 19Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịchUBND cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng hànhchính.
- Khởi kiện tại Tòa án nơi có đất tranh chấp theo quy định của pháp luật tố tụngdân sự
1.3 Hệ thống Tòa án nhân dân và vai trò của Tòa án nơi có đất tranh chấp trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Việt Nam
1.3.1 Khái luận chung về hệ thống Tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp Có nhiệm vụ bảo vệ công
lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợiích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân
Từ sau khi Luật Tổ chức tòa án nhân dân năm 2014 có hiệu lực, cơ cấu tổ chức hệthống Tòa án Việt Nam đã có nhiều thay đổi cũng như về quyền hạn, trách nhiệm củamỗi cấp Tòa án
Tòa án ở nước ta được chia làm các cấp như sau: Tòa án nhân dân tối cao; Tòa ánnhân dân cấp cao; Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Tòa án nhândân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Tòa án quân sự; Các toà án khác do luậtđịnh Trong tình hình đặc biệt, Quốc hội có thể quyết định thành lập toà án đặc biệt
Là cơ quan trong hệ thống tư pháp, toà án có những đặc thù so với các cơ quankhác trong hệ thống này:
- Toà án, người đại diện của quyền lực tư pháp khác với cơ quan lập pháp và hànhpháp ở chỗ không giải quyết các vấn đề ở tầm vĩ mô, không hoạch định chính sách kinh
tế - xã hội mà có chức năng giải quyết các vấn đề rất cụ thể, từng tình huống, từng sựkiện cụ thể trong đời sống xã hội
Toà án chủ yếu đóng vai trò là một “ bộ máy quyền lực” bởi vì thông qua quyềnlực tư pháp mà pháp luật tác động đến những quan hệ xã hội Đây là phương tiện chủ yếutrong việc giải quyết các trường hợp xung đột giữa các quan hệ pháp luật
Trang 20- Toà án phải có vị trí độc lập Khi xét xử toà án có trách nhiệm áp dụng đúng đắnpháp luật nhà nước, không bị ràng buộc bởi bất cứ tác động nào, các cơ quan nhà nướckhác không có quyền can thiệp Nguyên tắc này không có nghĩa là toà án biệt lập với các
cơ quan khác của nhà nước, bởi toà án vẫn phải phối hợp chặt chẽ với các cơ quan khácnhằm đảm bảo tốt nhất các quyền lợi hợp pháp của nhân dân
- Những người làm công tác xét xử phải có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ pháp
lý rất cao, đủ khả năng để giải quyết các vấn đề rất phức tạp như xác định tội phạm vàngười phạm tội và áp dụng hình phạt, phán quyết các tranh chấp, các sự kiện liên quanđến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức
- Xét xử là hoạt động sáng tạo trong áp dụng pháp luật, đòi hỏi tư duy trình độ caocủa người thẩm phán Họ phải nhận thức một cách sâu sắc hệ thống đồ sộ các văn bảnquy phạm pháp luật hiện hành, kể cả pháp luật của các quốc gia khác khi có liên quan vàpháp luật quốc tế, đồng thời cần phải có năng lực và kinh nghiệm xét xử
- Hoạt động xét xử luôn luôn bị giới hạn bởi những quy định khắt khe của phápluật tố tụng về chứng cứ, về thời hạn, về độ chính xác của bản án
- Trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, vị trí, vai trò của toà án lại càngđược khẳng định vị toà án chính là cơ quan thực thi quyền tư pháp trong bộ máy nhànước và việc thực thi quyền này lại ảnh hưởng trực tiếp tới mục tiêu và các giá trị củacông cuộc xây dựng nhà nước
Tóm lại, Toà án là nơi thể hiện sâu sắc nhất bản chất của nhà nước và nền công lýcủa chế độ, đồng thời thể hiện chất lượng hoạt động và uy tín của cả hệ thống tư pháptrong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
1.3.2 Thẩm quyền của hệ thống Toà án nhân dân trong giải quyết tranh chấp đấtđai ở Việt Nam hiện nay
Việc kiểm tra điều kiện về thẩm quyền giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đấtcũng dựa trên cơ sở chung về xác định thẩm quyền tương tự như các loại vụ án dân sựkhác (nguyên tắc xác định thẩm quyền theo loại việc, theo cấp Tòa án, theo lãnh thổ).Theo đó, thẩm quyền giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất của Tòa án được xác
Trang 21định ở thời điểm thụ lý vụ án, những tình tiết phát sinh sau khi thụ lý như được cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất hay hủy giấy chứng nhận đã cấp… không làm thay đổithẩm quyền giải quyết tranh chấp đã được xác định ở thời điểm thụ lý Luật áp dụng đểxác định thẩm quyền cũng là luật có hiệu lực ở thời điểm thụ lý vụ án.
Thẩm quyền theo loại việc:
Khoản 5 Điều 26 BLTTDS năm 2015 quy định Tòa án có thẩm quyền giải quyếttranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai Cần phải hiểu tranh chấp đấtđai theo quy định này là tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất Đối với tranh chấphợp đồng chuyển quyền sử dụng đất, thừa kế quyền sử dụng đất, bản chất là tranh chấp
về quan hệ hợp đồng, quan hệ thừa kế, có đối tượng là quyền sử dụng đất
Luật Đất đai năm 2013 đã quy định một số điểm mới quan trọng về thẩm quyềncủa Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp đất đai Theo quy định tại Điều 203 củaluật này thì tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong cácloại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đấtthì do TAND giải quyết Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhậnhoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương
sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy địnhsau đây:
- Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại UBND cấp có thẩm quyền theo quyđịnh tại khoản 3 Điều này;
- Khởi kiện tại TAND có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dânsự
Như vậy, theo quy định này thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa
án đã được mở rộng Kể từ ngày 01/7/2014, Tòa án có cả thẩm quyền giải quyết tranhchấp đất đai mà không có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy địnhtại Điều 100 của Luật Đất đai năm 2013, nếu như người khởi kiện lựa chọn Tòa án là cơquan giải quyết tranh chấp Trường hợp này, khi nhận đơn khởi kiện của người khởikiện, Thẩm phán phải xác nhận xem người khởi kiện có đồng thời nộp đơn đến UBND
đề nghị giải quyết hay không Nếu, người khởi kiện vừa nộp đơn khởi kiện đến Tòa án,
Trang 22vừa nộp đơn khiếu nại đến UBND, thì Tòa án phải hướng dẫn cho người khởi kiện lựachọn một trong hai cơ quan có thẩm quyền giải quyết Trường hợp vụ việc đang đượcUBND giải quyết, Tòa án trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện Nếu vụ việc đã đượcgiải quyết tại UBND có thẩm quyền, nhưng đương sự không đồng ý với quyết định giảiquyết và khởi kiện ra tòa thì Tòa án thụ lý vụ án theo thủ tục tố tụng hành chính (Điều
203 Luật đất đai năm 2013)
Tóm lại, theo quy định tại Điều 203 Luật Đất đai năm 2013, thì TAND có thẩmquyền giải quyết các loại tranh chấp về quyền sử dụng đất sau đây:
- Tranh chấp quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụngđất Đối với các trường hợp tranh chấp quyền sử dụng đất mà đất đã được cấp giấy chứngnhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993 và Luật Đấtđai năm 2003 thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án
- Các tranh chấp quyền sử dụng đất mà đương sự có một trong các giấy tờ quyđịnh tại Điều 100 Luật Đất đai năm 2013, gồm:
+ Những giấy tờ về quyền sử dụng đất đai trước ngày 15-10-1993 do cơ quan cóthẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dânchủ cộng hoà, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhànước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan Nhà nước có thẩmquyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính trước ngày 15/10/1993;
+ Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liềnvới đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;
+ Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ởtrước ngày 15/10/1993 được Uỷ ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày15/10/1993;
+ Giấy tờ về thanh lý, hoá giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sởhữu nhà nước theo quy định của pháp luật;
+ Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng
Trang 23+ Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quyđịnh của Chính phủ.
- Tranh chấp quyền sử dụng đất mà hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có mộttrong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013 mà trên giấy
tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ kýcủa các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày 01/7/2014 chưa thực hiện thủ tục chuyểnquyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật
- Tranh chấp quyền sử dụng đất mà hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theobản án hoặc quyết định của TAND, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, vănbản công nhận kết quả hòa giải thành, quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo
về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành
- Tranh chấp quyền sử dụng đất mà đương sự không có một trong các loại giấy tờquy định tại Điều 203 Luật Đất đai năm 2013, nhưng đương sự lựa chọn khởi kiện tạiTòa án
Đối với thẩm quyền giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng,cho thuê, cho thuê lại, tặng cho quyền sử dụng đất, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằngquyền sử dụng đất; thừa kế quyền sử dụng đất:
Luật Đất đai năm 2003 cũng như Luật Đất đai năm 2013 chỉ quy định chung làthẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai nói chung mà không thể hiện rõ loại tranh chấpnày thuộc thẩm quyền của cơ quan nào Nhưng xét về bản chất thì các loại tranh chấpnày là tranh chấp về hợp đồng dân sự và thừa kế, có đối tượng đặc biệt là quyền sử dụngđất, do đó các tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tạikhoản 3 và khoản 5 Điều 26 BLTTDS năm 2015
Thẩm quyền theo cấp Tòa án:
Theo quy định tại Điều 35, Điều 37 BLTTDS năm 2015, thì thẩm quyền giải quyếttranh chấp về quyền sử dụng đất được xác định như sau:
- TAND cấp huyện có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất nếutranh chấp đó không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài, không cần phải ủy thác tư