Thơ văn của Trần Nguyên Đán và Nguyễn Phi Khanh còn có ý nghĩa giáo dục nhân cách tích cực đối với Nguyễn Trãi, nhất là rèn luyện tâm thế “xuất/ xử”, đối diện với thực tại chế độ phong k
Trang 1Nguyễn Trãi
Nguyễn Trãi tên tự Ức Trai, sinh năm 1380, mất năm 1442, là tác giả tiêu biểu cho giai đoạn thứ nhất của lịch sử văn học trung đại Việt Nam Xét trên các mặt quan niệm văn học, cái nhìn xã hội và mô hình nhân cách, hệ thống thi pháp, sáng tác của ông phản ánh niềm tin của trí thức nho sỹ vào vai trò và ý nghĩa của đạo Nho đối với công cuộc xây dựng nền thái bình thịnh trị và địa vị to lớn của kẻ sỹ trong xã hội, niềm tin vào sứ mệnh cao cả của văn chương nghệ thuật đối với sự nghiệp kinh bang tế thế
I THÂN THẾ VÀ THỜI ĐẠI
1 Thân thế Nguyễn Trãi
Cha là Nguyễn Ứng Long (1355 - 1428) sau đổi tên là Nguyễn Phi Khanh, đỗ Thái học sinh và làm nghề dạy học; mẹ là con gái Trần Nguyên Đán, tôn thất nhà Trần Từ nhỏ, Nguyễn Trãi đã sống gắn bó cùng ông ngoại, rồi khi mới 5 tuổi lại được theo ông về trí sỹ ở Côn Sơn, vùng núi non rồi đây sẽ đi vào thơ ca ông Do xuất thân bình dân mà lại lấy con nhà quý tộc nên Nguyễn Phi Khanh chỉ được phép giữ chức học quan nhỏ dưới triều Trần Đến đời Hồ, ông nhậm chức ở Quốc
Tử Giám, cũng là một chức quan thuộc lĩnh vực giáo dục Nguyễn Trãi sinh ra và lớn lên trong môi trường trí thức, rất thuận lợi cho việc học tập, chiếm lĩnh đỉnh cao của văn hoá phương Đông đương thời Khi nhà Hồ cướp ngôi nhà Trần, hai cha con Nguyễn Phi Khanh đều ra làm quan cho nhà Hồ và bản thân Nguyễn Trãi được giao giữ chức Ngự sử đài chính chưởng, một chức vụ của gián quan
Nguyễn Trãi thừa hưởng từ gia đình cả truyền thống xã hội tích cực và truyền thống sáng tác văn chương hướng về vấn đề quốc kế dân sinh Đồng thời, Nguyễn Trãi cũng sớm cảm nhận được những xung đột ngấm ngầm giữa nhân cách nhà nhovới chế độ phong kiến chuyên chế qua thân thể và cuộc đời của ông ngoại và ngườicha của mình
Trang 2Thơ văn của Trần Nguyên Đán và Nguyễn Phi Khanh còn có ý nghĩa giáo dục nhân cách tích cực đối với Nguyễn Trãi, nhất là rèn luyện tâm thế “xuất/ xử”, đối diện với thực tại chế độ phong kiến chuyên chế ở vào giai đoạn suy vong, khủng hoảng, khi mà lý tưởng chính trị khó được thực hiện Về nguyên lý, có thể đoán định truyền thống gia đình, cách hành xử phương thức diễn ngôn của ông ngoại
và cha đã ảnh hưởng sâu sắc đến tưởng xã hội, nhân cách và sáng tác của Nguyễn Trãi
Nguyễn Trãi trải qua một cuộc đời nhiều thăng trầm trong bối cảnh xã hội có những biến động dữ dội Vào thời điểm Hồ Quý Ly phế truất vua nhà Trần, ông đã
đi thi và đỗ Thái học sinh trong kỳ thi do nhà Hồ tổ chức vào năm 1400 Vì nhà Trần ở giai đoạn cuối đã suy thoái trầm trọng nên việc thay đổi triều đại là một tất yếu Hai cha con Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Trãi đều làm quan cho nhà Hồ Nhà Minh mượn cớ “phù Trần, diệt Hồ”, đưa quân sang xâm lược nước ta, trong suốt hai chục năm trời gây ra vô vàn tội ác với nhân dân Đại Việt Cuộc kháng cự của nhà Hồ thất bại, Nguyễn Phi Khanh bị giặc Minh bắt giải sang Trung Quốc; còn hành trạng của Nguyễn Trãi trong thời gian từ sau khi nhà Hồ bị diệt cho đến trướckhi ông vào Lam Sơn tự nghĩa chưa có thông tin rõ ràng Sau đó, ông tìm vào Lam Sơn, dâng bản Bình Ngô sách, hiến kế cho Lê Lợi và trở thành mưu sỹ quan trọng bậc nhất giúp Lê Lợi tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống giặc Minh Trongcuộc đời làm quan, ông có lúc đã cay đắng rút lui khỏi chính trường, về Côn Sơn, giấu đi những hoài bão chính trị lo cho dân, cho nước để vui vầy với thế giới thiên nhiên Rồi cuối cùng, điều phải đến đã xảy đến với một tâm hồn trong sáng, cao khiết trong môi trường xã hội phong kiến chuyên chế: Cái chết thảm khốc của ông
và đại gia đình ông năm 1442 chính là minh chứng buồn cho cuộc xung đột vĩnh viễn giữa nhân cách nhà nho và xã hội kiến chuyên chế kiểu phương Đông
2.Thời đại
Trang 3Xét về phương diện chính trị xã hội, Nguyễn Trãi không chỉ có kiến thức về lịch
sử các triều đại Đinh, Lê (Tiền Lê), Lý mà còn chứng kiến những diễn biến chính trị xã hội gần nhất ở cuối triều Trần Ông sinh ra vào thời điểm suy thoái và khủng hoảng của nhà Trần Người thanh niên ở độ tuổi hai mươi Nguyễn Trãi đã chứng kiến sự kiện nhà Trần suy thoái, bị diệt vong, quyền bính về tay Hồ Quý Ly, sau đó
là cuộc xâm lược hết sức tàn bạo của quân Minh kéo dài hai mươi năm
Các biến cố lịch sử trọng đại và dồn dập đã dội vào tâm tư của Nguyễn Trãi, thôi thúc ông suy nghĩ, tìm kiếm triết lý về lịch sử, về chính trị, về những nguyên nhân thành/ bại, hưng vong, trị loạn; về mô hình ứng xử của kẻ sỹ trong quan hệ với vua– dân; về thân phận của kẻ sỹ chân chính trong lòng xã hội chuyên chế; về ý nghĩa của văn chương đối với việc chuyển và chính trị, đạo đức, thẩm mỹ Nhưng rồi những chiêm nghiên cuộc sống và vốn tri thức sách vở uyên bác cũng không giúp được cái chết thảm khốc Cuộc đời và số phận Nguyễn Trãi đón trường hợp tiêu biểu cho thân phận kẻ sỹ chân chính trong xã kiến chuyên chế phương Đông
Về phương diện văn học nghệ thuật, Nguyễn Trãi tiếp tục trở của các bậc tiền bối, trước hết từ ông ngoại và người cha, về việc gắn chương nghệ thuật với hoạt động chính trị - xã hội, với việc tu dưỡng cách đạo đức Nghiên cứu các sáng tác của Nguyễn Trãi, có thể thấy ông đã tiếp nhận một lượng tri thức lớn qua tự đọc, tựnghiên cứu nhiều lo sách vở Trung Quốc, từ kinh điển Nho giáo đến sử sách, thơ văn, triết học, binh pháp
Sau chiến tranh, ông nhớ lại: Ức tích Lam Sơn ngoạn võ kinh Đương thời chí dĩ tại thương sinh Đọc võ kinh – tức binh pháp, là để giải phóng đất nước, đem lại hoà bình cho dân đen con đỏ Ông từng ngôi đọc sách mười năm, chấp nhận nghèo đến tận xương: Thập tải độc thư bàn a cốt Muốn hay không mặc lòng, chúng ta phải thừa nhận rằng, xét về phương diện văn hoá, đây là giai đoạn mà Nho học đã
Trang 4chiếm địa vị trí vững chắc trong đời sống xã hội và trình độ Hán học của người Việt đã nâng cao sau mấy thế kỷ chủ động chiếm lĩnh kho tàng tư tưởng từ nguồn sách Hán học
II SÁNG TÁC
1 Tư tưởng chính trị - xã hội trong sáng tác của Nguyễn Trãi.
Nguyễn Trãi mang trong mình tư tưởng nhân chính của Nho giáo, nhất là của Mạnh Tử Để hiểu rõ tư tưởng nhân chính của ông, ta cần tham khảo thêm các ghi chép trong Đại Việt sử ký toàn thư về bối cảnh và tư tưởng chính trị của Nguyễn Trãi
Năm 1427, sau một loạt chiến thắng vang dội trước quân Minh dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi Tổng binh Vương Thông sai người mang thư đến giảng hoà Nguyễn Trãi tham mưu ở nơi màn trường, đã xem thư bọc sáp của Vương Thông (viết gửi
về nước) nên Nguyễn Trãi biết rất rõ chỗ mạnh, chỗ yếu của giặc, mới chủ
trương hoà nghị (để ít tổn hại xương máu nhất) Vua nghe theo Cuộc chiến tranh kết thúc bằng chiến thắng hào hùng của nhân dân ta và cuộc đầu hàng rút lui nhục nhã của quân xâm lược Vương Thông không đợi lệnh của triều đình nhà Minh mà đem quân rút về vì bị quân ta đánh mạnh và cũng vì chủ trương giảng hoà của phía
ta Nguyễn Trãi vừa là cố vấn, vừa là người trực tiếp soạn thảo thư từ thuyết phục quân Minh đầu hàng, lại chủ trương dùng nhân nghĩa đối đãi với quân địch, một đường lối ứng xử nhân bản mà người thường khó có thể hiểu được
Ghi chép của bộ sử đã dẫn trên cho thấy Lê Lợi và quân sự Nguyên Trãi trung thành với đường lối nhân nghĩa, không hiểu sát mà hiếu sinh Kiên quyết tiến công
kẻ thù tàn bạo nhưng khi chúng đã đầu hàng thì chấp nhận giảng hoà để nhân dân hai nước nghỉ sức Ta thấy một trong những nội dung quan trọng nhất của nhân
Trang 5nghĩa là hiếuu sinh (trân trọng, yêu quý sự sống) Đây hiển nhiên là nội dung cơ bản của đức trị" Những sự kiện và chủ trương, đường lối được viết trong bài cáo rất phù hợp với thông tin mà bộ sử đã ghi lại.
Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Sau khi dẹp yên giặc Ngô, vua ban ‘Đại cáo khắp thiên hạ” Như vậy “Đại cáo” vừa có nghĩa là bài cáo quan trọng, vừa có nghĩa là nhằm phổ biến rộng rãi tới nhân dân
Ngô Sỹ Liên đã nhấn mạnh ba điểm đáng chú ý:
1) Giặc Ngô (giặc Minh) là đạo quân xâm lược tàn bạo vào bậc nhất trong lịch sử, chúng không có đức, không có nhân nghĩa Dân tộc ta đã từng đứng trước nguy cơ bị đồng hoá, tiêu diệt Đó là hoạ loạn đạt đến mức tột cùng Nhưng ý trời là đấng sinh ra muôn dân tất sẽ chọn được người xứng đáng, cóđức để trao quyền lãnh đạo thiên hạ, vượt qua chặng đường đen tối, bi thảm này
2) Lê Lợi là bậc thánh chúa xuất hiện, chinh phục bằng nghĩa, đánh dẹp bằng nhân Nhờ có nhân nghĩa mà trời ủng hộ, nhân dân đoàn kết trên dưới một lòng Ngô Sỹ Liên với tư cách là sử gia nho giáo đã tập trung nhấn mạnh vào đức hiêu sinh của Lê Lợi Đất nước được đổi mới, nhân dân được bình yên Triết lý về phẩm chất đạo đức của người lãnh đạo này về cơ bản giống với triết lý của Bạch Đằng giang phú, đều nằm trong văn hoá chính trị
mà các trí thức phương Đông cổ đại quan tâm
3) Có một vị lãnh tụ với những phẩm chất như Lê Lợi, đất nước ta bước vào một vận hội mới, một chặng đường mới - Có thể nói rằng ba luận điểm trên cũng là ba luận điểm chủ yếu của - Bình Ngô đại cáo
Trang 6Hầu hết mọi luận văn nghiên cứu Nguyễn Trãi đều có đề cập đến vấn đề nhân nghĩa Tuy nhiên, có một câu hỏi căn bản cần được trả lời: Nhân nghĩa nói đến trong bài cáo là phẩm chất đạo đức của ai? Nếu đặt bài cáo trong hệ thống các trước tác của Nguyễn Trãi, dễ thấy rằng nhân nghĩa chính là phẩm chất đạo đức của nhà lãnh đạo, là đường lối, là chiến lược ứng xử của vua, với tư cách nhà lãnh đạo, đối với dân, đối tượng cai trị Từ những bức thư gửi cho các tướng giặc Minh, trong Bình Ngô đại cáo và những tác phẩm thơ văn khác, ông đều hiểu như vậy Tagặp những mệnh đề cho biết nhân nghĩa là đường lối hành xử của người cai trị, người lãnh đạo với dân.
Đến Bình Ngô đại cáo, bất nhân bất nghĩa của quân xâm lước được thể hiện một cách cụ thể hơn
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn Vùi con đỏ xuống dưới hầm tại vạ.
Dối trời, lừa dân, đủ muôn nghìn kế, Gây binh, kết oán, trải hai mươi năm, Bại nhân nghĩa nát cả đất trời,
Nặng thuế khoá sạch không đầm núi.
Người bị ép xuống biến dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mậ,p thuồng luồng,
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu,nước độc
Trang 7Vét sản vật, bắt chim trả, chốn chốn lưới chăng, Nhiễu nhân dân, bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ, Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng.
[ ] Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi!
Lẽ nào trời đất dung tha,
Ai bảo thần nhân chịu được?
Trong chiến tranh, sức mạnh của vũ khí, của quân đội, của mưu kế có một vai tròkhông nhỏ quyết định chiến thắng Nhưng điều đáng chú ý là trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi không đề cao quyền mưu bằng nhân nghĩa Quyền mưu thực chất
là các yếu tố hiện thực dẫn đến thắng lợi, đó là binh pháp, là chiến lược, chiến thuật, các biện pháp tổ chức, Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều Ông nói tới việc “điều binh thủ hiểm, chặt mũi tiên phong” hay việc “sai tướng chọn đường, tuyệt nguồn lương thực” của kẻ thù Đó là những “mưu kế kỳ diệu” góp phần đem lại chiến thắng
Với Nguyễn Trãi, sau khi tranh kết thúc, trong bài thơ Hạ quy Lam Sơn, bài 2 dường như ông vẫn chưa hết kinh ngạc vì thắng lợi đã diễn ra một cách chóng vánh, “Nhất nhung đại định hà thần tốc” (Một chiến dịch đem lại nền đại • định, sao mà mau chóng vậy) Sau khi miêu tả không gian đất nước chịu những ảnh hưởng tiêu cực của kẻ thù, sau khi liệt kê những khó khăn, gian truân của buổi đầu khởi nghĩa, Nguyễn Trãi chuyển ý: “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn/ Lấy chí
Trang 8nhân để thay cường bạo” và từ đây, tình thể thay đổi mau chóng, sự kiện diễn biến đột ngột tăng tốc Có cảm tưởng kẻ thù càng đánh càng thua và thua rất nhanh, tưởng như có bàn tay vô hình giật đổ hệ thống đồn luỹ của chúng Sự thần tốc đượcdiễn đạt bằng cách liệt kê hàng loạt thất bại của quân Minh ở những thời điểm sát nhau Cảm hứng vũ trụ thấm đượm bài Cáo
Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật, Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay
Gươm mài đá, đá núi cũng mòn, Voi uống nước, nước sông phải cạn, Đánh một trận, sạch không kình ngạc Đánh hai trận, tan tác chim muông.
Nổi gió to trút sạch lá khô, Thông tổ kiến phá toang đê vỡ Những tổn thất, thất bại của kẻ thù
- Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh trôi vạn dặm Tốt Động thấy chất đầy nội, nhơ để ngàn năm
-Ghê gớm thay, sắc phong vẫn phải đổi, Thảm đạm thay, ánh nhật nguyệt phải mờ.
– Suối Lãnh Câu máu chảy trôi chày, nước sông nghẹn ngào tiếng khóc,
Thành Đan Xả thấy chất thành núi, cỏ nội đầm đìa màu đen
Trang 9Chúng ta đều biết, bài cáo được Nguyễn Trãi thay mặt Lê Lợi viết sau khi giặc Minh thất bại nhục nhã, phải chấp nhận giảng hoà, rút về nước Khi đó, một
khoảng trống quyền lực xuất hiện: ai sẽ lên ngôi vua để trị vì thiên hạ? Câu hỏi cânđược trả lời kín đáo, tinh tế, phù hợp với quan niệm văn hoá chính trị đương thời: người đó sẽ phải là người có đức Bài cao đã cho thấy không ai có thể xứng đáng hơn Lê Lợi để ngồi vào ngai vàng tuyên bố bắt đầu một triều đại mới
Thực ra, không cần có bài cáo, Lê Lợi vẫn cứ lên ngôi vua Nhưng Nguyễn Trãi
đã tận dụng cơ hội được giao viết Bình Ngô đại cáo để giải quyết xuất sắc một nhiệm vụ lịch sử tế nhị Lê Lợi xuất thân từ “núi Lam Sơn hoang dã”, làm sao có thể khiến cho giới trí thức nho sỹ của vùng đồng bằng sông Hồng “tâm phục, khẩu phục” ấy là chưa kể những người Việt đã từng ngụy quân chống lại ông
Bài cáo, cùng với những sự thật lịch sử hùng hồn, quy tụ về đức của Lê Lợi, người có đủ điều kiện toả phát từ trường ảnh hưởng trong vùng không gian vũ trụ hoá mà các đời trước đã tạo dựng, tức là đủ điều kiện kế tục đế quyền của “Triệu, Đinh, Lý, Trần”
Bản đại cáo của Nguyễn Trãi tổng hợp khá nhiều diễn ngôn về văn hoá chính trị
cổ đại, cho thấy ông là nhà bác học uyên thâm Nhưng tất cả các diễn ngôn đều tập trung vào một điểm là mục tiêu xây dựng nền nhân chính, lấy dân làm gốc Nếu chúng ta so sánh với tư tưởng Mạnh Tử thì thấy kết cấu của bài đại cáo có nhiều nét tương đồng với lập luận nhân giả vô địch mà Mạnh Tử từng bàn với Lương Huệ Vương Cùng là bàn về đường lối phú quốc cường binh
Sau chiến tranh, trong hoàn cảnh thời bình, Nguyễn Trãi vẫn đau đáu hướng về nhân dân vốn đã phải chịu nhiều đau khổ do cuộc chiến Bài thơ Loạn hậu cảm tác được viết sau chiến tranh chống quân Minh' cho thấy nỗi lòng canh cánh của ông đối với số phận của nhân dân trong chiến tranh: Thần châu nhất tự khởi can qua/ Vạn tính ngao ngao khả nại hà.Có lẽ bài thơ này bộc lộ nỗi buồn chán của nhà thơ
Trang 10trước thực tế tranh giành quyền lực sau khi cuộc chiến kết thúc, trong khi lẽ ra phảichăm lo cho nhân dân vốn đã chịu nhiều đau khổ, mất mát trong chiến tranh Tâm trạng ngao ngán, bất lực vì bản thân không thực hiện được lý tưởng thân dân khiến ông có ý nghĩ buông trôi, phó mặc, nhìn vào khía cạnh hư ảo của cuộc đời Tư tưởng hư vô kiểu Lão – Trang dường như là chỗ dựa cho con người bất đắc chí Nhưng trong bối cảnh xã hội đó, Nguyễn Trãi vẫn tiếp tục gửi những thông điệp kín đáo mà nhất quán với tư tưởng chính trị đã thể hiện trong Bình Ngô đại cáo Những suy tư về văn hoá chính trị trên nền thực tế lịch sử cộng với nguồn sách vởkinh điển mà ông đọc được đã kết tinh thành cảm xúc và hình tượng nghệ thuật đặcsắc trong Bình Ngô đại cáo và được nhắc đi nhắc lại trong nhiều bài thơ khác cả chữ Hán và chữ Nôm Tư tưởng thân dân trong thơ văn nhất quán với lời tấu được Nguyễn Trãi dâng lên vua khi được giao làm nhã nhạc cung đình: “Kể ra thì thời loạn trọng võ, thời bình trọng văn Nay quả rất đúng lúc phải chế ra các loại lễ nhạc Nhưng nhạc phải có gốc mới đứng, phải có văn mới hành Hoà bình là gốc của nhạc, thanh âm là văn của nhạc, dám đâu không dốc hết sức ra mà làm, nhưng
vì học thuật thì nông cạn, chỉ sợ thanh luật chẳng được hài hoà
2 Nhân cách Nguyễn Trãi
Xã hội lý tưởng cần có những con người lý tưởng Tương ứng với lý tưởng về đức trị, về nhân chính, về đạo nhân nghĩa, lý tưởng nhân cách của Nguyễn Trãi baohàm trong các khái niệm mà ông đã tuyên ngôn Xét về phương diện ứng xử đạo đức, đó là đạo trung, hiếu Con người truyền thống được nhấn mạnh trong những mối quan hệ luân thường đạo lý Tuy nhiên, Nguyễn Trãi chú ý nhiều đến đạo làm cha và đạo làm con chứ hầu như không đề cập đến các quan hệ xã hội khác Đạo trung hiếu còn được gọi là đạo quân thân (quần là vua, thân là cha me) Nói trung hiếu mà thực ra hiếu làm nền để tôn cao trung: Hằng lấy đạo trung làm nghĩa cả
Trang 11Ra làm quan tốt phải theo đạo trung quân Trung là điều kiện để thực hiện đạo thánh nhân, mà đạo thánh nhân cũng vì dân, hay như nhiều người nói trung quân áiquốc đi với nhau Nguyễn Trãi rất khéo léo và tinh tế trình bày tư tưởng, đạo đức chính trị dưới dạng giả định, ước mong Ước ao có cơ hội trả ơn, xong đó phải là một vị minh chúa ch chứ không phải một vị chúa bất kỳ, đạo của thánh nhân mới xứng đáng đốc sức phù trì; và dẫu có mưu chước nào đi nữa thì vẫn lấy ích lợi cho dân làm đầu.
Ngay khi chỉ được giao cho một vị trí gọi là nhàn quan, thanh chức, khi lòng đã quyết “Đem công danh đổi lấy cần câu”, khi đọc kinh Phật đã thấy giác ngộ Bụt là lòng (Phật tại tâm, tâm tức Phật) thì Nguyễn Trãi vẫn nghĩ đến nợ quân thân mà ân hận vì chưa báo đáp được chút tóc tơ:
Chân chăng lọt đến của vương hầu,
Ấy tuổi nào thay, đã bạc đầu
Liệu của nhà xem bằng quán khách, Đem công danh đổi lấy cần câu
Thân đà hết lụy thân nên nhẹ, Bụt ấy là lòng Bụt há cầu
Bui một quần thân ơn cực nặng,
Tơ hào chưa bảo hãy còn âu.
(Mạn thuật, bài 8)
Trang 12Thân nhàn nhưng tâm không nhàn – nhiều nhà nghiên cứu dùng cách định danh này để chỉ tâm thế của Nguyễn Trãi trong những thời điểm miễn cưỡng phải lui về với chữ nhàn:
Ao quan thả gửi hai bà muống, Đất bụt nhờ tượng một luồng mùng.
Còn có một lòng âu việc nước, Đêm đêm thức nhẫn nẻo sơ chung.
(Thuật hứng, bài 23)
Nhìn chung, mô hình nhân cách mà Nguyễn Trãi lựa chọn là nhân cách nhà nho
Hệ thống ngôn từ, chữ nghĩa và điển tích, điển cố thường để cập đến các nhân vật điển hình của văn hoá Nho giáo: Nghiêu Thuận, Đường Ngu, Khổng Tử, Mạnh Tử,
Bá Di, Thúc Tề, Nhan Hồi, Khuất Nguyên, Đào Tiềm, Đỗ Phủ, Chủ thể trữ tình trong thơ Nguyễn Trãi thường xuất hiện trong các quan hệ luân thường đạo lý, lấy đạo trung hiếu làm trụ cột, từ quan hệ gia đình (cha - con) mở rộng sang quan hệ làng xóm, để mở rộng ra quốc gia, dân, nước
Phải nói ngay rằng, mẫu hình nhân cách ở Nguyễn Trãi không thuần Nho Giới nghiên cứu đều cho rằng trong tư tưởng Nguyễn Trãi có sự hoà trộn các thành phầnNho - Phật – Đạo rất khó tách biệt Khi bàn về nhập thế, Nguyễn Trãi dùng hệ thống các ngôn từ và tư tưởng Nho giáo, còn khi bàn về xuất thế, ông sử dụng ngôn từ, tư tưởng của cả Phật, Đạo
3 Bi kịch tinh thần của nhà Nho Nguyễn Trãi
Trang 13Đọc những bài thơ mà Nguyễn Trãi viết sau cuộc kháng chiến chống quân Minh kết thúc thắng lợi dễ thấy ông có nhiều tâm sự đau buồn và một lỗi cô đơn vô bờ bến Khá điển hình là bài thơ ‘loạn hậu cảm tác”
Niên lai biến cố xâm nhân lãoThu việt tha hương cảm khách đaTáp tải hư danh an dụng xứ,Hồi đầu vạn sự khó Nam Kha
Bài thơ tập trung đậm đặc những sắc thái tâm lý “tiêu cực” mang màu sắc phủ định đối với sự nghiệp hành đạo của nhà nho Công danh sự nghiệp sau cùng cũng chỉ là hư danh, thân thế chỉ là hư ảo, cuộc đời còn lại như giấc mộng - cái nhìn phảng phất tư tưởng Lão-Trang, Phật Giáo
Sau khi kháng chiến chống quân Minh thắng lợi, Nguyễn Trãi không được nhà
Lê trọng dụng, ông cảm thầy buồn và cô đơn khi rơi vào cảnh nhàn quan thanh chức, có chức vụ mà không có quyền lực thật sự
- Hỷ đắc thân nhàn quan hữu lãnh
- Quan lãnh thân nhàn mộng diệc thanh
- Nhà ngặt quan thanh lạnh nữa đèn Nhưng con người có tầm văn hóa như Nguyễn Trãi, vị trí và bổng lộc trong chiềuđình không phải là điều quan trọng đến mức phải buồn chán Trong thơ chữ Nôm
và chữ Hán, nhất là trong thơ Nôm, nhà thơ cực tả cuộc sống ẩn dật với sự thanh bạch, đơn sơ, giản dị mà không hề phàn nàn về cái nghèo, cái khó, thậm chí ông còn tự hào về cuộc sống tự do, tìm thú vui tao nhã trong cảnh đạm bạc, thanh bần
Trang 14Có thể nhận định rằng sau khi hòa bình lập lại, nhà Lê bắt đầu đi vào chế độ quân chủ chuyên chế Một các đại thần còn bị thất sùng, thậm chí bị giết, Nguyễn Trãi cùng từng bị bắt giam sau đó lại về lại Côn Sơn Năm 1440 khi đã 60 tuổi được vua Lê Thái Tông mời ra làm quan, Nguyễn Trãi đã rất hồ hởi, vui mừng ra làm quan Nhưng lúc này vị thế của Nguyễn Trãi đã khác, quyền lực của ông còn rất ít, các vua Lê lo củng cố quyền lực của mình hơn là lo cho dân, vây quanh ngai vàng là bọn quyền thần tìm cách vơ vét, bóc lột nhân dân Tuy vậy, Nguyễn Trãi vẫn kiên định với lý tưởng ‘nhân nghĩa” như một chuẩn mực của văn hóa chính trị,của chính sách cai trị.
Trong chiến tranh cũng như trong hòa bình, đường lối nhân nghĩa đều lấy dân làm gốc Đó là chiến lược văn hóa chính trị mà Nguyễn Trãi kiên trì khắng định trước sau không thay đổi, điều này làm cho vua và bọn quan lại quanh vua không bằng lòng
Nhà nho đi học rồi ra làm quan, hành đạo không đơn giản là chỉ làm việc trên giấy tờ mà còn đem hiểu biết về văn hóa, chính trị giảng giải, khuyên bảo, can giánngười lãnh đạo, trước hết là vua chúa để cho dân có một xã hội tốt đẹp như “Vua nghiêu thuấn, dân Nghiêu Thuấn” Có thể nói bị kịch của Nguyễn Trãi trước hết là tấn bị kịch của cuộc xung đột giữa lý tưởng văn hóa chính trị có nhiều yếu tố không tưởng và hiện thực xã hội quân chủ chuyên chế Trên thực tế sự thành lập của các vương triều phong kiến đều đi kèm với bạo lực Việc duy trì, bảo vệ quyền lực tuyệt đối thậm chí còn dẫn đến các cuộc thanh trừng, thảm sát nội bộ gia đình hoàng tộc, giữa những người có chung dòng máu
Nguyễn Trãi tiếp tục hoàn thiện thống hoá tư tưởng thân dân.Ông kiên quyết, lòng ông vững, dạ ông đá vàng Hình ảnh một loài cây cứng cỏi, hiện ngang hứng chịu gió bão rất được ông yêu thích:
Trang 15- Đạo này để trong trời đất, Nghĩa ấy bền chung đá vàng.
Gió kíp hay là cỏ cứng, Đục nhiều dễ biết đường quang.
có liên quan đến Khuất Nguyên được viết sau khi cuộc kháng chiến chống quân Minh kết thúc Trong thời gian chống quân Minh xâm lược, tâm trí nhà thơ tập trung vào nhiệm vụ đánh giặc, vận dụng những hiểu biết về đường lối chính trị, về binh thư binh pháp để chiến thắng kẻ thù Nhưng sau khi hoà bình lập lại, môi trường chính trị của xã hội chuyên chế bắt đầu đặt nhà thơ trước những làm nảy sinh những tâm trạng có phần giống với Khuất Nguyên Ông sử dụng các ẩn dụ lấy
từ sáng tác của Khuất Nguyên để diễn tả nội tâm mình
Trong toàn bộ sáng tác thi ca của Nguyễn Trãi, có 7 lần sự kiện đời sống và văn học liên quan trực tiếp đến Khuất Nguyên
Trong lịch sử, ta đã chứng kiến có những thế hệ nhà nho, để văn hoá của Nho giáo, thậm chí đã phải chấp nhận cái chết để có bị kịch của mình Đó là những Bá
Di, Thúc Tế, Khuất Nguyên Nguyễn Trãi nhiều lúc cũng muốn dựa vào văn
chương để khẳng định nhân cách “Văn này ngâm thấy mấy chon von” (Thuật
Trang 16hứng, bài 4), Buồng văn khép cửa trọn ngày thu (Thuật hứng, bài 13) Ông tìm về những biểu tượng của nhàn: thơ, rượu, cờ, đàn - biểu tượng của ẩn sỹ, bạn của những bậc đại ản xưa như Sào Phủ, Hứa Do Trong không gian quạnh vắng giữa đêm thanh nguyệt bạch, giữa núi rừng với tiếng suối chảy, tiếng gió reo, tiếng chimkêu nghe còn hay hơn tiếng đàn, nằm trên rêu đá thấy êm hơn chiếu nệm, Để nhấn mạnh thái độ coi thường danh lợi, để nói chí, nhiều nhà nho có xu hướng thi
vị hoá, thơ mộng hoá, lãng mạn hoà không gian ẩn dật Nguyễn Trãi cũng không ngoại lệ Người ẩn sỹ thực thụ vì không có bổng lộc của triều đình, phải đào giếng lấy nước uống, cày ruộng lấy gạo ăn, đốn củi gánh xuống đồng bằng đổi lấy muối, rượu và nhất là phải quên đi những ám ảnh đến từ không gian quan trường Tuy nhiên, chúng ta
không bắt gặp không gian ẩn dật kiểu này trong thế giới nghệ thuật của Nguyễn Trãi Ông cũng như mọi nho gia chân chính đều coi thường danh lợi, nhưng với tinh thần tự nhiệm của một kẻ nắm từ văn, Nguyễn Trãi không dứt khoát rũ sạch mọi ảo tưởng trị bình, ảo tưởng văn trị, đức trị nên cuối cùng, kết cục bi kịch đã xảy ra Tất nhiên, ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, ở môi trường hợp cụ thể, tấn
bi kịch của nhà nho như một nhân vật văn hoá lại có những nét riêng biệt
Nguyễn Trãi đầy ảo tưởng, không tưởng khi luôn tin vào khả năng thực thi lý tưởng “Vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn” là vì ông đã tận mắt chứng kiến khả năng thành công to lớn của Lê Lợi, một nhà lãnh đạo tài tình và nhân đức trong cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc Ông đã di chuyển kinh nghiệm này sang thời bình mà không nhận thức được rằng trong một xã hội mà ruộng đất công nằm trong tay của triều đình thì cơ cấu quyền.lực của “thiên tử” có thể tha hoá kẻ lãnh đạo như thế nào Nếu so sánh với Nguyễn Du, một tác giả sau Nguyễn Trãi bốn trăm năm, ta sẽ thấy sự khác biệt to lớn
Trang 17Mô hình nhân cách lý tưởng của Nguyễn Trãi cũng mang tính không tưởng sâu sắc Lấy bản thân làm mẫu mực, nhà nho muốn thực hiện một nhân cách lý tưởng, đoạn tuyệt với con người bản năng, trần thế” Họ triệt để phân biệt quân tử và tiểu nhân Người quân tử học đạo thánh hiền rồi đem đạo thánh hiền giáo hoá cho chúng nhân:
Nẻo khỏi tiểu nhân quân tử nhọc, Dầu chăng quân tử tiểu nhân loàn.
(Bảo kính cảnh giới, bài 6)
Thế giới nghệ thuật của Nguyễn Trãi gồm đông đảo những tên tuổi đến từ quá khứ xa xăm Ông sống nhiều với những lý tưởng hình thành trong lịch sử hơn là với những người đương thời quanh mình, từ Khổng Tử, Mạnh Tử, đến Lão –
Trang, Nghiêu, Thuấn, cả những nhân vật tưởng tượng như Bụt, tiên đến nhiều nhân vật văn hoá chính trị khác, những Sao Phủ, Hứa Do, Bá Di, Thúc Tề, Khương
Tử Nha, Biên Hoà, Nhan Uyên, Khổng Minh, Tư Mã Thiên, Khuất Nguyên, Tô Tần, Đát Kỷ, Tây Thi, Đào Tiềm, Lý Bạch, Đỗ Phủ, Phạm Trọng Yêm, Chu Đôn Di, Nguyễn Trãi sống trong không gian văn hoá phương Đông, đối thoại với các nhân vật trong không gian này một cách tự nhiên Các tác giả nho gia thường đối thoại với những người đã khuất, tìm kiếm những bài học từ xa xưa để đối diện với thực tại Những người sống cùng thời không phải không có, nhưng rất thưa thớt, vàphần đông là vô danh, những khách lạ, khách lầu hồng, láng giềng, nho sỹ
Không gian làng quê hầu như vắng bóng trong thơ ông Nguyễn Trãi không về nhà
cũ mà về Con Sơn, và rất ít viết về quê hương, khiến hình tượng ông trong thơ đầy
có độc, u buồn
4 Cống hiến nghệ thuật của Nguyễn Trãi.
Trang 18Nói đến đóng góp nghệ thuật của Nguyễn Trãi, trước hết cần khẳng định thành tựu nghệ thuật của Quốc Ôn thi tập – tập thơ chữ Nôm dùng tiếng mẹ đẻ để diễn tả nội tâm và phản ảnh thế giới.
Theo các kết quả nghiên cứu về ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Trãi trong Quốc âm thi tập, bộ phận từ vựng tiếng Việt bao gồm từ gốc Hán được Việt hoá chiếm số lượng đáng kể Có những câu gồm tất cả các từ thuần Việt như: Nếu có ăn thì có lo/ Chẳng bằng cài cửa ngáy pho pho Các câu thể sử dụng ngữ pháp, cú pháp thuần Việt cũng không ít Các từ gốc Hán, nhất là những khái niệm, thuật ngữ về triết học, đạo đức được Nguyễn Trãi dịch sang tiếng Việt khá sáng tạo, đưa vào khuôn của ngữ pháp, cú pháp tiếng Việt
Nguyễn Trãi có hai nguồn khai thác phương tiện diễn đạt cho thơ Nôm: thứ nhất
là dịch, thứ hai là khai thác vốn từ của ca dao tục ngữ tiếng Việt Tần số xuất hiện của từ tiếng Việt trong thơ Nôm Nguyễn Trãi cho thấy ông là người có ý thức học tập cách nii dân gian, nắm bắt từ ngữ thành ngữ, tục ngữ để tạo không khí dân tộc trong không gian văn hoá chung của phương Đông
Không chỉ vận dụng những tinh hoa nghệ thuật ngôn từ sẵn có của Văn hoá dân gian, Nguyễn Trãi còn sáng tạo nhiều cách biểu đạt mới mẻ, độc “, đặc sắc, có dáng dấp những châm ngôn mà lại đây tình hình tượng Vấn để làm giàu cho
phương tiện ngôn ngữ tiếng Việt ở sáng tác của Nguyễn Trãi là rõ ràng và đã được nhiều học giả lưu ý Chỉ xin nhấn mạnh thêm rằng, bằng việc Nôm hoá, Việt hoá cách diễn đạt những vấn đề của văn hoá chính trị và đạo đức, nhân cách, Nguyễn Trãi đã đặt văn hoá Việt Nam vào ngữ cảnh chung của văn hoá khu vực Đông Á Những quan niệm, giá trị của văn hoá cả vùng đã được diễn đạt không những bằng chữ Hán mà bằng cả ngôn ngữ dân tộc Hầu hết các nhân vật văn hoá và các vấn đềtriết học về chính trị, đạo đức không chỉ xuất hiện trong thơ chữ Hán mà được nhắc
Trang 19đến cả trong thơ chữ Nôm Điều này thể hiện ý thức về sự bình đẳng giữa chữ Nôm
và chữ Hán trước những vấn đề tư tưởng quan trọng Đây thực sự là một bước tiến lớn về nhận thức trong bối cảnh của nền văn học song ngữ
Một nét đặc sắc khác của thơ Nguyễn Trãi là thể thơ thất ngôn có xen lẫn lục ngôn Theo Đinh Gia Khánh, trong số 254 bài thơ Nôm còn lại, 183 bài được viết xen giữa thất ngôn và lục ngôn, ông gọi là viết theo thể cách tự do Câu thơ bảy chữ chỉ được ngắt nhịp chẵn lẻ, song câu sầu chữ có thể ngắt nhịp chẵn/ lẻ hoặc chỉ
có nhịp lẻ (sáu chữ được chia thành hai vế theo hình thức tiểu đối) Việc kết hợp hai cấu trúc khác nhau như thế khiến cho thể thơ có âm điệu đặc biệt, ít nhiều tự do
về bằng trắc, về niêm luật, về đối xứng Chính vì viết xen kẽ nên cấu trúc âm luật, đối xứng, ngắt nhịp của bài thơ thất ngôn bát cú bị phá vỡ, mở ra những khả năng rộng lớn cho nhạc tính của bài thơ:
Góc thành nam, lều một gian,
No nước uống, thiếu cơm ăn
Con đội trốn, dường ai quyến,
Bà ngựa gầy, thiếu kẻ chăn,
Áo bởi hẹp hòi, khôn thả cá, Nhà quen xú xúa ngại nuôi vằn
Triều quan chẳng phải, ẩn chẳng phải, Góc thành nam, lều một gian.
Trang 20Việc Nguyễn Trãi viết thể thơ lục ngôn xen kẽ thơ thất ngôn bộc lộ khát vọng sáng tạo thi thể mới cho văn học dân tộc Như chúng ta đã biết, thể loại văn học nào cũng ra đời trên cơ sở tổng hợp, cách tân những thể loại đã có sẵn Câu lục củathơ lục ngôn vốn không mấy thịnh hành ở Trung Quốc đã được Nguyễn Trãi ghép với câu thất, tạo nên thi thể mới, dẫu cho khuôn khổ bài thơ của ông vẫn nằm trongkhuôn hình bài bát cú (và tuyệt cú) Đường luật.
Nguyễn Trãi còn là tác giả có sáng tác bằng chữ Hán Khác với thể thớ sáu chữ xen bảy chữ bằng tiếng Việt khá tự do, linh ho của ông lại đạt đến mức cô điên, chặt chẽ và nghiêm cách luật, vần, đối Trong sáng tác chữ Hán, Bình Ngô đại cáo được coi là “áng thiên cổ hùng văn” Nguyễn Án (1770 – 1815) đánh giá Hán văn Nguyễn Trãi là “văn chương ông có khí lực dồi dào”, “đọc rất khoái trá” và chép một giai thoại vui về chuyện Nguyễn Trãi mắng Lê Quý Đôn trong đó có nối đến văn tài thể hiện qua Bình Ngô đại cáo Tác phẩm này tổng hợp nhiều yếu tố của thipháp văn học cổ trung đại Tuy là tác phẩm văn học chức năng được viết thay lời
Lê Lợi bố cáo chiến tranh kết thúc, một trang của đất nước bắt đầu cùng với sự thành lập tân triều đại Xét mối quan hệ giữa tác phẩm với thời đại, Bình Ngô đại cáo phản ánh không khí lịch sử hừng hực chiến thắng của đất nước
Xét về phương diện kết cấu, ngôn từ, nhịp điệu, tiết tấu, ngôn từ, hình tượng nghệ thuật và vốn học vấn uyên bác, Bình Ngô đại cáo rất đặc sắc Đoạn mở đầu dùng những lời văn đậm chất triết học, nhưng sang đoạn tiếp theo tố cáo tội ác của giặc Minh lại đầy những sự việc cụ thể mang tính liệt kê Chúng diễn tả sâu sắc và mãnh liệt cảm hứng yêu nước, tự hào dân tộc và làm tăng tính chất lịch sử của tác phẩm
Sức tác động của “ Bình Ngô Đại Cáo” bắt nguồn từ một bút lực dồi dào, văn tài thâm hậu
Trang 21Tác phẩm: Truyền Kỳ Mạn Lục
1 Giới thiệu về tác giả tác phẩm
Dựa vào lời tựa Truyền kỳ mạn lục do Hà Thiên Hán viết tháng 7 năm 1547: Nguyễn Dữ là người Hồng Châu nay thuộc Hải Dương, là con trưởng của Nguyễn Trường Phiêu, Tiến sỹ triều Lê Lúc nhỏ chăm học, đọc rộng nhớ nhiều, đi thi đỗ Hương tiến, nhiều lần thi hội, trúng trường, được bổ làm tri huyện Thanh Tuyền Sau khi làm quan được 1 năm thì từ quan về nhà nuôi mẹ, mấy năm không bước đến chốn thị thành Ông viết tập Truyền kỳ mạn lục để ngụ ý
Ông được đồn đoán sinh vào quãng cuối thế kỷ XV, xung quanh mốc 1496 và chết trước năm 1547 Tư tưởng chắc chắn chịu ảnh hưởng lớn của Nho giáo, hệ tư tưởng mà người cha đỗ tiến sỹ thờ phụng
Nguyễn Dữ chắc chắn sống cùng thời với Nguyễn Bỉnh Khiêm nhưng thuyết của Vũ Khâm Lân nói ông là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) và Nguyễn Bỉnh Khiêm sửa chữa Truyền kỳ mạn lục không đáng tin
Truyền kỳ mạn lục gồm 20 truyện chia làm 4 quyển, độ dài chừng 37000 chữ viết được hoàn thành trong khoảng năm 1509 đến năm 1547 Bản in sớm nhất Truyền kỳ mạn lục hiện tìm thấy được in năm 1712, bản này được gọi là Cựu biên Truyền kỳ mạn lục
Tác phẩm được viết bằng văn ngôn do đó có thể thấy đối tượng tác giả muốn
Trang 22hướng đến là người trí thức Như Hà Thiện Hán chỉ rõ trong bài tựa, Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ chịu ảnh hưởng của Tiễn đăng tân thoại, sáng tác của Cù Hựu.
Nhìn chung, Nguyễn Dữ sinh ra trong thời loạn lạc, suy thoái, những đặc điểm
xã hội thời bấy giờ được phản ánh vào sáng tác của Nguyễn Dữ Nhờ hiện thực cuộc sống nhiều chiều, đa dạng và đầy mâu thuẫn đã làm nên sự đa dạng, mâu thuẫn trong các thiên truyện của Truyền kỳ mạn lục
2 “Truyền kỳ mạn lục” đọc từ các góc độ khác nhau
2.1 Thế giới nhân vật của “Truyền kỳ mạn lục”
Tác phẩm có 20 thiên truyện với một hệ thống nhân vật đông đảo, đa dạng, thể hiện cái nhìn khác phức tạp của Nguyễn Dữ về con người
2.1.1 Các nhân vật trí thức
Trong số 20 truyện, có 11 truyện được kể diễn ra cuối đời Trần, những năm nhuận Hồ và Minh thuộc Đó là thời loạn, thời mạt, thời cướp ngôi, thời chiến loạn với dụng ý mượn quá khứ để ám chỉ hiện tại như một thủ pháp quen thuộc của các tác giả trung đại để gửi gắm thái độ phê phán, sự bất mãn và cả sự bất lực đối với thời cuộc Đối với giới cầm quyền, Nguyễn Dữ hư cấu giọng tiều phu ẩn sỹ nói lời phê phán sự bóc lột sức dân vô độ, hoang phí của cải, nạn mua quan bán tước dẫn đến lòng dân xao động
Sự mơ mộng về cuộc sống ẩn dật của người ẩn sỹ thực ra cũng thể hiện khía cạnh bất lực của học thuyết Nho giáo về xã hội
Các nhân vật nho sỹ hay ẩn sỹ đều nói lên tiếng nói phê phán xã hội đương thời, đồng thời đề cao mẫu người ẩn sỹ tránh đời, lánh đục tìm trong Mọi giải
Trang 23pháp đấu tranh bảo vệ đạo lý, chính nghĩa của tác giả thường phải dựa vào thế giới không tưởng Lý tưởng đạo đức của tác giả vốn tốt đẹp song rất khó chiến thắng con người bản năng nếu chỉ đơn thuần kêu gọi ý thức tự giác của mỗi người.
Kiểu truyện kể về các nhân vật này thường đơn giản, các tình tiết đủ để dẫn dắtvào đối thoại, giảng giải về đạo lý, lên án thế tục, thói đời, quan trường
2.1.2 Đạo sỹ và người nhà chùa
Nhân vật đạo sỹ là nhân vật dẫn dắt chuyện, giác ngộ lẽ thiện ác, nhân quả báo ứng cho nho sỹ, đưa nho sỹ đi theo đường chính của đạo gia Nhà nho hiểu rằng chỉ riêng những giáo huấn hay bản thân nêu gương về đạo đức nhân nghĩa, trung hiếu sẽ không tạo ra niềm tin cho con người vì thực tế xã hội, điều thiện nhiều khi không nhất thiết được ban thưởng, cái ác không nhất thiết bị trừng trị Nhân vật đạo sỹ cũng chưa có chân dung tạo hình rõ rệt Không gian truyện đã có sự giao thoa giữa thiên đình và hạ giới, người và ma quỷ, duyên phận trước sau nên tạo được hứng thú cho người đọc
2.1.3 Nhân vật phụ nữ
Truyền kỳ mạn lục gồm 20 truyện, trong đó có 11 truyện viết về người phụ nữ với cảm hứng và ý đồ nghệ thuật khác nhau Chưa bao giờ trước đó, người phụ nữ được tác giả nho gia chính thống quan tâm đến mức như vậy
Thân phận bất hạnh, đau khổ của người phụ nữ trong xã hội phong kiến nam quyền
đã được Nguyễn Dữ nêu lên một cách bức thiết và tập trung
Về nghệ thuật, thiên truyện thuộc nhóm truyện hay nhất, thành công nhất không những của Truyền kỳ mạn lục mà cả truyện ngắn trung đại
Tạm thời ở Nguyễn Dữ chưa định hình tư tưởng nữ quyền nhưng ông đã tập
Trang 24trung kể lại cách đối xử của xã hội nam quyền đối với những người con gái đẹp qua đó cũng phê phán xã hội phong kiến sâu sắc.
Trong các nhân vật của Nguyễn Dữ, đã xuất hiện nhân vật ca nhi, người phụ nữ tài sắc, sống thiên về tình Thái độ của Nguyễn Dữ với loại nhân vậy này khá phức tạp, từ góc nhìn nhà nho vốn khắt khe với nữ sắc, ông tỏ thái độ phê phán loại nhânvật này
2.2 Quan hệ giữa cái kỳ và cái thực trong “Truyền kỳ mạn lục”
Kỳ diễn ra trong thực, có quan hệ mật thiết với cái thực, có ý nghĩa thẩm mỹ đặc biệt
Không gian và thời gian trong Truyền kỳ mạn lục có vẻ chỉ báo về tính xác thực lịch sử của các câu chuyện được kể
Vai trò của các địa danh trong truyện rất khác nhau, có khi chỉ có ý nghĩa hình thức, có khi lại có nội dung cần thiết
Không gian nghệ thuật còn bao gồm những không gian hiện thực
Thời gian lịch sử cũng được ghi chép có ý thức vì ta biết xưa, văn xuôi thường chịuảnh hưởng sâu sắc của văn chép sử Phổ niên đại trong các truyện Truyền kỳ mạn lục nằm từ đời Lý
Yếu tố kỳ của tập truyện được hình thành từ không gian huyền ảo do những thước đo thời gian, không gian khác nhau giữa các thế giới song mọi logic diễn ra đều thống nhất với logic của xã hội loài người
Trong nghệ thuật tự sự, cái kỳ được Nguyễn Dữ khai thác để tăng sự hấp dẫn, tính huyền ảo cho các chuyện kể đi song song với nó là phần thực của cuộc sống Khi trong cuộc sống hiện thực sự việc vận động tới chỗ bế tắc là lúc yếu tố kỳ xuấthiện để khai mở mạch truyện theo hướng mới
Trang 25Cái kỳ là một phương thức tổ chức cốt truyện, thể hiện chủ đề tư tưởng của tác giả
Hiện tượng Hồ Xuân Hương
I TIỂU SỬ TÁC GẢI VÀ VĂN BẢN THƠ
Trong khoảng nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX, có một nữ sỹ tên gọi
Hồ Xuân Hương đã từng sống và sáng tác Không chỉ tồn tại nhiều bí ẩn, nhiềuđiều chưa rõ ràng về đời tư của nữ sỹ mà cả văn bản sáng tác, bản thân các thôngtin tư liệu về bà cũng đầy phức tạp, mâu thuẫn
1 TÍNH PHỨC TẠP CỦA CÁC THÔNG TIN VỀ TIỂU SỬ HỒ XUÂN HƯƠNG
Trong thời gian mấy chục năm qua, cũng có những ý kiến nghi ngờ về sự tồn tạicủa con người và thi ca Hồ Xuân Hương, song đều là những hoài nghi không cócăn cứ văn bản mà chỉ dựa vào suy luận Trước những từ ngữ đầy do dự, thiếu xácquyết về tiểu sử Hồ Xuân Hương mà các nhà phê bình dung ở đầu thế kỷ XX như
“không có sách nào chép”, “có lẽ”, “hình như”, “không chắc rõ quê quán ở đâu”,
“có thể truyền tụng rằng”, Lữ Hồ (ở thời điểm năm 1958) đã tỏ ý hoài nghi về sựtồn tại của một nữ sỹ tên gọi Hồ Xuân Hương
Lịch sử nghiên cứu Hồ Xuân Hương được đẩy mạnh kể từ năm 1964, khi ở miềnBắc, Trần Thanh Mại công bố những tư liệu mời phát hiện về tiểu sử và văn bảnthơ ca của Hồ Xuân Hương (tập thơ Lưu hương ký) cùng một tư liệu xuất hiệntrong năm 1974 (bài văn Xuân đường đàm thoại), cùng với những tư liệu Hán Nôm
Trang 26mới, hang loạt vấn đề được đặt ra kể cả về tiểu sử cũng như văn bản thơ Hồ XuânHương.
Có một vài thuyết về thân thế của nữ sỹ tên gọi Hồ Xuân Hương Người bảo HồXuân Hương là con của Hồ Phi Diễn, nhưng lại có thuyết khẳng định bà là con của
Hồ Sỹ Danh, cả hai ông đều thuộc một dòng họ lớn ở làng Quỳnh Đôi, huyệnQuỳnh Lưu, Nghệ An
Nếu xếp sắp các nguồn tư liệu tản mạn, rải rác đó đây, các từ ngữ trong thơ Nômđược truyền tụng của Hồ Xuân Hương bộc lộ sự tự ý thức về bản thân như là mộtphụ nữ tài sắc mà bất hạnh trơ cái hồng nhan với nước non (từ “hồng nhan” trongvăn học thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX hay được dung sóng đôi với từ “bạc mệnh”
tô đậm một vấn đề được cả thời đại quan tâm – hồng nhan bạc mệnh), một phụ nữgiao du rộng với giới văn nhân (nam giới) tài tử văn nhân ai đó tá, thường phảinhận những cuộc tình bé mọn không tương xứng với tài sắc mảnh tình san sẻ týcon con và đã chịu già tom Các từ ngữ được giới căn nhân sử dụng nói về HồXuân Hương cũng xoay quanh hình tượng một phụ nữ tài sắc và bạc mệnh, thậmchí có văn nhân thế kỷ XIX còn hình dung về nàng như về Thúy Kiều Qua cách tự
sự của Nam Giác phu Tốn Phongqua lời các văn nhân trong Xuân đường đàmthoại, qua bài thơ gửi tạng những bạn tình Nuyễn hầu, Trần hầu, Mai Sơn Phủ, thấy
Hồ Xuân Hương là một phũ nữ nổi danh thi ca nhưng cũng rất cởi mở, phóngkhoáng trong giao đãi, tiếp xúc với các nam văn nhân, giới nam văn nhân nàyngười nọ giới thiệu cho người kia tìm đến tiếp xúc, thử tài và trở thành bạn tình.Sách Hồ Xuân Hương nương thi dường như ghi lại những lời đồn đại đậm màu tưduy huyền thoại hóa những phụ nữ tài sắc, hồng nhan của văn hóa dân gian ViệtNam : “Hồ Xuân Hương Hà Nội tỉnh, tục truyền Hoàn Kiếm hồ tinh biến vi nhânloại, vưu thiện quốc âm thi từ” (Hồ Xuân Hương ở tỉnh Hà Nội, tục truyền là loài
Trang 27tinh ở hồ Hoàn Kiếm biến thành người, nên đặc biệt giỏi làm thơ bằng từ HánNôm”.
Nhờ các tài liệu được phát hiện, điều có thể khẳng định là đã từng có một nữ sỹ têngọi Hồ Xuân Hương từng sống, sáng tác trong thời gian cuối thể kỷ XVIII – đầuthế kỷ XIX
2 TÍNH CHẤT PHỨC TẠP CỦA TÌNH TRẠNG VĂN BẢN THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG
Hiện nay, giới nghiên cứu đã thầy khoảng 20 bản Hán Nôm, cả chép tay và
in Cũng có khá nhiều văn bản thơ Hồ Xuân Hương bằng chữ Quốc ngữ Vấn đề làvăn bản chữ Nôm gốc thơ của Hồ Xuân Hương không còn, các bản Nôm xuất hiệnkhá muộn, gần cùng thời với các bản Quốc ngữ, giữa các bản Nôm này không có
sự thống nhất về số lượng bài thơ, về nội dung, tên gọi, phong cách sáng tác, trình
độ nghệ thuật của nhiều bài thơ cũng khác nhau Do thiếu văn bản gốc nên ngườibiên tập xưa nay tùy ý mà thêm bớt bài này bài kia theo ý kiến riêng
Chỉ nói riêng về thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương, Trần Thanh Mại
đề nghị phân biệt ba nhóm thơ, đó là những bài thơ nội dung tư tưởng cao, nghệthuật thanh nhã, những bài có yếu tố tục nhưng nội dung tiến bộ và những bài tụcdâm, khêu gợi không lành mạnh Song không phải khi nào cũng có thể dễ dàngphân biệt, vạch ra ranh giới giữa cái tục “tiến bộ” và cái tục “khiêu dâm” khônglành mạnh
Đỗ Lai Thúy cũng tự cho phép mình cái chủ quan của người nghiên cứu hơn khiông viết: “khi gặp chữ có nhiều dị bản, tôi tự cho phép mình chọn chữ theo tinhthần, phong cách thơ Hồ Xuân Hương và phù hợp với sự phân tích văn bản bàithơ” Kiều Thu Hoạch nêu ba tiêu chí để căn cứ vào đó xác định văn bản thơ của
Hồ Xuân Hương Đó là: 1) trước hết phải là thơ được in hoặc chếp tay bằng chữ
Trang 28Nôm; 2) về phần nội dung: hoặc phản ánh tâm trạng của người phụ nữ về số phậnlong đong, về tình duyên lỡ làng hoặc châm biếm, trào tiếu những hiện tượngkhông bình thường trong xã hội và tự nhiên, nhưng là trào tiếu - trữ tình chứ khôngphải là thứ trào phúng tục nhám; 3) về hình thức, thường sử dụng lối nói lấp lửng,hoặc dung lối song quan ngữ, hoặc sử dụng các biểu tượng hai mặt, trong đó ông
ưu tiên tiêu chí 1
Vấn đề văn bản thơ của Hồ Xuân Hương trở lên phức tạp hơn khi tập thơ Lưuhương ký (gốm 15 bài thơ, từ chữ Hán và 29 bài thơ chữ Nôm) được phát hiện vàcông bố bởi Trần Thanh Mại năm 1964cungf một số nguồn tài liệu khác cho hay
Hồ Xuân Hương còn làm thơ chữ Hán Tuy nhiên, nhiều công trình văn bản học vànghiên cứu hiện nay vẫn triển khai nghiên cứu về Hồ Xuân Hương theo thơ Nômtruyền tụng, còn văn bản Lưu hương ký chỉ được giới thiệu tỏng phần phụ lục Chủ trương nhìn thơ Hồ Xuân Hương như là một hiện tượng văn học của giaiđoạn thể kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX, Trần Thanh Mại từ năm 1961 đã đề nghị cách
lý giải tính chất phức tạp của hiện tượng thơ Hồ Xuân Hương bằng xu hướng dângian hóa thơ nữ sỹ mà ông gọi là “sự trà trộn” của thơ người khác vào thơ Hồ XuânHương “Những chi tiết về tiểu sử của nhà thơ, về cá tính bà, cả về thơ bà nữa, đều
là những điều mà chúng ta chỉ biết qua truyền thuyết, không phait qua những vănkiện chính thức Hồ Xuân Hương sinh năm nào, mất năm nào, chúng ta tuyệt đốikhông biết Trong thơ Hồ Xuân Hương, chúng ta nhận thấy một sự nhất trí lớn về
tư tưởng mà chúng ta không thể cho đó là sự thể hiện những mâu thuẫn nội tại củatâm hồn nhà thơ Sự đồng nhất này chỉ có thể cắt nghĩa được bằng sự trà trộn củanhiều người khác vào”
Nhiều nhà nghiên cứu tỏ ra dè dặt, cho rằng trước khi phân tích giá trị thơcủa Hồ Xuân Hương, cần cắt nghĩa nguyên nhân dẫn đến tính chất phức tạp của
Trang 29văn bản thơ Hồ Xuân Hương Hồng Tú Hồng quan niệm hiện tượng thơ hồ XuânHương là “tiếng nói chung của cả một thời đại, cả một thế hệ” Lữ Hồ đặt hiệntượng thơ Hồ Xuân Hương vào trong môi trường văn hóa truyền thống vốn trọngnam khinh nữ Ông quan niệm thơ tục là sản phẩm thấp kém của đàn ông, nên đànông chối bỏ và gán cho cái tên Xuân Hương.Hoàn Xuân Hãn, Đào Thái Tôn chorằng người và thi ca của Hồ Xuân Hương là kết quả của quá trình huyền thoại hóa,dân gian hóa Hoàng Xuân Hãn nhận thấy trong tập Lưu hương ký không có mộtbài nào thuộc nhóm thơ truyền tụng và đồng thời tập Lưu hương ký “không có thơ
tả cảnh, tả người với ác tâm châm biếm, chế giễu, nói bóng gió, khiêu dục tình nhưnhiều thơ kia” Đào Thái Tôn cho rằng khi Lưu hương ký và những tài liệu nhưXuân đường đàm thoại được phát hiện thì có cơ sở hình dung một quá trình dângian hóa con người và thi ca của nữ sỹ
Trước thực trạng đầy phức tạp về tiểu sử và văn bản thơ Hồ Xuân Hương, cóhai cách ứng xử chính: một cách truyền thống là độc văn bản thơ Hồ Xuân Hươngtruyền tụng theo quan niệm văn bản như là một thế giới nghệ thuật đối lập với tácgiả (như một nhà lý luận phương Tây từng nói: tác giả đã chết) Một cách khác làphải tìm cách cắt nghĩa, giải thích được nguyên nhân của hiện tượng, phải hiểuđược tác giả là ai trước khi cắt nghĩa hay phân tích tìm ra giá trị của các sáng tácthi ca này
II PHÂN LOẠI CÁC BÀI THƠ ĐƯỢC COI LÀ CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG
Trang 30khác Nhóm các bài thơ tự tình ước chừng chiếm khoảng ¼ tổng số thơ Nômtruyền tụng và Lưu hương kí Các bài thơ tự tình trong thơ Nôm truyền tụng quenthuộc vẫn xuất sắc hơn so với dạng thơ tự tình ở Lưu hương kí Các nỗi niềm củangười phụ nữ trong các bài thơ tự tình thường quy về chuyện tình duyên với giọngđiệu than thân trách phận, một phụ nữ có tình yêu lớn, khát khao mãnh liệt mốitình xứng đáng nhưng lại chấp nhận cảnh mối tình bé mọn, tầm thường đôi khikhông còn là sự chấp nhận mà là tiếng nói phản kháng uất ức trước thân phận éo
Những bài thơ tự tình ở Lưu hương kí tuy cũng rất bộc trực, thẳng thắn, songngôn từ, giọng điệu có vẻ hiền lành, nhu thuận, tài nghệ trung bình chứ không gaigóc, mạnh mẽ, xuất sác như thơ Nôm truyền tụng
Tình thần chống nam quyền quyết liệt chỉ có trong những bài thơ của thơ Nômtruyền tụng mà trong Lưu hương kí lại vắng bóng Nhà phê bình Lữ Hồ cho rằngthơ Hồ Xuân Hương là lời khí của phụ nữ chống phong kiến, chống nam quyền
Hồ Xuân Hương chống nam quyền bằng cách cổ động một cái hành vi để sinh lýlên trên đạo lý Bài thơ Không chồng mà chửa là ví dụ chống nam quyền bằng cáchvạch ra những bất công:
Cả nể cho nên hoá dở dang
Sự này có thấu hỡi chăng chàng
Trang 31Duyên thiên chưa thấy nhô đầu dọcPhận liễu sao mà nảy nét ngangCái tội trăm năm chàng chịu cảChữ tình một khối thiếp xin mangQuản chi miệng thế lời chênh lệchChẳng thế nhưng mà thế mấy ngoan Cũng là một bài thơ tự tình nhưng sắc thái than thân trong bài thơ truyeefnt ụngLấy chồng chung nghiêng hẳng về phía nhấn mạnh quyền sống của thân xác màngười phụ nữ bị thiệt thòi
Các bài thơ tự tình trong thơ Nôm tuyền tụng và Lưu hương kí có sự tương đồng
và khác biệt Nét tương đồng thể hiện ở sự thổ lộ tâm trạng sâu kín về tình yêu màthơ các nữ sỹ khác thường né tránh Sự khác biệt gắn liền với thái độ về quyềnsống thân xác Thơ tự tình ở Lưu hương kí không chạm đến thân thể và dục tính
Sự khác biệt nào đó về tư tưởng nghệ thuật giữa chúng có thể do sự thay đổi vềphong cách hay do sự nhuận sắc của dân gian gây ra
2 Thơ xướng họa và thơ gửi nhân tình
Thơ xướng họa và thơ gửi nhân tình trong Lưu hương kí dường như có một liên
hệ nào đó với thơ Nôm truyền tụng, tuy không thật sự tương đồng
So sánh hai nhóm thơ xướng họa, một nhóm thuộc thơ Nôm truyền tụng, mộtthuộc Lưu hương kí đều dẫn tới một trường hợp, cho thấy sự tinh nghịch, táo tợncủa Hồ Xuân Hương:
Anh đồ tỉnh, anh đồ say,
Trang 32Sao anh ghẹo nguyệt giữa ban ngày?
Này này chị bảo cho mà biết
Chốn ấy hang hùm chớ mó tay
Các bài thơ của Hồ Xuân Hương xướng họa với bạn tình cũng thể hiện một tâmhồn phóng túng, cởi mở, không mặc cảm Chẳng hạn hình ảnh một người con gáitrong đêm khuya vắng cô đơn dưới trăng hướng về người tình nơi chân trời xangàn dặm:
Dặm khách muôn nghìn nỗi nhớ nhung,Mượn ai tới đấy gửi cho cùng
Chữ tình chốc đã ba năm vẹn,Giấc mộng rồi ra nửa khắc không
Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập,Phấn son càng tủi phận long đong
Biết còn mảy chút sương siu mấy,Lầu nguyệt năm canh chiếc bóng chong
Nhìn từ quan điểm văn hóa giới truyền thống trong đó nam chủ động, nữ bị đọngthì một phụ nữ chủ động làm thơ thổ lộ tình yêu là điều mới mẻ
Trang 33Thơ đề vịnh thời trung đại của Nho gia gắn liền với quan niệm thi ngôn chí, văn
dĩ tải đạo, để biểu lộ lý tưởng, ý chí của người quân tử, thi nhân làm thơ vịnh tùng,trúc, cúc, mai Còn thơ đề vịnh, tức sự trong thơ Nôm truyền tụng của Hồ XuânHương đi theo một hướng hoàn toàn khác Những đối tượng đượng chọn đề vịnhvới những nét tả thực có thể chuyển tải những ẩn dụ về thân thể và hành động tínhgiao nam nữ Bài thơ Bánh trôi nước được tả thực Bảy nổi ba chìm với nước non,song có nhấn mạnh thân em trắng, tròn và động từ nặn Chúng có 2 nghĩa hiển hiện
và ngầm ẩn, chúng hòa quyện vào nhau, không thể phân biệt chính phụ Các sự vậtđược đề vịnh có thể kể quả mít, con ốc nhồi, cái quạt,… nguyên tắc chung về quan
hệ giữa nghĩa tả thực và nghĩa ẩn dụ luôn được giữ vững Bài thơ vịnh quạt cũngklhai thác những đặc điểm tả thực của chiếc quạt giấy có khả năng dẫn đến nhữngliên tưởng về thân thể người thiếu nữ và chuyện làm tình:
Mười bảy hay là mười tám đâyCho ta yêu dấu chẳng dời tayMỏng dày chừng ấy chành ba gócRộng hẹp ngần nao cắm một cayCàng nực bao nhiêu thời càng mátYêu đêm chẳng chán lại yêu ngàyHồng hồng má phấn duyên vì cậyChúa dấu vua yêu một cái này
Tương tự các sự vật, các cảnh lao động hay sinh hoạt được chọn để vịnh cũngphải thỏa mãn nguyên tắc trên Bài thơ Tát nước cũng là kết quả của sự quan sát vàlựa chọn có định hướng Hành động tát nước của chị em được tả bằng những từ
Trang 34ngữ đầy ẩn dụ như mình nghiêng ngửa, đít vắt ve, dạng hang gợi liên tưởng thânthể, hành động tính giao.
Thơ tức sự hầu hết thuộc thơ Nôm truyền tụng sự tinh nghịch, xu hướng liêntưởng đến chỗ kín trên thân thể phụ nữ thường tạo nên chất Hồ Xuân Hương đặcbiệt Ví dụ như bài Ngã tốc váy làm thơ tự vịnh:
Vén đám mây lên tỏ mặt trờiLác coi từng đám rõ từng nơiGiang sơn đâu đó nhô đầu dậyHoa cỏ quen hơi mỉm miệng cười
Thiếu nữ ngủ ngày cũng có nét của thơ tức sự chọn thời điểm ngủ ngày để ánhsáng rọi chiếu rõ những đường nét cơ thể của người thiếu nữ:
Mùa hè hây hẩy gió nồm đông,Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng
Lược trúc chải cài trên mái tóc,Yếm đào trễ xuống dưới nương long
Đôi gò Bồng đảo sương còn ngậm,Một lạch Đào nguyên nước chửa thông
Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt,
Đi thì cũng dở, ở không xong
Trang 35Thơ đề vịnh, tức sự của Hồ Xuân Hương vừa mô tả: chọn các hiện tượng và sựvật, sự việc cho phép liên tưởng đến thân thể, nhất là thân thể phụ nữ với các chỗkín, nhấn mạnh quan hệ tính giao nam nữ kết hợn nhuần nhuyễn với lối nói lái đặctrưng của tiếng Việt, khai thác thế mạnh của thơ Đường luật, nghĩa ngầm ẩn có thểcảm nhận rõ ràng Những bài thơ đề vịnh thanh – tục chuyể hóa lẫn nhau rất tìatình và độc đáo, rất khó tách nghĩa hiển hiện và nghĩa ngầm ẩn khiến cho ngườiđộc thích thú Chúng được coi là nét phong cách tiêu biểu của hiện tượng thơ HồXuân Hương.
III LÝ GIẢI VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆN TƯỢNG THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG
1 Thơ của người phụ nữ mang tên Xuân Hương và thơ nam giới gán cho Xuân Hương trong bối cảnh văn hóa tính dục truyền thống.
Táo bạo, không mặc cảm những cũng không phô bày thân thể, đó là những nét
cá tính vừa mới mẻ vừa truyền thống của thơ Hồ Xuân Hương trong Lưu hương kí
và thơ Nôm truyền tụng Phần lớn thơ đề vịnh và tức sự truyền tụng đều ẩn dụ vềcác chỗ kín của thân thể cũng quan hệ tính giao
Về văn hóa giới truyền thông, các bài thơ tự tình của Hồ Xuân Hương xây dựnghình ảnh người phụ nữ mạnh dạn, phóng túng, táo bạo khác thường trong cách bộcbạch nỗi niềm tình yêu Chúng ta thấy việc một người phụ nữ trong không gian vănhóa nam quyền mà trực tiếp thổ lộ tình cảm sâu kín như Hồ Xuân Hương là mộthiện tượng đột xuất, song vẫn có thể diễn ra Nhưng để một phụ nữ phô phang thânthể và trực tiếp nói lên những khát khao dục tính là điều không thể tưởng tượngnổi
Về văn hóa dục tính, cái nhìn của văn hóa bác học chính thống thường thể hiện
sự khinh miệt phần thân xác bản năng Những con người tu dưỡng đạo đức theomẫu hình lý tưởng coi dục tính, bản năng gây trở ngại việc thực hành lý tưởng tính
Trang 36dục bị văn hóa chính thống coi là tội lỗi, xấu xa Nhưng thơ đề vịnh của Hồ XuânHương rất đề cao thân thể và dục tính
Bản thân một phụ nữ như Hồ Xuân Hương trong xã hội nam quyền và thanhgiáo truyền thống phương Đông mà viết những vần thơ tự tình và thơ gửi bạn tìnhchính là một cuộc cách mạng hiếm hoi trong giới phụ nữ
2 Ý nghĩa của hiện tượng thơ Hồ Xuân Hương
Hiện tượng thơ Hồ Xuân Hương có một ý nghĩa quan trọng đối với lịch sử vănhọc trung đại mà hậu thế chưa đánh giá hết
Trước hết, người phụ nữ làm thơ tự tình thổ lộ tình yêu và thân phận riêng, làmthơ xướng họa hay gửi bạn tình như Hồ Xuân hương là hiện tượng đặc biệt, hiếm
có trong suốt thời trung đại Hầu hết tất cả các tác giả nữ thời trung đại – trừ HồXuân Hương - đều không bộc lộ tình yêu nam nữ, một tình cảm giới rõ nét rất tiêubiểu cho tính nữ Giữa không gian không chấp nhận tình cảm ngoài gia đình,những sáng tác của Hồ Xuân Hương với nỗi nhớ nhung, hé lộ nỗi niềm riêng tư, đãcung cấp nguồn tư liện quý giá cho hậu thế hiểu được tâm hồn và thân phận củangười con gái Nhìn trên tiến trình phát triển văn học trung đại, đây là những tácphẩm đầu tiên của chính nữ nhân về tình yêu của riêng mình, một đóng góp cho ýthức về nữ quyền trong văn học Những lời tự tình đó đơn độc cất lên trong xã hộinam quyền hệt như tiếng long giữa đêm khuya thanh vắng, buộc hậu thế phải suynghĩa về quyền sống, quyền được yêu của người con gái Việt Nam
Trong nền văn hoá chính thống đậm nét cấm kỵ dục tính thân thể đó, thơ đề vịnhtương truyền của Hồ Xuân Hương nói lên sức sống mãnh liệt tiềm ẩn của dục tínhthân thể Những bài thơ vịnh ấy đã quyết liệt gắn liền thân thể với dục cảm, dụctính, không thuần túy coi thân thể người phụ nữ chỉ có công năng lao động và sinh
nở mà còn có công năng mang lại sự đam mê dục tính