1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mối lien hệ giữa ca dao và chùm dân ca hát ru miền bắc bộ

31 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 381,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu nói, làn điệu, giọng hát là những đòi hỏi bức thiết nảy sinh trong đời sống xã hội, qua thời gian, những câu nói hay, những làn điệu hấp dẫn đã được nhân dân sưu tập và gìn giữ.. Như

Trang 1

Mục lục

Mở đầu………

Lí do chọn đề tài ………

Lịch sử vấn đề………

Đối tượng nghiên cứu………

Mục đích nghiên cứu……….

Phương pháp nghiên cứu………

Nội dung………

Chương 1 Cơ sở lí luận thực tiễn và đối tượng nghiên cứu………

1.1 Tổng quan về ca dao, dân ca Việt Nam ………

1.2 Một số đặc điểm thi pháp ca dao Việt Nam………

Chương 2 Mối lien hệ giữa ca dao và chùm dân ca hát ru miền Bắc Bộ 2.1 Quan niệm về hát ru người Việt………

2.2 Hát ru người Việt ở Bắc Bộ Kết luận………

Tài liệu tham khảo……….

Phụ lục……….

Trang 2

Mở đầu

Lí do chọn đề tài :

Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, ca dao chiếm một vị trí vô cùng quan trọng

Ca dao là tiếng nói phản ánh đời sống tâm hồn, tình cảm của nhân dân và thường mang tính trữ tình rất cao Có rất nhiều thể loại ca dao khác nhau như ca dao giao duyên, ca dao về đời sống lao động hay ca dao than thân Mỗi loại ca dao mang một màu sắc trữ tình rất riêng biệt, là nơi để con người dân gian gửi gắm những tình cảm sâu kín hay những lời giãi bày tâm tư nỗi lòng Chính vì chất trữ tình ấy mà rất nhiều bài ca dao đã đi vào lời hát ru, trở thành những làn điệu ru con ầu ơ của biết bao người mẹ Việt Nam trên cái đất nước giàu tình cảm này

Như vậy là ca dao và hát ru luôn có sự gắn chặt mật thiết với nhau Xét trên một khía cạnh nào đó có thể nói ca dao chính là phần lời của những làn điệu hát ru Chính vì thế lựa chọn đề tài Một số đặc điểm thi pháp thể loại chùm ca dao Bắc Bộ trong mối liên hệ với làn điệu hát ru con Bắc Bộ từ hướng tiếp cận xã hội, tôi hi vọng sẽ đem đến một cái nhìn mới mẻ và gần gũi hơn về mối lien kết đặc biệt giữa ca dao và hát ru ở các miền BắcBộ

Lịch sử vấn đề :

Việc tìm hiểu về vấn đề hát ru từ chất ca dao Việt Nam đã và đang được quan tâm nghiên cứu từ hai góc độ là lý luận và nghiên cứu ứng dụng Tất nhiên trong các công trình , bài viết mang tính lí luận không thể thiếu những ví dụ minh hoạ Và ngược lại trong các công trình ứng dụng không thể thiếu đi các luận điểm lí thuyết

Cho đến nay, cũng đã có những công trình nghiên cứu về các làn ddieju hát ru trong kho tàng văn học dân gian này Thế nhưng rõ ràng những công trình nghiên cứu vẫn dànhnhiều tâm huyết cho các vấn đề hát ru và các nghệ thuật âm ngữ của nó hơn là quan tâm đến chất liệu dân gian của làn điệu này

Trang 3

Nhìn chung vấn đề nghiên cứ về ca dao quan làn điệu hát ru con cũng đã được nhắc đếntrong những bài nghiên cứu hay bài viết khác nhau Thế nhưng đó vẫn chỉ là những bài viết nhỏ lẻ, chưa đặt mối tưng quan này vào trung tâm vấn đề và cũng chưa đi sâu vào nghiên cứu cụ thể về vấn đề này Điều đó càng thôi thúc tôi thực hiện bài viết về vấn đề.

Đối tượng nghiên cứu :

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là ca dao Bắc Bộ với những đặc điểm thi pháp và mối lien hệ với làn điệu hát ru Qua đó rút ra được vấn đề lớn nhất làviệc diễn xướng một số bài ca dao vào trong lời ru tiếng hát của con người Tư liệu khảo sát chính là hai cuốn “ Kho tàng ca dao người Việt “ tập 1 và “ Kho tàng ca dao người Việt “ tập 2 của tập thể tác giả do giáo sư Nguyễn Xuân Kính chủ biên, cũng như cuốn Dân ca Việt nam của nhà giáo nhân dân – nhạc sĩ Xuân Khải sưu tầm, tuyển chọn

Mục đích nghiên cứu :

- Nhận diện đầy đủ nhất về nghệ thuật ngôn từ và thi pháp trong ca dao người Việt

Qua đó phân tích giá trị biểu đạt, làm nổi bật lên vai trò của ca dao với cuộc sống

- Vận dụng tiếp cận ca dao trong thực hành diễn xướng đặc biệt là qua làn điệu hát ru

Bắc Bộ

Phương pháp nghiên cứu :

Trong đề tài, tôi sử dụng và phối hợp các phương pháp sau đây :

- Phương pháp thống kê,

- Phương pháp hệ thống,

- Phương pháp phân tích.

Cấu trúc bài viết :

Ngoài phần mở đầu và kết luận, bài được triển khai thành 2 chương :

Chương 1 : Cơ sở lí luận thực tiễn và đối tượng nghiên cứu

Chương 2 : Mối liên hệ giữa ca dao và chùm dân ca hát ru Bắc Bộ

Trang 4

Sau cùng sẽ là Phụ lục và Tài liệu tham khảo.

Chương 1

Cơ sở thực tiễn và đối tượng nghiên cứu

1.1 Ca dao, dân ca Việt Nam

Làng quê Việt Nam ở đâu cũng vậy, ẩn chứa trong nó bao điều gần gũi và thân thương.Mỗi một miền quê đều có những câu hò, điệu hát rất chung mà lại rất riêng, mang âm hưởng của từng vùng, miền Tất cả cùng hòa vào câu thơ, giọng hát của những làn điệu, tạo thành dòng ca dao dân ca Việt Nam rất đa dạng và phong phú

Ca dao dân ca, xét về góc độ tư duy của dân tộc, là tấm gương bức xạ hiện thực khách quan của mỗi dân tộc với lối sống, điều kiện sống và những phong tục tập quán riêng Hình ảnh về thiên nhiên, cuộc sống, về truyền thống dân tộc, quan hệ xã hội được phạm trù hóa theo những cách khác nhau, bằng những hình thức ngôn ngữ khác nhau Nghiên cứu về ca dao dân ca không chỉ cho thấy những nét đẹp văn hóa của người Việt Nam mà còn làm nổi bật lên tinh thần lạc quan, yêu đời, yêu người thiết tha Ca dao dân ca là kết tinh thuần tuý của tinh thần dân tộc, là nét đẹp trong văn hóa dân gian Việt Nam Với cội nguồn lịch sử và chữ viết rất phong phú đa dạng nên ca dao và dân ca có mặt ở Việt Nam

Trang 5

từ rất sớm Các công trình nghiên cứu về văn hóa dân gian, cũng như các nhà khoa học cóliên quan đã khẳng định một trong những dấu tích của ca dao cách chúng ta khoảng trên dưới 2.500 năm Điều này được thể hiện rất rõ qua các hoa văn trên trống đồng và các hiện vật khảo cổ cùng niên đại Phân tích các họa tiết hoa văn trên trống đồng, nhiều người đã tìm thấy ở đây hình ảnh lễ thờ nữ thần Mặt Trời cũng là nữ thần Nông nghiệp Trong lễ hội này đã sử dụng các hình thức âm nhạc, thanh nhạc múa hát và các nhạc khí Câu nói, làn điệu, giọng hát là những đòi hỏi bức thiết nảy sinh trong đời sống xã hội, qua thời gian, những câu nói hay, những làn điệu hấp dẫn đã được nhân dân sưu tập và gìn giữ Cùng xuất phát từ hoàn cảnh thực tế của đời sống xã hội và trí tuệ của nhân dân đúc kết nên Qua lời ca, câu hát, ca dao và dân ca Việt Nam là những câu nói đúc kết những kinh nghiệm sống, những quan niệm về nhân cách, nhân đức ở mỗi con người Càng đi sâu vào tìm hiểu ca dao dân ca, chúng ta sẽ thấy được những nét tài hoa, óc sáng tạo đầy tinh thần thẩm mỹ Tuy nhiên ở mỗi loại hình lại có những đặc điểm riêng biệt.

Ca dao dân ca là loại hình văn nghệ truyền miệng, là một hình thức văn hóa dân gian

đã có từ rất lâu Nó có thể là một câu nói triết lý bao hàm một nội dung giáo dục của ai

đó Trải qua thời gian, mọi người thấy đúng và nghe theo, thậm chí họ có thể thêm vào hoặc bớt đi để đúng với từng hoàn cảnh cụ thể Vì vậy, có thể nói ca dao dân ca là của quần chúng nhân dân sáng tác nên và họ có thể sáng tác trong bất cứ hoàn cảnh nào, trong lễ hội, trong lao động sản xuất Như Giáo sư Vũ Ngọc Phan đã viết: "Nó xuất hiện trong lao động từ thời cổ xưa và hình thức thô sơ của nó đã được sửa đổi qua các thế hệ của loài người" Có một câu ca dao rất ý nghĩa, không chỉ nói lên quan niệm triết lý của người Việt Nam mà đó còn là một câu nói thể hiện tinh thần đoàn kết, gắn bó với nhau, thể hiện sức mạnh của tập thể

Trong mỗi chúng ta ai cũng có một miền quê, quê hương là cánh đồng lúa thơm ngát, luỹ tre xanh trải dài dọc bờ đê, là những hình ảnh thân thương nhất đối với cuộc sống mỗicon người Hai tiếng quê hương nghe gần gũi và thân thương, đó là nơi chôn nhau cắt rốn, nơi đã nuôi dưỡng ta trưởng thành Qua ca dao dân ca những hình ảnh của miền quê

Trang 6

như trở nên gần gũi hơn, lung linh hơn nhờ những ca từ đầy hình ảnh Khi nói đến dân ca,chúng ta không thể quên những lời ru con thiết tha trìu mến, qua tiếng ầu ơ mẹ ru con, những hình ảnh của miền quê yêu dấu của biển rộng non cao, của gió Lào cát cháy, những người mẹ năm tháng tảo tần một nắng hai sương nuôi dậy con khôn lớn Những lờihát ru của mẹ đã hòa đồng với tâm hồn trẻ thơ, vừa đằm thắm nhẹ nhàng nhưng cũng không kém phần trầm tư sâu lắng Trong câu hát của mẹ có ánh trăng soi rọi như đưa con vào giấc ngủ êm đềm, có áng mây trôi bồng bềnh trên đỉnh núi, có dòng sông bên lở bên bồi, có mặt biển long lanh ánh bạc và những con thuyền thấp thoáng ngoài khơi xa Nghelời ru của mẹ, trẻ thơ như được tiếp thêm nguồn dự trữ lớn lao về lòng yêu quê hương, đất nước, chắp cánh cho tuổi thơ của con thêm vững bước và sáng ngời niềm tin

Lấy nguồn cảm hứng từ thực tế cuộc sống, ca dao dân ca được sáng tạo nên, đó là lời

ăn, tiếng nói của ông cha ta tích lũy từ ngàn đời Đó là những câu nói đúc kết từ những kinh nghiệm sản xuất răn dậy con cháu, bao hàm những nội dung mang ý nghĩa triết lý dậy bảo rất sâu sa Đó là những câu hát được truyền tải bằng âm thanh giọng điệu ngôn ngữ với nội dung nghệ thuật phong phú, đa dạng, đậm đà bản sắc dân tộc Giống như đại thi hào Macxingocki đã nhận định: "con người không thể sống mà không vui sướng được Họ phải biết cười đùa, họ sáng tạo nên những bài hát vui tươi, họ thích nhẩy múa" Bởi vậy, ca dao dân ca là sản phẩm văn hoá tinh thần và cần thiết đối với mỗi dân tộc, con người

Trong câu hát ru của người mẹ Thanh Hoá, câu ca dao: "Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau" như một lời nhắn nhủ của người mẹ với đứa con thơ về tình nghĩa đạo lý ở đời, phải ăn ở thuỷ chung trước sau như một, đầy ắp tình thương và tình người Từ thực

tế cuộc sống những câu hát dân gian, những lối nói chân thành chất phác nhưng cũng không kém phần triết lý sâu sẵc, thực tế là những cái hay, cái tinh tuý của dân tộc được

Trang 7

kết tinh từ cuộc sống hàng ngày Trong ứng xử giao tiếp ông cha ta đã có vô vàn những câu nói đúc kết về những lối nói, những hành vi ứng xử khéo léo, lịch sự và duyên dáng Với nội dung truyền tải rất đa dạng và phong phú đời sống xã hội cho nên ở mỗi chủ

đề, mỗi một lĩnh vực chúng ta có thể thấy vô vàn những câu nói, lối nói rất mộc mạc, dễ hiểu Nhà văn Nguyễn Đình Thi đã nhận xét rằng: ca dao Việt Nam bắt nguồn từ tinh thần ham sống, ham đấu tranh, vui vẻ, tế nhị, có duyên nhưng cũng không kém phần dồi dào tình cảm, mạnh mẽ sức lực, nảy nở tự do để đón ánh sáng trời hòa hợp với cỏ cây, hoa lá Nó như một nguồn nhựa sống để nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ, chắp cánh cho thế

hệ tương lai những hoài bão lớn lao về cuộc sống, thiên nhiên và con người Như vậy có thể nói ca dao và dân ca Việt Nam là kho tàng văn hóa, tri thức dân gian, phản ánh nhữngphong tục, tạp quán, tâm tư nguyện vọng của con người Việt Nam, tạo thành một hệ thống hình ảnh thiên nhiên, con người và lao động cùng hoà quyện vào nhau, tạo dựng nên cách nghĩ, cách cảm về cuộc sống, thiên nhiên và con người rất Việt Nam

1.2 Một số đặc điểm thi pháp ca dao Việt Nam :

Thi pháp VHDG là toàn bộ ngững đặc điểm về hình thức nghệ thuật, về phương thức

và thủ thuật mieu tả, biểu hiện, về cách cấu tạo đề tài, cốt truyện về phương pháp xâydựng hình tượng con người hay sự vật

1.2.1 Những đặc trưng cơ bản của thi pháp ca daoViệt Nam.

a Đặc trưng cái tôi trữ tình trong ca dao, tính tập thể trong sáng tác và tính truyền miệng trong lưu hành, giao tiếp khiến cái tôi trữ tình của ca dao không có dấu vết cá nhân,cá thể Cái tôi trữ tình là gì? Trong ca dao dân ca Việt Nam, cái tôi trữ tình thường là những cảm xúc chủ đạo được thể hiện tinh tế, đa dạng.

Đặc trưng cái tôi trữ tình trong ca dao là: thông thường nội dung tác phẩm trữ tình đượcthể hiện gắn liền với hình tượng nhân vật trữ tình, đó là hình tượng người trực tiếp thổ lộsuy nghĩ, cảm xúc, tâm trạng trong tác phẩm Nhân vật trữ tình không có diện mạo, hànhđộng, lời nói, quan hệ cụ thể như nhân vật tự sự và kịch nhưng nhân vật trữ tình cụ thểtrong giọng điệu, cảm xúc, trong cách cảm, cách nghĩ thể hiện được tâm hồn người, tấmlòng người

Trang 8

Tập thể là một biểu hiện khác của những phương thức sáng tác và lưu truyền văn họcdân gian Có những tác phẩm văn học dân gian ngay từ nguồn gốc đã là sáng tác cá nhânnhưng lưu truyền bằng con đường của trí nhớ Dùng trí nhớ không thể giữ nguyên vẹnđược cả nội dung và hình thức của tác phẩm, vì thế mà sáng tác ấy mỗi người có thể thayđổi tùy ý ít nhiều Hơn nữa khi hát hoặc kể lại theo sở thích, mục đích của mình và củangười nghe, thế là dù cho lúc đầu có thể là do một cá nhân sáng tác, nhưng trong khi lưutruyền qua những người khác nhau, tác phẩm văn học luôn luôn có khả năng tiếp nhậnnhững yếu tố sáng tác mới và trở thành sở hữu tập thể.

Truyền miệng là phương thức sáng tác và lưu hành của văn học dân gian Văn học truyềnmiệng ra đời từ khi dân tộc chưa có chữ viết Tuy nhiên khi dân tộc đã có chữ viết thì vănhọc truyền miệng vẫn tiếp tục phát triển Một mặt do đại đa số nhân dân không có điềukiện học hành để hưởng thụ thành tựu văn học viết, mặt khác do văn học viết không thểhiện đầy đủ tư tưởng, tình cảm, nguyện vọng, thị hiếu và tập quán sinh hoạt nghệ thuậtcủa nhân dân Vì thế nhiều người có học mà chịu ảnh hưởng tư tưởng nhân dân cũngtham gia sáng tác và lưu truyền văn học dân gian

Ca dao là loại thơ trữ tình dân gian, là tiếng nói của tư tưởng, tình cảm và mơ ước, khátvọng của người bình dân Vì lẽ đó, khi những câu ca dao được ra đời và truyền đi trongcộng đồng, nó đã bị phai dần cái tôi trữ tình… sáng tác của một cá nhân mà được sửa đổiđôi chút và trở thành của cả cộng đồng, của cả những con người có cùng tình thế, ước

mơ, tình cảm như câu ca dao Và có lẽ vậy mà qua ca dao ta cảm nhận được sâu sắc nhịptrái tim yêu thương của người bình dân với tất cả sự ấm áp, ngọt ngào cùng tình yêuthương, lòng lạc quan, nghị lực ý chí phi thường vượt lên mọi khổ cực của cuộc sống.Vìthế nhân vật trữ tình trong ca dao là người bình dân, người thi sĩ, những người sáng tác,người diễn xướng,… thống nhất với nhau

– Chủ thể trữ tình thường được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với đối tượng trữ tình, biểuhiện qua hai loại nhân vật:

+ Nhân vật hiển ngôn: hình tượng con người được trực tiếp thể hiện tình cảm, bộc lộ tâm

tư, suy nghĩ, cảm xúc trong lời ca

Trang 9

+ Nhân vật biểu tượng: thông qua biểu tượng, con người bộc lộ tâm tư cảm xúc với nhau,

đó là những biểu tượng gần gũi với con người Việt Nam: con cò, con thuyền, cây đa, bếnnước, sân đình…

-“Con cò mà đi ăn đêm/ Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.”

– “Thuyền về có nhớ bến chăng?/ Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.”

– Các nhân vật trữ tình được đặt trong nhiều mối quan hệ:

+ Quan hệ gia đình: mẹ-con, cha-con, mẹ chồng-nàng dâu, vợ-chồng, anh-em,…

-“Ơn cha nặng lắm ai ơi/ Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang.”

– “Anh em như thể chân tay/ Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần”

+ Quan hệ lứa đôi: chàng trai-cô gái, bạn bè,…

– “Thương ai rồi lại nhớ ai/ Mặt buồn rười rượi như khoai mới trồng”

+ Quan hệ xã hội: người nông dân-quan lại, chủ-tớ…

– “Con ơi nhớ lấy câu này/ Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan.”

– “Con vua thì lại làm vua/ Con vải ở chùa lại quét lá đa.”

– Nhân vật trữ tình hiện lên trong sinh hoạt hằng ngày, cuộc sống lao động, trong mốiquan hệ với thiên nhiên, gia đình, làng xóm…có lúc đối thoại, có lúc độc thoại…

VD: Đối thoại:

“Hôm qua tát nước đầu đình/ Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen

Em được thì cho anh xin/ Hay là em để làm tin trong nhà.”

Hoặc:

“Đôi ta như lửa mới nhen/ Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu”

Độc thoại:

“Nhớ ai con mắt lim dim/ Chân đi thất thiểu như chim tha mồi

Nhớ ai hết đứng lại ngồi/ Ngày đêm tưởng nhớ một người tình nhân.”

+ Cảm xúc, tâm tư của nhân vật trữ tình được bộc lộ bằng nhiều giọng điệu: tâm tình sâulắng, trách móc, giận hờn, đau buồn, xót xa, nói bóng gió, hồn nhiên vui tươi:

“Hoa cúc vàng nở hoa cúc tím/ Em có chồng rồi trả yếm cho anh.”

Trang 10

Nếu ở đây chủ thể là chàng trai đòi lại kỉ vật thì đó là người coi trọng vật chất, so bìthiệt hơn, nhỏ nhen, xử sự không mấy đẹp đẽ Và khi đáp lại thì lời của cô giá sẵn giọng,

ăn miếng trả miếng:

“Hoa cúc vàng nở ra hoa cúc xanh/ Yếm em, em mặc, yếm gì anh, anh đòi!”

Nhưng nếu chủ thể là cô gái thì (qua hai dòng đầu) thì cả cô gái và chàng trai đều lànhững người xử xự đẹp Yêu nhau không lấy được nhau, người con gái chủ động trả lại kỉvật đã thuộc về cô gái, anh ta không có quyền nhận lại Qua đó thấy được nghịch cảnhđáng buồn, sự nuối tiếc về mối tình dang dở của chàng trai và cô gái

Đây là ví dụ điển hình về nhân vật trữ tình trong ca dao Do có sự lưu truyền nên ca daonhư có phần khái quát hơn, nó không còn đề cập đến cá nhân cụ thể là chàng trai hay côgái mà đã được xem như câu hát chung cho mọi đối tượng: cá nhân, cá thể trong ca dao

đã phai nhạt mà thay vào đó tính cộng đồng đã được hiện hóa

b Thời gian và không gian

Thời gian và không gian là những mặt của hiện thực khách quan được phản ánh trong tácphẩm tạo thành thế giới nghệ thuật trong tác phẩm

+)Thời gian nghệ thuật

*Trong thơ ca dân gian, thời gian của tác giả và thời gian của người đọc hòa lẫn với thờigian người diễn xướng Thời gian ở đây là thời gian hiện tại :

-“Nào khi gánh nặng em chờ/ Qua truông em đợi bây giờ phụ em”

*Thời gian hiện tại được xác định là thời điểm được sáng tác, diễn xướng và thời gianthưởng thức, tiếp nhận hài hòa làm một:

_Nếu có thời gian quá khứ và tương lai thì đó là thời gian quá khứ gần và tương lai gần:Trong ca dao có câu :

“Tìm em đã tám hôm nay/ Hôm qua là tám, hôm nay là mười”

Hoặc

“Xa mình trời nắng nói mưa/ Canh ba tôi nói sáng, canh trưa tôi nói chiều”

_Thời gian trong ca dao có tính công thức và ước lệ : trăm năm, ngàn năm, chiêù chiều,đêm đêm, đêm trăng thanh …

Trang 11

+Trăm năm: cuộc đời một con người mang nội dung là câu hẹn ước sự vĩnh viễn :

“Trăm năm ghi tạc chữ đồng/ Dù ai thêu phục vẽ rồng mặc ai”

+Chiều chiều : tâm trạng nhớ nhung, sự khắc khoải chờ đợi tìm điểm nhìn hoài vọng bến

cũ quê hương: “Chiều chiều ngó ngược ngó xuôi/ Ngó không thấy mẹ, bùi ngùi nhớthương”

*Ngoài ra trong ca dao còn có thời gian đối lập: khi xưa, bây giờ, khi đi, khi về… sự thayđổi trong tình cảm

“Khi đi bóng hãy còn dài/ Khi về bóng đã vắng ai bóng tròn”

+)Không gian nghệ thuật: gần gũi, bình dị ở làng quê, là phương tiện để nhân vật bộc lộ

tâm tư, cảm xúc suy nghĩ cũa mình Đây là không gian trần thế, đời thường gắn với môitrường sống thân thuộc với con người bình dân

“Trên đồng cạn dưới đồng sâu/ Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa”

_Bên cạnh tính xác thực, không gian nhiều khi cũng mang tính phiếm chỉ và bị chi phốibởi cảnh quan của nhân vật trữ tình:

“Hôm qua tát nước đầu đình/ Bỏ quên chiếc áo tren cành hoa sen”

Ta thường bắt gặp trong ca dao không có không gian xác định trong những lời ru con :

“Gió mùa thu mẹ ru con ngủ / Năm canh chày thức đủ vừa năm”

_Không gian địa lí: những câu ca dao viết về miền quê cụ thể, địa danh cụ thể qua đó thểhiện niềm tự hào tình yêu quê hương thiết tha sâu nặng:

“Đường vô xứ Huế quanh quanh/ Non xanh nước biếc như tranh họa đồ”

_ Ngoài ra còn có một số không gian tiêu biểu như:

+Không gian thề nguyền: trăng sao, cây đa, bến đò…thể hiện sự bất biến, vĩnh hằng

“Bao giờ cạn nước Đồng Nai/ Nát chùa Thiên Mụ mới sai lời nguyền”

+ Không gian đối lập: xa-gần, đông-tây… thể hiện sự cách trở, không hòa hợp, ngangtrái: “Gần nhà xa ngõ nên khó đi thăm / Hẹn sang mười bốn sao năm chưa sang”

+ Không gian tâm lí: không có thực, được nhận diện bằng cái nhìn khác thường đầy chủquan

+ Không gian phiếm chỉ:

“Núi Truồi ai đắp mà cao/ Sông Dinh ai đắp ai đào mà sâu”

Trang 12

+Không gian vật lí: ở đó người bình dân sinh sống, làm lụng, tình tự, than thở

“Cô kia đứng ở bên sông/ Muốn sang anh ngã cành hồng cho”

+ Không gian xã hội: mối quan hệ đa dạng giữa người với người:

“Gặp nhau giữa chuyến đò đầy/ Một lần đã hẹn, cầm tay mặn mà.”

Trong những câu ca dao đượm buồn thì không gian thường đi liền với thời gian là lúc banđêm

“Đêm qua ra đứng bờ ao/Trông cá cá lặn, trông sao sao mờ”

Tóm lại: Trong văn thơ thời gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật có mối liên hệ chặtchẽ, một mặt thuộc phương diện đề tài, mặt khác thể hiện nguyên tắc cơ bản của việc tổchức tác phẩm của từng tác giả, từng thể loại, từng hệ thống nghệ thuật

c Các biểu tượng phổ biến được đưa vào lời hát ru :

Nguyễn Xuân Kính trong cuốn “Thi pháp ca dao” đã định nghĩa: “Biểu tượng là nhómhình ảnh cảm xúc tinh tế về hiện thực khách quan, thể hiện quan niệm thẩm mĩ, tư tưởngcủa từng nhóm tác giả, từng thời đại, từng dân tộc và từng khu vực cư trú”

Biểu tượng nghệ thuật trong ca dao được xây dựng bằng ngôn từ với những quy ướccủa cộng đồng về một ý niệm tượng trưng Biểu tượng không chỉ đơn thuần thay thế cáiđược biểu hiện mà còn chủ yếu tượng trưng cho những ý nghĩ, quan niệm, tư tưởng củacon người

Hệ thống biểu tượng nghệ thuật mang những đặc trưng, biểu hiện sâu sắc tính địaphương, tính dân tộc Và như vậy hình ảnh trở thành quen thuộc nhất với những lời ruchính là hình ảnh con cò

Đã từ lâu, hình ảnh con cò đã đi vào ca dao với tất cả vẻ đẹp của nó Người nông dân

đã gửi gắm niềm vui, nỗi buồn, sự cực nhọc, vất cả trong những cánh cò ca dao Dườngnhư thiếu những cánh cò ấy ca dao sẽ nghèo đi biết mấy Con cò làm tổ trên cành tre, con

cò kiếm ăn trên đồng ruộng, bãi sông, không ăn lúa mà bắt cá, bắt tép… Cứ như vậy,những cánh cò trắng muốt cứ in bóng trong suốt chiều dài của ca dao

Đi vào trong văn học, con cò trở thành một biểu tượng nghệ thuật đầy sáng tạo của chaông ta khi nó gắn liền với hình ảnh người nông dân lam lũ, chịu thương chịu khó, cần cùvất vả trên đồng ruộng:

Trang 13

Trời mưa quả dưa vẹo vọ

Con ốc nằm co

Con tôm đánh đáo

Con cò kiếm ăn

Luôn chịu số phận hẩm hiu:

Con cò đậu cọc bờ ao

Ăn sung sung chát, ăn đào đào chua

Hình ảnh người nông dân nhất là người phụ nữ lam lũ, lầm lụi: “Con cò lặn lội bờsông/ Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non/ Nàng về nuôi cái cùng con/ Để anh đi trẩynước non Cao Bằng”

Họ còn luôn luôn bị khinh rẻ, bị đổ oan: “Cái cò, cái vạc, cái nông/ Sao mày giẫm lúanhà ông hỡi cò/ Không, không tôi đứng trên bờ/ Mẹ con nhà nó đổ ngờ cho tôi”

Trong hoàn cảnh bị áp bức, bị chà đạp, bị oan ức, họ vẫn muốn, dù phải chết, cũngphải chết trong sự trong sạch:

Con cò mà đi ăn đêm

Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao

Ông ơi ông vớt tôi nao

Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng

Có xáo thì xáo nước trong

Đừng xáo nước đục đau lòng cò con

Trong đời, thường thì “Cánh hoa rụng chọn gỉ đất sạch” (Chu Mạnh Trinh) nhưngngười nông dân Việt Nam không nghĩ thế, sống quyết không sống đục, chết thì nhất địnhphải chết trong

Người nông dân Việt Nam còn có tư tưởng lớn, cực kì cao thượng về cách sống Họ đãsáng tạo hình tượng người đi trước, lo trước cái lo của thiên hạ, hưởng sau thiên hạ,người hi sinh để đưa lại hạnh phúc cho mọi người qua hình tượng: “Con cò đi đón cơnmưa/ Tối tăm mù mịt ai đưa cò về”

Có những hình ảnh con cò tham gia vào sự kết hợp của thể hứng và thể tỉ – hai loạihình phổ biến trong văn học dân gian trong những câu ca dao tỏ tình như: “Con cò núp

Trang 14

bụi lúa xanh/ Chờ con cá đến như anh chờ nàng/ Con cò núp bụi lúa vàng/ Chờ con cáđến như nàng chờ anh” Hay là:

Con quạ đen con quạ trắng

Con ếch ngắn con ếch dài

Em trông anh, trông mãi trông hoài

Trông cho thấy mặt thấy mày mới yên

Một cánh cò thôi mà bay khắp mọi miền đất nước, xuyên thấu mọi thời gian, cánh cò “bay lả bay la” từ chiều sâu quá khứ đến chiều dài hôm nay, cánh cò lại bay vào lời ru của

mẹ, lời dạy của cô, lời tâm sự với bạn bè :

“Ngủ yên! Ngủ yên! Ngủ yên!

Cho cò trắng đến làm quen

Cò đứng ở quanh nôi

Rồi cò vào trong tổ

Con ngủ yên thì cò cũng ngủ

Cánh của cò hai đứa đắp chung đôi…”

(Con cò – Chế Lan Viên)

Về mặt nghệ thuật, hình tượng con cò đã trở thành một mô-típ đậm đặc bản sắn dân tộc

và tính nhân dân, thường khơi gợi ở lòng người nhiều tình cảm và kỉ niệm về quê hươngđất nước

d.Thể thơ lục bát

Trong những tác phẩm thơ ca dân gian, ca dao được sáng tác ở nhiều hình thức thơkhác nhau: song thất, song thất lục bát, bốn chữ, hỗn hợp, tuy nhiên được vận dụng phổbiến hơn cả là thể lục bát Điều này thật dễ hiểu vì thơ lục bát là “những lời nói vần” gầngũi với lời ăn tiếng nói của nhân dân, dễ nhớ, dễ thuộc

Thể lục bát trong ca dao bộc lộ trực tiếp những tâm tình nảy sinh từ thực tiễn cuộc sống;thể hiện từ những bức tranh lao động đến những suy nghĩ về cuộc đời, từ khoảnh khắchồn nhiên vô tư của con người đến những diễn biến tình cảm trữ tình phong phú Các tácphẩm ca dao được làm theo thể lục bát được vận dụng linh hoạt và nhiều vẻ nhất trongdân ca, trong những giai điệu ngâm ngợi, ca xướng uyển chuyển Sở dĩ như vậy là do kết

Trang 15

cấu đặc trưng riêng biệt về âm luật của thể loại thơ này Có thể thấy lục bát mang đầy đủdáng dấp của một thể thơ cách luật với những yếu tố đặc thù về tổ chức âm thanh: gieovần, ngắt nhịp, phối điệu trong hình thức tối thiểu là một cặp lục bát gồm 2 câu với sốtiếng cố định: 6 tiếng (câu lục) và 8 tiếng (câu bát) Phương thức gieo vần 6-8 là thao tácđặc biệt tạo nên được vẻ nhịp nhàng trong ngôn ngữ thơ, là phương tiện tổ chức văn bản

và là chỗ dựa cho sự phát triển nhạc tính để hình thành nên những âm hưởng nhiều mầusắc vang vọng trong thơ Nhịp điệu thơ lục bát về cơ bản là nhịp chẵn 2/2/2, 2/4/2, hoặc4/4 diễn tả những tình cảm thương yêu, buồn đau…

”Người thương/ ơi hỡi/ người thương

Đi đâu/ mà để/ buồn hương/ lạnh lùng”

nhưng khi cần diễn đạt những điều trắc trở, khúc mắc, mạnh mẽ, đột ngột hay tâm trạngbất thường, bất định thì có thể chuyển sang nhịp lẻ 3/3, 1/5, 3/5… là một dạng của lục bátbiến thể:

”Chồng gì anh/ vợ gì tôi

Chẳng qua là cái nợ đời chi đây”

Có thể hiểu lục bát biến thể là những câu ca dao có hình thức lục bát nhưng không khítkhịt trên sáu dưới tám mà có sự co giãn nhất định về âm tiết, về vị trí hiệp vần… lục bátbiến thể cũng là vấn đề đáng chú ý trong ca dao Sự phong phú về thể lục bát không chỉdừng lại ở đó Có câu lục biến thể tăng tiến như:

”Con gà rừng tốt mã khoe lông/ Chẳng cho đi chọi, nhốt lồng làm chi!”

Phần lớn câu lục biến thể tăng tiến đều bắt nguồn từ dụng ý nghệ thuật của tác giả dângian mà cách nói phổ biến là giảng giải, phân trần Một số câu lục biến thể có sự chêmxen các từ khẩu ngữ đệm vào, đây là một đặc điểm của thơ hát nói

Không hẳn lục bát chỉ có tăng số tiếng, câu nói có thể ngắn gọn, xúc tích hơn cũng cóthể nhờ vào câu lục biến thể giảm số tiếng Loại biến thể này thì lời ca như những câuchâm ngôn, có lời như một tục ngữ Lời thơ xúc tích, hàm nghĩa mang tính triết lý nhânsinh, những nhận xét sắc sảo về những vấn đề cuộc sống, sinh hoạt, tình yêu

”Mật ngọt chết ruồi

Ai mà đến đấy thời người say sưa”

Ngày đăng: 09/07/2021, 21:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w