Với sự phát triển của xã hội trong thời đại công nghệ 4.0 như hiện nay sẽ có rất nhiều thứ xung quanh con người và làm nâng cao nhu cầu đời sống của chúng ta hơn. Chính sự phát triển vượt bậc của xã hội thì cũng kéo theo nhiều hệ luỵ về sức khoẻ đối với con người. Cụ thể là vấn đề vô sinh đang dần trở thành vấn đề nóng vì ngày nay có rất nhiều cặp vợ chồng bị vô sinh, hiếm muộn và nguyên nhân có thể là do lối sống phản khoa học của giới trẻ. Với sự phát triển của khoa học thì hiện nay đã xuất hiện giải pháp “mang thai hộ” để giải pháp vấn đề vô sinh. Vì sự xuất hiện của mang thai hộ nên xã hội cũng như pháp luật Việt Nam có nhiều thay đổi và cũng có nhiều bất cập trong vấn đề mang thai hộ, nhiều người có thể lợi dụng vấn đề mang thai hộ để mang lại tư lợi cá nhân, làm ảnh hưởng xấu đến tính nhân đạo trong toàn xã hội và pháp luật Việt Nam. Để hiểu sâu, hiểu được bản chất, tránh được những sai lầm không đáng có về vấn đề mang thai hộ thì em xin lựa chọn đề bài số 9: “Đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành về điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.”
Trang 1BÀI TẬP HỌC KÌ LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
Đề bài 9 Đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành về điều kiện mang thai hộ vì
mục đích nhân đạo
1
Trang 3MỤC LỤC
Trang 4MỞ ĐẦU
Với sự phát triển của xã hội trong thời đại công nghệ 4.0 như hiện nay sẽ
có rất nhiều thứ xung quanh con người và làm nâng cao nhu cầu đời sống của chúng ta hơn Chính sự phát triển vượt bậc của xã hội thì cũng kéo theo nhiều hệ luỵ về sức khoẻ đối với con người Cụ thể là vấn đề vô sinh đang dần trở thành vấn đề nóng vì ngày nay có rất nhiều cặp vợ chồng bị vô sinh, hiếm muộn và nguyên nhân có thể là do lối sống phản khoa học của giới trẻ Với sự phát triển của khoa học thì hiện nay đã xuất hiện giải pháp “mang thai hộ” để giải pháp vấn
đề vô sinh Vì sự xuất hiện của mang thai hộ nên xã hội cũng như pháp luật Việt Nam có nhiều thay đổi và cũng có nhiều bất cập trong vấn đề mang thai hộ, nhiều người có thể lợi dụng vấn đề mang thai hộ để mang lại tư lợi cá nhân, làm ảnh hưởng xấu đến tính nhân đạo trong toàn xã hội và pháp luật Việt Nam Để hiểu sâu, hiểu được bản chất, tránh được những sai lầm không đáng có về vấn đề
mang thai hộ thì em xin lựa chọn đề bài số 9: “Đánh giá các quy định của pháp
luật hiện hành về điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.”
Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu chắc chắn sẽ có nhiều sai sót và hạn chế, em mong sẽ có những ý kiến đóng góp của thầy cô để em có thể hiểu sâu hơn về vấn đề và khắc phục
4
Trang 5NỘI DUNG
I Khái niệm và đặc điểm mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
1 Khái niệm mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
Căn cứ pháp lý: khoản 22 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình 2014; khoản 1,
3, 4, 5 Điều 2 Nghị định 10/2015/NĐ-CP
Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện,
không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của một người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con.1
Thụ tinh trong ống nghiệm là việc kết hợp giữa noãn và tinh trùng trong ống nghiệm để tạo ra phôi;
Noãn là giao tử của nữ;
Tinh trùng là giao tử của nam;
Phôi là sản phẩm của quá trình kết hợp giữa noãn và tinh trùng.2
2 Đặc điểm của mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
• Tính tự nguyện, thoả thuận
Đây là đặc trưng cơ bản của quan hệ pháp luật về mang thai hộ vì việc mang thai hộ luôn phải được sự chấp thuận của người phụ nữ mang thai
hộ do cần áp dụng kỹ thuật liên quan đến cơ thể của người phụ nữ đó, bất
kể mục đích gì Chính vì vậy mà có thể coi mang thai hộ về mặt bản chất
là một hợp đồng dân sự đặc biệt, được xây dựng trên cơ sở của sự tự
1 Khoản 22 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình 2014
2 Khoản 1, 3, 4, 5 Nghị định 10/2015/NĐ-CP
5
Trang 6nguyện và thoả thuận giữa các bên nhằm làm phát sinh quan hệ pháp luật
về việc mang thai hộ Do hợp đồng dân sự được hiểu là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự3 Tính đặc biệt của thoả thuận về việc mang thai hộ là ở chỗ bên cạnh việc đáp ứng nhu cầu cơ bản về các yếu tố cấu thành của một hợp đồng thông thường thì nó còn mang tính chất là một sự thoả thuận nhằm hướng tới việc bảo đảm thực hiện quyền làm cha, mẹ - vốn là một trong những quyền rất cơ bản của con người
• Tính kỹ thuật, phi tự nhiên
Bản chất của mang thai hộ là mang thai cho người khác, do đó thai mà người mang thai hộ không được hình thành từ chính noãn của họ mà phải được tạo ra từ bên ngoài cơ thể từ noãn và tinh trùng của bên nhờ mang thai hộ Đây là hoạt động mang thai phi tự nhiên và cần có sự can thiệp về mặt y học
• Tính nhân đạo
Nhân đạo nghĩa là đạo làm người, là đạo đức, thể hiện ở sự yêu thương, quy trọng và bảo vệ con người Điều này được thể hiện ngay trong cái tên mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và thể hiện rõ ở mục đích cuối cùng của thoả thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là hướng đến việc thực hiện một nghĩa cử hết sức nhân văn, tạo ra cơ hội làm cha mẹ cho những cặp vợ chồng kém may mắn không thể sinh con
• Tính hỗ trợ, phi thương mại
II Ý nghĩa của pháp luật quy định mang thai hộ vì mục đích nhân
đạo
• Đảm bảo quyền con người
Quyền được có con, nuôi dạy con cái là quyền mà bất cứ người nào cũng được có, và việc mang thau hộ vì mục đích nhân đạo là một hỗ trợ đắc lực
3 Điều 385 Bộ luật dân sự 2015
6
Trang 7cho những cặp vợ chồng không thể có con vì nhiều lý do khác nhau, có thể vẫn có được quyền có con, nuôi dạy con cái mà mình mong ước
• Gia tăng bảo vệ quyền lợi của trẻ em và người phụ nữ
• Giúp các cơ quan chức năng dần kiểm soát được tình trạng chung của nhu cầu mang thai hộ hiện nay
• Tạo ra khung pháp lý an toàn trong việc điều chỉnh các giao dịch về mang thai hộ, tránh sự biến tướng sang các giao dịch bất hợp pháp
• Tạo ra sự ràng buộc chặt chẽ hơn về mặt luật pháp đối với những người tham gia mang thai hộ, tránh những tình huống vi phạm sau khi đứa trẻ được sinh ra
Có thể thấy mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là một việc làm tốt, có tính nhân văn cao nhưng việc này sẽ cần có những quy định cụ thể về mặt luật pháp để đảm bảo chắc chắn rằng sẽ có lợi ích, ý nghĩa cho cộng đồng, cho cuộc sống
III Quy định của pháp luật hiện hành về điều kiện mang thai hộ vì
mục đích nhân đạo
1 Dựa trên cơ sở tự nguyện
Căn cứ pháp lý: khoản 1 Điều 95 Luật hôn nhân và gia đình 2014
Pháp luật Việt Nam có quy định về điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo dựa trên cơ sở tự nguyện: “Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của các bên và được lập thành văn bản”4
Có thể thấy được nguyên tắc tự nguyện là cơ sở đầu tiên để xác lập mối quan hệ giữa bên nhờ mang thai hộ và mang thai hộ Việc một người phụ
nữ mang thai một đứa trẻ có sự can thiệp của kỹ thuật công nghệ, để sinh con giúp một cặp vợ chồng khác chỉ tiến hành khi có sự đồng ý của người
đó Không ai được ngăn cản, cấm đoán khi người phụ nữ đã tự nguyện chấp nhận mang thai hộ hoặc ép buộc, đe doạ, lừa dối để một người phụ
nữ mang thai hộ người khác
4 Khoản 1 Điều 95 Luật hôn nhân và gia đình 2014
7
Trang 8Tính tự nguyện trong hoạt động mang thai hộ vì mục đích nhân đạo còn được thể hiện khi người phụ nữ mang thai hộ trong trạng thái hoàn toàn minh mẫn, không bị ép buộc, đe doạ hay lừa dối để ký vào Bản cam kết tự nguyện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo mẫu số 05 trong Nghị định số 10/2015/NĐ-CP quy định về sinh con trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo Ngoài ra, tính tự nguyện còn được thể hiện qua việc cả hai bên trong quan hệ mang thai hộ, theo ý chí của mình cùng nhau thoả thuận để đi đến thống nhất các nội dung liên quan đến vấn đề mang thai hộ và cùng ký vào bản thoả thuận mang thai hộ
vì mục đích nhân đạo theo mẫu số 06 trong Nghị định 10/2015/NĐ-CP
Cơ sở nguyên tắc tự nguyện được đặt ra điều chỉnh xuyên suốt quá trình mang thai hộ, tránh tình trạng ép buộc, cưỡng ép hoặc lừa dối trái với ý chí của các bên khi tham gia quan hệ này đồng thời còn là yếu tố quan trọng để ràng buộc trách nhiệm của các bên đối với việc mang thai hộ cũng như là cơ sở pháp lý để giải quyết các vấn đề pháp lý phát sinh trong quá trình thực hiện mang thai hộ
Ngoài tính tự nguyện ra thì nguyên tắc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
bắt buộc phải được lập thành văn bản và có công chứng Thoả thuận về
việc mang thai hộ phải được lập thành văn bản có công chứng Trong trường hợp vợ chồng bên nhờ mang thai hộ uỷ quyền cho nhau hoặc vợ chồng bên mang thai hộ uỷ quyền cho nhau về việc thoả thuận thì việc uỷ quyền phải được lập thành văn bản có công chứng Việc uỷ quyền cho người thứ ba không có giá trị pháp lý.5
1 Điều kiện đối với bên nhờ mang thai hộ
• Điều kiện tiên quyết đối với bên nhờ mang thai hộ phải là vợ chồng hợp pháp6 Bên cạnh đó, cặp vợ chồng này còn phải đảm bảo điều kiện là không sinh được con, đang không có con chung và đã được tư vấn tâm lý
và pháp lý
5 Khoản 2 Điều 96 Luật hông nhân và gia đình 2014
6 Nguyễn Văn Cừ, Pháp luật về mang thai hộ ở Việt Nam, Tạp chí Luật học số 6/2016, Trang 17
8
Trang 9• Điều kiện đối với các cặp vợ chồng có nhu cầu mang thai hộ được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 95 Luật hôn nhân và gia đình 2014, và sau đây em xin được giải thích rõ cụ thể từng điều kiện được quy định trong Luật này
• Thứ nhất, “có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ
không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản”7
Điều kiện này có thể hiểu là những cặp vợ chồng thực sự không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản mà vẫn không thể mang thai, điều đó đã được chứng thực bởi tổ chức, cơ quan y
tế có thẩm quyền Điểm rõ ràng ở chỗ là điều kiện chỉ điều chỉnh một đối tượng duy nhất là vợ chồng (đối tượng mà sau khi đã kết hôn8 và không phải là người độc thân) Việc pháp luật Việt Nam không cho phép những người độc thân là đối tượng của bên nhờ mang thai hộ là bởi vì muốn hạn chế việc mua bán noãn, tinh trùng hoặc lợi dụng để buôn bán trẻ em qua
đó biến tướng thành các hành vi vi phạm pháp luật và làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến xã hội
Việc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận là ngừoi vợ không thể mang thai, không thể sinh con ngay cả khi áp dụng áp dụng kỹ thuật
hỗ trợ sinh sản như thụ tinh nhân tạo, thụ tinh trong ống nghiệm, bơm tinh trùng vào tử cung, trưởng thành trứng trong ống nghiệm…mà vẫn không thể sinh con thì mới được nhờ mang thai hộ Trường hợp những người phụ
nữ vô sinh9 nhưng vẫn có khả năng tự mang thai sinh con khi được sự hỗ trợ về mặt y học thì không thuộc đối tượng được nhờ mang thai hộ
Điều kiện này cũng cấm những người phụ nữ có khả năng sinh sản bình thường nhưng vì một số lý do không được pháp luật công nhận như: vấn đề tâm lý ngại mang thai, ngoại hình…đặc biệt là đối với những gia đình có điều kiện về mặt vật chất, muốn bỏ tiền ra để thuê người khác mang thai hộ Điều này vi phạm trực tiếp đến nguyên tắc mang thai hộ vì
7 Khoản 2 Điều 95 Luật hôn nhân và gia đình 2014
8 Khoản 5 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình 2014
9 Khoản 2 Điều 2 Nghị định 10/2015/NĐ-CP: “ Vô sinh là tình trạng vợ chồng sau một năm chung sống có quan hệ tình dục trung bình 2 - 3 lần/tuần, không sử dụng biện pháp tránh thai mà người vợ vẫn không có thai”
9
Trang 10mục đích nhân đạo mà nó thể hiện rõ hành vi trục lợi, mua bán trên cơ thể phụ nữ Chính vì có điều kiện trên nên mới đảm bảo được việc giao nhận con được sinh ra từ việc mang thai hộ và hạn chế tối đa việc từ chối nhận con
• Thứ hai, “Vợ chồng đang không có con chung”10
Điều kiện này áp dụng đối với những cặp vợ chồng chưa có con chung có thể thực hiện được thiên chức làm cha, làm mẹ
Điều kiện này có thể hiểu theo cách như: Vợ chồng đã có con riêng
nhưng trong quan hệ hôn nhân hiện tại không có con chung thì vẫn thuộc đối tượng được quyền nhờ mang thai hộ Nhưng đối với trường hợp vợ chồng đều không có con riêng nhưng đã có con chung và đứa trẻ bị
khuyết tật thì lại không được quyền nhờ mang thai hộ vì họ đã có con chung.
Pháp luật Việt Nam quy định như thế là nhằm đảm bảo rõ vấn đề lợi dụng việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo để đáp ứng nhu cầu có thêm con của các cặp vợ chồng ngại sinh đẻ hay không thể sinh con được nữa vì nhiều lý do Ngoài ra còn giúp ngăn chặn các hành vi chuộc lợi cá nhân, mang tính thương mại thông qua việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
• Thứ ba, “cặp vợ chồng đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý”11
Việc tư vấn y tế, pháp lý, tâm lý trước khi quyết định nhờ mang thai
hộ là điều kiện bắt buộc đối với bất kỳ cặp vợ chồng nào Điều kiện này giúp cho các cặp vợ chồng có nhu cầu nhờ mang thai hộ sẽ được hình dung toàn bộ quá trình mang thai hộ, cũng như những vấn đề phát sinh xung quanh việc mang thai hộ, và xác định quyền và nghĩa vụ của mình trong việc nhờ mang thai hộ là như thế nào
Về nội dung được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý được quy định cụ thể ở trong khoản 1 Điều 15, Điều 16, khoản 1 Điều 17 Nghị định
10/2015/NĐ-CP Các cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ phải được tư vấn đầy đủ các vấn đề đã được quy định trước khi ra quyếtđịnh
Từ đó, giúp cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ hiểu rõ vấn đề về việc mang thai hộ như: tình trạng sức khoẻ của bản thân hiện tại, chuẩn bị trước tâm lý lường trước những sự việc xảy ra không như mong đợi, cũng
10 Khoản 2 Điều 95 Luật hôn nhân và gia đình 2014
11 Khoản 2 Điều 95 Luật hôn nhân và gia đình 2014
10
Trang 11như nhờ sự trợ giúp của tư vấn pháp lý sẽ giúp quá trình man thai hộ vì mục đích nhân đạo diễn ra trong khuôn khổ pháp luật, chịu sự quản lý của Nhà nước, tránh đước những tình huống tiêu cực hoặc các hành vi vi phạm phát sinh do không hiểu pháp luật
Nhờ đó mà các cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ này được trang bị thêm vào sự hiểu biết của mình về vấn đề mang thai hộ vì mục đích nhân đạo để có được quyết định đúng đắn và không bị mắc sai lầm dẫn đến vi phạm pháp luật
Ngoài ra điều kiện này còn có khá nhiều vẫn đề bất cập như: không có quy định về khái niệm không có con chung, độ tuổi như thế nào được xem là phù hợp, sự đồng ý của người chồng được điều chỉnh như thế nào trong trường hợp người chồng bị mất năng lực hành vi dân sự, sự
bo hẹp của pháp luật khi quy định người mang thai hộ phải là người thân thích cùng hàng với bên vợ hoặc bên chồng của bên nhờ mang thai hộ… đã tạo ra nhiều rào cản trong việc thực hiện quy định về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (Nguyễn Thị Lan, Mang thai hộ và những vấn đề phát sinh, Tạp chí Luật học số 4/2015, Trang 12)
3 Điều kiện đối với bên mang thai hộ
Điều kiện đối với bên mang thai hộ được pháp luật Việt Nam quy định cụ thể trong khoản 3 Điều 95 Luật hôn nhân và gia đình 2014 và giải thích các từ ngữ ở trong Nghị định số 10/2015/NĐ-CP
• Thứ nhất, người phụ nữ mang thai hộ “phải là người thân thích cùng
hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ”12 Vậy người thân thích là gì?
Người thân thích là người có quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng, người
có cùng dòng máu trực hệ và người có họ trong phạm vi ba đời.13
Những người có họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một gốc sinh ra gồm cha mẹ là đời thứ nhất; anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng
12 Khoản 3 Điều 95 Luật hôn nhân và gia đình 2014
13 Khoản 19 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình 2014
11
Trang 12cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ 2; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba.14
Ngoài ra Nghị định 10/2015/NĐ-CP còn có quy định cụ thể về
“người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai
hộ bao gồm: Anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con dì, của họ; anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha với họ”.15
Có thể thấy điểm mấu chốt lớn nhất trong việc quy định về “người thân thích” là bên nhờ mang thai hộ và bên mang thai hộ phải có họ hàng với nhau trong phạm vi 3 đời và cùng hàng trong dòng họ Lý do có thể hiểu là giúp tránh việc mang thai hộ bị biến tướng, trở thành thương mại hoá, người này dùng tiền để thuê người khác mang thai hộ Hơn nữa còn tránh được việc trái đạo đức, mang tính loạn luân như mẹ ruột, mẹ vợ mang thai hộ cho con; bà, bác ruột, cô ruột mang thai hộ cho cháu Mục đích giúp đỡ nhau là vì tình nghĩa chứ không phải mong muốn một lợi ích vật chất do đó mà giảm thiểu được hành vi mang thai hộ vì mục đích thương mại Việc quy định người mang thai hộ phải là những người thân thích, cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhằm đảm bảo xác định tư cách chủ thể, thứ bậc trong gia đình phù hợp với phong tục và tập quan của gia đình Việt Nam Như vậy quyền và lợi ích hợp pháp của đứa trẻ được sinh ra từ việc mang thai hộ sẽ được đảm bảo một cách tốt nhất
• Thứ hai, “đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần”16
Về điều kiện “đã từng sinh con” chứng minh người phụ nữ đó hoàn toàn có kinh nghiệm, khả năng sinh sản, có thể sinh ra một đứa trẻ khoẻ mạnh trước đó như một bằng chứng về khả năng sinh nở tốt của mình Lý
do mà điều kiện này không cho phép người phụ nữ chưa từng sinh con mang thai hộ vì không thể đảm bảo chắc rằng về tình trạng đứa con sau khi sinh của họ sẽ như thế nào và họ có thể thay đổi nặng nề về mặt tâm lý cũng như thể xác hay không Ngoài ra điều này còn có thể ảnh hưởng
14 Khoản 18 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình 2014
15 Khoản 7 Điều 2 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP
16 Khoản 3 Điều 95 Luật hôn nhân và gia đình 2014
12