Song bên cạnh các thành tựu, kết quả đã thu được còn bộc lộ các hạn chế bất cập như vị trí việc làm chưa phù hợp với trình độ chuyên môn được đào tạo, chế độ, chính sách với đội ngũ VC c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
…………/………… ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THỊ THUÝ
TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ VIÊN CHỨC
NGÀNH GIÁO DỤC – TỪ THỰC TIỄN QUẬN BẮC TỪ LIÊM,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Hà Nội – 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Người hướng dẫn khoa học: TS Bùi Thị Thanh Thúy
Trang 3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đến người hướng dẫn khoa học TS Bùi Thị Thanh Thuý đã tận tình hướng dẫn và đóng góp nhiều ý kiến khoa học trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia, Khoa Sau đại học cùng toàn thể các thầy, cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới cơ quan, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp Sự động viên giúp đỡ của thầy, cô giáo, cơ quan, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp là nguồn động viên quý báu cho tôi hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày…….tháng….….năm 2019
Người cam đoan
Nguyễn Thị Thuý
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ VIÊN CHỨC NGÀNH GIÁO DỤC 7
1.1 Khái quát về viên chức và quản lý viên chức ngành giáo dục 7
1.1.1 Quan niệm về viên chức 7
1.1.2 Quản lý viên chức ngành giáo dục 12
1.2 Khái quát tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục 23
1.2.1 Khái niệm tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục 23
1.2.2 Chủ thể tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục 26
1.2.3 Nội dung tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục 31
1.2.4 Vai trò tổ chức thực hiện pháp luật quản lý viên chức ngành giáo dục 33
Tiểu kết chương 1 35
Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ VIÊN CHỨC NGÀNH GIÁO DỤC TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 36
2.1 Tổng quan về quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội và đội ngũ viên chức ngành giáo dục trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội 36
2.1.1 Khái quát tình hình tự nhiên – xã hội quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội 36
2.1.2 Thực trạng về đội ngũ viên chức giáo dục quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội 37
Trang 62.2 Thực trạng chủ thể và thực tiễn tổ chức tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục quận Bắc Từ Liêm, thành phố
Hà Nội 38
2.2.1 Thực trạng chủ thể tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội 38
2.2.2 Khái quát tình hình tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội 40
2.2.3 Đánh giá chung 54
Tiểu kết chương 2 62
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ VIÊN CHỨC NGÀNH GIÁO DỤC TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 63 3.1 Yêu cầu và quan điểm tăng cường tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội 63
3.1.1 Yêu cầu tăng cường tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dụ 63
3.1.2 Quan điểm tăng cường tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục 64
3.2 Giải pháp tăng cường tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội 66
3.2.1 Giải pháp hoàn thiện chính sách, pháp luật 66
3.2.2 Giải pháp về nhận thức 70
3.2.3 Giải pháp về tổ chức, nhân sự 71
3.2.4 Các giải pháp về triển khai thực hiện quản lý viên chức 72
Tiểu kết chương 3 79
KẾT LUẬN 80
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Số lượng đội ngũ viên chức giáo dục quận Bắc Từ Liêm 37Bảng 2.2 Trình độ chuyên môn và lý luận chính trị của đội ngũ viên chức giáo dục quận Bắc Từ Liêm hiện nay 44Bảng 2.3 Trình độ Ngoại ngữ, Tin học của đội ngũ viên chức giáo dục quận Bắc Từ Liêm hiện nay 45Bảng 2.4 Thống kê số lượng, nội dung cuộc phổ biến giáo dục pháp luật cho viên chức ngành giáo dục từ 2017 đến quý I/2019 48Bảng 2.5 Bảng tổng hợp kết quả sau kiểm tra công tác quản lý đội ngũ cán
bộ, giáo viên, nhân viên các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở công lập năm 2017 – năm 2019 51
Trang 8DANH MỤC VIẾT TẮT
UBND : Uỷ ban nhân dân HĐND : Hội đòng nhân dân
Trang 9MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Viên chức nói chung và viên chức ngành giáo dục Việt Nam nói riêng có vai trò quan trọng trong sự nghiệp đào tạo các nguồn nhân lực phục vụ cho việc phát triển đất nước Trong đời sống xã hội của bất kỳ một quốc gai nào, giáo dục và đào tạo là lĩnh vực có vai trò quan trọng Đặc biệt trong nền kinh
tế tri thức hiện nay, tri thức là tài sản quý giá nhất của con người và xã hội
Để có một nền kinh tế tri thức tiên tiến hiện đại, để có nguồn nhân lực chất lượng cao do rất nhiều yếu tố khác nhau trong đó trước hết phụ thuộc vào chất lượng viên chức ngành giáo dục – nhân tố trồng người
Từ nhận thức đầy đủ vai trò quan trọng của viên chức ngành giáo dục, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, pháp luật để quản lý viên chức Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam ở mục 1 phần XI của Báo cáo Chính trị ghi: “Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm Nhà nước ta thực
sự là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”; “Nâng cao năng lực quản lý
và điều hành của Nhà nước theo pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và kỷ luật, kỷ cương”
Thực tế cho thấy, việc tổ chức thực hiện chính sách, quy định pháp luật quản lý viên chức ngành giáo dục thời gian qua trong cả nước nói chung, ở quận Bắc Từ Liêm nói riêng đã đạt được các thành tựu, các kết quả đáng ghi nhận Bắc Từ Liêm là một quận thuộc Thành phố Hà Nội, nằm dọc phía bờ nam của sông Hồng Đông giáp quận Tây Hồ, Đông Nam giáp quận Cầu Giấy, Tây giáp huyện Đan Phượng, Hoài Đức, Nam giáp quận Nam Từ Liêm, Bắc giáp sông Hồng Quận được thành lập theo Nghị quyết số 132/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ, trên cơ sở tách 9 xã: Thượng Cát, Liên Mạc, Tây Tựu, Thụy Phương, Minh Khai, Phú Diễn, Đông Ngạc, Xuân
Trang 10Đỉnh, Cổ Nhuế; 9,30 ha diện tích tự nhiên và 596 nhân khẩu của xã Xuân Phương; 75,48 ha diện tích tự nhiên và 10.126 nhân khẩu của thị trấn Cầu Diễn Quận Bắc Từ Liêm có diện tích 4.335,34 ha (43,35 km²), dân số 320.414 người Với điều kiện thuận lợi là một trong những quận thuộc thủ đô Hà Nội – trung tâm chính trị, văn hoá, giáo dục, kinh tế của cả nước, đội ngũ viên chức ngành giáo dục quận Bắc Từ Liêm có trình độ chuyên môn, chuyên môn sâu được quản lý một cách khoa học đã đáp ứng được với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới
Song bên cạnh các thành tựu, kết quả đã thu được còn bộc lộ các hạn chế bất cập như vị trí việc làm chưa phù hợp với trình độ chuyên môn được đào tạo, chế độ, chính sách với đội ngũ VC chưa đảm bảo, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nhiều khi mang tính hình thức… Nguyên nhân của các hạn chế bất cập
có nhiều nhưng chủ yếu do quy định và tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục còn có những hạn chế bất cập, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả, động lực làm việc của viên chức giáo dục nói chung trong đó có viên chức ngành giáo dục quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội
Xuất phát từ những lý do đó tác giả luận văn đã lựa chọn đề tài: “Tổ chức
thực hiện pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục – từ thực tiễn quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội” để làm chủ đề nghiên cứu của mình
2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đã có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả đề cập đến vấn đề nghiên cứu của đề tài với các góc độ khác nhau Trước hết là các giáo trình
Lý luận chung về nhà nước và pháp luật của Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật Đại học Quốc gia và Học viện Hành chính Quốc gia trong đó có nghiên cứu những kiến thức cơ bản có tính lý luận về thực hiện pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật Ngoài ra có thể xem xét:
i) Những công trình nghiên cứu về tổ chức thực hiện pháp luật ở các lĩnh
Trang 11Nguyễn Hữu Tiến (2017), Tổ chức thực hiện pháp luật về tiếp công dân
và xử lý đơn thư khiếu nại tố cáo, kiến nghị phản ánh – từ thực tiễn thành phố
Đà Nẵng, Luận văn thạc sỹ Luật học, Học viện Khoa học xã hội
Nguyễn Văn Quảng (2018), Tổ chức thực hiện pháp luật về giải quyết
khiếu nại trong lĩnh vực đất đai ở đô thị - từ thực tiễn quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sỹ Luật Hiến pháp – Luật Hành chính, Học
viện Hành chính Quốc gia
Phạm Thị Liên (2018), Tổ chức thực hiện pháp luật về hộ tịch từ thực
tiễn huyên Kim Động tỉnh Hưng Yên, Luận văn thạc sỹ Luật Hiến pháp – Luật
Hành chính, Học viện Hành chính Quốc gia
ii) Những công trình nghiên cứu về viên chức và quản lý viên chức
Nguyễn Thu Hằng (2013), Quản lý nhà nước đối với viên chức y tế
ngành xây dựng ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ Quản lý công, Học
viện Hành chính Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về VC y tế nói chung và VC y tế ngành xây dựng nói riêng: sự cần thiết, nội dung, phương pháp, công cụ của QLNN đối với VC y tế; tổng kết kinh nghiệm của ngành khác trong quản lý VC y tế đưa ra những bài học cho ngành xây dựng Trên
cơ sở lý luận và những phân tích về thực trạng QLNN đối với đội ngũ VC y tế ngành xây dựng từ đó chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế, yếu kém, nguyên nhân của công tác quản lý đội ngũ VC y tế và đề ra phương hướng và hệ thống giải pháp tăng cường QLNN đối với VC y tế ngành xây dựng trong giai đoạn tiếp theo
Trần Văn Long (2018), Quản lý nhà nước về viên chức giáo dục từ thực
tiễn quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng Luận văn thạc sỹ Luật Hiến pháp –
Luật Hành chính, Học viện Khoa học xã hội Luận văn đã nghiên cứu những vấn đế lý luận và thực tiễn về QLNN về viên chức giáo dục quận Lê Chân,
Trang 12thành phố Hải Phòng từ đó đề xuất các giải pháp tăng cường QLNN về viên chức giáo dục
Nguyễn Ngọc Thuý (2018), Quản lý viên chức ngành y tế - từ thực tiễn
bệnh viện Phụ sản Trung ương, Luận văn thạc sĩ Quản lý công, Học viện
Hành chính Quốc gia Luận văn đã nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng từ
đó đề xuất các giải pháp góp phần tăng cường quản lý viên chức ngành y tế tại bệnh viện Phụ sản Trung ương Qua việc nghiên cứu luận văn giúp đề tài công cụ lý luận về viên chức và quản lý viên chức
Những công trình nghiên cứu trên đều có giá trị tham khảo đối với tác giả luận văn ở chừng mực các nội dung có liên quan đến đề tài luận văn; song, điều quan trọng hơn là nghiên cứu trực diện về tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm, thành phố
Hà Nội thì lại không có công trình nào kể trên đề cập đến
3.Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1.Mục đích của luận văn
Từ sự phân tích cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng của tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, luận văn đề xuất các giải pháp về bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
- Phân tích và đưa ra khái niệm, đặc điểm viên chức và viên chức ngành giáo dục
- Phân tích và đưa ra khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung, chủ thể tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục
- Nghiên cứu thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức
Trang 13- Nghiên cứu các quan điểm, đề xuất các giải pháp nhằm bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Là tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục
4.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi không gia: trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội
+ Phạm vi thời gian: từ năm 2016 đến nay
+ Phạm vi nội dung: tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục gắn với thẩm quyền của UBND quận Bắc Từ Liêm, thành phố
Hà Nội bao gồm: viên chức giáo dục mầm non, giáo dục tiểu học và giáo dục trung học cơ sở
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Phương pháp luận của luận văn
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về lý luận chung về nhà nước và pháp luật nói chung và vấn đề viên chức nói riêng
5.2 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Các phương pháp tác giả sử dụng trong luận văn gồm: phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, phương pháp lịch sử, phương pháp hệ thống, phương pháp so sánh
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Kết quả nghiên cứu của luận văn bổ sung quan trọng vào sự phát triển của khoa học quản lý công, góp phần nâng cao nhận thức lý luận về tổ chức
Trang 14thực hiện pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục
-Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, giảng dạy, những người làm công tác thực tế và sinh viên, học viên cơ sở đào tạo cử nhân luật, cử nhân hành chính, các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Đảng và Nhà nước
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục
Chương 2: Thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội
Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm tổ chức thực hiện pháp pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ
QUẢN LÝ VIÊN CHỨC NGÀNH GIÁO DỤC
1.1 Khái quát về viên chức và quản lý viên chức ngành giáo dục
1.1.1 Quan niệm về viên chức
Từ trước đến nay đã có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm viên chức Ở nhiều quốc gia trên thế giới, thuật ngữ viên chức được sử dụng phổ biến nhưng khái niệm viên chức được hiểu rất khác nhau Điều này là do tính chất đặc thù về thể chế chính trị - hành chính của mỗi quốc gia và phụ thuộc vào từng giai đoạn lịch sử phát triển Tuy nhiên hầu hết đều có một quy định chung là: viên chức bao gồm những người làm việc trong các tổ chức cung cấp dịch vụ sự nghiệp công do Nhà nước lập ra như y tế, giáo dục, văn hoá Những người hoạt động chính trị do bầu cử, người phục vụ trong hệ thống cơ quan hành háp hay hoạt động sản xuất kinh doanh không phải là viên chức
Ở Việt Nam, trải qua các thời kỳ khác nhau, nội hàm của khái niệm viên chức cũng có sự thay đổi lớn Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, do yêu cầu của cuộc kháng chiến nên nước ta chưa có điều kiện để xây dựng nền hành chính mang tính phục vụ dịch vụ công và vì thế đội ngũ viên chức nhà nước chưa quy định Từ đầu những năm 60 đến cuối những năm 80 của thế kỷ XX, ở nước ta không tồn tại khái niệm viên chức riêng biệt mà thay vào đó là khái niệm cán bộ, công nhân viên chức nhà nước, không phân biệt những người hoạt động quản lý nhà nước, hoạt động cung cấp dịch vụ công và hoạt động sản xuất kinh doanh Tất cả những người được tuyển dụng vào biên chế, làm việc trong các cơ quan nhà nước, đoàn thể chính trị, xã hội, nhà máy, công trường, xí nghiệp, đều được gọi chung là cán bộ, công nhân viên chức và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
Trang 16Đến năm 1998, ngay cả khi Pháp lệnh cán bộ, công chức được ban hành thì quy định những người làm việc trong các cơ quan, tổ chức, của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội đoàn thể được gọi chung trong một cụm từ
là “cán bộ, công chức”, vẫn chưa có sự phân định những người làm việc trong các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp Chính vì suốt một thời gian dài khái niệm cán bộ, công chức, viên chức chưa được phân định rõ ràng nên việc
áp dụng thể chế quản lý các đối tượng này là như nhau Chỉ tới năm 2003, sau khi Pháp lệnh sửa đổi bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức
1998 được ban hành và đặc biệt được đánh dấu bởi các Nghị định 116, 117/2003/NĐ-CP thì khái niệm viên chức mới có sự phân biệt tương đối rõ với các khái niệm cán bộ, công chức Điều 2 của Nghị định 116/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán
bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước xác định: “Viên chức
là công dân Việt Nam, trong biên chế, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp theo quy định của pháp luật” Như vậy, khái niệm viên chức đã được hình thành, phát triển và ngày càng hoàn thiện gắn với sự phát triển của nền hành chính nhà nước, với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân
Khi sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức năm
2003, chúng ta đã bước đầu thực hiện việc phân định người thuộc biên chế trong cơ quan hành chính với biên chế trong đơn vị sự nghiệp công lập Việc phân định này đã tạo cơ sở để tiến hành đổi mới cơ chế quản lý đối với công chức trong các cơ quan Nhà nước và viên chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước Qua quá trình xác lập và quản lý đội ngũ viên chức trong các đơn
Trang 17vị sự nghiệp, đến năm 2010 Luật viên chức đã được ban hành để điều chỉnh đội ngũ viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập
Tuy nhiên, phải đến khi Luật Viên chức được ban hành (Luật số
58/2010/QH12) thì khái niệm Viên chức mới được nêu một cách cụ thể:
“Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” (Điều
dù, theo quan điểm của nhiều nhà khoa học quy định viên chức phải là công dân Việt Nam là một quy định quá chặt chẽ Nếu như cán bộ, công chức công việc mang tính chính trị - hành chính đòi hỏi phải là công dân Việt Nam để đảm bảo an ninh trật tự thì đối với viên chức là những người gắn liền với trình
độ, chuyên môn cao thì việc sử dụng viên chức là người nước ngoài trở thành một nhu cầu quan trọng đặc biệt trong các lĩnh vực đòi hỏi trình độ chuyên môn cao như giáo dục hay y tế [17; 9]
Hai là, nơi làm việc
Viên chức làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập Đây cũng là điểm khác biệt so với cán bộ, công chức khi các đối tượng này chủ yếu làm việc trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị xã hội ở cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện (trừ một số công chức là lãnh đạo, quản lý các đơn vị sự nghiệp công lập) Theo khoản 1 Điều 9 Luật Viên chức năm 2010, đơn vị sự nghiệp
công lập được hiểu là “…tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ
Trang 18chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước” Dịch vụ công bao gồm các hoạt động phục vụ nhu cầu chung của xã
hội, các quyền và lợi ích cơ bản hợp pháp của con người và công dân như giáo dục, y tế, văn hóa, khoa học, bảo hiểm, an sinh xã hội
Thời kỳ bao cấp, Nhà nước là chủ thể độc quyền trong việc tổ chức và trực tiếp cung cấp dịch vụ công bằng nguồn kinh phí được cấp từ ngân sách nhà nước, những người làm việc ở đây hưởng lương từ ngân sách nhà nước Trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước và theo định hướng XHCN, để nâng cao chất lượng dịch vụ đáp ứng nhu cầu của xã hội trong điều kiện cạnh tranh của thị trường và nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước có giới hạn, Nhà nước đã tiến hành xã hội hoá các dịch
vụ công thông qua việc huy động, tổ chức sự tham gia rộng rãi, chủ động của người dân và các tổ chức vào hoạt động cung cấp dịch vụ công Tuy nhiên vai trò của Nhà nước trong việc cung cấp dịch vụ công là rất quan trọng nên Nhà nước vẫn tự tổ chức ra các đơn vị cung cấp dịch vụ công cho xã hội Và các đơn vị sự nghiệp công lập là các tổ chức do Nhà nước lập ra và vẫn giữ vai trò chủ đạo trong việc cung cấp dịch vụ trong các lĩnh vực: Giáo dục đào tạo; dạy nghề; y tế; văn hóa, thể thao và du lịch; thông tin truyền thông và báo chí; khoa học và công nghệ
Trang 19đồng làm việc có hai loại: có thời hạn và không thời hạn Việc xác định viên chức làm việc theo chế độ hợp đồng là điểm mới trong tư duy quản lý nhân sự của nhà nước Hợp đồng làm việc là căn cứ để viên chức và bên tuyển dụng
có sự thỏa thuận về vị trí việc làm, tiền lương, chế độ đãi ngộ, quyền và nghĩa
vụ của mỗi bên… Hợp đồng làm việc là cơ sở pháp lí để sau này xử lí các việc liên quan đến việc vi phạm quyền hay các vấn đề khác phát sinh giữa hai bên Trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với cải cách hành chính, Nhà nước tiến hành cải cách lĩnh vực sự nghiệp công Để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động sự nghiệp công, khắc phục tình trạng hành chính hóa, đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động sự nghiệp công, cần phải thay đổi cách tuyển dụng, cơ chế, chế độ, chính sách đối với viên chức nhà nước; không áp dụng cách thức tuyển dụng vào làm việc suốt đời mà theo chế độ hợp đồng; tạo quyền chủ động cho các đơn vị sự nghiệp công và qua đó đòi hỏi viên chức nhà nước phải không ngừng phấn đấu, rèn luyện và học tập để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của mình Nếu người viên chức không đáp ứng được yêu cầu, cũng như căn cứ vào nhu cầu, khả năng của hai bên thì hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc của họ có thể bị chấm dứt bất kỳ lúc nào
Việc kí hợp đồng làm việc căn cứ vào nhu cầu và viên chức sẽ được
tuyển dụng theo vị trí việc làm Vị trí việc làm được hiểu là “công việc hoặc
nhiệm vụ gắn với chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lí tương ứng, là căn cứ xác định số lượng người làm việc, cơ cấu viên chức để thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng và quản lí viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập” (Điều 7 Luật Viên chức 2012) Vị trí việc làm có thể có một hoặc nhiều công
việc, có tính thường xuyên, liên tục chứ không bao gồm những công việc thời
vụ, tạm thời Để được tuyển dụng vào vị trí việc làm thì phải thông qua một
trong hai phương thức tuyển dụng: thi tuyển hoặc xét tuyển Và việc tuyển
Trang 20dụng viên chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập” (Điều 20 Luật Viên chức 2012)
Bốn là, viên chức hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật khác với cán bộ, công chức lương hưởng từ ngân sách của Nhà nước Do vậy, tiền lương mà viên chức nhận được phụ thuộc vào sự thỏa thuận của viên chức và bên tuyển dụng và khoản thu của của đơn vị sự nghiệp công lập Nếu viên chức có trình độ cao và đơn vị sự nghiệp công việc có nguồn thu cao hơn nguồn chi thì lương và thu nhập tăng thêm của viên chức sẽ cao và ngược lại Hiện nay, lương của viên chức vẫn tính theo bảng lương về ngạch, bậc do Nhà nước ban hành Tuy nhiên căn cứ vào nguồn thu thì các đơn vị sự nghiệp công lập có thể chi trả thu nhập tăng thêm hoặc thưởng nhân dịp lễ, tết
Như vậy, đồng thời với việc Luật Cán bộ, công chức phân định “cán bộ”
và công chức, Luật Viên chức cũng đã làm rõ được khái niệm viên chức, phân biệt viên chức với cán bộ và công chức
1.1.2 Quản lý viên chức ngành giáo dục
Để làm rõ thuật ngữ quản lý viên chức ngành giáo dục, trước hết phải xem xét cụm từ “viên chức ngành giáo dục” Lao động của viên chức không mang tính quyền lực công, chỉ thuần túy là hoạt động nghề nghiệp mang tính
chuyên môn, nghiệp vụ Luật Viên chức đã quy định: “Hoạt động nghề
nghiệp của viên chức là việc thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ trong đơn vị
sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật về viên chức và các văn bản
có liên quan” Nghề nghiệp là chuyên môn, nghiệp vụ được đào tạo để người
viên chức kiếm sống và sinh nhai Chức nghiệp hay chức vụ nghề nghiệp được hiểu là ngạch, bậc chuyên môn nghiệp vụ được phân loại, xếp hạng trên
Trang 21cơ sở trình độ chuyên môn nghiệp vụ được đào tạo, kinh nghiệm và năng lực thực tiễn của viên chức
Tính chuyên môn nghề nghiệp là đặc điểm chung của lao động và hoạt động của viên chức Nghề nghiệp là công việc chuyên môn, nghiệp vụ để người viên chức kiếm sống và sinh nhai Mỗi viên chức làm việc trong các ngành, nghề lĩnh vực sự nghiệp công khác nhau đòi hỏi phải có chuyên môn, nghiệp vụ nghề nghiệp tương ứng Không có chuyên môn nghiệp vụ chung cho tất cả các ngành, nghề, lĩnh vực sự nghiệp công Tính chuyên nghiệp, chuyên môn hóa cao là đặc điểm, là yêu cầu trong hoạt động của viên chức sự nghiệp Sự chuyên môn hóa các hoạt động của con người đã làm xuất hiện các ngành trong đời sống xã hội Nền kinh tế quốc dân của bất kỳ quốc gia nào cũng được chia thành các ngành để quản lý Sự phân chia các mặt hoạt động
xã hội thành ngành là kết quả phân công lao động xã hội xảy ra đồng thời với quá trình phát triển sản xuất và chuyên môn hóa các hoạt động khác nhau của con người Cũng từ sự phân công lao động trong xã hội dẫn đến quy định sự phân công lao động trong quản lý
Từ phân tích trên có thể hiểu: viên chức ngành giáo dục là công dân Việt
Nam được tuyển dụng theo vị trí làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập giáo dục theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập và thực hiện các chức trách, nhiệm vụ theo quy định pháp luật
Căn cứ vào yếu tố chuyên môn, xác định đối tượng được coi là viên chức ngành giáo dục tương đối rộng khi bao gồm cả những người làm công tác giảng dạy lẫn các hoạt động khác phục vụ hoạt động giảng dạy trong các đơn
vị sự nghiệp công lập ví dụ như viên chức hành chính, tổng hợp, nhân sự
Để làm rõ hơn nội hàm cụm từ quản lý viên chức ngành giáo dục, cần xác định rõ thuật ngữ quản lý
Trang 22Thuật ngữ “quản lý” thường được hiểu theo những cách khác nhau tuỳ
theo góc độ khoa học khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và khoa học tự nhiên Mỗi lĩnh vực khoa học có định nghĩa về quản lý dưới góc
độ riêng của mình và nó phát triển ngày càng sâu rộng trong mọi hoạt động
của đời sống xã hội
Theo quan niệm của C.Mác: “Bất kỳ lao động xã hội trực tiếp hay lao
động chung nào đó mà được tiến hành tuân theo một quy mô tương đối lớn đều cần có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động
cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, sự vận động này khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của cơ thể đó Một nhạc công tự điều khiển mình, nhưng một dàn nhạc phải có nhạc trưởng” [1, tr.23]
Theo Mác quản lý là nhằm phối hợp các lao động đơn lẻ để đạt được cái thống nhất của toàn bộ quá trình sản xuất Ở đây Mác đã tiếp cận khái niệm quản lý từ góc độ mục đích của quản lý
Theo các nhà khoa học của Việt Nam thì "Quản lý là một quá trình hiện
thực hóa, những đường lối chủ trương chiến lược thông qua việc thực hiện các chưc năng quản lý phù hợp với yêu cầu và điều kiện của đơn vị, cơ quan mình" [5, tr.16]
Theo cách hiểu chung nhất thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý Việc tác động theo cách nào còn tuỳ thuộc vào các góc độ khoa học khác nhau, các lĩnh vực khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu
Do đó, quản lý viên chức ngành giáo dục là sự tác động có tổ chức và
bằng các công cụ quản lý khác nhau của các chủ thể có thẩm quyền đối với
Trang 23đội ngũ viên chức ngành giáo dục nhằm mục tiêu xây dựng và phát triển đội ngũ viên chức giáo dục đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ của ngành
Từ khái niệm quản lý viên chức ngành giáo dục có thể hiểu xác định một
số đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, mục đích quản lý viên chức ngành giáo dục
Quản lý con người đóng vai trò quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của một tổ chức, bởi vậy việc quản lý tốt đội ngũ viên chức nhằm làm cho hoạt động của tổ chức có hiệu quả, thực hiện tốt nhất chức năng cung cấp dịch
vụ công với chất lượng ngày càng cao cho xã hội trong quá trình thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước Vì vậy, mục đích của quản lý viên chức ngành giáo dục là nhằm bảo đảm đáp ứng trước hết các mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị; sau đó là các yêu cầu, nhiệm
vụ của ngành cho được thực hiện một cách tốt nhất thông qua việc thu hút, sử dụng, duy trì và phát triển đội ngũ viên chức trong các đơn vị này một cách có hiệu quả
Thứ hai, công cụ quản lý viên chức ngành giáo dục
Để quản lý viên chức, các chủ thể quản lý có thể sử dụng các công cụ khác nhau như: chính sách, pháp luật, kế hoạch, quy hoạch Quy định pháp lý được cụ thể hoá trong hệ thống các văn bản pháp luật từ Luật, Nghị định, Thông tư Các chính sách để quản lý ví dụ như chính sách khuyến khích đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, chính sách thu hút nhân tài Đồng thời để quản lý viên chức hiệu quả không thể không xây dựng các kế hoạch, quy hoạch theo từng giai đoạn ngắn hạn, dài hạn để có định hướng phát triển nhân
sự và tổ chức
Thứ ba, nội dung quản lý viên chức ngành giáo dục
Hoạt động quản lý viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm rất nhiều nội dung, từ việc xây dựng kế hoạch, quy hoạch viên chức, quy
Trang 24định tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp đến tuyển dụng, sử dụng, đánh giá viên chức và phát triển đội ngũ
Căn cứ theo Điều 44 Nghị định 29/2012/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm
2012 (sửa đổi, bổ sung theo NĐ 161/2018/NĐ-CP) về tuyển dụng, sử dụng,
quản lý viên chức, có thể xem xét nội dung quản lý viên chức bao gồm:
(1) Xây dựng kế hoạch, quy hoạch viên chức
Kế hoạch là một chương trình hành động cụ thể mà các chủ thể quản lý vạch ra để đạt đến các mục tiêu quản lý Kế hoạch thường có những khoảng thời gian nhất định (6 tháng, 1 năm, 5 năm, 10 năm ) Kế hoạch bao gồm những mục tiêu cụ thể và những giải pháp hành động cụ thể được lựa chọn để đạt được những mục tiêu này
Quy hoạch viên chức là hoạt động phát hiện sớm nguồn viên chức có khả năng, triển vọng về lãnh đạo, quản lý đưa vào quy hoạch để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng tạo nguồn chức danh lãnh đạo, quản lý đáp ứng nhiệm vụ của đơn vị và cơ quan Mục đích của quy hoạch viên chức nói riêng và quy hoạch cán bộ nói chung là tạo sự chủ động và hoạch định tầm nhìn chiến lược trong công tác quản lý, khắc phục sự hẫng hụt trong đội ngũ lãnh đạo, quản lý; bảo đảm tính kế thừa, chuyển tiếp liên tục giữa các thế hệ; đồng thời là căn
cứ để đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ lãnh đạo, quản lý kế cận
Quy hoạch và kế hoạch là những công cụ quan trọng của quản lý Sau khi quy hoạch và kế hoạch được phê chuẩn, chúng là những căn cứ pháp lý để hướng dẫn hoạt động và đánh giá hoạt động của các chủ thể tham gia thực thi quy hoạch và kế hoạch đề ra
(2) Quy định tiêu chuẩn, chức danh nghề nghiệp viên chức; xác định vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và số lượng viên chức làm việc tương ứng
Trang 25Tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức là căn cứ, cơ sở để tiến hành lựa chọn, tuyển dụng, sử dụng viên chức vào vị trí phù hợp năng lực, sở trường Đây là cơ sở cho việc xác định vị trí việc làm và cũng như rà soát lại
tổ chức bộ máy, đội ngũ viên chức và xác định từng vị trí trong tổ chức gắn với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đơn vị thuộc Bộ y tế
(3) Tổ chức thực hiện việc tuyển dụng, ký hợp đồng làm việc, bố trí, phân công nhiệm vụ, biệt phái viên chức; Tổ chức thực hiện thay đổi chức danh nghề nghiệp
Tuyển dụng viên chức là quá trình lựa chọn người thích hợp nhất trong
số những người dự tuyển để đưa vào một vị trí công việc còn trống trong đơn
vị Hoạt động tuyển dụng viên chức được thực hiện tốt sẽ giúp đơn vị lựa chọn được người tài giỏi, góp phần nâng cao chất lượng lao động và hiệu quả hoạt động của đơn vị Việc tổ chức tuyển dụng, ký hợp đồng làm việc, bố trí, phân công nhiệm vụ, biệt phái, kiểm tra và đánh giá viên chức là công việc thường xuyên của nhà quản lý góp phần thực hiện nhiệm vụ đặt ra của đơn vị Người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập hoặc người đứng đầu đơn vị
sử dụng viên chức chịu trách nhiệm phân công nhiệm vụ, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ của viên chức, bảo đảm các điều kiện cần thiết để viên chức thực hiện nhiệm vụ và các chế độ, chính sách đối với viên chức Việc phân công nhiệm vụ cho viên chức phải bảo đảm phù hợp với chức danh nghề nghiệp, chức vụ quản lý được bổ nhiệm và yêu cầu của vị trí việc làm Phân công công việc cho viên chức bao gồm phân công công việc thường xuyên và phân công công việc đột xuất Hoạt động phân công công việc cho viên chức muốn đạt được hiệu quả cao cần gắn liền với kết quả của công tác xác định vị trí việc làm Đồng thời chú ý giao cho viên chức công việc phù hợp với kiến thức, kỹ năng hiện có cũng như khả năng phát triển của họ trong tương lai Phân công công việc phải gắn liền với trao quyền tự quyết tương ứng
Trang 26Thay đổi chức danh nghề nghiệp là việc viên chức được bổ nhiệm một chức danh nghề nghiệp khác phù hợp với chuyên môn, nghiệp vụ của vị trí việc làm đang đảm nhiệm Việc thay đổi chức danh nghề nghiệp của viên chức được thực hiện như sau: Khi chuyển từ chức danh nghề nghiệp này sang chức danh nghề nghiệp khác cùng hạng phải thực hiện thông qua việc xét chuyển chức danh nghề nghiệp; Khi thăng hạng từ hạng thấp lên hạng cao hơn liền kề trong cùng ngành, lĩnh vực phải thực hiện thông qua việc thi hoặc xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp
(5) Tổ chức thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ đối với viên chức
Mức lương cơ sở đối với viên chức được quy định trong Nghị định 38/2019/NĐ-CP quy định mức lương cơ sở với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang Viên chức làm việc trong đơn vị sự nghiệp là đơn vị có thu nên ngoài lương, viên chức còn hưởng thu nhập tăng thêm từ nguồn thu của đơn vị; ngoài ra còn các hệ số phụ cấp, hệ số nghề Nhìn chung lương, chế độ, chính sách đãi ngộ viên chức là cơ sở để thu hút nguồn lao động, là một trong những động lực để viên chức làm việc
Việc đào tạo, bồi dưỡng được thực hiện đối với viên chức trước khi bổ nhiệm chức vụ quản lý, thay đổi chức danh nghề nghiệp hoặc nhằm bổ sung, cập nhật kiến thức, kỹ năng phục vụ hoạt động nghề nghiệp
Nội dung, chương trình, hình thức, thời gian đào tạo, bồi dưỡng viên chức phải căn cứ vào tiêu chuẩn chức vụ quản lý, chức danh nghề nghiệp, yêu cầu bổ sung, cập nhật kiến thức, kỹ năng phục vụ hoạt động nghề nghiệp Hình thức đào tạo, bồi dưỡng viên chức gồm:
+ Đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ quản lý;
+ Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp;
Trang 27+ Bồi dưỡng nhằm bổ sung, cập nhật kiến thức, kỹ năng phục vụ hoạt động nghề nghiệp
(6) Tổ chức thực hiện việc kiểm tra và đánh giá viên chức, khen thưởng,
kỷ luật đối với viên chức
Đánh giá viên chức là khâu quan trọng trong công tác quản lý Đánh giá viên chức kịp thời, chính xác là cơ sở để thực hiện tốt công tác bổ nhiệm, quy hoạch, quản lý, sử dụng và thực hiện chính sách đối với viên chức Kết quả đánh giá viên chức còn giúp cho công tác đề bạt, bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật
Về phân loại đánh giá viên chức, căn cứ vào kết quả đánh giá, viên chức được phân loại đánh giá theo các mức như sau: a) Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; b) Hoàn thành tốt nhiệm vụ; c) Hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế
về năng lực; d) Không hoàn thành nhiệm vụ Kết quả phân loại đánh giá viên chức được lưu vào hồ sơ và thông báo đến viên chức được đánh giá Viên chức 02 năm liên tiếp hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực hoặc có 02 năm liên tiếp, trong đó 01 năm hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực và 01 năm không hoàn thành nhiệm vụ thì cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền bố trí công tác khác
Viên chức 02 năm liên tiếp không hoàn thành nhiệm vụ thì cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền giải quyết thôi việc
Mục đích của đánh giá viên chức để làm căn cứ tiếp tục bố trí, sử dụng,
bổ nhiệm, miễn nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chế độ, chính sách đối với viên chức
Căn cứ đánh giá viên chức bao gồm các cam kết trong hợp đồng làm việc đã ký kết và quy định về đạo đức nghề nghiệp, quy tắc ứng xử của viên chức Cụ thể, viên chức được đánh giá dựa theo các nội dung:
+ Kết quả thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ theo hợp đồng làm việc đã
ký kết;
Trang 28+ Việc thực hiện quy định về đạo đức nghề nghiệp;
+ Tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ nhân dân, tinh thần hợp tác với đồng nghiệp và việc thực hiện quy tắc ứng xử của viên chức;
+ Việc thực hiện các nghĩa vụ khác của viên chức
Bên cạnh những nội dung trên, viên chức quản lý còn được đánh giá dựa theo các tiêu chí:
+ Năng lực lãnh đạo, quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện nhiệm vụ; + Kết quả hoạt động của đơn vị được giao quản lý, phụ trách
Việc đánh giá viên chức được thực hiện hàng năm; khi kết thúc thời gian tập sự; trước khi ký tiếp hợp đồng làm việc; thay đổi vị trí việc làm; xét khen thưởng, kỷ luật, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng
Viên chức vi phạm các quy định của pháp luật trong quá trình thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, phải chịu một trong các hình thức kỷ luật sau: Khiển trách; Cảnh cáo; Cách chức; Buộc thôi việc
Viên chức bị kỷ luật bằng một trong các hình thức này còn có thể bị hạn chế thực hiện hoạt động nghề nghiệp theo quy định của pháp luật có liên quan Hình thức kỷ luật cách chức chỉ áp dụng đối với viên chức quản lý Quyết định kỷ luật được lưu vào hồ sơ viên chức
(7) Giải quyết thôi việc và nghỉ hưu đối với viên chức
Viên chức được giải quyết thôi việc trong các trường hợp sau: Viên chức
có đơn tự nguyện xin thôi việc được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền đồng ý bằng văn bản; Viên chức đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc; Đơn vị sự nghiệp công lập đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với viên chức
Viên chức chưa được giải quyết thôi việc nếu thuộc một trong các trường hợp sau: Đang bị xem xét xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự;
Trang 29cử đi đào tạo hoặc khi được xét tuyển; Chưa hoàn thành việc thanh toán các khoản tiền, tài sản thuộc trách nhiệm của viên chức đối với đơn vị sự nghiệp công lập; Do yêu cầu công tác và chưa bố trí được người thay thế
Viên chức có nguyện vọng thôi việc có văn bản gửi người đứng đầu đơn
vị sự nghiệp công lập Trong thời hạn 20 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn, nếu đồng ý cho viên chức thôi việc thì người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập ra quyết định chấm dứt hợp đồng làm việc; nếu không đồng ý cho viên chức thôi việc thì trả lời viên chức bằng văn bản và nêu rõ lý do
Khi chấm dứt hợp đồng làm việc, viên chức được hưởng trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm hoặc chế độ bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về lao động và pháp luật về bảo hiểm xã hội
Viên chức không được hưởng trợ cấp thôi việc nếu thuộc một trong các trường hợp: Bị buộc thôi việc; Đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc; Chấm dứt hợp đồng làm việc
Nghỉ hưu là việc viên chức hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật Thời điểm nghỉ hưu là ngày 01 của tháng liền kề sau tháng viên chức đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định Thời điểm nghỉ hưu được tính lùi lại khi có một trong các trường hợp sau: Không quá 01 tháng đối với một trong các trường hợp: Thời điểm nghỉ hưu trùng với ngày nghỉ Tết Nguyên đán; viên chức có
vợ hoặc chồng, bố, mẹ (vợ hoặc chồng), con từ trần, bị Tòa án tuyên bố mất tích; bản thân và gia đình viên chức bị thiệt hại do thiên tai, địch họa, hỏa hoạn; Không quá 03 tháng đối với trường hợp bị bệnh nặng hoặc bị tai nạn có giấy xác nhận của bệnh viện; Không quá 06 tháng đối với trường hợp đang điều trị bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ Y tế ban hành,
có giấy xác nhận của bệnh viện
Viên chức được hưởng chế độ hưu trí theo quy định của pháp luật về lao động và pháp luật về bảo hiểm xã hội
Trang 30Trước 06 tháng, tính đến ngày viên chức nghỉ hưu, cơ quan, tổ chức, đơn
vị quản lý viên chức phải thông báo bằng văn bản về thời điểm nghỉ hưu; trước 03 tháng, tính đến ngày viên chức nghỉ hưu, cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý viên chức ra quyết định nghỉ hưu
(8) Thực hiện chế độ báo cáo, thống kê và quản lý hồ sơ viên chức Định kỳ hàng năm, hoặc theo yêu cầu đột xuất của Bộ Nội vụ, cơ quan quản lý viên chức chỉ đạo các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc và trực thuộc lập báo cáo thống kê số lượng, chất lượng công chức, danh sách và tiền lương công chức của năm trước báo cáo cơ quan quản lý công chức vào ngày 31/3 của năm sau theo biểu mẫu thống nhất
(9) Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo việc thi hành quy định của pháp luật về viên chức
Đối với việc thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo việc thi hành quy định của pháp luật về viên chức được thực hiện theo Luật Thanh tra 2010, Luật Khiếu nại 2012, Luật Tố cáo 2018, Luật Viên chức 2012 Thông qua thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo người lao động mà cụ thể là các viên chức có
cơ sở để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình nếu bị xâm phạm
Cơ quan có thẩm quyền quản lý đơn vị sự nghiệp công lập thanh tra, kiểm tra việc tuyển dụng, sử dụng, quản lý viên chức tại các đơn vị sự nghiệp công lập được giao quản lý
Bộ Nội vụ thanh tra việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức theo quy định của pháp luật có liên quan
Các bộ, cơ quan ngang bộ thanh tra việc thực hiện hoạt động nghề nghiệp của viên chức thuộc ngành, lĩnh vực được giao quản lý
Như vậy có tất cả 9 nội dung quản lý viên chức Trong các nội dung này tuỳ thuộc vào tình hình đơn vị mà có nội dung thực hiện mang tính thường
Trang 31tố cáo chỉ phát sinh khi có đơn khiếu nại, tố cáo) Trên cơ sở các nội dung quản lý viên chức, các chủ thể có thẩm quyền tổ chức thực hiện các quy định pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục
1.2 Khái quát tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục
1.2.1 Khái niệm tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục
Để làm rõ thuật ngữ này cần luận giải xuất phát từ thuật ngữ “thực hiện pháp luật” Thực hiện pháp luật là quá trình các tổ chức, cá nhân và các chủ thể pháp luật khác khi gặp phải tình huống thực tế mà quy phạm pháp luật đã
dự liệu, trên cơ sở nhận thức của mình chuyển hóa một cách sáng tạo quy tắc
xử sự chung mà Nhà nước đã quy định vào tình huống cụ thể đó thông qua hành vi thực tế hợp pháp của mình Hay nói cách khác, những đòi hỏi cấm đoán hay cho phép của pháp luật đối với các tổ chức, cá nhân đã được biểu hiện thành các hành vi thực tế thực hiện quyền, nghĩa vụ của các chủ thể pháp luật Dưới góc độ pháp lý thì, thực hiện pháp luật là hành vi pháp luật (hành động hoặc không hành động) hợp pháp, nghĩa là nó được tiến hành phù hợp với những yêu cầu, đòi hỏi trong phạm vi các quy định của pháp luật
Nếu như thực hiện pháp luật do rất nhiều chủ thể khác nhau thực hiện bao gồm cơ quan nhà nước và cá nhân, tổ chức trong xã hội nhưng đối với tổ chức thực hiện pháp luật xét dưới góc độ thuật ngữ “tổ chức” thì chủ thể là cơ quan nhà nước phù hợp và đầy đủ thẩm quyền hơn
Thực tế đã cho thấy có những trường hợp không có sự can thiệp của Nhà nước thì nhiều quy định của pháp luật sẽ không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng Tổ chức thực hiện pháp luật là việc Nhà nước thông qua các cơ quan Nhà nước hoặc cán bộ, công chức có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể thực hiện những quy định của pháp luật hoặc tự mình căn cứ vào các quy
Trang 32định của pháp luật đưa ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể Do đó tổ chức thực hiện pháp luậtlà hoạt động mang tính quyền lực của cơ quan Nhà nước Biểu hiện rõ nét nhất là các chủ thể pháp luật khi thực hiện các quy định của pháp luật có sự can thiệp của Nhà nước hay của cán bộ, công chức có thẩm quyền, đảm bảo cho các quy phạm pháp luật được thực hiện triệt để, hiệu lực và hiệu quả khi tác động vào các quan hệ xã hội
Trên phương diện lý luận về Nhà nước và pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm hiện thực hóa các quy định của pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật Vì thế, tổ chức thực hiện pháp luật không thể phát huy được hiệu lực trong hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật khi thiếu sự bảo đảm của Nhà nước, các cơ chế cũng như cơ sở pháp lý của nó
Từ những phân tích trên có thể xác định: tổ chức thực hiện pháp luật về
quản lý viên chức ngành giáo dục là hoạt động có mục đích của cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền nhằm hiện thực hóa các quy định của pháp luật
về quản lý viên chức ngành giáo dục, làm cho các quy định pháp luật vận hành trong đời sống xã hội
Tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục có những đặc điểm như sau:
Thứ nhất, tổ chức thực hiện pháp luật quản lý viên chức ngành giáo dục
là hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước Điều này thể hiện ở chỗ: Hoạt động thực thi pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành tiến hành thông qua các hoạt động được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật như tổ chức việc tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, thanh tra, kiểm tra, xử
lý kỉ luật Trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật mọi khía cạnh, mọi tình
Trang 33của quy phạm pháp luật được xác định để ra các yêu cầu cụ thể Như vậy pháp luật là cơ sở xuất phát điểm để các cơ quan Nhà nước có quyền lực thực hiện chức năng của mình Trong phạm vi luận văn nghiên cứu tổ chức thực hiện pháp luật do cơ quan hành chính nhà nước tiến hành Ngoài ra với đặc thủ của hệ thống chính trị Việt Nam, các đơn vị sự nghiệp công lập với quan niệm rộng cũng được hiểu là cơ quan nhà nước (xuất phát từ góc độ cơ sở vật chất, tài chính do Nhà nước đầu tư, nhân sự là viên chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước)
Thứ hai, tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo
dục, trong đó các bên có quyền và nghĩa vụ liên quan đều phải tuân theo những hình thức và thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định Pháp luật về viên chức quy định về cơ sở, hình thức, điều kiện, trình tự thủ tục, quyền và nghĩa
vụ của các bên trong quy trình thực hiện pháp luật
Thứ ba, tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo
dục đòi hỏi tính sáng tạo Bởi vì đó là quá trình vận dụng cái chung (các quy phạm pháp luật để áp dụng vào các vụ việc, tình huống cụ thể Điều này đòi hỏi người có thẩm quyền thực thi pháp luật phải vận dụng cái chung phù hợp với cái riêng rất phong phú, đa dạng và phức tạp Tuy nhiên, xã hội luôn vận động, biến đổi và phát triển nên không phải lúc nào pháp luật cũng dự liệu hết được mọi tình huống trong thực tế nảy sinh Trong trường hợp pháp luật chưa quy định hoặc quy định còn chồng chéo, chưa đồng bộ, chưa rõ ràng thì yêu cầu chủ thể tổ chức thực hiện pháp luậtphải biết vận dụng một cách sáng tạo linh hoạt, không dập khuôn máy móc Để đạt tới điều đó đòi hỏi người tổ chức thực hiện pháp luậtphải có ý thức pháp luật cao, có tri thức tổng hợp, có kinh nghiệm phong phú, có đạo đức trong sáng và có trình độ chuyên môn cao
Trang 341.2.2 Chủ thể tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục
Hoạt động quản lý viên chức trong ngành giáo dục được thực hiện bởi các cơ quan quản lý nhà nước, các cơ quan tổ chức quản lý các đơn vị này và của chính các đơn vị sự nghiệp với tư cách là người sử dụng trực tiếp viên chức Trên cơ sở đó các cơ quan quản lý viên chức bao gồm:
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
Các đơn vị sự nghiệp công lập
Lưu ý: Nếu các đơn vị sự nghiệp thuộc tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp thuộc đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị sự nghiệp thuộc công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu sẽ chịu sự quản lý của các tổ chức này;
Các chủ thể quản lý viên chức đồng thời cũng là chủ thể tổ chức thực hiện
pháp luật về quản lý viên chức Theo Điều 49 Nghị định 29/2012/NĐ-CP 12
tháng 4 năm 2012 ( sửa đổi, bổ sung Nghị định 161/2018/NĐ-CP) về tuyển
dụng, sử dụng, quản lý viên chức, đơn vị sự nghiệp công lập có 2 loại: đơn vị được giao quyền tự chủ và đơn vị chưa giao quyền tự chủ Với mỗi loại, thì thẩm quyền quản lý viên chức có những quy định khác nhau Theo đó,
(i) Trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ,
Trang 35- Thực hiện các chế độ, chính sách của Nhà nước đối với viên chức theo phân cấp;
- Thực hiện tuyển dụng, ký và chấm dứt hợp đồng làm việc, biệt phái viên chức theo phân cấp;
- Bố trí, phân công nhiệm vụ và kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ của viên chức, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng viên chức theo phân cấp;
- Thực hiện công tác khen thưởng, kỷ luật đối với viên chức theo thẩm quyền hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền khen thưởng, kỷ luật theo quy định;
- Thực hiện việc lập hồ sơ và lưu giữ hồ sơ cá nhân của viên chức thuộc phạm vi quản lý theo quy định;
- Giải quyết thôi việc, nghỉ hưu đối với viên chức theo phân cấp;
- Ký kết hợp đồng vụ, việc đối với viên chức đã nghỉ hưu;
- Thống kê và báo cáo cơ quan, tổ chức cấp trên về số lượng, chất lượng đội ngũ viên chức thuộc phạm vi quản lý theo quy định;
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật
(ii) Trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ, ngoài các nhiệm vụ và quyền hạn trên còn được giao các nhiệm vụ quyền hạn sau:
- Quyết định danh mục vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc theo quy định của Đảng và của pháp luật;
- Tổ chức thi hoặc xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật
- Quyết định cử viên chức tham dự các cuộc hội thảo, hội nghị, nghiên cứu khảo sát và học tập kinh nghiệm ở nước ngoài theo phân cấp”
Như vậy theo thẩm quyền, các đơn vị sự nghiệp công lập sẽ tổ chức thực hiện các quy định pháp luật trên
Trang 36Cụ thể theo quy định của Luật Viên chức: chủ thể quản lý nhà nước về viên chức Chính phủ, Bộ Nội vụ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, UBND tỉnh và cơ quan chuyên môn của UBND tỉnh Trong đó Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về viên chức Những chủ thể này sẽ tiến hành tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục
Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện việc quản lý nhà nước về viên chức Theo đó Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về viên chức, có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: Xây dựng, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về viên chức để Chính phủ trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Xây dựng trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quy định về chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình phát triển đội ngũ viên chức; phân công, phân cấp quản
lý viên chức; hướng dẫn phương pháp xác định vị trí việc làm và cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp; chiến lược, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ viên chức; chế độ tiền lương; chính sách đối với người có tài năng; các quy định về bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, biệt phái, từ chức, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật, chấm dứt hợp đồng làm việc, thôi việc và nghỉ hưu đối với viên chức; Kiểm tra việc thực hiện tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức; ban hành quy chế tổ chức thi tuyển, xét tuyển viên chức, quy chế tổ chức thi thăng hạng, xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức; thẩm định chương trình khung bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức; quy định việc áp dụng chức danh công chức đối với vị trí việc làm
ở các bộ phận hành chính, tổng hợp, quản trị văn phòng, tổ chức cán bộ, kế hoạch, tài chính và các vị trí việc làm khác không giữ chức danh nghề nghiệp
và không hoạt động nghề nghiệp của đơn vị sự nghiệp công lập; Chủ trì, phối hợp với các Bộ quản lý chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành quy
Trang 37viên chức; Chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức thống kê số lượng, chất lượng đội ngũ viên chức; Phối hợp với các Bộ quản lý chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành tổ chức và công nhận kết quả thi hoặc xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức từ hạng II lên hạng I; giám sát, kiểm tra việc tổ chức thi hoặc xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức; bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp viên chức hạng I; Hướng dẫn và tổ chức thực hiện chế độ báo cáo về quản lý viên chức; Thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật về viên chức;
Có ý kiến với đề nghị của bộ, ngành, địa phương về bổ nhiệm, xếp lương, nâng bậc lương trước thời hạn đối với chức danh nghề nghiệp viên chức tương đương chuyên viên cao cấp
Các bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình
có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về viên chức
Theo đó, nhiệm vụ và quyền hạn của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, tổ chức do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thành lập mà không phải là đơn vị sự nghiệp công lập: Quản lý về số lượng, tiêu chuẩn, tuyển dụng, sử dụng đối với viên chức thuộc phạm vi quản lý theo phân công, phân cấp; quyết định nâng bậc lương thường xuyên và phụ cấp thâm niên vượt khung đối với viên chức; căn cứ ý kiến của Bộ Nội vụ về điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định, quyết định bổ nhiệm, xếp lương, nâng bậc lương trước thời hạn đối với viên chức tương đương chuyên viên cao cấp; quyết định bổ nhiệm, xếp lương, nâng bậc lương và phụ cấp thâm niên vượt khung đối với viên chức tương đương chuyên viên chính trở xuống; Quyết định danh mục vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc theo phân công, phân cấp và theo quy định của Đảng và của pháp luật; Tổ chức thi hoặc xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp tương đương
Trang 38chuyên viên chính đối với viên chức thuộc phạm vi quản lý theo hướng dẫn của Bộ quản lý về chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành; Tổ chức hoặc phân cấp, ủy quyền tổ chức thi hoặc xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp tương đương cán sự, chuyên viên đối với viên chức thuộc phạm vi quản lý theo quy định tại Điều 30 Nghị định 161/2018/NĐ/CP
Nhiệm vụ và quyền hạn của các bộ quản lý chức danh nghề nghiệp viên
chức chuyên ngành: Ban hành Thông tư quy định mã số, tiêu chuẩn chức
danh nghề nghiệp và xếp lương đối với các chức danh nghề nghiệp viên chức thuộc ngành, lĩnh vực quản lý sau khi có ý kiến thống nhất của Bộ Nội vụ; Tổ chức thi hoặc xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp tương đương chuyên
viên cao cấp theo quy định tại Điều 30 Nghị định 161/2018/NĐ/CP
Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong phạm vi
nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về viên chức
Nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: Quản lý về số lượng, tiêu chuẩn, tuyển dụng, sử dụng đối với viên chức thuộc phạm vi quản lý theo phân công, phân cấp; quyết định nâng bậc lương thường xuyên và phụ cấp thâm niên vượt khung đối với viên chức; căn cứ ý kiến của Bộ Nội vụ về điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định, quyết định bổ nhiệm, xếp lương, nâng bậc lương trước thời hạn đối với viên chức tương đương chuyên viên cao cấp; quyết định bổ nhiệm, xếp lương, nâng bậc lương
và phụ cấp thâm niên vượt khung đối với viên chức tương đương chuyên viên chính trở xuống; Quyết định danh mục vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc theo phân công, phân cấp
và theo quy định của Đảng và của pháp luật; Tổ chức thi hoặc xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp tương đương chuyên viên chính đối với viên chức thuộc phạm vi quản lý theo hướng dẫn của bộ quản lý về chức danh nghề
Trang 39chức thi hoặc xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức tương đương cán sự, chuyên viên đối với viên chức thuộc phạm vi quản lý theo quy định tại Điều 30 Nghị định 161/2018/NĐ/CP
1.2.3 Nội dung tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục
Để tiến hành tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục đòi hỏi cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải tiến hành những hoạt động sau:
Một là, lập kế hoạch, ban hành văn bản, chính sách để triển khai văn bản
pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục Để đưa các quy định pháp luật
về quản lý viên chức ngành giáo dục do cơ quan lập pháp ban hành, đòi hỏi
hệ thống cơ quan hành chính phải thực hiện quyền lập quy và quyền hành chính Cụ thể, trong thẩm quyền do pháp luật quy định ban hành văn bản, chính sách để hướng dẫn triển khai Luật Viên chức Đồng thời lên kế hoạch
để triển khai thực hiện Đây là hoạt động đầu tiên trong nội dung tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục
Hai là, xây dựng tổ chức bộ máy thực hiện pháp luật về quản lý viên
chức ngành giáo dục
Tổ chức bộ máy và con người sẽ quyết định chất lượng, cách thức tiến hành tổ chức thực hiện pháp luật về về quản lý viên chức ngành giáo dục Trong hệ thống bộ máy nhà nước việc phân công trách nhiệm cơ quan, con người nào tham gia tiến hành thực hiện pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dụcchính là một nội dung trong công tác tổ chức Cụ thể đối với việc thực hiện pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục do hệ thống cơ quan hành chính nhà nước tiến hành mà đứng đầu là Chính phủ - thống nhất quản
lý nhà nước về quản lý viên chức ngành giáo dục đồng thời là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật về giải
Trang 40quyết khiếu nại đất đai Bộ Nội vụ với chức năng giúp Chính phủ quản lý nhà nước về quản lý viên chức nói chung trong đó có viên chức ngành giáo dục
Bộ Giáo dục và đào tạo phối hợp Bộ Nội vụ quản lý viên chức ngành Theo phân cấp hành chính, ở địa phương là UBND các cấp và hệ thống cơ quan chuyên môn tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục
Ba là, triển khai thực hiện các nội dung quản lý viên chức ngành giáo dục Trên cơ sở các nội dung đã phân tích ở mục 1.2.2; có 9 nội dung về quản
lý viên chức nói chung và viên chức ngành giáo dục nói riêng Vì vậy, các chủ thể có thẩm quyền để tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý giáo dục cần
tổ chức để triển khai 9 nội dung đó trên thực tế
Bốn là, tuyên truyền phổ biến pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục.để nâng cao nhận thức của các chủ thể và đối tượng chịu sự điều chỉnh của pháp luật Đây là hình thức quan trọng trong việc tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục thể hiện bản chất Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; thể hiện hình thức quản lý thuyết phục giáo dục trong quản lý hành chính nhà nước
Năm là, tiến hành kiểm soát và xử lý vi phạm về quản lý viên chức ngành giáo dục
Đây cũng là một nội dung trong công tác tổ chức thực hiện Bởi lẽ khi ban hành những chính sách, pháp luật và thực hiện; một nội dung không thể thiếu đó là giám sát, kiểm tra, theo dõi việc triển khai những chính sách, pháp luật để đảm bảo những quy định đó được thực hiện đúng đắn trên thực tế Thanh tra, kiểm tra là hoạt động thường xuyên của cấp trên với cấp dưới (trong mối quan hệ trực thuộc) nhằm xem xét, đánh giá mọi mặt hoạt động của cấp dưới khi thấy cần thiết hoặc trong trường hợp cần kiểm tra một vấn đề
cụ thể nào đó Vì vậy khi tiến hành kiểm tra, thanh tra, cơ quan cấp trên hoặc