1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Huy động vốn đầu tư cho dự án nguồn điện tại công ty mẹ tập đoàn điện lực việt nam

108 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động kinh doanh: Được sử dụng vốn và các quỹ của Doanh nghiệp để phục vụ kịp thời các nhu cầu trong kinh doanh theo nguyên tắc bảo toàn và có hoàn trả,

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn này là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Phạm Văn Minh

Trang 2

Với thời gian hai năm, được học tập và nghiên cứu ở Học viện Hành chính Quốc gia, chương trình đào tạo Thạc sĩ Tài chính - ngân hàng, tôi đã được các thầy cô truyền đạt nhiều kiến thức quý báu và thiết thực cho công tác chuyên môn cũng như trong cuộc sống

Để hoàn thành bản luận văn này, tôi vô cũng biết ơn, sự quan tâm hướng dẫn tận tình của giáo viên hướng dẫn: TS Lê Toàn Thắng; Sự giúp đỡ, chỉ bảo của các thầy cô giảng dạy và quản lý của Học viện Hành chính Quốc gia

Huy đông nguồn vốn Đầu tư cho dự án nguồn điện tại Công ty mẹ-Tập đoàn Điện lực Việt Nam là một nội dung lớn và phức tạp, mặt khác khả năng nghiên cứu của bản thân còn nhiều hạn chế, rất mong nhận được sự quan tâm góp ý của các thầy cô trong Hội đồng khoa học để nội dung luận văn được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 30 tháng 09 năm 2017

Tác giả luận văn

Phạm Văn Minh

Trang 3

1 ADB: Ngân hàng Phát triển châu Á

2 AGRIBANK: Ngân hàng NN và Phát triển Nông thôn Việt Nam

3 AFD: Cơ quan Phát triển Pháp

4 BANK OF CHINA: Ngân hàng Trung Quốc

5 BIDV: Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam

6 CDB: Ngân hàng Phát triển Trung Quốc

7 EPC: Thiết kế-Cung cấp vật tư thiết bị-Xây dựng lắp đặt

8 EVN: Công ty mẹ - Tập đoàn điện lực Việt Nam

9 ICBC: Ngân hàng Công thương Trung Quốc

10 KEXIMBANK: Ngân hàng Xuất Nhập khẩu Hàn Quốc

11 KfW: Ngân hàng tái thiết Đức

12 ODA: Hỗ trợ phát triển chính thức

13 TP: Trái phiếu

14 VDB: Ngân hàng Phát triển Việt Nam

15 VIETCOMBANK: Ngân hàng TMCP ngoại thương Việt Nam

16 VIETINBANK: Ngân hàng TMCP công thương Việt Nam

17 WB: Ngân hàng thế giới

18 JBIC: Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản

JICA: Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 5

1.1.Tổng quan về vốn đầu tư của Doanh nghiệp Nhà nước 5

1.1.1 Doanh nghiệp Nhà nước 5

1.1.2 Tập đoàn kinh tế 8

1.1.3 Khái niệm về vốn và vốn đầu tư 11

1.1.4 Bản chất, vai trò, đặc điểm của vốn đầu tư 13

1.1.5 Phân loại vốn đầu tư 15

1.2 Huy động vốn đầu tư của Doanh nghiệp 19

1.2.1 Sự cần thiết huy động vốn đầu tư 19

1.2.2.Huy động vốn đầu tư 20

1.2.3 Đánh giá hiệu quả huy động vốn đầu tư 25

1.2.4 Nhân tố ảnh hưởng đến huy động vốn đầu tư 26

1.3 Kinh nghiệm của các Tập đoàn về huy động vốn đầu tư 33

1.3.1 Kinh nghiệm của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam 33

1.3.2 Kinh nghiệm của Tập đoàn Than khoáng sản Việt Nam 33

1.3.3 Bài học kinh nghiệm 34

Chương 2 THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ DỰ ÁN NGUỒN ĐIỆN TẠI CÔNG TY MẸ-TẬP ĐOÀN ĐIỆN LỰC VIỆT NAM 35

2.1 Giới thiệu chung về Công ty mẹ-Tập đoàn Điện lực Việt Nam 35

2.1.1 Quá trình hình thành Công ty mẹ-Tập đoàn Điện lực Việt Nam 35

2.1.2 Kế hoạch đầu tư và nhu cầu vốn đầu tư cho dự án nguồn điện 2011-2017 tại Công ty mẹ-Tập đoàn Điện lực Việt Nam 41

2.2 Thực trạng huy động vốn đầu tư dự án nguồn điện tại Công ty mẹ-Tập đoàn Điện lực Việt Nam 43

Trang 5

Điện lực Việt Nam 43

2.2.2 Đánh giá hiệu quả huy động vốn đâu tư dự án nguồn điện tại Công ty mẹ-Tập đoàn Điện lực Việt Nam 53

2.3 Đánh giá thực trạng huy động và giải ngân vốn đầu tư dự án nguồn điện tại Công ty mẹ-Tập đoàn Điện lực Việt Nam 63

2.3.1 Kết quả đạt được 63

2.3.2 Nguyên nhân của những hạn chế 66

Chương 3 Đ NH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ DỰ ÁN NGUỒN ĐIỆN TẠI C NG TY MẸ-TẬP ĐOÀN ĐIỆN LỰC VIỆT NAM 74

3.1 Quan điểm định hướng, chiến lược huy động vốn phát triển nguồn điện tại Công ty mẹ-Tập đoàn Điện lực Việt Nam giai đoạn 2017-2030 74

3.1.1 Quan điểm, định hướng phát triển 74

3.1.2 Mục tiêu phát triển 75

3.1.3 Chiến lược huy động vốn đầu tư dự án nguồn điện 76

3.2 Giải pháp huy động vốn đầu tư dự án nguồn điện tại Công ty mẹ-Tập đoàn Điện lực Việt Nam 78

3.2.1 Giải pháp xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật cho hoạt động của EVN 78

3.2.2 Giải pháp cơ chế cho ngành điện để tách hoạt động công ích ra khỏi sản xuất kinh doanh 79

3.2.3 Giải pháp đầu tư đồng bộ nguồn và lưới điện 80

3.2.4 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử sản xuất kinh doanh, đảm bảo tài chính 81

Trang 6

3.2.6 Giải pháp đổi mới công nghệ và phát triển nguồn năng lượng mới 84

3.2.7 Giải pháp hoàn thiện tổ chức quản lý 84

3.3 Kiến nghị 85

3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ 85

3.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 86

3.3.3 Kiến nghị với các Bộ ngành 87

3.3.4 Kiến nghị với địa phương 89

KẾT LUẬN 90

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của EVN giai đoạn 2011-

2017 47 Bảng 2.2 Vốn chủ sở hữu của EVN giai đoạn 2011-2017 51 Bảng 2.3 Nguồn vốn trong nước huy động và giải ngân cho dự án nguồn điện của EVN giai đoạn 2011-2017 54 Bảng 2.4 Nguồn vốn nước ngoài huy động và giải ngân cho dự án nguồn điện của EVN giai đoạn 2011-2017 57 Bảng 2.5 Nguồn vốn huy động và giải ngân cho dự án nguồn điên tại EVN giai đoạn 2011-2017 58

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Nguồn vốn trong nước huy động và giải ngân cho dự án nguồn điện của EVN giai đoạn 2011-2017 50 Biểu đồ 2.2 Nguồn vốn nước ngoài huy động và giải ngân cho dự án nguồn điện của EVN giai đoạn 2011-2017 57 Biểu đồ 2.3 Nguồn vốn huy động và giải ngân cho dự án nguồn điên tại EVN giai đoạn 2011-2017 59

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Với tất cả các nền kinh tế trên thế giới, năng lượng luôn được coi là nguồn “lương thực - thực phẩm sống còn” Với vai trò như vậy, trong năm qua, ngành năng lượng Việt Nam đã có những nỗ lực mạnh mẽ nhằm góp phần vào sự phát triển chung của nền kinh tế

Ngành điện là một ngành đặc biệt trong cơ sở hạ tầng ngoài tính chất là ngành liên quan đến an toàn, an ninh năng lượng quốc gia và đến chính sách

xã hội của Nhà nước, còn là ngành cung cấp yếu tố đầu vào không thể thiếu cho sản xuất công nghiệp và mọi hoạt động khác của xã hội Để đáp ứng tốc

độ tăng trưởng kinh tế, nhu cầu về điện là rất lớn, ngành điện phải đi trước một bước trong việc cung cấp điện, vì vậy vốn đầu tư cho ngành điện là rất lớn,

Ngành điện cũng vậy, nó đã trở thành yếu tố không thể thiếu trong nền kinh tế quốc dân, tham gia phục vụ cho hầu hết các lĩnh vực từ sản xuất công nghiệp đến mọi hoạt động khác của xã hội Điện ra đời đã tạo động lực thúc đẩy cho mọi ngành kinh tế phát triển Do đó nếu thiếu điện sẽ gây ra sự đình trệ trong các hoạt động của nền kinh tế Nhận thức được vai trò to lớn đó của ngành Điện nên ngay từ khi ra đời ngành Điện đã được chú trọng đầu tư phát triển

Tuy nhiên thực tế cho thấy ngành Điện hiện nay chưa cung cấp đủ điện phục vụ nhu cầu sản xuất và tiêu dùng Ai cũng có thể nhận ra đó là do tốc độ phát triển của ngành điện hiện nay vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng điện ngày càng tăng của các Doanh nghiệp và hộ gia đình Nhưng nguyên nhân của thực tế đó là gì? Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực tế đó, trong đó phải kể đến nguyên nhân là ngành Điện chưa được đầu tư thoả đáng Công tác huy động vốn còn khó khăn và vấn đề sử dụng vốn còn nhiều bất cập

Trang 9

Xuất phát từ thực tiễn đó, nhằm đánh giá một cách cụ thể và chính xác hiệu quả huy động vốn đầu tư cho phát triển nguồn điện, qua đó đưa ra các giải pháp góp phần khai thác tối đa những tiềm năng sẵn có, nâng cao hiệu quả huy động vốn đầu tư nguồn điện cho Công ty mẹ-Tập đoàn Điện lực Việt

Nam, tác giả đã chọn đề tài “Huy động vốn đầu tư cho dự án nguồn điện tại Công ty mẹ-Tập đoàn Điện lực Việt Nam” để nghiên cứu

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Vấn đề nghiên cứu huy động vốn cho dự án nguồn điện được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, đặc biệt là sau quy hoạch điện VII ra đời năm 2011 Vì vậy, đã có một số công trình nghiên cứu về huy động vốn đầu tư cho dự án nguồn điện ở những cấp độ khác nhau, cụ thể:

Một số công trình nghiên cứu đã thực hiện:

Đổi mới cơ chế tài chính Tập đoàn điện lực Việt Nam Luận văn Thạc sỹ kinh tế của tác giả Hứa Thị Phước Trang - TP Hồ Chí Minh năm 2008 Luận văn đề cập nghiên cứu tài chính của EVN qua các thời kỳ, kinh nghiệm của quốc tế về cải cách ngành điện để ứng dụng vào EVN Phân tích đánh giá thực trạng cơ chế tài chính của EVN qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao khả năng tài chính, huy động vốn phát triển ngành điện

Phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp cải thiện công tác quản lý các

dự án vay vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) nguồn vốn Ngân hàng Thế giới của Tập đoàn Điện lực Việt Nam Luận văn Thạc sỹ khoa học của tác giả Trần Đức Minh - Hà Nội 2012 Luận văn đã đề cập sâu vào vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA tại EVN Đồng thời, tác giả cũng đã phân tích kỹ vai trò quan trọng của vốn ODA đối với đầu tư nguồn điện, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao công tác sử dụng và huy động vốn ODA cho EVN

Hoàn thiện hệ thống công cụ phân tích hiệu quả Kinh tế - Tài chính dự

án tại EVN Luận văn Thạc sỹ khoa học của tác giả Phạm Thị Hải - Hà Nội

2012 Luận văn phân tích những ưu điểm những hạn chế của các công cụ phân tích hiệu quả Kinh tế- Tài chính EVN đang sử dụng, đề xuất các nội

Trang 10

dung bổ sung nhằm hoàn thiện hệ thống công cụ phân tích hiệu quả kinh tế và tài chính của dự án tại EVN Đồng thời tác giả cũng đã phân tích kỹ những vai trò quan trọng của phân tích hiệu quả Kinh tế- Tài chính dự án nâng cao khả năng huy động vốn cho EVN

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Mục tiêu: Nghiên cứu và làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cơ bản có liên quan đến huy động vốn đầu tư dự án nguồn điện tại Công ty mẹ-Tập đoàn Điện lực Việt Nam

Tổng hợp, phân tích đánh giá thực trạng huy động vốn đầu tư dự án nguồn điện từ đó chỉ ra kết quả đạt được, nguyên nhân của hạn chế trong huy động vốn đầu tư nguồn điện tại Công ty mẹ-Tập đoàn Điện lực Việt Nam Nhiệm vụ: Đề xuất giải pháp, kiến nghị để huy động vốn đầu tư dự án nguồn điện tại Công ty mẹ -Tập đoàn Điện lực Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về huy động vốn đầu tư dự án nguồn điện tại Công ty mẹ -Tập đoàn Điện lực Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu:

+ Về thời gian: Luận văn sử dụng số liệu, báo cáo huy động vốn đầu tư

dự án nguồn điện giai đoạn 2011-2017 kết hợp định hướng đầu tư của Công

ty mẹ-Tập đoàn Điện lực Việt Nam trong năm 2018 và những năm sau

+ Về không gian: Luận văn chỉ áp dụng nghiên cứu huy động vốn đầu tư

dự án nguồn điện tại Công ty mẹ -Tập đoàn Điện lực Việt Nam

+ Về nội dung: Huy động vốn đầu tư dự án nguồn điện gồm nguồn vốn

tự có và nguồn vốn huy động của doanh nghiệp, luận văn không đi vào nghiên cứu nguồn vốn tự có của doanh nghiệp, mà chỉ tập trung nghiên cứu nguồn

vốn huy động của doanh nghiệp

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Trang 11

Phương pháp luận: Đề tài vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, nghiên cứu các vấn đề đặt trong mối quan hệ mật thiết với nhau đồng thời phối kết hợp với các phương pháp kỹ thuật như thống kê, đánh giá, kiểm chứng, kinh tế tổng hợp…

Phương pháp nghiên cứu:

+ Thông tin sơ cấp: Thu thập qua phỏng vấn, điều tra thông qua phát phiếu thăm dò

+ Thông tin thứ cấp: Dựa vào các báo cáo thường niên của các EVN + Phân tích-dự báo-tổng hợp: Trên cơ sở phân tích các các điểm mạnh, điểm yếu của Công ty mẹ -Tập đoàn Điện lực Việt Nam từ đó dự báo từ các

số liệu tài chính, số liệu thống kê, tổng hợp đưa ra các giải pháp nhằm huy động vốn cho dự án nguồn điện tại Công ty mẹ -Tập đoàn Điện lực Việt Nam

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Đưa ra được những lý luận về huy động vốn đầu tư dự án nguồn điện

tại Công ty mẹ -Tập đoàn Điện lực Việt Nam hiện nay

- Phân tích một cách hệ thống về thực trạng huy động vốn đầu tư dự án nguồn điện tại Công ty mẹ -Tập đoàn Điện lực Việt Nam

- Đưa ra giải pháp, kiến nghị nhằm huy động vốn đầu tư dự án nguồn điện tại Công ty mẹ -Tập đoàn Điện lực Việt Nam nói chung và Việt Nam nói riêng

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài lời mở đầu và kết luận, phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương Bao gồm:

Chương 1: Cơ sở khoa học về huy động vốn đầu tư của Doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng huy động vốn đầu tư dự án nguồn điện tại Công

ty mẹ -Tập đoàn Điện lực Việt Nam

Chương 3: Định hướng và giải pháp huy động huy động vốn đầu tư dự

án nguồn điện tại Công ty mẹ-Tập đoàn Điện lực Việt Nam

Trang 12

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ

CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

1.1.Tổng quan về vốn đầu tư của Doanh nghiệp Nhà nước

1.1.1 Doanh nghiệp Nhà nước

Luật Doanh nghiệp (DN) 2014 định nghĩa Doanh nghiệp Nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hay hoạt động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nước giao Doanh nghiệp Nhà nước có tư cách pháp nhân, có quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi vốn do Doanh nghiệp quản lý

Doanh nghiệp Nhà nước có tên gọi, có con dấu riêng và có trụ sở chính trên lãnh thổ Việt Nam

Là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn và trực tiếp thành lập

Doanh nghiệp Nhà nước đều do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trực tiếp ký quyết định thành lập khi thấy việc thành lập Doanh nghiệp là cần thiết Việc thành lập Doanh nghiệp Nhà nước dựa trên nguyên tắc chỉ thành lập theo những ngành, lĩnh vực then chốt, xương sống của nền kinh tế dựa trên những đòi hỏi thực tiễn của nền kinh tế thời điểm dó và chủ trương của Đảng

và ngành nghề lĩnh vực đó

Doanh nghiệp Nhà nước do Nhà nước đầu từ vốn nên nó thuộc sở hữu Nhà nước, tài sản của doanh nghiệp Nhà nước là một bộ phận của tài sản Nhà nước Doanh nghiệp Nhà nước sau khi được thành lập là một chủ thể kinh doanh, tuy nhiên chủ thể kinh doanh này không có quyền sở hữu đối với tài sản trong Doanh nghiệp mà chỉ là người quản lý tài sản và kinh doanh trên cơ

sở sở hữu của Nhà nước Nhà nước giao vốn cho Doanh nghiệp, Doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc bảo toàn và phát triển vốn mà Nhà nước giao

Trang 13

Doanh nghiệp Nhà nước do Nhà nước tổ chức quản lý và hoạt động theo mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nước giao

Nhà nước quản lý Doanh nghiệp Nhà nước thông qua cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền theo phân cấp của Chính phủ Bao gồm những nội dung sau:

Nhà nước quy định mô hình cơ cấu tổ chức quản lý trong từng loại Doanh nghiệp Nhà nước phù hợp với quy mô của nó

Những quy định chức năng nhiệm vụ quyền hạn của các cơ cấu tổ chức trong Doanh nghiệp Nhà nước như Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc Những quy định thẩm quyền trình tự thủ tục của việc bổ nhiệm miễn nhiệm khen thưởng kỷ luật các chức vụ quan trọng của Doanh nghiệp như chủ tịch Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc

Hoạt động của Doanh nghiệp chịu sự chi phối của Nhà nước về mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nước giao

Nếu Nhà nước giao cho Doanh nghiệp Nhà nước nào thực hiện hoạt động kinh doanh thì Doanh nghiệp Nhà nước đó phải kinh doanh có hiệu quả, Doanh nghiệp Nhà nước nào được giao thực hiện hoạt động công tích thì Doanh nghiệp Nhà nước đó phải thực hiện hoạt động công ích nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội

Doanh nghiệp Nhà nước là một pháp nhân chịu trách nhiệm hữu hạn về mọi hoạt động sản xuất kinh doanh trong phạm vi số vốn Nhà nước giao Doanh nghiệp Nhà nước được phân loại theo nhiều phương diện, góc độ khác nhau

Dựa vào mục đích hoạt động gồm:

Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động kinh doanh: Là doanh nghiệp Nhà nước hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu nhằm mục tiêu lợi nhuận

Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích: Là Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ công cộng theo các chính sách của Nhà nước trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc tế phòng an ninh

Trang 14

Việc phân loại theo tiêu thức này giúp Doanh nghiệp tập trung vào mục tiêu hoạt động chính của mình Nhà nước có cơ chế quản lý và có chính sách phù hợp với từng loại Doanh nghiệp

Đồng thời thực hiện việc mở rộng quyền và trách nhiệm của loại Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận nhằm thực hiện một bước việc đưa loại Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động kinh doanh hoạt động trên cùng mặt bằng pháp lý và bình đẳng với các Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác đảm bảo khả năng cạnh tranh của loại Doanh nghiệp này Dựa vào quy mô và hình thức gồm:

Doanh nghiệp Nhà nước độc lập: Là doanh nghiệp Nhà nước không ở trong cơ cấu tổ chức của Doanh nghiệp khác

Doanh nghiệp Nhà nước thành viên: Là Doanh nghiệp nằm trong cơ cấu

tổ chức của một Doanh nghiệp lớn hơn

Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty Nhà nước: Là Doanh nghiệp Nhà nước

có quy mô lớn bao gồm các đơn vị thành viên có quan hệ gắn bó với nhau về lợi ích kinh tế, tài chính, công nghệ, thông tin, đào tạo trong một hoặc một

số chuyên ngành kinh tế kỹ thuật chính do Nhà nước thành lập nhằm tăng cường, tích tụ, tập trung, phân công chuyên môn hoá và hợp tác sản xuất để thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao, nâng cao khả năng và hiệu quả kinh doanh của các đơn vị thành viên và của toàn Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế

Dựa vào cách thức tổ chức, quản lý Doanh nghiệp gồm:

Doanh nghiệp Nhà nước có Hội đồng thành viên: Là doanh nghiệp Nhà nước mà ở đó Hội đồng thanh viên thực hiện chức năng quản lý hoạt động của Doanh nghiệp chịu trách nhiệm trước Chính phủ hoặc cơ quan quản lý Nhà nước được Chính phủ uỷ quyền về sự phát triển của Doanh nghiệp

Doanh nghiệp Nhà nước không có Hội đồng thành viên: Là Doanh nghiệp Nhà nước mà ở đó chỉ có giám đốc Doanh nghiệp theo chế độ thủ trưởng

Trang 15

Đối với Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động kinh doanh: Được sử dụng vốn và các quỹ của Doanh nghiệp để phục vụ kịp thời các nhu cầu trong kinh doanh theo nguyên tắc bảo toàn và có hoàn trả, Doanh nghiệp Nhà nước có thể tự huy động vốn để hoạt động kinh doanh, nhưng không thay đổi hình thức sở hữu, được phát hành trái phiếu theo quy định của pháp luật, được thế chấp giá trị quyền sử dụng đất gắn liền với tài sản thuộc quyền quản lý của Doanh nghiệp tại các ngân hàng Việt Nam để vay vốn kinh doanh theo quy định của pháp luật

Đối với Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích : được Nhà nước cấp kinh phí theo dự toán hàng năm phù hợp với nhiệm vụ kế hoạch Nhà nước giao cho Doanh nghiệp, được huy động vốn, gọi vốn liên doanh, thế chấp giá trị quyền sử dụng đất gắn liền với tài sản thuộc quyền quản lý của Doanh nghiệp tại các ngân hàng của Việt Nam để vay vốn phục vụ hoạt động công ích theo quy định của pháp luật khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp phép

1.1.2 Tập đoàn kinh tế

Hình thành và phát triển từ hàng trăm năm nay, Tập đoàn kinh tế là mô hình rất quen thuộc đối với những nước phát triển trên thế giới Tùy theo từng quốc gia, Tập đoàn được gọi theo những tên khác nhau như ở Đức, Pháp,

Mỹ gọi là Cartel, Syndicate, Trust, Group , ở Nhật Bản trước chiến tranh thế giới thứ hai là Zaibatsu và sau chiến tranh gọi là Keiretsu , ở Hàn Quốc là Chaebol , Ấn Độ là Business houses…,Trung Quốc gọi Tập đoàn Doanh nghiệp

- Quan niệm về Tập đoàn kinh tế

Sự đa dạng về tên gọi hay thuật ngữ sử dụng nói lên tính đa dạng của hình thức liên kết được khỏi quát chung là Tập đoàn kinh tế Tuy theo điều kiện, thời gian, trình độ phát triển kinh tế, sự phân công chuyên môn hóa, sự hợp tác giữa các Doanh nghiệp, cách tiếp cận và mục tiêu quản lý của mỗi

Trang 16

quốc gia, quan niệm cũng như nhìn nhận về Tập đoàn kinh tế cũng cú sự khác nhau nhất định

Tập đoàn kinh tế là một tổ hợp các Công ty độc lập về mặt pháp lý gồm một Công ty mẹ và nhiều Công ty hay chi nhánh góp vốn Cổ phần chịu sự kiểm soát của Công ty mẹ (Từ điển Business English của Longman)

Tập đoàn Doanh nghiệp là một nhóm các Doanh nghiệp độc lập về mặt pháp lý nắm giữ Cổ phần của nhau và thiết lập được mối quan hệ mật thiết về nguồn vốn, nguồn nhân lực, công nghệ, cung ứng nguyên vật liệu, tiêu thụ sản phẩm (Từ điển kinh tế Nhật Bản)

Tại Malaysia và Thái Lan, Tập đoàn kinh tế được xác định là tổ hợp kinh doanh với các mối quan hệ đầu tư liên doanh, liên kết và hợp đồng Nòng cốt của các Tập đoàn là cơ cấu Công ty mẹ - Công ty con tạo thành một hệ thống các liên kết chặt chẽ trong tổ chức và trong hoạt động Các thành viên trong tập đoàn đều có tư cách pháp nhân độc lập và thường hoạt động trong cùng mặt bằng pháp lý

Tại Trung Quốc, Tập đoàn Doanh nghiệp là một hình thức liên kết giữa các Doanh nghiệp, bao gồm Công ty mẹ và các Doanh nghiệp thành viên (Công ty con và các Doanh nghiệp liên kết khác), trong đó Công ty mẹ là hạt nhân của Tập đoàn và là đầu mối liên kết giữa các Doanh nghiệp thành viên với nhau Các Doanh nghiệp thành viên tham gia liên kết Tập đoàn phải có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của một pháp nhân độc lập Bản thân Tập đoàn không có tư cách pháp nhân

Tại Việt Nam, Pháp luật kinh tế của Việt Nam định nghĩa Tập đoàn tại điều 188 Luật Doanh nghiệp (DN) 2014: “Tập đoàn kinh tế là nhóm Công ty

có mối quân hệ với nhau thông qua sở hữu Cổ phần, phần vốn góp hoặc liên kết khác Không phải là loại hình Doanh nghiệp, không có tư các pháp nhân, không phải đăng ký thành lập Doanh nghiệp Công ty Mẹ, Công ty con và các thành viên trong Tập đoàn có quyền và nghĩa vụ của Doanh nghiệp độc lập theo quy định của pháp luật

Trang 17

- Đặc điểm của Tập đoàn kinh tế

Mặc dù không có định nghĩa thống nhất và duy nhất về Tập đoàn kinh tế nhưng quan niệm về Tập đoàn kinh tế của các nước trên thế giới cũng có những điểm chung nhất:

Tập đoàn kinh tế là tổ hợp lớn các Doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoạt động trong một ngành hay một số ngành khác nhau liên kết với nhau chủ yếu thông qua quan hệ về đầu tư vốn Ngoài ra, các Doanh nghiệp trong tập đoàn cũng có mối quan hệ với nhau về công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu và các liên kết khác xuất phát từ lợi ích của các Doanh nghiệp tham gia liên kết

Tập đoàn kinh tế thường được tổ chức theo mô hình Công ty mẹ - Công

ty con, trong đó Công ty mẹ nắm giữ nhiều Cổ phần của các Công ty khác, là hạt nhân của Tập đoàn, là đầu mối liên kết các Doanh nghiệp thành viên, Doanh nghiệp liên kết với nhau; nắm quyền kiểm soát, chi phối các quyết sách, chiến lược phát triển và nhân sự, chi phối hoạt động của thành viên về tài chính và chiến lược phát triển Đặc trưng ở đây là quyền lãnh đạo bắt nguồn từ tỷ lệ đa số Cổ phần chứ không do Nhà nước hay quyền lực nào khác áp đặt Công ty mẹ có thể thực hiện một hoặc cả hai chức năng : chức năng sản xuất - kinh doanh, chức năng đầu tư tài chính hay kinh doanh vốn đầu tư vào các Doanh nghiệp khác

Bản thân Tập đoàn không có tư cách pháp nhân, mỗi đơn vị thành viên của Tập đoàn là một pháp nhân độc lập Các Doanh nghiệp trong Tập đoàn kể

cả Công ty mẹ và các Công ty thành viên đều bình đẳng với nhau trước pháp luật

Quy mô Tập đoàn rất đa dạng nhưng nhìn chung là tương đối lớn, hoạt động đa ngành Cơ cấu tổ chức Tập đoàn kinh tế gồm nhiều tầng nấc, nhiều

mô hình tổ chức khác nhau Mối quan hệ giữa Công ty mẹ và các Doanh nghiệp thành viên ở các tầng nấc khác nhau cũng khác nhau, phụ thuộc vào mối quan hệ liên kết giữa các Doanh nghiệp trong Tập đoàn

Trang 18

Tập đoàn là một tổ hợp không có tư cách pháp nhân nên không phải chịu trách nhiệm liên đới đối với trách nhiệm và nghĩa vụ của Doanh nghiệp khác Công ty mẹ và các Công ty thành viên tự chịu trách nhiệm về việc đầu tư trong giới hạn của khoản vốn do minh bỏ ra

1.1.3 Khái niệm về vốn và vốn đầu tư

Theo cách hiểu thông thường, vốn là điều kiện tiền đề, để tất cả các hoạt động trong xã hội được diễn ra, đặc biệt là đối với các hoạt động về kinh tế, với các hoạt động về kinh tế, vốn còn là mục đích của các hoạt động này Ở tầm vĩ mô, vốn là một trong những nhân tố quan trọng vào bậc nhất đối với quá trình tăng trưởng và phát triển Kinh tế - Xã hội của mọi Quốc gia Trong lịch sử phát triển kinh tế, khái niệm vốn được tiếp cận dưới nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau Các nhà kinh tế học thuộc nhiều trường phái kinh tế học trước Mác đã công bố nhiều công trình nghiên cứu vốn thông qua phạm trù tư bản và đều đi đến kết luận thống nhất: Vốn là phạm trù kinh tế

Khi nghiên cứu sự chuyển hóa của tiền thành tư bản, trên cơ sở kế thừa

có chọn lọc tư tưởng của các nhà kinh tế học tiền bối, Mác đã cho rằng giá trị ứng ra lúc ban đầu chẳng những được bảo toàn trong lưu thông, mà nó còn gia tăng về giá trị Mác đã cho thấy rõ bản chất và chức năng của tư bản sinh lời, đồng thời để giá trị thành tư bản và tư bản sinh lời nhất thiết phải trải qua sự vận động Điều đó có nghĩa là tư bản có mặt trong lưu thông, tham gia vào quá trình sản suất, chính thông qua quá trình vận động, tư bản sinh sôi nẩy nở

và lớn lên không ngừng

Ngày nay, do yêu cầu cao của sự phát triển, vốn là yếu tố đóng vai trò quan trọng của không chỉ hầu hết các Quốc gia đang phát triển và kém phát triển, mà ngay cả những quốc gia phát triển cũng có nhu cầu cao về vốn Vì lẽ

đó, phạm trù vốn trong phát triển kinh tế vẫn được các nhà kinh tế học tiếp tục nghiên cứu và tiếp cận dưới nhiều giác độ khác nhau

Dưới góc độ tài sản, cuốn “Dictionnary of Economic” Từ điển Kinh tế

của Penguin Refrence, do hai dịch giả Phạm Đăng Bình và Nguyễn Văn Lập

Trang 19

dịch, đưa ra khái niệm về vốn như sau: “Vốn là những tài sản có khả năng tạo

ra thu nhập và bản thân nó cũng được cái khác tạo ra” [1, tr 56]

Dưới góc độ nhân tố đầu vào, trong tác phẩm “Lịch sử tư tưởng kinh tế”, hai tác giả L.Đ.Uđanxôp và F.I.Pôlianxki kết luận: Vốn là “một trong ba yếu

tố đầu vào phục vụ cho sản suất (lao động, đất đai và vốn) Vốn bao gồm các sản phẩm lâu bền được chế tạo để phục vụ sản suất (tức là máy móc, công

cụ, thiết bị, nhà cửa, kết hợp dự trữ thành phẩm hoặc bán thành phẩm)” [67,

tr 195]

Ở Việt Nam, trong cuốn “Từ điển tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ học cũng đã chỉ ra: “Vốn là tiền của bỏ ra lúc đầu, dùng trong sản suất kinh doanh, nhằm mục tiêu sinh lời” [76, tr 126]

Như vậy, có thể hiểu, “vốn sẽ bao gồm bất cứ thứ gì đưa lại một luồng thu nhập qua thời gian”, “Sự phát triển có thể coi như là một quá trình khái quát của sự tích lũy vốn”

Những cách tiếp cận nêu trên về vốn cho thấy rõ tính đa dạng, nhiều hình thái tồn tại, vốn có thể là tiền hay tài sản được giá trị hóa Mặt khác, với tư cách là vốn thì tiền hay tài sản phải được đầu tư vào hoạt động sản suất - kinh doanh để tạo ra hàng hóa, dịch vụ nhằm mục tiêu có thu nhập trong tương lai Nghĩa là, vốn luôn gắn với sự vận động và quan trọng là đảm nhiệm chức năng sinh lời

Vốn đầu tư là việc tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định là điều kiện quyết định đến sự tồn tại của mọi chủ thể kinh tế, để thực hiện được điều này, các tác nhân trong nền kinh tế phải dự trữ tích luỹ các nguồn lực Khi các nguồn lực này được sử dụng vào quá trình sản xuất để tái sản xuất ra các tài sản cố định của nền kinh tế thì nó trở thành vốn đầu tư Vậy vốn đầu tư chính là tiền tích luỹ của xã hội của các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ là vốn huy động của dân và vốn huy động từ các nguồn khác, được đưa vào sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực sẵn có và tạo tiềm lực mới cho nền sản xuất xã hội

Trang 20

1.1.4 Bản chất, vai trò, đặc điểm của vốn đầu tư

1.1.4.1 Bản chất của vốn đầu tư

Vốn đầu tư là số tiền và những tài sản hợp pháp khác được sử dụng để thực hiện các hoạt động đầu tư

Vốn đầu tư nói chung, vốn đầu tư của dự án nói riêng là số tiền bỏ ra nhằm tăng cường tài sản cố định của tất cả các ngành sản suất vật chất và không sản xuất vật chất thuộc nền kinh tế quốc dân Mục đích của vốn đầu tư nhằm thỏa mãn đầy đủ nhu cầu thường xuyên tăng lên và sự phát triển toàn diện trong xã hội, bằng cách phát triển không ngừng với nhịp độ nhanh nền sản suất xã hội, phân bổ hợp lý sức sản suất trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân, không ngừng nâng cao năng suất lao động, góp phần tích cực vào công cuộc Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tích lũy được thể hiện dưới dạng giá trị được chuyển hóa thành vốn đầu tư đáp ứng các yêu cầu phát triển của xã hội

Về bản chất, nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tiết kiệm hay tích lũy mà nền kinh tế có thể huy động được để đưa vào quá trình tái sản xuất

xã hội

Nguồn vốn đầu tư phát triển có thể huy động được từ nhiều kênh ở cả trong nước và ngoài nước

1.1.4.2 Vai trò của vốn đầu tư

Hoạt động đầu tư của Doanh nghiệp đòi hỏi phải có vốn đầu tư, đầu tiên

là nó giúp cho hoạt động đầu tư được thực hiện, sau đó là duy trì hoạt động và xây dựng kế hoạch kinh doanh cụ thể và chắc chắn Khi vốn phát triển, nó sẽ giúp Doanh nghiệp mở rộng đầu tư cả chiều rộng và chiều sâu, qua đó tác động ngược lại làm tăng lượng vốn sẵn có của Doanh nghiệp Trong kinh doanh vốn là công cụ cần thiết hàng đầu để Doanh nghiệp thực hiện ý định đầu tư của mình Do đó Doanh nghiệp phải tổ chức huy động vốn đầu tư, sử dụng vốn đầu tư sao cho có hiệu quả cao nhất, muốn vậy phải xem xét, cân

Trang 21

nhắc phương thức huy động vốn đầu tư, cơ cấu vốn hợp lý với chi phí sử dụng vốn vay thấp nhất và làm gia tăng lợi ích của vốn chủ sở hữu Nền kinh

tế thị trường với chính sách phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, Nhà nước khuyến khích các thành phần kinh tế tự bỏ vốn đầu tư Vốn đầu tư trở thành yếu tố quan trọng hàng đầu, là điều kiện tiên quyết của mọi quá trình đầu tư

1.1.4.3 Đặc điểm của vốn đầu tư

+ Vốn đầu tư đòi hỏi quy mô lớn thu hồi trong thời gian dài

Thông thường quyết định đầu tư là những quyết định đầu tư có tính chất chiến lược, không chỉ nhằm cải tiến đổi mới cơ sở vật chất kỹ thuật - công nghệ mà còn nhằm phục vụ mục đích thay đổi cải thiện toàn bộ điều kiện về sản xuất kinh doanh, mở rộng quy mô phát triển của Doanh nghiệp

Vốn đầu tư chủ yếu được thu hồi trong thời gian dài, giá trị của tài sản được hình thành từ vốn đầu tư dịch chuyển dần vào giá trị sản phẩm hàng hóa dịch vụ sản xuất ra

+ Vốn đầu tư là vốn dài hạn

Thời kỳ đầu tư tính từ khi khởi công thực hiện dự án đến khi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động Nhiều công trình đầu tư có thời gian đầu tư kéo dài hàng chục năm Do vốn nằm trong suốt quá trình thực hiện đầu tư nên để nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, cần tiến hành phân kỳ đầu tư, bố trí vốn và các nguồn lực tập trung hoàn thành dứt điểm từng hạng mục công trình, quản lý chặt chẽ tiến độ kế hoạch đầu tư, khắc phục tình trạng thiếu vốn, nợ đọng vốn đầu tư

+ Vốn đầu tư có tính rủi ro cao

Đầu tư là hy vọng ở tương lai, trong khi đó tương lai là điều không chắc chắn và ẩn chứa nhiều biến số bất định Những lợi ích mà hoạt động đầu tư đưa lại chịu nhiều tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô cũng như các yếu tố

vi mô Chính vì thế, Doanh nghiệp thực hiện đầu tư luôn phải đối mặt với rủi

ro Hiệu quả đầu tư là lợi ích thu được trong thời gian dài ở tương lai Về mặt

Trang 22

tài chính, lợi ích của đầu tư là dòng tiền thu được do dự án thu được trong thời gian dài ở tương lai Điều đó cũng làm cho việc đánh giá hiệu quả của đầu tư là vấn đề khó khăn, không đơn giản

1.1.5 Phân loại vốn đầu tư

Trong quá trình đầu tư để quản lý và sử dụng vốn đầu tư một cách có hiệu quả các Doanh nghiệp đều tiến hành phân loại vốn Tùy vào mục đích và loại hình của từng Doanh nghiệp mà vốn đầu tư được phân loại theo các tiêu thức khác nhau

1.1.5.1 Phân loại vốn đầu tư theo nguồn hình thành

* Nguồn vốn tự có của doanh nghiệp

Là các nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của Doanh nghiệp đó Nó có thể

là do chủ sở hữu đầu tư, phần khấu hao hàng năm, vốn tự bổ sung từ lợi nhuận và từ các quĩ của Doanh nghiệp, vốn ngân sách Nhà nước hỗ trợ cho các dự án của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần sự tham gia của Nhà nước

* Nguồn vốn huy động của Doanh nghiệp

+ Nguồn vốn trong nước:

- Vốn tín dụng đầu tư Phát triển của Nhà nước

Ngân hàng Phát triển Việt Nam là tổ chức tài chính thuộc sở hữu 100% của Nhà nước và hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là một hình thức quá độ chuyển từ hình thức cấp phát ngân sách sang phương thức tín dụng đối với các dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp

- Nguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng, các ngân hàng

Có thể nói rằng nguồn vốn vay ngân hàng là một trong những nguồn vốn quan trọng nhất, không chỉ đối với bản thân các Doanh nghiêp mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân Sự hoạt động và phát triển của các Công ty, các Doanh nghiệp đều gắn liền với các dịch vụ tài chính do các ngân hàng thương mại cung cấp, trong đó có việc cung ứng các nguồn vốn tín dụng

Trang 23

- Vốn liên doanh liên kết

Các Doanh nghiệp có thể liên doanh, hợp tác với nhau để huy động thực hiện mở rộng hoạt động đầu tư

- Nguồn vốn từ khu vực tư nhân

Nguồn vốn từ khu vực tư nhân bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần tích luỹ của các Doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã

- Thị trường vốn

Thị trường vốn có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế của các nước có nền kinh tế thị trường Nó là kênh bổ sung các nguồn vốn trung và dài hạn cho các chủ đầu tư bao gồm cả Nhà nước và các loại hình Doanh nghiệp Thị trường vốn mà cốt lõi là thị trường chứng khoán như một trung tâm thu gom mọi nguồn vốn tiết kiệm của từng hộ dân cư, thu hút mọi nguồn vốn nhàn rỗi của các Doanh nghiệp, các tổ chức tài chính, chính phủ trung ương và chính quyền địa phương tạo thành một nguồn vốn đầu tư khổng lồ

+ Nguồn vốn nước ngoài

Có thể xem xét nguồn vốn đầu tư nuớc ngoài trên phạm vi rộng hơn đó

là dòng lưu chuyển vốn quốc tế (international capital flows) Về thực chất, các dòng lưu chuyển vốn quốc tế là biểu thị quá trình chuyển giao nguồn lực tài chính giữa các quốc gia trên thế giới Trong các dòng lưu chuyển vốn quốc tế, dòng từ các nước phát triển đổ vào các nước đang phát triển thường được các nước thế giới thứ ba đặc biệt quan tâm Dòng vốn này diễn ra với nhiều hình thức Mỗi hình thức có đặc điểm, mục tiêu và điều kiện thực hiện riêng, không hoàn toàn giống nhau Theo tính chất lưu chuyển vốn, có thể phân loại các nguồn vốn nước ngoài chính như sau

- Nguồn vốn ODA

Đây là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế và các chính phủ nước ngoài cung cấp với mục tiêu trợ giúp các nước đang phát triển So với các hình thức tài trợ khác, ODA mang tính ưu đãi cao thời hạn cho vay tương đối lớn

Trang 24

- Nguồn vốn từ các ngân hàng thương mại quốc tế

Điều kiện ưu đãi dành cho loại vốn này không dễ dàng như đối với nguồn vốn ODA Tuy nhiên, bù lại nó có ưu điểm rõ ràng là không có gắn với các ràng buộc về chính trị, xã hội Mặc dù vậy, thủ tục vay đối với nguồn vốn này thường là tương đối khắt khe, thời gian trả nợ nghiêm ngặt, mức lãi suất cao là những trở ngại không nhỏ đối với các nước nghèo

- Nguồn vốn tín dụng thương mại

Tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các Doanh nghiệp, được thực hiện dưới hình thức mua bán chịu, mua bán trả chậm hay trả góp hàng hóa Là loại tín dụng rất phổ biến trong tín dụng quốc tế, là loại tín dụng giữa các nhà Doanh nghiệp cấp cho nhau vay, không có sự tham gia của ngân hàng hoặc cũng có thể hiểu là loại tín dụng được cấp bằng hàng hóa dịch vụ chứ không phải bằng tiền

Đến thời hạn đã thỏa thuận, Doanh nghiệp mua phải hoàn trả cả vốn gốc

và lãi cho Doanh nghiệp bán dưới hình thái tiền tệ

Khi Doanh nghiệp mua nguyên liệu, hàng hóa chưa phải trả tiền ngay là Doanh nghiệp đã được nhà cung cấp cho vay nên hình thức này còn được gọi

là tín dụng của nhà cung cấp

Để đảm bảo người mua phải trả nợ đúng hạn, bên cạnh sự tin tưởng, người bán chịu còn đòi hỏi một chứng cứ pháp lý, đó chính là giấy tờ chứng nhận quan hệ mua bán chịu nêu trên, giấy tờ này có thể do chủ nợ lập để đòi tiền, hoặc do người mua lập để cam kết trả tiền, nó được gọi là thương phiếu

Có ba loại tín dụng thương mại:

+ Tín dụng thương mại cấp cho nhà nhập khẩu

+ Tín dụng thương mại cấp cho người xuất khẩu

+ Tín dụng nhà môi giới cấp cho người xuất khẩu và nhập khẩu

- Thị trường vốn quốc tế

Với xu hướng toàn cầu hoá, mối liên kết ngày càng tăng của các thị trường vốn Quốc gia vào hệ thống tài chính Quốc tế đã tạo nên vẻ đa dạng về

Trang 25

các nguồn vốn cho mỗi Quốc gia và làm tăng khối lượng vốn lưu chuyển trên phạm vi toàn cầu Ngay tại nhiều nước đang phát triển, dòng vốn đầu tư qua thị trường chứng khoán cũng gia tăng mạnh mẽ

Trên đây là cách phân loại vốn theo nguồn hình thành, nó là cơ sở để Doanh nghiệp lựa chọn nguồn tài trợ phù hợp theo loại hình sở hữu, ngành nghề kinh doanh, quy mô, quản lý, trình độ khoa học kỹ thuật cũng như chiến lược đầu tư

1.1.5.2 Phân loại vốn đầu tư theo hình thức chu chuyển

- Vốn cố định: Vốn cố định là giá trị biểu hiện bằng tiền của tổng tài sản

cố định trong Doanh nghiệp Tài sản cố định thuộc loại tài sản có giá trị lớn

và có thời gian sử dụng lâu dài Tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh Số vốn đầu tư ứng trước để mua sắm, xây dựng, lắp đặt tài sản cố định hữu hình hay vô hình gọi là vốn cố định của Doanh nghiệp Nói cách khác, vốn cố định của Doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước Quy

mô của vốn cố định nhiều hay ít sẽ tác động đến quy mô của tài sản cố định, ngược lại những đặc điểm vận động của tài sản cố định trong quá trình sử dụng lại có ảnh hưởng quyết định, chi phối đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển vốn cố định

- Vốn lưu động: Vốn lưu động là giá trị bằng tiền của các tài sản lưu động Có hai loại tài sản lưu động

+ Các tài sản lưu động sản xuất: Có đặc điểm gắn trực tiếp với quá trình sản xuất, chẳng hạn như nguyên liệu, vật liệu, các sản phẩm dở dang, các bán thành phẩm

+ Tài sản lưu động lưu thông: Sản phẩm chưa tiêu thụ, tiền mặt, các chứng khoán dễ chuyển nhượng (tín phiếu, trái phiếu ) các khoản chờ kết chuyển, chi phí

Khác với tài sản cố định, tài sản lưu động của Doanh nghiệp có đặc điểm

là hình thái vật chất luôn luôn thay đổi để tạo ra sản phẩm hàng hóa, vốn lưu động của Doanh nghiệp cũng không ngừng vận động qua các giai đoạn của

Trang 26

chu kỳ kinh doanh: dự trữ sản xuất, sản xuất và lưu thông Quá trình này được diễn ra liên tục, thường xuyên lặp lại theo chu kỳ được gọi là quá trình tuần hoàn của vốn lưu động và giá trị của tài sản lưu động chuyển toàn bộ vào sản phẩm sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh

Việc nghiên cứu các phương pháp phân loại vốn trên đây có tác dụng giúp cho các Doanh nghiệp một mặt tăng cường quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn hiện có, mặt khác có thể đa dạng hoá các kênh huy động vốn

1.2 Huy động vốn đầu tư của Doanh nghiệp

1.2.1 Sự cần thiết huy động vốn đầu tư

Một trong những nội dung chính của kế hoạch phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội trong giai đoạn 2011-2030 là tập trung rà soát và hoàn chỉnh quy hoạch xây dựng trong cả nước bảo đảm sử dụng tiết kiệm các nguồn lực

và hiệu quả kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường Để thực hiện được chiến lược

đó Nhà nước khuyến khích đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư trong nước và nước ngoài để phát triển kết cấu hạ tầng, trong đó ưu tiên đầu tư dự án nguồn điện

Cơ cấu nguồn vốn đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội đóng vai trò

vô cùng quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu của kế hoạch phát triển đất nước Kết cấu hạ tầng được xem là nền tảng vật chất trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia cũng như mỗi vùng, lãnh thổ Kinh tế càng phát triển thì yêu cầu phát triển kết cấu hạ tầng càng cao, thậm chí có ý kiến còn cho rằng phát triển kết cấu hạ tầng phải bằng hai lần tăng trưởng, nếu không sẽ là rào cản của tăng trưởng kinh tế Nhưng, như đã nêu ở trên, kết cấu hạ tầng là những công trình phức tạp, để kiến tạo cần một lượng vốn lớn, thời gian thu hồi vốn dài Song kết cấu hạ tầng là công trình có tính chất phục vụ, đa mục đích, tạo đà cho các ngành kinh tế phát triển, nên không thể thiếu trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia Nhưng quy mô vốn cho phát triển cơ sở hạ tầng rất lớn, vì vậy, việc đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư để phát triển cơ sở hạ tầng trở thành vấn đề bức thiết, đòi hỏi sự nỗ lực cố gắng

Trang 27

của toàn Đảng, toàn dân và các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương

1.2.2 Huy động vốn đầu tư

Vốn đầu tư là điều kiện không thể thiếu được để một Doanh nghiệp tiến hành hoạt động đầu tư các dự án Khi muốn triển khai dự án, điều kiện cần đầu tiên phải có vốn

Chính vì lẽ đó, huy động vốn trong Doanh nghiệp luôn được coi là một trong những ưu tiên hàng đầu Thực hiện tốt huy động vốn đầu tư là cũng đồng nghĩa với thành công trong xây dựng một cơ cấu vốn hợp lý với chi phí thấp, tạo điều kiện thuận lợi cho Doanh nghiệp thực hiện dự án

1.2.2.1 Huy động vốn tự có

- Khấu hao tài sản cố định: Việc xác định mức khấu hao cụ thể phụ thuộc vào thực tiễn sử dụng tài sản cố định cũng như ý muốn chủ quan của con người Đối với Doanh nghiệp Nhà nước trong chừng mực nhất định phải phụ thuộc ý đồ của Nhà nước, các Doanh nghiệp khác có thể tự lựa chọn thời hạn sử dụng và phương pháp tính khấu hao cụ thể Trong chính sách tài chính của mình, Doanh nghiệp có thể lựa chọn và điều chỉnh khấu hao tài sản cố định và coi đây là một nguồn cung ứng vốn bên trong của mình

- Tích luỹ tái đầu tư: Phụ thuộc vào hai nhân tố cụ thể và tổng số lợi nhuận thu được trong từng thời kỳ kinh doanh và chính sách phân phối lợi nhuận sau thuế của Doanh nghiệp

- Điều chỉnh cơ cấu tài sản: Phương thức này tuy không làm tăng tổng số vốn sản xuất - kinh doanh nhưng lại có tác dụng rất lớn trong việc tăng vốn cho các hoạt động cần thiết trên cơ sở giảm vốn ở những nơi không cần thiết

- Ngân sách Nhà nước cấp: Với hình thức này Doanh nghiệp sẽ nhận được lượng vốn xác định từ ngân sách Nhà nước cấp Thông thường hình thức này không đòi hỏi nhiều điều kiện ngặt nghèo đối với Doanh nghiệp được cấp vốn như các hình thức huy động vốn khác Tuy nhiên, càng ngày hình thức này càng bị thu hẹp cả về quy mô vốn và phạm vi được cấp Hiện

Trang 28

nay đối tượng được hưởng hình thức này là các Doanh nghiệp Nhà nước xác định duy trì để đóng vai trò công cụ điều tiết kinh tế, các dự án đầu tư ở những lĩnh vực sản xuất hàng hoá công cộng, hoạt động công ích mà tư nhân không muốn hoặc không có khả năng

1.2.2.2 Huy động vốn vay

- Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước

Ngân hàng Phát triển Việt Nam là tổ chức tài chính thuộc sở hữu 100% của Nhà nước và hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận Ngoài vốn tự có, ngân hàng huy động vốn có kỳ hạn nhằm đảm bảo cân đối vốn được thuận lợi hơn cho hoạt động tín dụng, vốn chủ yếu là cho vay đầu tư trung - dài hạn, từ

đó nâng cao chất lượng kế hoạch huy động và sử dụng vốn Thời gian vừa qua vốn huy động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam chủ yếu là từ phát hành TPCP và vay các đối tác truyền thống như Tiết kiệm bưu điện, Bảo hiểm xã hội, Kho bạc Nhà nước Một nguồn vốn nữa được bổ sung cho ngân hàng Phát triển Việt Nam là nguồn vốn vay để cho vay lại Đây là nguồn vốn ODA được cân đối ngoài Ngân sách Nhà nước, với kỳ hạn vay dài, lãi suất thấp, rất phù hợp để đầu tư dự án, tập trung chủ yếu vào các dự án có tổng mức đầu tư lớn Ngoài ra Ngân hàng Phát triển còn mở rộng các hình thức huy động vốn với các đối tác, tổ chức nước ngoài với thời hạn dài, lãi suất phù hợp

Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước có tác dụng tích cực trong việc giảm đáng kể bao cấp vốn trực tiếp của Nhà nước cho các Doanh nghiệp Nhà nước Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là một hình thức quá độ chuyển từ phương thức cấp phát vốn ngân sách sang phương thức tín dụng Thông qua nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển, Nhà nước thực hiện khuyến khích phát triển kinh tế xã hội toàn diện theo định hướng chiến lược phát triển tổng thể

- Nguồn vốn vay từ các tổ chức, ngân hàng thương mại

Có thể nói rằng vốn vay tổ chức, ngân hàng thương mại là một trong những nguồn vốn đầu tư quan trọng nhất, không chỉ đối với sự phát triển của

Trang 29

bản thân Doanh nghiệp mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân Sự hoạt động và phát triển của các Doanh nghiệp đều gắn liền với các dịch vụ tài chính do các ngân hàng thương mại cung cấp, trong đó có việc cung ứng các nguồn vốn Không một Doanh nghiệp nào không vay vốn ngân hàng hoặc không sử dụng tín dụng thương mại nếu Doanh nghiệp đó muốn tồn tại vững chắc trên thương trường Trong quá trình hoạt động, các Doanh nghiệp thường vay ngân hàng để đảm bảo nguồn tài chính cho các hoạt động đầu tư, đặc biệt là đảm bảo có đủ vốn đầu tư cho các dự án của Doanh nghiệp

Nguồn vốn các tổ chức, ngân hàng có ưu điểm nhưng tồn tại song song

là những hạn chế nhất định

Điều kiện tín dụng: Các Doanh nghiệp muốn vay tại các ngân hàng thương mại cần đáp ứng những yêu cầu đảm bảo an toàn tín dụng của ngân hàng Doanh nghiệp phải xuất trình hồ sơ vay vốn và những thông tin cần thiết mà ngân hàng yêu cầu Ngân hàng sẽ phân tích hồ sơ xin vay vốn trước khi quyết định cho Doanh nghiệp vay hoặc từ chối

Các điều kiện đảm bảo tiền vay: Khi Doanh nghiệp xin vay vốn, nói chung các ngân hàng thường yêu cầu Doanh nghiệp đi vay vốn phải có các bảo đảm tiền vay, phổ biến nhất là tài sản thế chấp Việc yêu cầu người vay

có tài sản thế chấp trong nhiều trường hợp làm cho bên đi vay không thể đáp ứng được các điều kiện vay, kể cả những thủ tục pháp lý về giấy tờ Do đó, Doanh nghiệp cần tính đến yếu tố này khi tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng

Sự kiểm soát của ngân hàng: Một khi đã vay vốn của ngân hàng thì Doanh nghiệp phải chấp nhận chịu sự kiểm soát của ngân hàng về mục đích

và tình hình sử dụng vốn vay Nói chung, sự kiểm soát này không gây khó khăn lớn nhưng trong một số trường hợp, nó đặt Doanh nghiệp vào thế bị động

Lãi suất vay vốn: Lãi suất vay vốn phản ánh chi phí sử dụng vốn Lãi suất vay vốn ngân hàng thương mại phụ thuộc vào tình hình tín dụng trên thị

Trang 30

trường trong từng thời kỳ Nếu lãi suất vay quá cao thì Doanh nghiệp phải gánh chịu chi phí sử dụng vốn lớn và làm giảm thu nhập của Doanh nghiệp

Có những thời kỳ ở Nước ta, lãi suất vay vốn khá cao và thiếu tính cạnh tranh

do đó không tạo điều kiện cho các Doanh nghiệp đầu tư mở rộng đầu tư

- Phát hành Trái phiếu Doanh nghiệp

Trái phiếu Doanh nghiệp là công cụ nợ dài hạn được một Doanh nghiệp phát hành để huy động vốn của tổ chức cá nhân trong nền kinh tế nhằm phục

vụ nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh Một trong những vấn đề cần xem xét trước khi phát hành là lựa chọn loại trái phiếu nào phù hợp nhất với điều kiện

cụ thể của Doanh nghiệp và tình hình trên thị trường tài chính

- Nguồn vốn Trái phiếu Chính phủ

Trái phiếu Chính phủ được hiểu là loại trái phiếu do Bộ Tài chính phát hành nhằm huy động vốn cho ngân sách Nhà nước hoặc cho chương trình, dự

án đầu tư cụ thể thuộc phạm vi đầu tư của Nhà nước Trái phiếu Chính phủ là loại chứng khoán ít có rủi ro, thực hiện thanh toán và cũng là loại trái phiếu

có khả năng thanh khoản cao Do đó, lãi suất của Trái phiếu Chính phủ được xem là lãi suất chuẩn để làm căn cứ ấn định lãi suất của các công cụ nợ khác

có cùng kỳ hạn Nguồn vốn Trái phiếu Chính phủ là nguồn vốn có tính chất tập trung cao nhằm hỗ trợ phát triển kết cấu hạ tầng, trong đó ưu tiên phát triển nguồn điện theo mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở từng giai đoạn, từng thời kỳ

- Nguồn vốn từ thị trường tài chính

Nguồn vốn huy động từ kênh huy động vốn này cần phải được đáp ứng nhanh, và giá trị đủ lớn theo yêu cầu của nhà đầu tư, ở nhiều nước đây là nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển chung và nguồn điện nói riêng

- Nguồn vốn ODA (Official development assistance)

Đây là nguồn vốn phát triển do các tổ chức Quốc tế và các Chính phủ nước ngoài cung cấp với mục tiêu trợ giúp các nước đang phát triển So với

Trang 31

các hình thức tài trợ khác, ODA mang tính ưu đãi cao hơn bất cứ nguồn ODF (Official development finance) Tài trợ phát triển chính thức nào khác

Ngoài các điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời hạn cho vay dài, khối lượng vốn vay tương đối lớn, bao giờ ODA cũng có yếu tố không hoàn lại (còn gọi

là thành tố hỗ trợ) đạt ít nhất 25% Yếu tố không hoàn lại (thành tố hỗ trợ) của từng khoản vay được xác định dựa vào các yếu tố lãi suất, thời hạn cho vay, thời gian ân hạn, số lần trả nợ trong các năm và tỷ suất chiết khấu Mặc dù có tính ưu đãi cao, song sự ưu đãi cho loại vốn này thường đi kèm các điều kiện

và ràng buộc tương đối khắt khe (tính hiệu quả của dự án, thủ tục chuyển giao vốn và thị trường) Vì vậy, để nhận được loại tài trợ hấp dẫn này với thiệt thòi ít nhất, cần phải xem xét dự án trong điều kiện tài chính tổng thể Nếu không, việc tiếp nhận viện trợ có thể trở thành gánh nặng nợ nần lâu dài cho nền kinh tế Điều này còn hàm ý rằng, ngoài những yếu tố thuộc về nội dung

dự án tài trợ, còn cần có nghệ thuật thỏa thuận, để vừa có thể nhận vốn, vừa đảm bảo được các mục tiêu có tính nguyên tắc

- Nguồn vốn từ các ngân hàng thương mại quốc tế

Điều kiện ưu đãi dành cho loại vốn này không dễ dàng, nhưng nguồn vốn này cũng có những ưu điểm rất rõ ràng là không gắn với các ràng buộc về chính trị, xã hội Song, thủ tục vay đối với các nguồn vốn này tương đối khắt khe, thời gian trả nợ phải tuân thủ nghiêm ngặt, mức lãi suất cao Đây cũng là những trở ngại đáng kể đối với các nước đang phát triển, đặc biệt là những nước nghèo Vì vậy, với Việt Nam việc tiếp cận đối với nguồn vốn này vẫn còn rất hạn chế do chính những trở ngại nêu trên

- Vay tín dụng xuất khẩu (ECA- Export Credit Arrangement):

Tín dụng xuất khẩu được hiểu là khoản tín dụng được bảo lãnh hoặc được bảo hiểm từ các Tổ chức tài chính tư nhân thuộc Chính phủ cung cấp nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của quốc gia, đồng thời ECA là sự hỗ trợ tín dụng đặc biệt từ các nước phát triển dành cho các nước đang phát triển để nhập khẩu hàng hóa, sản phẩm của họ Các khoản vay tín dụng theo hình thức

Trang 32

ECA có mức lãi suất ưu đãi hơn so với các khoản vay thương mại, thời hạn vay dài trung bình từ 10 - 13 năm trong đó thời gian ân hạn thời gian không, chưa trả tiền gốc có thể kéo dài đến 3 năm, các nguồn vốn ổn định, không có các ràng buộc khắc khe về chính trị hay xã hội Các dự án nguồn điện lớn tại Việt Nam chủ yếu được tài trợ từ các nguồn tín dụng xuất khẩu Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức Tuy nhiên để có cơ hội nhận được tài trợ từ các nguồn này, bên vay phải tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc Equator theo quy định của Công ty tài chính quốc tế (IFC- International Finance Corporation) về các vấn đề liên quan đến môi trường, xã hội và an toàn sức khỏe của dự án Theo

đó, bên vay cần phải xây dựng và thực hiện hệ thống quản lý nhằm giảm thiểu các tác động của dự án đối với môi trường và xã hội trong suốt đời dự án Các ngân hàng sẽ không tài trợ cho dự án khi bên vay không cam kết tuân thủ các quy trình, quy định của IFC

1.2.3 Đánh giá hiệu quả huy động vốn đầu tư

Vốn đầu tư là điều kiện kiên quyết để Doanh nghiệp tiến hành đầu tư dự

án, tuy nhiên câu hỏi đặt ra là huy động bao nhiêu là đủ, là hợp lý, là hiệu quả cho quá trình đầu tư dự án của Doanh nghiệp Để đánh giá ta sử dụng các chỉ tiêu sau

- Chỉ tiêu số lượng: Đây là chỉ tiêu phản ánh số tiền vốn mà Doanh nghiệp huy động được để đáp ứng nhu cầu đầu tư của mình Công tác huy động vốn trong Doanh nghiệp được đánh giá là hiệu quả nếu số lượng tiền huy động được thỏa mãn về nhu cầu vốn của các hoạt động đầu tư trong Doanh nghiệp

- Chỉ tiêu về thời gian: Chỉ tiêu này phản ánh tính kịp thời của nguồn vốn huy động để cung cấp cho hoạt động đầu tư của Doanh nghiệp Huy động vốn đạt hiệu quả khi nhu cầu vốn phải đáp ứng kịp thời, khi cần vốn thì phải huy động được ngay, có vốn mà không sử dụng đúng thời điểm thì cũng không có ý nghĩa gì, tại thời điểm đó vốn vẫn là thiếu Để đánh giá được hiệu quả huy động vốn về mặt thời gian, cần so sánh số lượng vốn đã huy động

Trang 33

được với kế hoạch huy động vốn, xem số lượng vốn huy động tại từng thời điểm đã phù hợp với nhu cầu vốn tại thời điểm đó chưa

- Chi phí sử dụng vốn: Nếu như vốn vay là một loại hàng hóa được mua bán trên thị trường, nó cũng chịu tác động của quy luật cung cầu thì lãi vay phải trả chính là số tiền Doanh nghiệp phải chi trả để có quyền sử dụng số vốn đó Khi vay vốn Doanh nghiệp cần phải so sánh chi phí sử dụng vốn vay với kết quả thu được do sử dụng vốn vay đó Huy động vốn được xem là có hiệu quả nếu chi phí sử dụng vốn vay lớn hơn tỷ suất lợi nhuận mong đợi của nhà đầu tư.

- Sự phù hợp giữa huy động vốn và sử dụng vốn: Một chiến lược huy động vốn đúng đắn, phù hợp với kế hoạch dử dụng vốn trong từng thời kỳ sẽ tạo điều kiện cho Doanh nghiệp đạt được mục tiêu tăng trưởng nguồn vốn đầu

tư và mục tiêu lợi nhuận tối đa Sự hài hòa giữa huy động vốn và sử dụng vốn chính là công tác cân đối vốn của Doanh nghiêp, của dự án đầu tư Công tác cân đối vốn là hết sức quan trọng và cần thiết đối với bất cứ hoạt động đầu tư của Doanh nghiệp, đó là một biện pháp nghiệp vụ, là công cụ quản lý của lãnh đạo Doanh nghiệp, thông qua bảng cân đối vốn đã lập, các Doanh nghiệp sẽ xem xét, phân tích cơ cấu, tỷ trọng các nguồn vốn và từng khoản sử dụng để

dự đoán nhu cầu vốn biến động trong tương lai, từ đó có chính sách huy động, giải ngân vốn thích hợp

1.2.4 Nhân tố ảnh hưởng đến huy động vốn đầu tư

1.2.4.1 Nhóm nhân tố khách quan

Một là: Môi trường kinh tế và chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước

Nhà nước ban hành Luật Đầu tư, Luật Đầu tư công, Luật doanh nghiệp, Luật Xây dựng, Luật Đất đai, Luật Thuế, Luật Điện lực và ban hành các Nghị định hướng dẫn thi hành các Luật trên đồng thời với các văn bản dưới Luật khác, nhằm khuyến khích đầu tư, mặt khác đảm bảo thu hút vốn đầu tư vào các dự án nguồn điện, nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào nguồn điện Trong tương lai, khuôn khổ

Trang 34

pháp lí ngành càng được mở rộng bằng việc thực hiện các cam kết gia nhập WTO, từng bước hình thành thị trường điện lực cạnh tranh có điều tiết của Nhà nước

Nhiều mô hình quản lý ngành điện, việc đa dạng hóa huy động vốn đầu

tư phát triển các dự án nguồn điện đã được nghiên cứu áp dụng trên thế giới, tạo tiền đề và kinh nghiệm trong việc cải tiến mô hình quản lý, nâng cao hiệu quả trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh điện năng

Khoa học công nghệ thế giới có bước tiến đáng kể, trong đó công nghệ thiết bị sản xuất, truyền tải và phân phối điện ngày càng được nâng cao, đặc biệt, công nghệ thông tin phát triển nhanh, làm cho việc điều hành hệ thống càng trở nên hiện đại hơn Điều này góp phần không nhỏ trong việc thu hút vốn vào đầu tư nguồn điện

Nền kinh tế nước ta vẫn giữ mức tăng trưởng nhanh, sự phát triển của các ngành kinh tế tạo nhu cầu và thị trường lớn hơn cho ngành công nghiệp Điện cả về quy mô và phạm vi

Công cuộc đổi mới gắn liền với những cơ chế quản lý mới của nền kinh

tế, trong đó các Doanh nghiệp được trao quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh đã tạo được nguồn nội lực làm khả năng tự đầu tư được đảm bảo

Chủ trưởng đẩy mạnh công tác cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước thời gian vừa qua không những chỉ nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của Doanh nghiệp, mà đã thực sự tạo khả năng huy động vốn tốt hơn cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng, trong đó có nguồn điện Đây là những nhân tố quan trọng tạo môi trường kích thích việc đa dạng hóa huy động vốn đầu tư xây dựng nguồn điện ở nước ta

Hai là: Sự phát triển của thị trường tài chính

Với hai dòng tài chính trực tiếp và gián tiếp, thị trường tài chính là nơi mà ngành Điện lực có thể huy động vốn với các kỳ hạn và cách thức khác nhau phục vụ cho hoạt động đầu tư nguồn điện Nếu một thị trường tài chính phát

Trang 35

triển, thì đó là điều kiện thuận lợi tạo cho ngành Điện có nhiều cơ hội lựa chọn

và khai thác nguồn vốn phù hợp với đặc điểm hoạt động đầu tư của mình

Một thị trường tài chính phát triển đòi hỏi phải có hệ thống thông tin được công khai trên thị trường, phải phát triển cạnh tranh trên cơ sở có sự can thiệp của Nhà nước ở mức độ thích hợp Ở Việt Nam, thị trường tài chính đã

và đang phát triển, góp phần cung ứng vốn cho hoạt động của các ngành kinh doanh nói chung và nguồn điện nói riêng, cũng như trong việc thu hút các nhà đầu tư tham gia thị trường Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, thị trường tài chính quốc tế phát triển là nơi cung ứng vốn cho tốt nhất để phát triển nguồn điện

Hội nhập kinh tế quốc tế có tác dụng kích thích Việt Nam phát triển, nền kinh tế Việt Nam chuyển nhanh sang nền kinh tế thị trường, các hoạt động kinh doanh phải tuân theo quy luật của thị trường Nền kinh tế Việt Nam đã

và đang hội nhập nền kinh tế thế giới, trong đó thị trường tiền tệ và thị trường vốn cũng đang phát triển và đây là điều kiện thuận lợi cho việc đa dạng hóa huy động vốn để phát triển ngành Điện Hiện nay Việt Nam đã gia nhập WTO

và thực sự đã hội nhập vào nền kinh tế thế giới, thị trường vốn quốc tế có quy

mô lớn là một cơ hội cho đầu tư phát triển nói chung, phát triển nguồn điện nói riêng

Ba là: Hoạt động tư vấn đầu tư

Hoạt động tư vấn là một nhân tố rất quan trọng để tăng cường khả năng đa dạng hóa vốn đầu tư xây dựng nguồn điện Nếu hoạt động tư vấn còn có những bất cập về năng lực, thiếu đồng bộ, thiếu năng lực công nghệ và chuyên gia giỏi chuyên sâu, hoặc chưa xây dựng được hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin chuyên ngành để cung cấp thông tin nhanh, đúng, đủ, về trình độ phát triển công nghệ, thiết bị, vật liệu mới … phục vụ sản xuất, không có những đổi mới

để hoàn thiện các định mức chi phí, nhằm giảm giá thành công trình phù hợp năng lực thiết bị thi công, biện pháp thi công, thì tốc độ và quy mô của việc đa dạng hóa việc huy động nguồn vốn sẽ khó có thể tăng nhanh được

Trang 36

Bốn là: Sự tác động của kinh tế thế giới

Việc hội nhập kinh tế quốc tế của Nước ta cũng là một nhân tố rất quan trọng để chúng ta thu hút các nguồn đầu tư nước ngoài vào phát triển nguồn điện Chúng ta đã chính thức gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ngày càng tăng Đây là nhân tố tạo khả năng thúc đẩy phát triển nguồn điện của Nước ta Tuy nhiên, để khả năng đó biến thành hiện thực, chúng ta cần có cơ chế chính sách và biện pháp phát triển thị trường để tạo sức hấp dẫn cho cá nhân và tổ chức nước ngoài vào nước ta hợp tác đầu tư

cơ hội hơn trong việc huy động vốn của các chủ đầu tư trong xã hội Nếu Doanh nghiệp được phép phát hành cổ phiếu và cổ phiếu có tính đại chúng, được đưa ra niêm yết công khai trên thị trường chứng khoán thì khả năng thực hiện đa dạng hóa huy động vốn đầu tư cũng được thuận lợi hơn

Do ngành Điện là một ngành thuộc kết cấu hạ tầng, việc sản xuất điện của Nước ta phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, vào những biến động nhiên liệu trên thị trường thế giới, có nhiều hoạt động mang tính công ích, nhưng cơ chế sản xuất kinh doanh và tài chính chưa được điều chỉnh thích hợp, nên đây cũng là một nhân tố quan trọng làm hạn chế đến việc huy động vốn đầu tư phát triển nguồn điện Trên thực tế, phần lớn vật tư và một phần không nhỏ nhiên liệu phải nhập bằng ngoại tệ mạnh và tỷ giá đồng tiền Việt Nam thay đổi nhanh hơn tốc độ điều chỉnh giá điện, giá thành nhiên liệu luôn tăng Đây

là một nhân tố tác động tiêu cực không nhỏ, gây khó khăn cho ngành Điện

Trang 37

trong cân đối tài chính, tác động tiêu cực tới việc huy động vốn đầu tư xây dựng nguồn điện

Việc điều chính giá điện, nhằm mục đích tạo nguồn vốn đầu tư, nhưng

do nhiều nguyên nhân khách quan, tiến trình tăng giá điện chậm, tỷ giá biến động lớn nên hiệu quả điều chỉnh giá cho mục đích đầu tư chưa cao Thêm vào đó, do có nhiều hoạt động mang tính công ích như đầu tư đưa điện về nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo … làm hiệu quả đầu tư không cao trong khi đó việc đánh giá hiệu quả sản xuất của Doanh nghiệp phụ thuộc vào yếu tố trên, làm hạn chế nguồn vốn đầu tư tự có của các Doanh nghiệp sản xuất điện, tác động xấu đến thu nhập của người lao động trong các Doanh nghiệp, gây tâm lý người lao động không muốn đưa vốn đầu

tư vào phát triển nguồn điện

Hai là: Cơ cấu đầu tư và phương thức huy động vốn đầu tư

Cơ cấu đầu tư và phương thức huy động vốn đầu tư có tác động quan trọng đến phát triển nguồn điện Nếu vướng mắc trong cơ cấu đầu tư và phương thức huy động vốn đầu tư thì việc đầu tư sẽ bị kéo dài Chẳng hạn, các công trình sản xuất điện năng nhằm khai thác các nguồn tiềm năng thiếu đồng bộ, chỉ chú ý phát triển thủy điện mà thiếu coi trọng phát triển nhiệt điện

và các nguồn điện năng khác mà ta có tiềm năng, thì việc cung ứng điện cho các nhu cầu sản xuất và đời sống không thể thường xuyên liên tục, sẽ gây ra tình trạng thiếu điện vào mùa khô, gây thiệt hại cho các cơ sở mua điện, ảnh hưởng xấu đến an ninh nguồn điện quốc gia, do đó thiếu sự hấp dẫn đối với các nhà đầu tư khi đưa vốn vào phát triển nguồn điện Nếu chỉ đầu tư phát triển nguồn điện mà không có đầu tư thích đáng vào phát triển lưới điện thì nhất định sẽ dẫn đến tình trang quá tải, hoặc hạn chế cung cấp điện ở nhiều khu vực, do vậy vào giờ cao điểm vẫn buộc phải vận hành các cụm điezel tại chỗ với giá thành rất cao, trong khi nguồn điện vẫn có khả năng đáp ứng, tức

là đầu tư kém hiệu quả Đây cũng là một nguyên nhân cản trở tính tích cực của các chủ thể thị trường trong việc đầu tư phát triển nguồn điện

Trang 38

Ở nước ta, việc đền bù để di dân giải phóng mặt bằng phục vụ cho xây dựng thủy điện đòi hỏi một nguồn vốn rất lớn, đồng thời phải có chính sách

xã hội của Nhà nước đảm bảo việc do dân và tạo việc làm ổn định cuộc sống lâu dài cho những người thuộc diện di rời Nếu có cơ chế đầu tư thích hợp, tạo điều kiện để người dân khu vực bị thu hồi đất tham gia vốn vào công trình phát triển nguồn điện thì tiến độ triển khai công trình sẽ nhanh hơn, sẽ tạo sức hấp dẫn hơn cho việc thực hiện đa dạng hóa đầu tư phát triển nguồn điện Trên thực tế, một số công trình xây dựng nguồn điện triển khai chậm và kéo dài có nguyên nhân chủ yếu là do vướng mắc trong vấn đề đền bù giải phóng mặt bằng

Ba là: Tính khả thi của dự án phát triển nguồn điện

Dự án đầu tư là căn cứ quan trọng nhất để quyết định việc bỏ vốn đầu tư,

là cơ sở để xây dựng kế hoạch thực hiện đầu tư Vốn đầu tư cho dự án nguồn điện là tổng đầu tư của các dự án xây dựng dự án thành phần Đầu tư xây dựng nguồn điện có nhu cầu rất lớn về vốn Hoạt động đầu tư của Doanh nghiệp đòi hỏi phải có vốn Huy động vốn đầu tư và sử dụng nguồn vốn đầu

tư như thế nào có vai trò và ý nghĩa đặc biệt trong hoạt động đầu tư của Doanh nghiệp Khảo sát của các cơ quan chức năng cho thấy, nhu cầu điện năng của Việt Nam đã tăng mạnh trong những năm gần đây, trung bình khoảng 15%/năm Song nguồn cung lại chưa đáp ứng đủ cầu Trước nhu cầu phát triển mới của đất nước, nhất là khi Việt Nam đã trở thành thành viên của WTO thì những đột biến về tiêu dùng điện năng sẽ còn tiếp tục tăng cao Làm thế nào để đáp ứng được nguồn điện cho xã hội, nhưng vẫn đảm bảo được hoạt động kinh doanh đang là bài toán khó hiện nay

Bốn là: Các Doanh nghiệp thành viên vẫn chưa thực sự tự chủ về tài

chính

Cơ chế hạch toán phụ thuộc vào EVN của một số các nhà máy điện lớn

và các công ty truyền tải có nhiều hạn chế Đối với Nhà nước, việc hạch toán toàn bộ như vậy làm cho các cơ quan quản lý Nhà nước gặp nhiều khó khăn

Trang 39

trong việc kiểm soát giá và điều tiết lợi nhuận Đối với EVN cơ chế khoán chi phí hoạt động cho các đơn vị phụ thuộc đã dẫn tới hạn chế sự năng động sáng tạo, không phát huy được toàn bộ sức mạnh về cơ sở vật chất, con người của các Doanh nghiệp thành viên Trong nhiều trường hợp không đánh giá được thực chất hiệu quả sản xuất kinh doanh của từng đơn vị

Đối với các Công ty điện lực hạch toán độc lập cũng bộc lộ nhiều tồn tại Việc hạch toán độc lập hoàn toàn mang tính tương đối Vấn đề xác định lãi lỗ của các Công ty phụ thuộc nhiều vào giá điện mua vào theo cơ chế mua bán nội bộ của EVN (giá bán điện nội bộ áp dụng trên nguyên tắc "trừ lùi" từ giá bán điện bình quân và điều hoà lợi nhuận giữa các Công ty Điện lực, mà không dựa trên cơ sở tính từ giá thành sản xuất điện của các nhà máy cộng với phí truyền tải) Giá điện này không phản ánh giá thành điện năng sản xuất đến ranh giới tiếp nhận do vậy EVN có thể điều chỉnh lãi lỗ

Quyền của chủ sở hữu đối với phần lợi nhuận sau thuế chưa được xác định rõ ràng, đầy đủ Tuy cơ chế phân phối lợi nhuận sau thuế có ưu điểm là

đã tập trung ưu tiên phần nhiều cho bổ sung vốn kinh doanh nhưng việc phân phối các quỹ từ lợi nhuận sau thuế vẫn còn mang tính bình quân, chưa căn cứ vào số lợi nhuận do từng Doanh nghiệp thành viên làm ra và nhu cầu thực tế

Do đó chưa khuyến khích các Doanh nghiệp thành viên nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng lợi nhuận

Năm là: Rào cản đối với các Doanh nghiệp bên ngoài tham gia kinh doanh điện còn lớn

Để triển khai các dự án, trước khi lập phương án, các chủ đầu tư phải thương thảo giá và phương thức mua điện với EVN Hiện tượng lạm dụng vị thế độc quyền tất yếu sẽ xảy ra do EVN là một Doanh nghiệp kinh doanh hoạt động với mục đích tối đa hóa lợi nhuận

Việc cạnh tranh giữa EVN và các Doanh nghiệp bên ngoài kinh doanh điện trong khâu phát là không đáng kể vì EVN có quy mô quá lớn so với các đối thủ, lại quản lý toàn bộ lưới truyền tải và phân phối Các đối thủ luôn ở

Trang 40

thế bị động vì muốn tham gia thị trường phải ký được hợp đồng mua bán điện với EVN

1.3 Kinh nghiệm của các Tập đoàn về huy động vốn đầu tư

Kinh nghiệm của Tập đoàn Dầu kh iệt Nam

Công tác thu xếp vốn cho các dự án đầu tư của Tập đoàn đã được thực hiện theo hướng sử dụng có hiệu quả nguồn vốn tín dụng của các tổ chức tài chính trong và ngoài nước

Bốn hình thức huy động vốn vay mà Tập đoàn đang áp dụng bao gồm: Vay tín dụng xuất khẩu trên cơ sở nguồn gốc thiết bị nhập khẩu cho dự án (ECA); Vay thương mại trong và ngoài nước để triển khai các dự án không thu xếp được vốn vay ECA hoặc thu xếp không đủ; Vay ưu đãi từ Chính phủ thông qua các khoản vay từ Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB); Vay nước ngoài theo hình thức tài trợ dự án (Project Financing), đây là hình thức vay phần lớn dựa trên dòng tiền của dự án, Chính phủ không cấp bảo lãnh trả nợ vay, không làm tăng nợ công của Việt Nam

Hiện nay, PVN đã xây dựng và thực hiện đầy đủ các quy chế quản lý nội

bộ về quản lý tài chính, quy chế cấp vốn, quản lý và sử dụng vốn đầu tư đảm bảo vốn đầu tư cho dự án được quản lý, sử dụng đúng mục đích, đúng chế độ quản lý tài chính hiện hành và sử dụng có hiệu quả

Kinh nghiệm của Tập đoàn Than khoáng sản iệt Nam

Để tránh phụ thuộc vào các kênh vay thương mại truyền thống đóng vai trò quan trọng trong việc thu xếp đủ, hiệu quả các nguồn vốn đầu tư Trên cơ

sở đó, Tập đoàn đã thực hiện và lên phương án huy động vốn qua nhiều kênh khác nhau như: phát hành trái phiếu trong nước, trái phiếu quốc tế, thực hiện kêu gọi vốn đầu tư nước ngoài Việc tận dụng các nguồn vốn đầu tư từ xã hội (góp vốn, thuê hoạt động…) cũng được Tập đoàn tính đến để đa dạng hóa các nguồn lực cho việc đầu tư, phát triển

Đối với việc vay từ các tổ chức tín dụng nước ngoài, hiện tại, Tập đoàn

đã thực hiện nhiều khoản vay song phương, hợp vốn theo các hình thức như:

Ngày đăng: 09/07/2021, 15:28

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w