Đáng chú ý, đơn thư tố cáo cán bộ, công chức, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai như việc cán bộ lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao chiếm ruộng đất, chia chác đất đ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
ĐÀO THỊ TUYẾT MAI
GIẢI QUYẾT TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI –
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN BÌNH LỤC,
TỈNH HÀ NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
HÀ NỘI - 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
ĐÀO THỊ TUYẾT MAI
GIẢI QUYẾT TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI –
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN BÌNH LỤC,
TỈNH HÀ NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã sô: 60 38 01 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LÊ TIẾN HÀO
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, tài liệu tham khảo và trích dẫn đảm bảo độ chính xác, trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận khoa học trong luận văn chưa từng được công bố trước đây
Học viên
Đào Thị Tuyết Mai
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng, nỗ lực của bản thân, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy giáo, cô giáo của Học viện Hành chính Quốc gia và các thầy giáo, cô giáo Khoa Sau đại học – Học viện Hành chính Quốc gia đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập vừa qua để tôi có được những kiến thức tốt để thực hiện luận văn này
Đặc biệt, tôi xin tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới tiến sĩ Lê Tiến Hào, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi thực hiện và hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cám ơn các anh chị là cán bộ, công chức hiện đang làm việc tại Ủy ban nhân dân huyện Bình Lục, Thanh tra huyện Bình Lục, Phòng Tài nguyên Môi trường, Phòng thuế huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập tài liệu, số liệu để hoàn thành luận văn này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng hoàn thiện luận văn bằng năng lực của mình, tuy nhiên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp ý kiến quý báu của các thầy cô và các bạn
Xin trân trọng cám ơn!
Hà Nội, ngày 11 tháng 10 năm 2017
Học viên
Đào Thị Tuyết Mai
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỐ CÁO VÀ GIẢI QUYẾT TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI 8
1.1 Khái niệm, đặc điểm của tố cáo về đất đai 8
1.1.1 Khái niệm tố cáo về đất đai 8
1.1.2 Đặc điểm của tố cáo về đất đai 10
1.2 Những quy định của pháp luật về giải quyết quyết tố cáo về đất đai 14
1.2.1 Khái niệm giải quyết tố cáo về đất đai 14
1.2.2 Đặc điểm của giải quyết tố cáo về đất đai 15
1.2.3 Nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo về đất đai 16
1.2.4 Vai trò của giải quyết tố cáo về đất đai 22
1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả giải quyết tố cáo về đất đai 24
Tiểu kết chương 1 30
Chương 2 THỰC TRẠNG TỐ CÁO VÀ GIẢI QUYẾT TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BÌNH LỤC, TỈNH HÀ NAM 31
2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội, công tác quản lý đất đai và tình hình tố cáo về đất đai ở huyện Bình Lục 31
2.1.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Bình Lục 31
2.1.2 Khái quát thực trạng quản lý đất đai ở huyện Bình Lục 33
2.1.3 Tình hình, nguyên nhân phát sinh tố cáo về đất đai ở huyện Bình Lục từ năm 2012 đến năm 2016 39
2.2 Giải quyết tố cáo về đất đai ở huyện Bình Lục giai đoạn 2012 - 2016 – kết quả, ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và kinh nghiệm 45
2.2.1 Kết quả giải quyết 45
2.2.2 Ưu điểm và nguyên nhân 48
Trang 62.2.3 Hạn chế và nguyên nhân 55
2.2.4 Kinh nghiệm 60
Tiểu kết chương 2 64
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI Ở CẤP HUYỆN NÓI CHUNG VÀ Ở HUYỆN BÌNH LỤC, TỈNH HÀ NAM 65
3.1 Một số yếu tố thuận lợi, khó khăn và phương hướng nâng cao hiệu quả giải quyết tố cáo về đất đai ở cấp huyện nói chung và ở huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam 65
3.1.1 Một số yếu tố thuận lợi và khó khăn 65
3.1.2 Phương hướng nâng cao hiệu quả giải quyết tố cáo về đất đai ở cấp huyện nói chung và ở huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam 67
3.2 Một số giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả giải quyết tố cáo về đất đai ở cấp huyện nói chung và ở huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam 69
3.2.1 Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tố cáo về đất đai ở cấp huyện nói chung 69
3.2.2 Một số giải pháp cụ thể nâng cao hiệu quả giải quyết tố cáo về đất đai ở huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam 82
Tiểu kết chương 3 85
KẾT LUẬN 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Danh mục biểu đồ
Biểu đồ 2.1: Tình hình tiếp nhận đơn tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện giai đoạn 2012 – 2016 41 Biểu đồ 2.2: Tỉ lệ đơn tố cáo về đất đai so với tổng số đơn tố cáo giai đoạn
2012 – 2016 41
Danh mục bảng
Bảng 2.1: Tỉ lệ đơn tố cáo về đất đai từng năm ở huyện Bình Lục giai đoạn
2012 – 2016 41 Bảng 2.2: Số lượng đơn tố cáo về đất đai thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp huyện và cấp xã ở huyện Bình Lục giai đoạn 2012 – 2016 42 Bảng 2.3 Kết quả giải quyết tố cáo về đất đai huyện Bình Lục giai đoạn
2012 – 2016 45 Bảng 2.4 Kết quả xử lý vi phạm qua giải quyết tố cáo về đất đai ở huyện Bình Lục giai đoạn 2012 – 2016 46
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên quý giá của mỗi quốc gia và nó cũng
là yếu tố mang tính quyết định sự tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật khác trên trái đất Bởi vậy, nếu không có đất đai thì không có bất kỳ một ngành sản xuất nào, con người không thể tiến hành sản xuất ra của cải vật chất để duy trì cuộc sống và duy trì nòi giống đến ngày nay Trải qua một quá trình lịch sử lâu dài, con người chiếm hữu đất đai, biến đất đai từ một sản vật tự nhiên thành một tài sản của cá nhân, của cộng đồng, của một quốc gia Đất đai không chỉ có những vai trò quan trọng như đã nêu trên mà nó còn có ý nghĩa về mặt chính trị Tài sản quý giá ấy phải bảo vệ bằng cả xương máu và vốn đất đai
mà một quốc gia có được thể hiện sức mạnh của quốc gia đó, ranh giới quốc gia thể hiện chủ quyền của một quốc gia Đất đai còn là nguồn của cải, quyền
sử dụng đất đai là nguyên liệu của thị trường nhà đất, nó là tài sản đảm bảo sự
an toàn về tài chính, có thể mua bán, chuyển nhượng qua các thế hệ
Ở nước ta, từ khi đất nước bước vào thời kì đổi mới, thực hiện theo cơ chế thị trường, nhất là khi Luật đất đai năm 1993 được ban hành, đất đai được coi là hàng hóa đặc biệt thì các vụ tranh chấp về đất đai cũng như các vụ khiếu nại, tố cáo về đất đai ngày càng tăng, ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình ổn định kinh tế - xã hội cũng như đời sống xã hội của mỗi người dân Trước tình hình đó, hệ thống pháp luật về khiếu nại, tố cáo nói chung, khiếu nại, tố cáo về đất đai nói riêng của nước ta không ngừng được hoàn thiện Quản lý đất đai là nhiệm vụ của Nhà nước, là công việc rộng lớn và phức tạp, liên quan đến nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng công tác quản lý về đất đai vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém làm nảy sinh những hành vi vi phạm pháp luật của không ít cơ quan, tổ chức, cá nhân, cán bộ, công chức trong lĩnh vực này dẫn đến khiếu nại, tố cáo
Trang 9Tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân, được Hiến pháp và pháp luật nước ta ghi nhận Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo
với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp
luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân” Tố cáo về đất đai là một trong những
nhóm quan hệ đất đai diễn ra thường xuyên, phức tạp, nhạy cảm, ảnh hưởng sâu rộng đến tình hình an ninh, chính trị, kinh tế, xã hội của mỗi địa phương Đáng chú ý, đơn thư tố cáo cán bộ, công chức, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai như việc cán bộ lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao chiếm ruộng đất, chia chác đất đai; giao đất, cho thuê đất không đúng đối tượng, không đúng quy hoạch, không đúng mục đích sử dụng đất; việc sử dụng quỹ đất công ích trái quy định của pháp luật; cán
bộ cửa quyền, nhũng nhiễu trong thực hiện các thủ tục hành chính về đất đai, nhất là cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; hành vi vi phạm pháp luật trong việc lập phương án bồi thường, hỗ trợ, việc thực hiện chủ trương dồn điền đổi thửa.Vì vậy, Nhà nước đã có nhiều quan tâm, cố gắng trong công tác chỉ đạo, giải quyết các vụ việc tố cáo về đất đai Tuy nhiên, tố cáo
về đất đai vẫn diễn biến phức tạp, vẫn là một trong những nội dung quản lý đất đai gây sức ép rất lớn cho cơ quan nhà nước
Giải quyết tố cáo về đất đai là một trong những nội dung quản lý hết sức quan trọng của công tác quản lý nhà nước về đất đai Giải quyết tố cáo về đất đai nhằm giải quyết các mâu thuẫn trong quan hệ đất đai, nó liên quan đến nhiều vấn đề phức tạp thuộc về pháp luật và những quan hệ xã hội khác, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi thiết thân của các tổ chức, cá nhân, vì vậy được
xã hội rất quan tâm Xuất phát từ những vai trò to lớn đó của đất đai, Đảng và Nhà Nước ta luôn chú trọng và giành sự quan tâm đặc biệt đối với vấn đề đất đai Các Chỉ thị, Nghị quyết được ban hành liên quan đến vấn đề đất đai đã có tác động đến tình hình tố cáo và giải quyết tố cáo, nhiều “điểm nóng”, nhiều
Trang 10vụ việc phực tạp đã được giải quyết, góp phần làm ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của đất nước Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, thời gian gần đây tình hình tố cáo của công dân diễn ra với số lượng lớn, tính chất ngày càng phức tạp, trong đó tố cáo về đất đai chiếm số lượng lớn trong số các đơn tố cáo
Huyện Bình lục là một huyện đồng chiêm trũng thuộc tỉnh Hà Nam - tỉnh có diện tích tự nhiên thuộc loại nhỏ nhất cả nước, nhưng tình hình tố cáo về đất đai trên địa bàn thị trấn và các xã của huyện Bình Lục lại diễn ra khá gay gắt, phức tạp, có nơi đã trở thành điểm nóng Từ năm 2011 đến nay, huyện Bình Lục thực hiện chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về xây dựng nông thôn mới, trong đó có chủ trương về dồn đổi tích tụ ruộng đất Cùng với việc đô thị hóa, thực hiện các dự án thu hồi đất phục vụ hạ tầng, các cụm công nghiệp, các khu
đô thị nên đất đai có thay đổi lớn về giá trị dẫn đến các xung đột về lợi ích, từ đó tình hình tố cáo trên địa bàn ngày càng gia tăng, diễn biến phức tạp và tập trung chủ yếu vào lĩnh vực đất đai
Việc tố cáo và giải quyết tố cáo về đất đai đang có nhiều khó khăn, phức tạp ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh chính trị, trật tự xã hội trên địa bàn huyện Bình Lục Tình hình giải quyết tố cáo
về đất đai nói chung và giải quyết tố cáo về đất đai ở huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam nói riêng có nhiều vấn đề đặt ra cả về lý luận và thực tiễn, cần được nghiên cứu, giải đáp
Với nhận thức như vậy, tôi đã lựa chọn đề tài: "Giải quyết tố cáo về đất
đai – Từ thực tiễn huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam” làm đề tài luận văn thạc
sĩ Luật Hiến pháp và Luật Hành chính của mình với mong muốn làm rõ hơn một số vấn đề về lý luận, tổng kết thực tiễn, phát hiện những bất cập giữa pháp luật hiện hành với thực tiễn, từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tố cáo về đất đai ở cấp huyện nói chung và huyện Bình Lục nói riêng trong thời gian tới
Trang 112 Tình hình nghiên cứuliên quan đến đề tài luận văn
Vấn đề tố cáo và giải quyết tố cáo nói chung, tố cáo và giải quyết tố cáo về đất đai tiếp cận dưới góc độ pháp luật và nghiên cứu không còn là vấn
đề mới Vấn đề này đã và đang nhận được sự quan tâm của nhiều cơ quan, nhiều nhà khoa học Ở nước ta, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học
về vấn đề này, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài sau:
- Sách: Lê Tiến Hào, Nguyễn Quốc Hiệp (2012), Khiếu nại, tố cáo
hành chính và giải quyết khiếu nại, tố cáo hành chính ở Việt Nam hiện nay,
Nxb Chính trị - hành chính Hà Nội
- Đề tài khoa học cấp Bộ và cấp Thành phố:
+ Lê Tiến Hào, Nguyễn Văn Tuấn Dũng (2014), Khiếu nại hành chính
và giải quyết khiếu nại hành chính trong quản lý và sử dụng đất trên địa bàn thành phố Hà Nội – Thực trạng và giải pháp
+ Đinh Văn Minh (2016), Thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về thu hồi
đất ở Việt Nam hiện nay - Những vấn đề lý luận và thực tiễn
+ Nguyễn Tuấn Khanh (2011), Trách nhiệm pháp lý của Chủ tịch Uỷ
ban nhân dân các cấp trong công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo
và phòng, chống tham nhũng
- Các bài đăng trên tạp chí:
+ Lê Tiến Đạt (2014), Một số vấn đề hoàn thiện cơ chế bảo vệ người tố cáo
+ Lê Thị Thúy (2016), Phối hợp giữa cơ quan Thanh tra và cơ quan
Kiểm tra Đảng trong xử lý tố cáo cán bộ, công chức và Đảng viên,Tạp chí
Thanh tra số 9 – 2016;
+ Đinh Văn Sơn (2014), Trách nhiệm phối hợp trong công tác tiếp
công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, Tạp chí Thanh tra số 8 – 2014
Các công trình khoa học đã công bố nêu trên đã có những nghiên cứu về
lý luận, pháp luật và thực tiễn về vấn đề khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại,
Trang 12tố cáo trên phạm vi cả nước nói chung và một vài địa phương như Hà Nội Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể về tố cáo và giải quyết tố cáo về đất đai trên phạm vi cấp huyện nói chung và ở huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam nói riêng Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả sẽ tiếp thu, kế thừa có chọn lọc một số kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài này
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích
Với đề tài này, mục đích của luận văn trước hết là làm rõ những vấn đề
lý luận về tố cáo và giải quyết tố cáo về đất đai, thực tiễn giải quyết tố cáo về đất đai ở huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tố cáo về đất đai ở cấp huyện nói chung và huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam nói riêng
- Nêu khái quát một số đặc điểm về tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội, tình hình quản lý đất đai của huyện Bình Lục có ảnh hưởng đến tố cáo và giải quyết tố cáo về đất đai; đồng thời tập trung phân tích đánh giá thực trạng tố cáo
và giải quyết tố cáo về đất đai ở huyện Bình Lục (ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân, kinh nghiệm)
- Nêu phương hướng và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tố cáo về đất đai ở cấp huyện nói chung và huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam nói riêng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tố cáo và giải quyết tố cáo về đất đai
Trang 13- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận, pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo về đất đai; thực tiễn giải quyết tố cáo về đất đai ở
huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam từ năm 2012 đến 2016; phương hướng, giải pháp đến năm 2025
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn
Luận văn được tác giả nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, pháp luật của nhà nước
về tố cáo và giải quyết tố cáo
Cơ sở thực tiễn của luận văn là thực trạng tố cáo và giải quyết tố cáo về đất đai ở huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam từ năm 2012 đến năm 2016
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Tác giả vận dụng phương pháp luận Duy vật biện chứng và Duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê nin để nghiên cứu đề tài;
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như: logic - lịch sử, phân tích, tổng hợp, bình luận, diễn giải, thống kê, so sánh, khảo sát, thu thập nghiên cứu tài liệu, mô hình hóa số liệu …
6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn và đóng góp mới của luận văn
Đây là công trình khoa học nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về tố cáo và giải quyết tố cáo về đất đai nói chung và ở huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam nói riêng Những đóng góp và ý nghĩa khoa học của luận văn thể
hiện ở những nội dung chủ yếu sau:
Về mặt lý luận, luận văn góp phần làm rõ thêm một số vấn đề lý luận
về tố cáo và giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai
Về mặt thực tiễn, trên cơ sở nghiên cứu, phân tích cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn của giải quyết tố cáo về đất đai, luận văn đưa ra những giải pháp cụ thể, thiết thực nhằm hoàn thiện và nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động giải
Trang 14quyết tố cáo về đất đai ở cấp huyện nói chung và huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam nói riêng
Kết quả nghiên cứu của đề tài có giá trị tham khảo trong công tác nghiên cứu và thực tiễn hoạt động giải quyết tố cáo về đất đai của các cơ quan hành chính nhà nước cấp huyện nói chung và ở huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam nói riêng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu thành 03 chương với các nội dung cụ thể như sau:
Chương 1.: Một số vấn đề lý luận về tố cáo và giải quyết tố cáo về đất đai Chương 2: Thực trạng tố cáo và giải quyết tố cáo về đất đai trên địa bàn
huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam
Chương 3: Phương hướng và giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả giải
quyết tố cáo về đất đai ở cấp huyện nói chung và ở huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam
Trang 15Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỐ CÁO
VÀ GIẢI QUYẾT TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI
1.1 Khái niệm, đặc điểm của tố cáo về đất đai
1.1.1 Khái niệm tố cáo về đất đai
Tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân, của con người được Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi nhận Ngay từ những năm 1946, mặc dù Chính phủ lâm thời mới ra đời còn trăm công nghìn việc và phải lo chống thù trong giặc ngoài, nhưng do thấm nhuần quan điểm
về quyền con người, quyền dân chủ, quyền hạnh phúc của người dân, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã quan tâm sâu sắc đến vấn đề xem xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân Ngày 23 tháng 11 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 64/SL thành lập Ban Thanh tra đặc biệt Việc nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo được Người đặt ngang tầm với nhiệm vụ
đi giám sát công việc thực tế ở các cấp chính quyền của Ban Thanh tra đặc biệt Từ Hiến pháp năm 1959 đến nay, quyền tố cáo được ghi nhận là một trong những quyền cơ bản của công dân, của con người
Sau khi Hiến pháp năm 1980 được ban hành, ngày 27/11/1981, Hội đồng Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh qui định việc xét, giải quyết khiếu nại,
tố cáo của công dân Có thể nói, đây là văn bản pháp lý đầu tiên qui định một
cách tập trung, đầy đủ và chi tiết về việc tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố
cáo của công dân
Tháng 12 năm 1998, Quốc hội đã thông qua Luật khiếu nại, tố cáo thay thế cho Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo năm 1991 Tại kỳ họp 2, Quốc hội khóa XIII,
đã thông qua Luật Tố cáo, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2012 Đây là bước phát triển mới trong việc đảm bảo quyền tố cáo của công dân, góp phần hoàn thiện khung pháp lý về vấn đề này
Trang 16Tố cáo là khái niệm được sử dụng rộng rãi trong đời sống xã hội Theo cách hiểu đơn giản nhất, tố cáo là vạch rõ tội lỗi của kẻ khác trước cơ quan pháp luật hoặc trước dư luận Hiểu theo nghĩa khác, tố cáo là việc công dân báo với cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền về bất kỳ hành vi của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà họ cho rằng hành vi ấy vi phạm pháp luật hoặc vi phạm quy định của tổ chức, cộng đồng đã gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích Nhà nước, tổ chức, cộng đồng hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của công dân
Theo “Sổ tay thuật ngữ pháp lý thông dụng” của Nguyễn Duy Lâm, Nhà xuất bản Giáo dục, 2011, Tố cáo là “báo cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền biết về hành vi trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh
tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang hoặc cá nhân thuộc cơ quan, tổ chức đó gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại tới lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, của cơ quan, tổ chức”
Khoản 1, điều 2, Luật Tố cáo năm 2011 quy định “Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức”
Tố cáo về đất đai là hoạt động tố cáo mà đối tượng của nó là các hành
vi, quyết định hành chính trong quản lý và sử dụng đất đai, các hành vi vi phạm pháp luật đất đai
Theo giáo trình “Luật đất đai”, Trường ĐH Luật Hà Nội, NXB Tư pháp, 2005, Tố cáo về đất đai là “sự phát hiện với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những hành vi vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai của
cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân,
cá nhân thuộc các cơ quan, đơn vị đó hoặc của những người khác gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích Nhà nước, lợi ích tập thể và lợi ích của người sử dụng đất” [tr.470, 471]
Trang 17Khoản 1, điều 205 Luật Đất đai 2013 quy định: “Cá nhân có quyền tố cáo vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai”
Từ những phân tích trên, có thể hiểu: Tố cáo về đất đai là việc công
dân, cá nhân theo quy định của Luật Tố cáo và Luật Đất đai báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai của bất cứ cơ quan, tổ chức cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức
Như vậy, theo khái niệm này, chủ thể được quyền tố cáo về đất đai là công dân, cá nhân (cơ quan, tổ chức không được quyền tố cáo) Đối tượng của tố cáo là những hành vi vi phạm pháp luật trong quản lý và sử dụng đất đai của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào Mục đích của tố cáo nhằm ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân Mục đích của tố cáo không chỉ dừng ở việc bảo
vệ và khôi phục quyền và lợi ích của người tố cáo mà cao hơn thế là bảo vệ lợi ích của Nhà nước, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ công chức nhà nước vững về chính trị, giỏi về chuyên môn để “chí công, vô tư” trong khi thi hành công vụ, nhiệm vụ Nhà nước
1.1.2 Đặc điểm của tố cáo về đất đai
Thứ nhất, tố cáo là một trong những quyền chính trị - pháp lý cơ bản, là
quyền dân chủ trực tiếp của công dân, đó là quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta Ngay trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, trong thư gửi đồng bào liên khu 4 năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “ Khi ai có điều gì oan ức, thì có thể do các đoàn thể tố cáo lên cấp trên
Đó là quyền dân chủ của tất cả công dân Việt Nam Đồng bào cần hiểu rõ và khéo dùng quyền ấy” (Hồ Chí Minh, tuyển tập, tập 2,Nxb Chính trị Quốc gia – Hà Nội, 2002,tr.374) Quyền này đã được ghi nhận trong Hiến pháp của
Trang 18nước ta cũng như các văn bản pháp luật khác Nó cũng là một quyền dân chủ
cơ bản của người sử dụng đất, vì Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân, vì dân Hơn nữa, đất đai ở nước ta thuộc sử hữu toàn dân do Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu, thay mặt nhân dân thực hiện hoạt động quản lý đất đai để đảm bảo cho đất đai được sử dụng hợp lý, phục vụ cho lợi ích của chủ sở hữu đích thực là toàn dân, cũng như phục vụ cho quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi người sử dụng đất
Quyền tố cáo của công dân được biểu hiện trên tất cả các lĩnh vực hành chính, chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội, và lĩnh vực tự do của cá nhân Quyền này được đảm bảo bằng nghĩa vụ giải quyết tố cáo của các cơ quan nhà nước,
tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế và những người có chức vụ Những đảm bảo này đã được quy định trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác của nước ta Bởi vậy, bất kỳ cá nhân, công dân nào khi có đủ căn cứ đều có quyền
tố cáo những gì mà mình cho là trái pháp luật nói chung, pháp luật đất đai nói riêng, xâm phạm hoặc đe dọa xâm phạm các quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của mình, của người khác và của toàn xã hội
Thứ hai, tố cáo trong lĩnh vực đất đai phải tuân theo pháp luật về tố
cáo Trước hết căn cứ để phát sinh tố cáo là sự vi phạm pháp luật Đó là hành
vi của bất kỳ cá nhân, tổ chức, cơ quan nào vi phạm pháp luật đất đai, xâm phạm hoặc đe doạ xâm phạm tới các quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất cũng như của toàn xã hội Mục đích cuối cùng của tố cáo là chấm dứt những hành vi vi phạm, trái pháp luật ấy; yêu cầu phục hồi các quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị xâm hại, bồi thường thiệt hại về vật chất, danh dự do những hành vi vi phạm pháp luật đó gây ra, xử lý đúng pháp luật các cá nhân, tổ chức đã vi phạm, góp phần củng cố pháp chế Xã hội chủ nghĩa và lập lại kỷ cương xã hội
Pháp luật về tố cáo quy định về hình thức tố cáo như sau:
- Việc tố cáo được thực hiện bằng đơn tố cáo hoặc tố cáo trực tiếp
Trang 19+ Trường hợp tố cáo được thực hiện bằng đơn thì trong đơn tố cáo phải ghi rõ ngày, tháng, năm tố cáo; họ, tên, địa chỉ của người tố cáo; nội dung tố cáo Đơn tố cáo phải do người tố cáo ký tên hoặc điểm chỉ Trường hợp nhiều người cùng tố cáo bằng đơn thì trong đơn phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ của từng người tố cáo, có chữ ký hoặc điểm chỉ của những người tố cáo; họ, tên người đại diện cho những người tố cáo để phối hợp khi có yêu cầu của người giải quyết tố cáo
+ Trường hợp người tố cáo đến tố cáo trực tiếp thì người tiếp nhận hướng dẫn người tố cáo viết đơn tố cáo hoặc người tiếp nhận ghi lại việc tố cáo bằng văn bản và yêu cầu người tố cáo ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận vào văn bản, trong đó ghi rõ nội dung tố cáo Trường hợp nhiều người đến tố cáo trực tiếp thì người tiếp nhận hướng dẫn người tố cáo cử đại diện để trình bày nội dung tố cáo
Khi tố cáo, người tố cáo có các quyền như: Được gửi đơn hoặc trực tiếp
tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền; được giữu bí mật họ tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin khác của mình; được yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thông báo về thụ lý giải quyết tố cáo, thông báo chuyển vụ việc tố cáo sang cơ quan có thẩm quyền giải quyết, thông báo kết quả giải quyết tố cáo; được yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền bảo vệ khi bị đe dọa, trả thù, trù dập; được khen thưởng theo quy định… Đồng thời, người tố cáo cũng có các nghĩa vụ như: nêu rõ họ tên, địa chỉ của mình; trình bày trung thực về nội dung tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo mà mình có được; phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung tố cáo của mình; phải bồi thường thiệt hại do hành vi cố ý tố cáo sai sự thật của mình gây ra
Thứ ba, tố cáo về đất đai phải căn cứ vào quy định của pháp luật về
quản lý và sử dụng đất đai Nội dung tố cáo về đất đai rất phong phú và đa dạng, bao gồm các hoạt động quản lý nhà nước về đất đai: hoạt động ban
Trang 20hành các văn bản qui phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai, và tổ chức thực hiện văn bản đó; xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính; khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất; quản lý qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất; quản lý giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất; quản lý tài chính về đất đai Những nội dung tố cáo thường gặp như:
- Tố cáo cán bộ lợi dụng chức vụ, quyền hạn và lợi dụng các chương trình, dự án của Nhà nước để bao chiếm ruộng đất, chia chác đất đai, nhất là đối với chương trình trồng rừng, các dự án phát triển khu dân cư, các dự án tái định cư
- Tố cáo cán bộ cửa quyền, nhũng nhiễu trong việc thực hiện các thủ tục hành chính về đất đai như: giao đất; cho thuê đất; cho phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; không thực hiện đăng trình tự, thủ tục thu hồi đất, đền bù, hỗ trợ
- Tố cáo việc giao đất trái thẩm quyền; giao đất, cho thuê đất không
đúng đối tượng, không đúng quy hoạch; sử dụng tiền thu từ quỹ đất công ích (5%) trái quy định của pháp luật
- Tố cáo hành vi gian lận trong việc lập phương án bồi thường về đất
đai để tham ô, như lập hai phương án bồi thường (cho người có đất bị thu hồi riêng, để thanh toán với Nhà nước riêng)
- Tố cáo hành vi trục lợi về đất đai thông qua việc lập phương án hoặc điều chỉnh phương án quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch điểm dân cư nông thôn không phù hợp với thực tế, gây xáo trộn không cần thiết đối với đời sống nhân dân…
Nội dung tố cáo trong sử dụng đất thường gặp như: Tố cáo hành vi lấn chiếm đất đai; sử dụng đất không đúng mục đích được giao; hủy hoại đất; chuyển quyền sử dụng đất, cho thuê đất … không đúng pháp luật…
Trang 21Thứ tư, cũng như tố cáo nói chung, người có thành tích trong việc tố
cáo về đất đai được khen thưởng Nhà nước khuyến khích công dân báo cho
cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật,
do vậy nhà nước có cơ chế động viên đối với người có thành tích trong việc tố cáo Thể hiện được tính đặc thù của việc khen thưởng trong lĩnh vực tố cáo và giải quyết tố cáo, Luật Tố cáo quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc giải quyết tố cáo, người tố cáo có công trong việc ngăn ngừa thiệt hại cho Nhà nước, tổ chức, cá nhân thì được khen thưởng về vật chất, tinh thần Việc khen thưởng cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc
tố cáo giải quyết tố cáo được thực hiện theo pháp luật về tố cáo và pháp luật
về thi đua khen thưởng và chỉ người tố cáo có công trong việc ngăn ngừa thiệt hại cho Nhà nước, tổ chức, cá nhân thì được khen thưởng về vật chất và tinh thần, tiêu chuẩn khen thưởng được quy định cụ thể tại Điều 21, Nghị định số 76/2012/NĐ-CP ngày 03 tháng 10 năm 2012
1.2 Những quy định của pháp luật về giải quyết quyết tố cáo về đất đai
1.2.1 Khái niệm giải quyết tố cáo về đất đai
Theo quy định tại Khoản 2, Điều 205, Luật Đất đai năm 2013: “Việc giải quyết tố cáo vi phạm về quản lý và sử dụng đất đai thực hiện theo quy định pháp luật về tố cáo”
Khoản 7 Điều 2 Luật Tố cáo quy định: “Giải quyết tố cáo là việc tiếp nhận, xác minh, kết luận về nội dung tố cáo và việc xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo”
Từ khái niệm tố cáo về đất đai nêu ở mục 1.1 của chương này và khái niệm giải quyết tố cáo của Luật Tố cáo, có thể đưa ra khái niệm giải quyết tố
cáo về đất đai như sau: Giải quyết tố cáo về đất đai là việc cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền theo quy định của Luật Tố cáo và Luật Đất đai tiếp nhận, xác minh, kết luận nội dung tố cáo và xử lý những hành vi vi phạm
Trang 22pháp luật trong quản lý và sử dụng đất đai nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân
Như vậy, chủ thể giải quyết tố cáo hay người giải quyết tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố cáo Người giải quyết tố cáo về đất đai chủ yếu là thủ trưởng các cơ quan hành chính nhà nước Đối tượng của giải quyết tố cáovề đất đai là những hành vi vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị
tố cáo Quá trình giải quyết tố cáo bao gồm việc tiếp nhận tố cáo, việc xác minh nội dung tố cáo, kết luận nội dung tố cáo, xử lý vi phạm (nếu có) và những vấn đề có liên quan của người giải quyết tố cáo
Quy định này đồng nghĩa với việc tiến hành tiếp nhận tố cáo, xác minh, kết luận, quyết định xử lý tố cáo và thẩm quyền cũng được quy định như trường hợp giải quyết tố cáo nói chung Tuy nhiên, giải quyết tố cáo về đất đai thường phức tạp, kéo dài do hồ sơ, tài liệu có liên quan thường nằm ở nhiều cơ quan, trải qua nhiều năm và hơn nữa là vì giá trị của đất đai ngày càng lớn
1.2.2 Đặc điểm của giải quyết tố cáo về đất đai
Thứ nhất, giải quyết tố cáo về đất đai mang tính quyền lực nhà nước, là
trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, thủ trưởng các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đồng thời là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị Khoản 2, Điều 30, Hiến pháp năm 2013 quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết tố cáo Luật Tố cáo quy định cụ thể người đứng đầu các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tố cáo Tuy nhiên, thẩm quyền giải quyết tố cáo về đất đai chủ yếu do người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước giải quyết, vì cơ quan hành chính nhà nước được giao nhiệm vị quản lý nhà nước về đất đai
Đối với nước ta, bên cạnh trách nhiệm giải quyết tố cáo về đất đai của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền còn có sự tham gia của cả hệ thống
Trang 23chính trị Đó là sự lãnh đạo của Đảng, của các cấp ủy đảng và các tổ chức đảng, sự giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội… nhằm góp phần vào giải quyết khiếu nại, tố cáo nói chung, tố cáo về đất đai nói riêng có hiệu quả
Thứ hai, việc giải quyết tố cáo phải tuân theo quy định của pháp luật về tố
cáo, pháp luật về đất đai và pháp luật có liên quan Pháp luật đất đai quy định cá nhân có quyền tố cáo các vi phạm về quản lý và sử dụng đất đai Việc giải quyết
tố cáo vi phạm pháp luật về đất đai được thực hiện theo quy định của pháp luật
về tố cáo Việc giải quyết tố cáo về đất đai cơ bản giống như trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo nói chung Khi giải quyết tố cáo về đất đai, người giải quyết tố cáo,
cơ quan được giao xác minh, kết luật tố cáo phải căn cứ vào các quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai để xác định những nội dung tố cáo có vi phạm hay không vi phạm pháp luật, từ đó có kết luận, xử lý chính xác
Thứ ba, việc giải quyết tố cáo về đất đai mang tính cá biệt, cụ thể và
phức tạp Việc giải quyết tố cáo chỉ trong phạm vi nội dung, đối tượng bị tố cáo Tố cáo nội dung nào, đối tượng nào thì xác minh, kết luận nội dung, đối tượng đó Việc giải quyêt tố cáo về đất đai thường rất phức tạp vì tố cáo về đất đai không chỉ bắt nguồn từ những nguyên nhân có tính lịch sử trong quản
lý và sử dụng đất đai qua các thời kỳ, những xung đột gay gắt về lợi ích kinh
tế mà còn từ hệ quả của sự quản lý thiếu hiệu quả của cơ quan hành chính nhà nước, sự bất hợp lý và thiếu đồng bộ của hệ thống chính sách, pháp luật đất đai, sự thiếu trách nhiệm, không công tâm, khách quan của một bộ phận cán
bộ, công chức, người đứng đầu trong quá trình thực thi công vụ
1.2.3 Nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo về đất đai
1.2.3.1 Nguyên tắc giải quyết tố cáo về đất đai
Việc giải quyết tố cáo về đất đai có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với hoạt động quản lý đất đai nói riêng, quản lý nhà nước nói chung Điều 4, Luật
Trang 24Tố cáo 2011 quy đinh: “Việc giải quyết tố cáo phải kịp thời, chính xác, khách quan, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục và thời hạn theo quy định pháp luật; bảo đảm an toàn cho người tố cáo; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người
bị tố cáo trong quá trình giải quyết tố cáo”
- Giải quyết tố cáo về đất đai phải kịp thời: Tố cáo là phản ứng của người dân khi các hoạt động quản lý làm chưa tốt, người dân không hài lòng, người dân phản ứng bằng việc thực hiện quyền tố cáo của mình Do đó để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước nói chung, hiệu quả quản lý đất đai nói riêng, cần phải kịp thời giải quyết các vụ việc, nhất là các vụ việc đông người, phức tạp, tránh tình trạng kéo dài, vượt cấp Giải quyết kịp thời, nhanh chóng giúp ngăn chặn và loại trừ các hành vi vi phạm pháp luật đất đai
- Giải quyết tố cáo về đất đai phải chính xác, khách quan: Khi giải quyết tố cáo nói chung, tố cáo về đất đai nói riêng cần phải khách quan, trung thực, đảm bảo đúng người, đúng tội, tránh tình trạng bỏ sót những cá nhân, tổ chức vi phạm hoặc người vô tội bị oan ức Nguyên tắc này đòi hỏi nhìn nhận sự việc phải trung thực, không phụ thuộc vào ý muốn của các bên đương sự Để đảm bảo điều này cần xác minh rõ nguồn gốc của chứng cứ, mức độ trung thực
và chính xác của chứng cứ Tuy nhiên, trong quá trình xác minh, cũng cần phải xem xét đến cả tính hợp pháp, tính hợp lý của vấn đề mà các bên nêu ra
- Giải quyết tố cáo về đất đai theo đúng quy định của pháp luật Đây là nguyên tắc cơbản nhất trong quá trình giải quyết tố cáo Trước hết phải đảm bảo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục và thời hạn, đông thời phải căn cứ vào pháp luật về đất đai mới xác định được đúng, sai, tính chất, mức độ vi phạm; giải quyết triệt để, chấm dứt việc tố cáo, bảo vệ những lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức, công dân
- Một nguyên tắc đặc thù trong giải quyết tố cáo là phải giữ bí mật cho người tố cáo về họ tên, địa chỉ, bút tích và những thông tin khác có thể làm lộ danh tính của người tố cáo Phải bảo vệ người tố cáo và người thân thích của
Trang 25người tố cáo khi họ bị đe dọa, trả thù Pháp luật về tố cáo quy định bảo vệ người tố cáo ở nơi cư trú, nơi công tác, bảo vệ danh dự, nhân phẩm, sức khỏe, tài sản của người tố cáo… Trong tình hình hiện nay, khi mà tình trạng người
tố cáo vẫn còn bị trả thù, trù dập thì việc bảo vệ người tố cáo là trách nhiệm nặng nề của người giải quyết tố cáo và cơ quan, tổ chức có liên quan theo quy định của pháp luật về tố cáo Đồng thời phải bảo vệ lợi ích hợp pháp của người bị tố cáo trong trường hợp họ bị tố cáo sai hoặc bị vu cáo
- Nguyên tắc dân chủ, công khai: Thực hiện nguyên tắc này, người được giao giải quyết tố cáo phải lắng nghe ý kiến của các bên, cả người tố cáo, người bị tố cáo và những người có liên quan, đảm bảo dân chủ, bình đẳng trước pháp luật Kết luận tố cáo, quyết định xử lý về tố cáo phải được công khai theo quy định của pháp luật
- Kết hợp giải quyết tố cáo về đất đai với việc giáo dục, thuyết phục, tuyên truyền phổ biến pháp luật về tố cáo, đất đai Thông qua quá trình này làm cho mọi người hiểu, thừa nhận và nghiêm chỉnh chấp hành quyết định của cơ quan đã giải quyết tố cáo
1.2.3.2 Thẩm quyền giải quyết tố cáo về đất đai
Pháp luật về tố cáo phân định thẩm quyền giải quyết tố cáo thành hai loại Một là, thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ công vụ Hai
là, thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực
Theo đó, hành vi vi phạm pháp luật đất đai của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị tố cáo thuộc thẩm quyền quản lý về đất đai của cơ quan, tổ chức nào thì cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết Cán bộ, công chức, viên chức bị tố cáo về hành vi vi phạm quy định về nhiệm vụ, công vụ trong lĩnh vực đất đai thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ chức nào thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết Người bị tố cáo về
Trang 26hành vi vi phạm quy định về nhiệm vụ, công vụ trong lĩnh vực đất đai là người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp có trách nhiệm giải quyết Người đứng đầu cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giải quyết các tố cáo về đất đai thuộc thẩm quyền của mình, trường hợp cần thiết thì giao cho cơ quan thanh tra nhà nước cùng cấp hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tiến hành thẩm tra, xác minh, kết luận nội dung tố cáo và kiến nghị biện pháp xử lý
Thẩm quyền giải quyết tố cáo của chủ tịch ủy ban nhân dân xã, phường,
thị trấn được quy định tại Khoản 1, Điều 13, Luật tố cáo: “Chủ tịch Ủy ban
nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp”
Trong trường hợp tố cáo về hành vi vi phạm nhiệm vụ, công vụ của chủ tịch, phó chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã thì vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện
Khoản 2, Điều 13, Luật Tố cáo 2011 quy định cụ thể, chi tiết về thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện như sau: “Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã, người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện và cán bộ, công chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp” Trường hợp chủ tịch, phó chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện bị tố cáo thì thuộc thẩm quyền giải quyết của chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Theo các quy định về thẩm quyền giải quyết tố cáo nói trên thì thẩm quyền giải quyết tố cáo về đất đai ở địa phương chủ yếu thuộc thẩm quyền giải quyết của chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã, chủ tịch ủy ban nhân dân cấp
Trang 27huyện và các cơ quan quản lý về đất đai như phòng tài nguyên môi trường cấp huyện, sở tài nguyên môi trường cấp tỉnh
Đối với những tố cáo về hành vi phạm tội thì không thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan hành chính nhà nước Trong trường hợp nhận được những tố cáo này, các cơ quan hành chính nhà nước phải chuyển cho cơ quan điều tra hoặc viện kiểm sát có thẩm quyền giải quyết theo thời hạn quy định Trong quá trình xem xét, giải quyết tố cáo thuộc thẩm quyền của mình, nếu phát hiện hành vi vi phạm về nhiệm vụ, công vụ có dấu hiệu phạm tội thì các cơ quan hành chính nhà nước cũng phải chuyển vụ việc, các thông tin, tài liệu có được cho cơ quan chức năng giải quyết theo trình tự, thủ tục luật định
1.2.3.3 Trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo về đất đai
Trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo thực hiện theo quy định của Luật Tố cáo số 03/2011/QH13 ngày 11/11/2013, Nghị định số 76/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tố cáo và Thông tư số 06/2013/TT-TTCP ngày 30/9/2013 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình giải quyết tố cáo Quy trình giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong thi hành nhiệm vụ công vụ gồm 03 bước: Tiếp nhận, chuẩn bị xác minh tố cáo; tiến hành xác minh nội dung tố cáo; kết luận nội dung, xử lý tố cáo và công khai kết quả giải quyết tố cáo
- Tiếp nhận, chuẩn bị xác minh tố cáo gồm các hoạt động cơ bản như: Tiếp nhận tố cáo, kiểm tra điều kiện thụ lý tố cáo; ban hành quyết định thụ lý giải quyết tố cáo và thành lập tổ xác minh hoặc đoàn xác minh; thông báo việc thụ lý tố cáo; xây dựng và phê duyệt kế hoạch xác minh nội dung tố cáo
- Tiến hành xác minh nội dung tố cáo, gồm: thông báo quyết định thành lập tổ xác minh hoặc đoàn xác minh; làm việc trực tiếp với người tố cáo, người
bị tố cáo; yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân liên quan cung cấp thông tin, tài liệu, bằng chứng liên quan đến nội dung tố cáo; thu thập, xử lý thông tin, tài
Trang 28liệu, bằng chứng liên quan đến nội dung tố cáo; xác minh thực tế; trưng cầu giám định; gia hạn giải quyết tố cáo (nếu cần thiết); báo cáo kết quả xác minh nội dung tố cáo và tham khảo ý kiến tư vấn (khi xét thấy cần thiết)
- Kết thúc giải quyết tố cáo, gồm các hoạt động: thông báo dự thảo kết luận nội dung tố cáo; kết luận nội dung tố cáo; việc xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo; công khai kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử lý hành
vi vi phạm bị tố cáo và thông báo kết quả giải quyết tố cáo cho người tố cáo; lập, quản lý hồ sơ giải quyết tố cáo
Việc tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân về quản lý nhà nước về đất đai được thực hiện như đối với tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ Tuy nhiên, riêng đối với
tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân về quản lý nhà nước về đất đai có nội dung rõ ràng, chứng cứ cụ thể, có cơ sở để xử lý ngay thì việc giải quyết tố cáo được thực hiện theo trình tự: Người có thẩm quyền tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo; người tiếp nhận tố cáo phải trực tiếp tiến hành hoặc báo cáo người có thẩm quyền giải quyết tố cáo tiến hành ngay việc xác minh nội dung tố cáo, áp dụng các biện pháp cần thiết để đình chỉ hành vi vi phạm và kịp thời lập biên bản về hành vi vi phạm pháp luật (nếu có); việc xác minh, kiểm tra thông tin về người tố cáo được thực hiện trong trường hợp người giải quyết tố cáo thấy cần thiết cho quá trình xử lý hành vi bị tố cáo Người giải quyết tố cáo
ra quyết định xử lý hành vi vi phạm theo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật
Việc xác minh nội dung tố cáo, kết luận nội dung tố cáo, xử lý tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lý nhà nước về đất đai được thực hiện như xác minh nội dung tố cáo, kết luận nội dung tố cáo, xử lý tố cao đối với hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ
Trang 29Việc công khai kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo: Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ký kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo, người giải quyết tố cáo có trách nhiệm thực hiện việc công khai kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử
lý hành vi vi phạm bị tố cáo theo quy định
Người giải quyết tố cáo công khai kết luận nội dung tố cáo, quyết định
xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo bằng hình thức niêm yết tại trụ sở làm việc hoặc nơi tiếp công dân của cơ quan, tổ chức đã giải quyết tố cáo, quyết định xử
lý hành vi vi phạm bị tố cáo hoặc công khai bằng thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, trên cổng thông tin điện tử
Theo quy định của pháp luật về tố cáo, chậm nhất là 10 ngày, kể từ ngày nhận được tố cáo, cơ quan, tổ chức, cá nhân tiếp nhận tố cáo phải thụ lý để giải quyết Trường hợp tố cáo không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì phải chuyển cho cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết và thông báo cho người
tố cáo biêt khi họ có yêu cầu Thời hạn giải quyết tố cáo không quá 60 ngày, kể
từ ngày thụ lý để giải quyết Thời hạn này là không quá 90 ngày, đối với những vụ việc phức tạp
Trường hợp có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo không đúng pháp luật hoặc quá thời hạn quy định mà tố cáo không được giải quyết thì người tố cáo có quyền tố cáo với cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của người giải quyết tố cáo
1.2.4 Vai trò của giải quyết tố cáo về đất đai
Giải quyết tố cáo về đất đai là một trong những hoạt động quản lí nhà nước của các cơ quan hành chính nhà nước trong lĩnh vực đất đai, có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đảm bảo cho pháp luât nói chung, pháp luật đất đai nói riêng được thực thi nghiêm chỉnh Giải quyết tố cáo về đất đai có những vai trò, ý nghĩa như sau:
Một là, thông qua hoạt động giải quyết tố cáo, cơ quan hành chính nhà
nước cấp trên có thể kiểm tra, giám sát, đánh giá hoạt động của cấp dưới Để
Trang 30từ đó đưa ra các giải pháp khắc phục những hạn chế, yếu kém và xử lí hành vi
vi phạm pháp luật để xây dựng một nền hành chính vững mạnh, trong sạch, chuyên nghiệp, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả và đội ngũ cán bộ, công chức chuyên nghiệp, kỷ cương, liêm chính, trách nhiệm Báo cáo tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, tháng 2 năm 1952 với chủ đề “Mấy vấn
đề cốt yếu của chính quyền dân chủ nhân dân Việt Nam” đã chỉ rõ: “ Chỉ có con mắt của nhân dân mới thấy được tất cả, thấy ngay và thấy đúng chỗ sai lầm, hư hỏng; cho nên chỉ có nhân dân mới kịp thời và thay mặt chỉ trích sai lầm, hư hỏng ấy”; “ Chúng ta là chính quyền dân chủ nhân dân, chúng ta phải lắng nghe những điều chỉ trích của nhân dân, những điều nói nhỏ, những điều nói to, những điều chưa nói thành lời, những ấm ức trong lòng, những điều không nói nhưng đã bày tỏ trong hành động Chúng ta hãy lắng tai nghe những điều chỉ trích của công nhân, nông dân và các tầng lớp khác để kiểm thảo công việc của chúng ta, để nhận lỗi thành thạt và thẳng thắn trước nhân dân Làm như thế chúng ta sẽ được nhân dân tín nhiệm hơn” (Văn kiện Đảng, toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001,tr.240 – 241)
Hai là, hoạt động giải quyết tố cáo là một hoạt động bảo đảm pháp chế
trong quản lí nhà nước, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, xã hội, bảo vệ trật tự kỷ cương, trật tự pháp luật, xử lí những hành vi vi phạm pháp luật Vì vậy, hoạt động giải quyết tố cáo của các cơ quan hành chính nhà nước trước hết phải tuân theo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa Giải quyết tố cáo thực chất là giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân Đây cũng là một đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Vì thế, để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì các cơ quan hành chính nhà nước phải thực hiện tốt công tác giải quyết tố cáo Giải quyết tốt, có hiệu quả tố cáo là nhân
tố tích cực tác động trở lại với hoạt động chấp hành và điều hành của cơ quan hành chính nhà nước
Trang 31Ba là, thực hiện tốt công tác giải quyết tố cáo (cũng như khiếu nại) về
đất đai vừa góp phần tôn trọng quyền tố cáo của công dân, phát huy dân chủ trong xã hội và sức mạnh, trí tuệ của nhân dân trong việc tham gia quản lí nhà nước, vừa bảo đảm kỷ cương, kỷ luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý hành chính nhà nước, củng cố lòng tin của nhân dân với Đảng
và chính quyền Tại Hội nghị tổng kết công tác thanh tra toàn miền Bắc năm
1960, Bác Hồ đến dự và căn dặn cán bộ thanh tra: “ Đồng bào có oan ức, có thắc mắc mới khiếu nại Ta giải quyết tốt các việc khiếu nại, đồng bào thấy Đảng và Chính phủ quan tâm, lo lắng đến họ, do đó mối quan hệ giữa quần chúng nhân dân với Đảng và Chính phủ được củng cố tốt hơn” (Hồ Chí Minh, tuyển tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.310 – 311)
Bốn là, làm tốt công tác giải quyết tố cáo góp phần chủ động, tích cực
trong đấu tranh phòng ngừa, phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật về đất đai; nâng cao ý thức pháp luật trong quản lý và sử dụng đất đai; ngăn chặn và
xử lý kịp thời các hành vi vi phạm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân về đất đai Giải quyết tố cáo về đất đai còn góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai, góp phần phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh, trật tự xã hội ở mỗi địa phương và trong
cả nước
Năm là, thông qua công tác giải quyết tố cáo, các cơ quan nhà nước,
cán bộ, công chức nhà nước cũng phát huy tối đa vai trò của những người đi tiên phong trong việc phổ biến tuyên truyền và giáo dục chính sách,pháp luật của Đảng và Nhà nước tới người dân, giúp họ hiểu và nắm vững các quy định của pháp luật mà tự giác thực hiện
1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả giải quyết tố cáo về đất đai
1.3.1 Quy định của pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo
- Trong đời sống xã hội nói chung và công tác giải quyết tố cáo về đất đai nói riêng, các quy định của pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng Ở
Trang 32nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mọi công dân sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật Pháp luật là công cụ không thể thiếu, bảo đảm cho
sự tồn tại, vận hành bình thường của xã hội nói chung và của nền đạo đức nói riêng Pháp luật không chỉ là một công cụ quản lý nhà nước hữu hiệu, mà còn tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của ý thức đạo đức, làm lành mạnh hóa đời sống xã hội và góp phần bồi đắp nên những giá trị mới
- Công tác giải quyết tố cáo về đất đai, ngoài việc phải tuân theo các quy định chung của pháp luật tố cáo còn phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật đất đai Luật đất đai 2013 (chính thức có hiệu lực ngày 01/7/2014) và Luật tố cáo
2011 (chính thức có hiệu lực ngày 01/7/2012) Giải quyết tố cáo về đất đai theo đúng quy định của pháp luật là nguyên tắc cơ bản nhất trong quá trình giải quyết
tố cáo Phải căn cứ vào pháp luật mới xác định được đúng, sai, tính chất, mức độ
vi phạm; giải quyết triệt để, chấm dứt việc tố cáo, bảo vệ những lợi ích hợp pháp của nhà nước, cơ quan, tổ chức và công dân Các quy định của pháp luật trong lĩnh vực này còn góp phần đảm bảo các vụ việc được giải quyết đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền, công khai, minh bạch Pháp luật càng hoàn thiện càng tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết tố cáo về đất đai
1.3.2 Công tác quản lý về đất đai
- Giải quyết tố cáo về đất đai với ý nghĩa là một nội dung của công tác quản lý nhà nước đối với đất đai, là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm giải quyết các bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân tham gia quan hệ đất đai để tìm ra các giải pháp đúng đắn trên cơ sở pháp luật nhằm phục hồi lại các quyền lợi bị xâm phạm, đồng thời truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật
về đất đai
- Trong quản lý nói chung và quản lý đất đai nói riêng, không tránh khỏi những khiếu nại, tố cáo Đặc biệt, đất đai là lĩnh vực nhạy cảm, xảy ra nhiều khiếu nại, tố cáo hơn các lĩnh vực khác Một trong những vấn đề cấp
Trang 33thiết hiện nay của công tác quản lý đất đai là giải quyết tố cáo về đất đai Vì vậy, "Giải quyết tố cáo về đất đai" là nội dung đã được quy định trong công tác quản lý nhà nước về đất đai
- Hiệu quả của công tác giải quyết tố cáo về đất đai không chỉ phục thuộc vào các quy định trong Luật Đất đai mà còn phụ thuộc vào việc thực hiện Luật Đất đai ở từng địa phương dưới sự kiểm soát của Nhà nước Việc kiểm soát thực hiện pháp luật đất đai là một trong những yếu tố quan trọng để việc quản lý đất đai được thống nhất, đúng pháp luật Hiện nay, chính quyền địa phương được trao quyền đại diện chủ sở hữu, quản lý đất đai ở địa phương Việc kiểm soát thực hiện pháp luật đất đai của chính quyền địa phương đang là vấn đề được Nhà nước ta quan tâm, là một trong những biện pháp quan trọng để Nhà nước, người dân giám sát việc thực thi pháp luật về đất đai của cơ quan nhà nước ở địa phương Kiểm soát việc thực hiện pháp luật đất đai của chính quyền địa phương
Nhà nước và chủ sở hữu đất đai Kiểm soát bảo đảm cho chính quyền địa phương thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, phạm vi, giới hạn thẩm quyền của mình được nhân dân ủy quyền thông qua pháp luật về đất đai, ngăn chặn, giảm thiểu những tác động tiêu cực, tha hóa quyền lực nhà nước qua những biểu hiện như: Tùy tiện, lạm quyền, vượt quyền, sách nhiễu, quan liêu, tham nhũng Kiểm soát việc thực hiện pháp luật đất đai của chính quyền địa phương còn góp phần ngăn ngừa và kịp thời phát hiện sự lạm quyền, thiếu trách nhiệm trong thực hiện pháp luật đất đai trên thực tế tại các địa phương Vì vậy, kiểm soát việc thực hiện pháp luật đất đai của chính quyền địa phương là rất cần thiết, nhằm giảm đến mức tối thiểu nhất những tác động tiêu cực đến đời sống của người dân, giảm bớt tố cáo về đấtđai, phòng ngừa xung đột lợi ích, giữ vững niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước
Trang 341.2.3 Nhận thức, trách nhiệm và sự hiểu biết pháp luật của công dân, cán bộ, công chức, cơ quan, tổ chức về tố cáo và giải quyết tố cáo về đất đai
Tố cáo là quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp,
là công cụ pháp lý để công dân bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khi bị xâm phạm, là biểu hiện của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Luật Tố cáo, luật Đất đai nếu được người dân nhận thức đúng và đầy đủ thì ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật về tố cáo sẽ ngày càng cao, góp phần hạn chế việc gửi đơn thư tố cáo vượt cấp, ngăn chặn
và hạn chế vi phạm pháp luật về tố cáo, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội Từ đó hiểu và thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình khi thực hiện việc tố cáo và trách nhiệm của mình khi thi hành quyết định quyết định xử
lý tố cáo đã có hiệu lực pháp luật Ngược lại, nếu nhận thức về pháp luật đất đai, tố cáo về đất đai hạn chế dễ dẫn đến tâm lý gửi đơn thư đến nhiều nơi hoặc gửi lên cấp cao để sớm được giải quyết hoặc không hiểu đúng về quyền và nghĩa vụ của mình phát sinh tố cáo về đất đai
Đối với các cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, nhất là thủ trưởng các cơ quan quản lý nhà nước nắm vững được các quy định của pháp luật về đất đai và
tố cáo sẽ nâng cao được nhận thức, trách nhiệm trong giải quyết tố cáo về đất đai, giải quyết tố cáo về đất đai kịp thời, đúng nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục, đảm bảo chính xác, khách quan, dân chủ, công khai
1.3.4 Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tiếp dân, giải quyết tố cáo:
“Chất lượng của cán bộ là sự thống nhất giữa phẩm chất chính trị và năng lực công tác, thể hiện ở kết quả hoàn thành nhiệm vụ” (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, 1987, tr.132.)
Ngoài ra còn có quan niệm cho rằng chất lượng đội ngũ cán bộ hiện nay là tổng hợp thống nhất biện chứng những giá trị, những thuộc tính đặc trưng, bản chất của đội ngũ cán bộ về mặt con người và các mặt hoạt động,
Trang 35quy định và phản ánh mức độ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của đội ngũ cán bộ trong điều kiện kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế
Công tác tiếp công dân và giải quyết tố cáo là một trong những nhiệm
vụ hết sức quan trọng, bởi tiếp công dân là giai đoạn đầu của công tác giải quyết tố cáo Đây là khâu then chốt góp phần giải quyết có hiệu quả việc tố cáo của công dân; qua đó bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Trong công tác tiếp dân nói chung và giải quyết tố cáo
về đất đai nói riêng, chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức ảnh hưởng khá nhiều tới hiệu quả giải quyết công việc Hiện nay, việc bố trí cán bộ vào vị trí này chưa có quy định cụ thể, thường dựa vào tính cách phù hợp như mềm mỏng, nhã nhặn, biết kiềm chế Chính vì vậy, có cán bộ tiếp dân ăn nói vòng
vo, ấp úng, thiếu hiểu biết dẫn đến những vụ việc đơn giản trở nên phức tạp
và khiến người dân bức xúc hơn Bên cạnh đó, lực lượng cán bộ, công chức nếu không có trình độ chuyên môn, am hiểu pháp luật sẽ hạn chế trong công tác tham mưu dẫn đến chậm trễ trong thực hiện nhiệm vụ hoặc thiếu chủ động trong công việc làm hạn chế hiệu quả giải quyết công việc cho dân
Việc sắp xếp, bố trí nhân lực làm công tác giải quyết tố cáo cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả công việc Nếu không sắp xếp hợp lý đội ngũ cán bộ trong việc giải quyết đơn thư tố cáo sẽ dẫn đến hiện tượng giải quyết
vụ việc kéo dài, vi phạm quy định của pháp luật về tố cáo hoặc không giải quyết hết nội dung công dân tố cáo, dẫn đến việc công dân tiếp tục gửi đơn tố cáo đến cơ quan cấp trên
Ngược lại, nếu người làm công tác tiếp dân, giải quyết tố cáo có năng lực, trình độ chuyên môn, am hiểu pháp luật, công tâm, thành ý, có trách nhiệm với công việc được giao, tận tụy với dân, đặc biệt biết đặt mình vào vị trí của người dân để kiên trì, chia sẻ, trân trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân thì không những tạo ra hiệu quả cao trong công việc mà còn làm giảm thiểu sự bức xúc của người dân, tạo ra cái nhìn thiện cảm về cán bộ, công chức, cũng như niềm tin vào Đảng, Nhà nước trong mắt nhân dân Do đó, lựa
Trang 36chọn, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác giải quyết tố cáo về kiến thức, ý thức, trách nhiệm của mình khi làm công tác này là rất cần thiết Cần chọn những người có phẩm chất, kiến thức, năng lực, dũng cảm, biết kiềm chế, có kinh nghiệm để làm công tác giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai
Trang 37Tiểu kết chương 1
Tố cáo nói chung, tố cáo về đất đai nói riêng là một trong những quyền
cơ bản của công dân, của con người được Hiến pháp và pháp luật nước ta quy định Đó là việc công dân, cá nhân báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai của bất
cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp cảu công dân, tổ chức, cơ quan
Giải quyết tố cáo về đất đai là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, là việc các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo quy định của Luật Tố cáo và Luật Đất đai tiếp nhận, xác minh, kết luận nội dung tố cáo và xử lý những hành vi vi phạm pháp luật về đất đai Giải quyết tốt tố cáo về đất đai
có vai trò, ý nghĩa rất lớn trong việc tôn trọng quyền của công dân, của con người, giữ gìn kỷ cương, pháp luật; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của cơ quan,
tổ chức, cá nhân; khắc phục những hạn chế, yếu kém trong công tác quản lý đất đai, xử lý những hành vi vi phạm pháp luật về đất đai
Giải quyết tố cáo về đất đai phải tuân thủ theo nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục do pháp luật về tố cáo quy định, đồng thời phải căn cứ vào các quy định của pháp luật về đất đai để kết luận nội dung tố cáo Do vậy, hiệu quả giải quyết tố cáo bị ảnh hưởng bởi một số yếu tố như: quy định của pháp luật
về tố cáo và giải quyết tố cáo; công tác quản lý về đất đai; nhận thức pháp luật
và sự hiểu biết pháp luật của cán bộ, công chức và công dân về tố cáo và chất lượng cán bộ làm công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo
Những vấn đề lý luận trong Chương 1 nêu trên là cơ sở quan trọng để tắc giả đánh giá thực trạng giải quyết tố cáo về đất đai ở huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam ở Chương 2
Trang 38Chương 2 THỰC TRẠNG TỐ CÁO VÀ GIẢI QUYẾT TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BÌNH LỤC, TỈNH HÀ NAM
2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội, công tác quản lý đất đai và tình hình tố cáo về đất đai ở huyện Bình Lục
Bình Lục là một huyện nằm ở phía Đông Nam tỉnh Hà Nam, một vùng đất
có truyền thống lịch sử, văn hóa, cách mạng Trong lịch sử, cùng với nhân dân cả nước, nhân dân Bình Lục đã viết nên những trang sử vẻ vang về truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm Con người nơi đây đã sớm được hun đúc tinh thần lao động cần cù, sáng tạo, truyền thống yêu nước và đấu tranh cách mạng
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Bình Lục tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, khắc phục những khó khăn, khai thác và sử dụng có hiệu quả những thế mạnh sẵn có, vươn lên giành được những thành tựu quan trọng trong
sự nghiệp đổi mới
2.1.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Bình Lục
Huyện Bình Lục nằm ở phía Đông Nam tỉnh Hà Nam, cách thành phố Phủ Lý 11km; phía Bắc giáp huyện Lý Nhân, Duy Tiên; phía Đông và phía Nam giáp tỉnh Nam Định; phía Tây giáp huyện Thanh Liêm
Bình Lục có tổng cộng 19 đơn vị hành chính cấp xã, huyện lỵ là thị trấn Bình Mỹ, nằm cạnh quốc lộ 21A và Đường sắt Thống Nhất và 18 xã: An
Đổ, An Lão, An Mỹ, An Ninh, An Nội, Bình Nghĩa, Bồ Đề, Bối Cầu, Đồn
Xá, Đồng Du, Hưng Công, La Sơn, Mỹ Thọ, Ngọc Lũ, Tiêu Động, Tràng An,
trong đó diện tích đất nông nhiệp là 11 739,35 ha; diện tích đất ở là 3 852,11 ha; diện tích đất đô thị là 238,90 ha; diện tích đất ở khu nông thôn là 3 770,14
ha và diện tích đất chưa sử dụng là 46,10 ha Tổng dân số toàn huyện là gần
145 nghìn người (theo tổng điều tra năm 2016) Trung tâm hành chính huyện đặt tại thị trấn Bình Mỹ
Trang 39Bình Lục là huyện đồng chiêm trũng có truyền thống sản xuất nông nghiệp lâu đời, nền kinh tế của huyện chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp; công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp và thương mại – dịch vụ ít phát triển
Cơ cấu nông nghiệp trong những năm gần đây cũng đã có bước chuyển biến mạnh mẽ Một số diện tích đất xấu, năng suất thấp đã được chuyển sang
mô hình trang trại đa canh, trang trại nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là mô hình sản xuất tập trung đem lại năng suất và thu nhập cao Các loại hoa, cây cảnh
và cây trồng hàng hóa bước đầu được đưa vào gieo trồng trên một số diện tích
đã đem lại hiệu quả cao Cùng với trồng trọt, chăn nuôi được xác định là ngành sản xuất chính chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu nông nghiệp
* Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp
Với vị trí địa kinh tế không thuận lợi cho phát triển công nghiệp nên số doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn còn ít, quy mô nhỏ lẻ, phân tán; khả năng thu hút đầu tư phát triển công nghiệp, đặc biệt là việc thu hút các doanh nghiệp lớn rất khó khăn
Về tiểu thủ công nghiệp, Bình Lục hiện có 6 làng nghề truyền thống: sản xuất Rượu Vọc (Vũ Bản), sừng mỹ nghệ (Đô Hai – An Lão), rũa cưa (An Đổ), bún bánh (Đinh Xá), mây giang đan (An Nội), tranh tre nứa (An Ninh)
đã góp phần giải quyết việc làm, thu hút lao động, tăng thu nhập cho nông dân lúc nông nhàn Một số nghề đã xây dựng thành những thương hiệu có tiếng, trở thành nghề sản xuất chính như rượu Vọc và sừng mỹ nghệ, góp phần đem lại thu nhập cao cho người lao động, đem lại bộ mặt phát triển cho nông thôn
* Văn hóa xã hội
Bình Lục là một địa phương giàu truyền thống lịch sử văn hóa cách mạng của tỉnh Hà Nam, quê hương của trống đồng Ngọc Lũ, của tiếng trống
Bồ Đề lịch sử, của đơn vị anh hùng Lực lượng vũ trang đã có nhiều đóng góp trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược và bảo vệ Tổ quốc
Bình Lục cũng là mảnh đất đã nuôi dưỡng tài năng nhà thơ Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến Với truyền thống hiếu học của người dân
Trang 40cùng với sự quan tâm của cả hệ thống chính trị trên địa bàn huyện, Bình Lục luôn đạt được những kết quả cao trong công tác giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng nhân tài Bên cạnh đó Bình Lục cũng là điểm sáng về công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân và công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình, phong trào xây dựng đời sống văn hóa, làng văn hóa, gia đình văn hóa, công tác xóa đói giảm nghèo và các mặt công tác xã hội khác
2.1.2 Khái quát thực trạng quản lý đất đai ở huyện Bình Lục
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, nguồn nội lực, nguồn vốn to lớn của đất nước, thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế văn hóa – xã hội – an ninh quốc phòng, có ý nghĩa kinh tế - xã hội sâu sắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Xuất phát từ ý nghĩa, vai trò đặc biệt của đất đai nên đây là lĩnh vực quan trọng cần có sự quản lý Quản lý Nhà nước về đất đai là hoạt động tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các hành vi của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu toàn dân về đất đai nhằm duy trì và phát triển các quan hệ đất đai theo trật tự pháp luật quy định Nội dung quản lý nhà nước về đất đai được quy định tại điều 22, Luật Đất đai năm 2013
Quản lý nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của cơ quan Nhà nước về đất đai Đó là các hoạt động trong việc nắm và quản lý tình hình
sử dụng đất đai; trong việc phân bố đất đai vào các mục đích sử dụng theo chủ trương của Nhà nước; trong việc kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng đất Các hoạt động tổ chức, điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước thực chất là thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về đất đai
Ủy ban nhân dân huyện với quyền đại diện chủ sở hữu đất đai tại địa phương, thực hiện quản lý đất đai trên địa bàn huyện thông qua việc lập kế hoạch quy hoạch đất đai, giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền