Trong bối cảnh hiện nay, việc nghiên cứu về năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã nói chung và năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là người DTTS luôn được coi là cấp
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
LƯỜNG VĂN THƯỞNG
NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG
CHỨC CẤP XÃ LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ
TẠI HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI - NĂM 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ /
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LƯỜNG VĂN THƯỞNG
NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG
CHỨC CẤP XÃ LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ
TẠI HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn này là trung thực và chưa từng được bảo vệ trong một học vị khoa học hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được trân trọng ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Lường Văn Thưởng
Trang 4Em xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến Ban Giám đốc, Khoa Sau Đại học, các thầy giáo, cô giáo của Học viện Hành chính Quốc gia đã giúp đỡ em hoàn thành quá trình học tập và thực hiện luận văn
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên và giúp đỡ
em hoàn thành chương trình học tập và thực hiện luận văn này
Mặc dù rất cố gắng trong quá trình thực hiện đề tài, song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự góp ý, chỉ dẫn của các thầy cô giáo và độc giả
Hà Nội, tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Lường Văn Thưởng
Trang 5MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, BẢNG BIỂU
Trang MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài luận văn 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn 3
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 8
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 8
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 9
7 Kết cấu của luận văn 10
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC CẤP XÃ LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ 11
1.1 Lý luận chung về công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số 11
1.1.1 Khái niệm công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số 11
1.1.2 Đặc điểm của công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số 13
1.1.3 Vị trí, vai trò của công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số 14
1.1.4 Nhiệm vụ của công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số 15
1.2 Một số vấn đề cơ bản về năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số 19
1.2.1 Khái niệm công vụ công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số 19
1.2.2 Khái niệm năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số 21
1.2.3 Các yếu tố cấu thành năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số 23
1.2.4 Các tiêu chí đánh giá năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số 25
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số 38
1.3.1 Các yếu tố chủ quan 38
1.3.2 Các yếu tố khách quan 41
Trang 6Tiểu kết chương 1 47
Chương 2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC CẤP XÃ LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU 48
2.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu 48
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội 48
2.1.2 Ảnh hưởng đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội đến năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số tại huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu 52
2.2 Phân tích thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số tại huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu 54
2.2.1 Khái quát đội ngũ công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số tại huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu 54
2.2.2 Thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số thông qua các yếu tố cấu thành năng lực 56
2.2.3 Thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số thông qua việc đánh giá, xếp loại 70
2.2.4 Thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số thông qua mức độ hài lòng của người dân đối với các dịch vụ công 71
2.3 Đánh giá chung về năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số tại huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu 74
2.3.1 Ưu điểm và nguyên nhân 74
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 76
Tiểu kết Chương 2 85
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC CẤP XÃ LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU 86 3.1 Phương hướng nhằm nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số tại huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu 86
3.1.1 Quan điểm của Đảng về phát triển, nâng cao năng lực thực thi công vụ công chức là người dân tộc thiểu số 86
3.1.2 Phương hướng của tỉnh Lai Châu nhằm nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số 95
3.2 Giải pháp nhằm nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số tại huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu 99
3.2.1 Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị xã hội về chính sách phát triển,
Trang 7nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là người dân
tộc thiểu số 99
3.2.2 Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chính sách ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội tạo nên tảng vững chắc cho việc nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số 102
3.2.3 Nâng cao chất lượng công tác tuyển dụng công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số 104
3.2.4 Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số 105
3.2.5 Xây dựng và triển khai thực hiện bản hệ thống đánh giá, phân loại công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số 108
3.2.6 Tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động công vụ của công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số 111
3.2.7 Đầu tư cơ sở vật chất để nâng cao hoạt động của chính quyền cơ sở cấp xã 112
3.2.9 Một số giải pháp liên quan trực tiếp đến bản thân công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số 113
3.3 Một số kiến nghị 113
3.3.1 Đối với Chính phủ 114
3.3.2 Đối với UBND tỉnh Lai Châu 114
3.3.3 Đối với huyện Sìn Hồ 115
3.3.4 Đối với UBND các xã 115
KẾT LUẬN 116 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Trang
Bảng 2.1 Số lượng công chức cấp xã huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu 55 Bảng 2.2 Kết quả khảo sát mức độ hài lòng của người dân đối với dịch vụ
công 73 Biểu đồ 2.1 Cơ cấu tuổi của công chức cấp xã là người DTTS huyện Sìn Hồ,
tỉnh Lai Châu 56 Biểu đồ 2.2 Cơ cấu trình độ học vấn của công chức cấp xã là người DTTS
huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu 57 Biểu đồ 2.3 Cơ cấu trình độ chuyên môn của công chức cấp xã là người
DTTS huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu……… 58 Biểu đồ 2.4 Mức độ phù hợp giữa trình độ chuyên môn của công chức cấp xã
là người DTTS với công việc đang đảm nhận 59 Biểu đồ 2.5 Cơ cấu trình độ lý luận chính trị của công chức cấp xã là người
DTTS huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu 61 Biểu đồ 2.6 Cơ cấu trình độ quản lý nhà nước của công chức cấp xã là người
DTTS huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu 62 Biểu đồ 2.7 Mức độ tự đánh giá khả năng vận dụng trình độ, kiến thức vào
trong công việc thực thế của công chức cấp xã là người DTTS……… 65 Biểu đồ 2.8 Mức độ khả năng vận dụng trình độ, kiến thức vào trong công
việc thức thế của công chức cấp xã là người DTTS do lãnh đạo UBND cấp xã đánh giá……… 66 Biểu đồ 2.9.Mức độ vận dụng các kỹ năng cơ bản của công chức cấp xã là
người DTTS huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu – công chức cấp xã là người DTTS tự đánh giá………67
Trang 10Biểu đồ 2.10 Lãnh đạo UBND xã đánh giá mức độ vận dụng các kỹ năng
trong thực tế công việc của công chức cấp xã là người DTTS 68 Biểu đồ 2.11 Thái độ, hành vi ứng xử của công chức là người DTTS huyện
Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu………70 Biểu đồ 2.12.Đánh giá năng lực công chức cấp xã là người DTTS ở huyện
Sìn Hồ thông qua kết quả thực thi công vụ năm 2016……… 72
Sơ đồ 2.1 Các đơn vị hành chính cấp xã tại huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu…50
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài luận văn
Cấp xã là một cấp trong hệ thống chính quyền các cấp, là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống chính trị cơ sở ở nước ta hiện nay Hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp xã tác động trực tiếp đến việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân, góp phần bảo đảm cho việc ổn định và phát triển của đất nước Đặc biệt chính quyền cấp xã tại các tỉnh miền núi ở nước
ta có vị trí vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ độc lập chủ quyền và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Chính quyền cấp xã không thể đảm nhận được vai trò nếu thiếu nhân tố có ý nghĩa quyết định đó là đội ngũ công chức chính quyền cấp xã trong đó có đội ngũ công chức cấp cấp xã là người dân tộc thiểu số (DTTS)
Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm tới công tác cán bộ, công chức
là người DTTS Nhiều chính sách hiện nay đang tích cực thúc đẩy đội ngũ cán
bộ, công chức DTTS phát triển lớn mạnh về số lượng và chất lượng
Trong bối cảnh hiện nay, việc nghiên cứu về năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã nói chung và năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là người DTTS luôn được coi là cấp thiết, xuất phát từ những lý do cơ bản sau đây:
Thứ nhất, xuất phát từ quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề
quan tâm đến công tác cán bộ DTTS Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn đặc biệt quan tâm và chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ cách mạng, trong di sản tư tưởng của Người, hệ thống quan điểm về cán bộ và công tác cán bộ DTTS đã trở thành một bộ phận, nội dung rất quan trọng của vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đòi hỏi các cấp, các ngành, cả Trung ương và địa phương, cần phải chú trọng hơn nữa đến vấn đề cán bộ và
Trang 12công tác cán bộ DTTS Vì vậy, tập trung mọi nguồn lực để phát triển, nâng cao năng lực công chức cấp xã là người DTTS là quan điểm nhất quán của Đảng ta
Thứ hai, xuất phát từ vai trò quan trọng của công chức cấp xã là người
DTTS Nước ta là một nước đa dân tộc, trong đội ngũ công chức cấp xã tại các chính quyền địa phương trên cả nước có công chức xuất thân là người DTTS chiếm tỷ lệ khá cao đặc biệt là tại các tỉnh miền núi Cũng giống như công chức cấp xã nói chung, công chức cấp xã là người DTTS là những người triển khai và thực thi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước tại địa phương Họ là những người hiểu rõ nhất về tình hình thực tế tại địa phương Nâng cao năng lực thực thi công vụ của đội ngũ công chức này góp phần hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước (QLNN) tại địa phương
Thứ ba, xuất phát từ thực trạng năng lực thực thi công vụ của công
chức cấp xã là người DTTS So với yêu cầu của công cuộc đổi mới, đội ngũ công chức cấp xã là người DTTS còn hạn chế cả về trình độ học vấn, trình độ chuyên môn; công chức cấp xã người DTTS làm công tác trong các lĩnh vực trọng yếu của địa phương còn thiếu cả về chất lượng và số lượng
Thứ tư, hiện nay Chính phủ đang đẩy mạnh công cuộc CCHC nhằm
xây dựng một Chính phủ liêm khiết, kiến tạo, phục vụ nhân dân Vì vậy, yêu cầu về nâng cao năng lực của đội ngũ công chức nói chung và công chức cấp
xã là người DTTS nói riêng là mục tiêu của CCHC Không thể thực hiện tốt CCHC nếu không có đội ngũ công chức cấp xã là người DTTS có năng lực thực thi công vụ hiệu lực và hiệu quả
Thứ năm, sự cần thiết phải nghiên cứu về năng lực thực thi công vụ của
công chức cấp xã là người DTTS tại huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu xuất phát từ thực trạng về năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là người DTTS
Trang 13tại huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu hiện nay Bên cạnh những mặt đã đặt được, thực tiễn tại địa phương cho thấy năng lực thực thi công vụ của đội ngũ công chức cấp xã là người DTTS tại huyện còn nhiều hạn chế Trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn và trình độ QLNN của đội ngũ công chức là người DTTS còn chưa đặt chuẩn theo quy định của pháp luật hiện hành Kỹ năng làm việc và tác phong làm việc của đội ngũ công chức cấp xã là người DTTS trên địa bàn huyện còn yếu kém Mặt khác, huyện Sìn Hồ là một trong những huyện nghèo của tỉnh Lai Châu, điều kiện về kinh tế - xã hội ở đây còn gặp nhiều khó khăn Để địa phương này phát triển kịp thời với các địa phương khác trong tỉnh và trong khu vực rất cần đến năng lực của đội ngũ công chức, đặc biệt là đội ngũ công chức cấp xã là người DTTS
Như vậy, vấn đề năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là người DTTS là một vấn đề quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn Việc nghiên
cứu đề tài “Năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là người DTTS
tại huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu” là rất cần thiết và có ý nghĩa
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến đề tài năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là người DTTS được nhiều nhà nghiên cứu khoa học quan tâm và được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau, đó là các công trình nghiên cứu liên quan đến công vụ, công chức, năng lực thực thi công vụ của công chức, xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức là người DTTS, vấn đề dân tộc Có thể kể đến các công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau:
* Nhóm các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến cán bộ, công chức, công vụ công chức nhà nước:
- Sách tham khảo “Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán
bộ” của PGS.TS Bùi Đình Phong, Nhà xuất bản Lao động, 2003 Tác giả đã
Trang 14thể hiện những tư tưởng chủ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác cán bộ như tuyển dụng, sử dụng, đào tạo và nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ
- Sách tham khảo “Công vụ công chức nhà nước” của PGS.TS Phạm
Hồng Thái, Nhà xuất bản Tư pháp, 2004 Tác giả đã nêu lên vị trí, vai trò của công chức, công vụ công chức; các khái niệm về công chức, công vụ, chức năng, nhiệm vụ công chức; thực trạng đội ngũ công chức ở nước ta và những giả pháp xây dựng đội ngũ công chức trong thời kỳ mới
- Sách tham khảo “Về chế độ công vụ Việt Nam” của TS Nguyễn
Trọng Điều, Nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia, 2007 Tác giả đã phân tích và đưa ra hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về công chức, chế độ công vụ và cải cách công vụ của nước ta qua từng thời kỳ Tác giả cũng đưa ra các giải pháp thích hợp nhằm hoàn thiện chế độ công vụ Việt Nam trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân
- Đề tài khoa học cấp nhà nước “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao
chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của GS.TS Nguyễn Phú Trọng và PGS.TS Trần Xuân Sầm
làm chủ nhiệm Đề tài đã tập trung lý giải, phân tích hệ thống các căn cứ khoa học của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Từ đó đưa ra một hệ thống các quan điểm, phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, trong đó có đội ngũ công chức HCNN nhằm đáp ứng trước yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
* Nhóm các công trình khoa học liên quan đến công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức là người DTTS:
- Sách tham khảo “Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở nước ta
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa – Luận cứ và giải pháp”, của nhóm tác giả TS Lê Phương Thảo – PGS TS Nguyễn Cúc – TS
Trang 15Doãn Hùng đồng chủ biên, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, 2005 Các tác giả
đã hệ thống hóa một cách toàn diện quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, cán bộ người DTTS; đặc điểm, vị trí, vai trò của cán bộ người DTTS; chính sách phát triển công tác cán bộ người DTTS của các tỉnh miền núi tại Tây Bắc, Tây Nguyên; và đưa ra nhiều định hướng, giải pháp nhằm phát triển đội ngũ cán bộ người DTTS trong thời kỳ nhà nước ta đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Sách tham khảo “Phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số ở các tỉnh
miền núi phía Bắc nước ta hiện nay” của TS Lô Quốc Toản, Nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia, 2010 Cuốn sách là một nghiên cứu mang tính lý luận và thực tiễn về nguồn cán bộ DTTS ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay Trên cơ sở lý luân của chủ nghĩa Mác-Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ và thực trạng công tác phát triển nguồn cán bộ DTTS ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta, tác giả đã nêu phương hướng và hệ giải pháp nhằm phát triển nguồn cán bộ này một cách vững mạnh
- Sách tham khảo “Phát triển nguồn nhân lực ở vùng dân tộc thiểu số
Việt Nam đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước” của PGS.TS Nguyễn Đăng Thành, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia,
2012 Cuốn sách cung cấp luận cứ lý thuyết và thực tiễn vấn đề phát triển nguồn nhân lưc ở vùng DTTS; đề xuất hệ quan điểm, giải pháp toàn diện cho hoạch định chính sách phát triển nguồn nhân lực DTTS
* Nhóm các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã, năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là người DTTS:
- “Một số giải pháp tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ cơ sở” của
GS.TSKH Vũ Huy Từ, Tạp chí QLNN số 76, tháng 5/2002 Bài viết đưa ra những giải pháp cơ bản nhằm tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ tại cơ sở
Trang 16- “Một số vấn đề về phát triển năng lực của cán bộ, công chức” của
PGS.TS Nguyễn Thị Hồng Hải, Tạp chí Tổ chức nhà nước số 1, 2011 Tác giả
đã làm rõ những vấn đề lý luận và cơ sở hình thành năng lực của cán bộ, công chức, đồng thời đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy hành chính nhà nước (HCNN)
- Sách tham khảo “Quản lý thực thi công vụ theo định hướng kết quả”
của PGS.TS Nguyễn Thị Hồng Hải chủ biên, Nhà xuất bản Lao động, 2013 Cuôn sách đã đề cập đến một số nội dung về công vụ, công chức, công vụ của công chức; và nội dung quản lý thực thi công vụ theo định hướng kết quả và việc áp dụng mô hình quản lý này trong bối cảnh hiện nay ở Việt Nam
- “Chất lượng thực thi công vụ - vấn đề then chốt của cải cách hành
chính” của PGS.TS Ngô Thành Can, Nội san khoa Tổ chức và Quản lý nhân
sự, Học viện Hành chính số 12, 2012 Tác giả đã đưa ra những vấn đề lý luận
về công vụ và trách nhiệm công vụ Tác giả cũng đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công vụ của công chức
- Nguyễn Thị Thu Nhuần, “Nâng cao năng lực thực thi công vụ của đội
ngũ cán bộ chủ chốt xã, thị trấn ở huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên hiện nay”, Luận Văn thạc sĩ Quản lý hành chính công, Học viện hành chính, 2012
- Trịnh Thị Thoa, “Nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức
hành chính cấp tỉnh ở Thái Nguyên”, Luận văn thạc sĩ Quản lý hành chính
công, Học viện hành chính, 2013
- Lê Nguyễn Hải Quỳnh, “Năng lực thực thi công vụ của công chức
các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh”, Luận văn
thạc sĩ Quản lý công, Học viện hành chính Quốc Gia, 2016
- Phạm Thị Như Quỳnh, “Năng lực của công chức cấp xã là người dân
tộc thiểu số tại các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam”, Luận văn thạc sĩ Quản
lý công, Học viện Hành chính Quốc gia, 2016,
Trang 17Các công trình nghiên cứu khoa học của các tác giả trên đã đưa ra những vấn đề lý luận và thực tiễn về năng lực thực thi công vụ của công chức nói chung ở các cấp hành chính khác nhau và công chức cấp xã là người DTTS Tuy nhiên, hiện nay chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số tại huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu Trên cơ sở kế thừa những vấn đề lý luận của các công trình nghiên cứu trước đây về công vụ, công chức và năng lực thực thi công vụ của công chức giúp tác giả có nền tảng về kiến thức và hiểu biết
chung để tiếp cận và đi sâu nghiên cứu đề tài: “Năng lực thực thi công vụ
của công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số tại huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu” Đây là vấn đề hoàn toàn mới và không trùng lặp với các đề tài khác
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích:
Trên cơ sở lý luận về năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là người DTTS và thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là người DTTS tại huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là người DTTS tại huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu
- Nhiệm vụ:
+ Thứ nhất, tổng quan những lý luận cơ bản về công chức cấp xã là
người DTTS, công vụ của công chức cấp xã là người DTTS, năng lực thực thi công vụ công chức cấp xã là người DTTS
+ Thứ hai, phân tích thực trạng và đưa ra đánh giá về năng lực thực thi
công vụ của công chức cấp xã là người DTTS tại huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu
Trang 18+ Thứ ba, đưa ra phương hướng, mục tiêu và các giải pháp nhằm nâng
cao năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là người DTTS tại huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là năng lực thực thi công vụ của công chức cấp
xã là người DTTS tại huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về nội dung: Luận văn tiếp cận và nghiên cứu năng lực thực thi công
vụ của công chức cấp xã là người DTTS dựa trên các yếu tố cấu thành năng lực, kết quả đánh giá xếp loại thực thi công vụ và đánh giá mức độ hài lòng của người dân đối với việc tiếp cận dịch vụ công
+ Về không gian và thời gian: Luận văn nghiên cứu năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là người DTTS trên địa bàn huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu năm 2017
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Phương pháp luận:
Luận văn nghiên cứu trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Phương pháp nghiên cứu:
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
+ Phương pháp khảo cứu tài liệu: Nghiên cứu các tài liệu liên quan để đưa ra các luận cứ khoa học cho việc đánh giá năng lực thực thi công vụ của công chức nói chung và công chức cấp xã là người DTTS nói riêng, trên cơ sở
đó đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực
Trang 19thực thi công vụ của công chức cấp xã là người DTTS tại huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu
+ Phương pháp phân tích đánh giá: Tác giả đã tiến hành phân tích, đánh giá thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là người DTTS tại huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu để từ đó đưa ra các điểm mạnh, hạn chế trong năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là người DTTS tại huyện Sìn
Hồ tỉnh Lai Châu làm cơ sở cho việc đề xuất một số giải pháp
+ Phương pháp điều tra: Được tiến hành điều tra đối với 70 công chức cấp xã là người DTTS và 20 Chủ tịch, Phó Chủ tịch tại 10 xã, thị trấn và 100 người dân sinh sống tại các xã, thị trấn thuộc huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu nhằm thu thập thông tin về trình độ, kiến thức, kỹ năng làm việc, hành vi của công chức, thái độ phục vụ nhân dân…và những giải pháp nhằm nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là người DTTS
+ Phương pháp thống kê: Được tác giả sử dụng để xử lý số liệu thu thập được từ kết quả điều tra, khảo sát thực tế
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận:
Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận về năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là người DTTS, qua đó bổ sung và phát triển lý luận của khoa học quản lý nguồn nhân lực
- Ý nghĩa thực tiễn:
Luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là người DTTS tại huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, qua đó giúp các nhà hoạch định chính sách hoặc các cơ quan có thẩm quyền để xây dựng chính sách, triển khai các hoạt động cụ thể nhằm nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là người DTTS
Trang 207 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được thể hiện trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số
Chương 2: Thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã
là người dân tộc thiểu số tại huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số tại huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu
Trang 21Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ
CỦA CÔNG CHỨC CẤP XÃ LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1 Lý luận chung về công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số
1.1.1 Khái niệm công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số
- Khái niệm công chức
Khái niệm công chức thường được hiểu khác nhau ở các quốc gia Việc xác định ai là công chức thường do các yếu tố sau quyết định: hệ thống thể chế chính trị; hệ thống thể chế hành chính; tính truyền thống; sự phát triển kinh tế - xã hội và các yếu tố văn hoá của quốc gia đó
Ở nước ta Luật Cán bộ, công chức năm 2008 ra đời là một văn bản có giá trị pháp lý cắt nghĩa được rõ ràng hơn về khái niệm công chức Theo đó
“Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước,
tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội (gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”[17]
Tóm lại, công chức gắn với cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh
Trang 22- Khái niệm công chức cấp xã
Theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008, khái niệm công chức cấp xã được hiểu như sau: “Công chức cấp xã là những người được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân (UBND) cấp
xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”[17]
Theo Khoản 3, Điều 61 Luật Cán bộ, công chức năm 2008, công chức cấp xã bao gồm các chức danh sau đây: Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng Quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hóa - xã hội
Như vậy, công chức cấp xã được hiểu là những người được tuyển dụng vào ngạch, giữ một chức danh chuyên môn theo quy định của pháp luật thuộc UBND cấp xã, thuộc biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, có trách nhiệm giúp UBND cấp xã QLNN trên tất cả các lĩnh vực của đời sống
xã hội tại địa phương
Trong luận văn này, nội hàm khái niệm công chức cấp xã được hiểu theo khái niệm công chức cấp xã quy định trong Luật Cán bộ, công chức
2008
- Khái niệm công chức cấp xã là người DTTS
DTTS là khái niệm chỉ các cộng đồng tộc người không phải đa số trong một quốc gia Ở Việt Nam, theo cách phân loại hiện nay có 54 thành phần dân tộc, trong đó có người Kinh được xem là cư dân đa số, 53 tộc người còn lại được xem là cư dân thiểu số Thiểu số hay đa số là xem xét trên phạm
vi toàn quốc, bởi một tộc người này được xem là thiểu số khi xét trên phạm
vi toàn quốc, nhưng ở một địa phương có khi lại là đa số Mặc dù hiện nay đã
có quy định thống nhất gọi là DTTS, nhưng cách gọi dân tộc ít người vẫn không bị hiểu khác đi về nội dung
Trang 23Tại Khoản 2 Điều 4 Nghị định số 05/2011/NĐ – CP về công tác dân tộc của Chính phủ ban hành ngày 14 tháng 01 năm 2011, DTTS được hiểu như sau: “Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc
đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”[5]
Từ những phân tích như trên, tác giả luận văn quan niệm về công chức
cấp xã là người DTTS như sau: Công chức cấp xã là người DTTS là những
người được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, có thành phần xuất thân từ các DTTS Việt Nam
1.1.2 Đặc điểm của công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số
Ngoài những đặc điểm chung của công chức cấp xã, công chức cấp xã
là người DTTS có những đặc điểm riêng biệt:
Thứ nhất, công chức cấp xã là người DTTS chủ yếu là những người
xuất thân từ địa phương và sinh sống tại địa phương đó Họ trực tiếp tham gia sản xuất cùng với gia đình đồng thời tham gia thực hiện QLNN tại địa phương Đội ngũ công chức cấp xã của các tỉnh miền núi hiện nay chủ yếu là người DTTS – đây là nguồn lực nội sinh rất quan trọng và dồi dào ở miền núi Chính vì vậy để bộ máy chính quyền cơ sở hoạt động được là sự phấn đấu và sự cố gắng của các DTTS tại địa phương tham gia vào hoạt động QLNN
Thứ hai, công chức cấp xã là người DTTS am hiểu sâu sắc về phong
tục, tập quán của dân tộc mình và phong tục, tập quán của các dân tộc khác trong địa phương Vì vậy, chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi các phong tục, tập quán đó Mỗi dân tộc đều có phong tục, tập quán riêng và những thói quen, tâm lý đó đã ảnh hưởng ít nhiều đến cách làm việc của đội ngũ công chức là người DTTS
Thứ ba, công chức cấp xã là người DTTS dễ tạo được lòng tin, uy tín
với đồng bào DTTS tại địa phương Công chức cấp xã là người DTTS có
Trang 24thành phần xuất thân từ địa phương, mặc khác có mối quan hệ dòng tộc trong cộng đồng cho nên khi triển khai thực thi công việc hay tuyên truyền phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước được đồng bào tin tưởng Thực tế tại các địa phương cho thấy khi một dòng tộc có con cháu làm việc tại UBND xã thì người đó có uy tín và ảnh hưởng tích cực đối với cả dòng tộc và người dân tại các bản, làng
Thứ tư, một số công chức cấp xã là người DTTS còn chậm thích ứng
đối với sự thay đổi hơn so với công chức là người Kinh Đội ngũ công chức người DTTS họ xuất thân từ hoàn cảnh khó khăn về mặt kinh tế của gia đình, trong quá trình học tập từ bé đến lớn họ không có điều kiện học tập tốt, không được tiếp xúc với các phương tiện thông tin đại chúng Được học trong các trường Đại học, hay các trường chuyên nghiệp chủ yếu theo diện ưu tiên,
cử tuyển cho nên họ không có sự đột phá trong thay đổi nhận thức, tư duy để đáp ứng với sự thay đổi của thế giới xung quanh
1.1.3 Vị trí, vai trò của công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số
Công chức cấp xã là người DTTS có một vị trí, vai trò quan trọng trong chính quyền cấp xã nói riêng và trong hệ thống chính trị cơ sở nói chung:
Thứ nhất, công chức cấp xã là người DTTS triển khai, áp dụng, hướng
dẫn các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đến người dân Các hoạt động này mang tính thừa hành, thực thi, áp dụng trực tiếp các quy định của pháp luật tại địa phương Sự phát triển kinh
tế, văn hóa, xã hội của các xã là nơi biểu hiện tính hiệu quả của chủ trương, chính sách cấp trên đề ra
Thứ hai, Công chức cấp xã là người DTTS giữ vai trò trực tiếp chăm lo
đời sống cho người dân địa phương, gắn kết các mối quan hệ hài hòa của người dân Nhìn từ thực tiễn cho thấy cộng đồng làng, xã là nơi gắn kết người
Trang 25dân bền vững Làng, xã là nơi diễn ra hoạt động sản xuất và sinh hoạt của người dân Công chức cấp xã là người DTTS là những người hiểu được sâu sắc văn hóa này là cầu nối và điều tiết các mối quan hệ giữa tình làng, nghĩa xóm, dòng tộc, tạo sự đồng thuận trong dân cư
Thứ ba, công chức cấp xã là người DTTS có vai trò quan trọng trực
tiếp trong việc thực hiện các nhiệm vụ do chính quyền cấp trên giao Các nhiệm vụ này thường gắn với phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Đội ngũ công chức này chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao
và phát hiện những khó khăn, vướng mắc, tháo gỡ những khó khăn tại địa phương để thực hiện nhiệm vụ được giao tốt hơn, đồng thời cũng là chính là người phản hồi lại cấp trên để nhận được sự hỗ trợ trong giải quyết công việc
Thứ tư, công chức cấp xã là người DTTS góp phần giữ vững ổn định
hệ thống chính trị cơ sở Tại các chính quyền cấp xã của các tỉnh miền núi có đường biên giới, vùng sâu, vùng xa dễ bị kẻ xấu lợi dụng sự thiếu hiểu biết của người dân địa phương nhằm mục đích chống phá Đảng, Nhà nước Chính
vì vậy, đội ngũ công chức này có vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền, vận động cộng đồng dân cư tại địa phương ổn định sản xuất, sinh hoạt, tránh
sự lôi kéo vi phạm pháp luật của kẻ xấu Đây cũng chính là mục tiêu mà Đảng, Nhà nước ta hiện nay cần tăng cường đội ngũ cán bộ, công chức có năng lực làm việc tại các chính quyền cơ sở vùng núi, vùng sâu vùng xa, vùng dân tộc thiểu số
1.1.4 Nhiệm vụ của công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số
Hiện nay chưa có văn bản pháp lý nào quy định cụ thể về nhiệm vụ của công chức cấp xã là người DTTS Để thực hiện tốt vai trò của một công chức cấp xã tại bộ máy chính quyền cơ sở ngoài các công việc khác tùy theo tình hình tại mỗi địa phương, công chức cấp xã là người DTTS cũng thực hiện các nhiệm vụ theo quy định tại Mục 2 Chương I Thông tư số 06/2012/TT-BNV
Trang 26của Bộ Nội vụ ban hành hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm
vụ của công chức xã, phường, thị trấn
Ngoài nhiệm vụ tham mưu, giúp UBND cấp xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo từng lĩnh vực được phân công theo quy định của pháp luật và thực hiện các nhiệm vụ khác do Chủ tịch UBND cấp xã giao công chức cấp xã là người DTTS phải trực tiếp thực hiện các công việc sau:
* Nhiệm vụ của công chức Trưởng công an xã:
Trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật về công an xã và các văn bản có liên quan của cơ quan có thẩm quyền
* Nhiệm vụ của công chức Chỉ huy trưởng Quân sự:
Trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật về dân quân tự vệ, quốc phòng toàn dân, nghĩa vụ quân sự và các văn bản có liên quan của cơ quan có thẩm quyền
* Nhiệm vụ của công chức Văn phòng – Thống kê:
- Xây dựng và theo dõi việc thực hiện chương trình, kế hoạch công tác, lịch làm việc định kỳ và đột xuất của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, UBND, Chủ tịch UBND cấp xã;
- Giúp Thường trực Hội đồng nhân dân và UBND cấp xã tổ chức các
kỳ họp; chuẩn bị các điều kiện phục vụ các kỳ họp và các hoạt động của Hội đồng nhân dân, UBND cấp xã;
- Tổ chức lịch tiếp dân, tiếp khách của UBND cấp xã; thực hiện công tác văn thư, lưu trữ, cơ chế “một cửa” và “một cửa liên thông” tại UBND cấp xã; nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo và chuyển đến Thường trực Hội đồng nhân dân, UBND xem xét, giải quyết theo thẩm quyền; tổng hợp, theo dõi và báo cáo việc thực hiện quy chế làm việc của UBND cấp xã và thực hiện dân chủ ở cơ sở theo quy định của pháp luật;
Trang 27- Chủ trì, phối hợp với công chức khác xây dựng và theo dõi việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; tổng hợp, thống kê, báo cáo tình hình phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ và các hoạt động kinh tế -
xã hội trên địa bàn cấp xã; dự thảo các văn bản theo yêu cầu của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, UBND, Chủ tịch UBND cấp xã
* Nhiệm vụ của công chức Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc công chức Địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã):
- Thu thập thông tin, tổng hợp số liệu, lập sổ sách các tài liệu và xây dựng các báo cáo về đất đai, địa giới hành chính, tài nguyên, môi trường
và đa dạng sinh học, công tác quy hoạch, xây dựng, đô thị, giao thông, nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới trên địa bàn theo quy định của pháp luật;
- Tổ chức vận động nhân dân áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, bảo vệ môi trường trên địa bàn cấp xã;
- Giám sát về kỹ thuật các công trình xây dựng thuộc thẩm quyền quản
lý của UBND cấp xã;
- Chủ trì, phối hợp với công chức khác thực hiện các thủ tục hành chính trong việc tiếp nhận hồ sơ và thẩm tra để xác nhận nguồn gốc, hiện trạng đăng ký và sử dụng đất đai, tình trạng tranh chấp đất đai và biến động
về đất đai trên địa bàn; xây dựng các hồ sơ, văn bản về đất đai và việc cấp phép cải tạo, xây dựng các công trình và nhà ở trên địa bàn để Chủ tịch UBND cấp xã quyết định hoặc báo cáo UBND cấp trên xem xét, quyết định theo quy định của pháp luật
* Nhiệm vụ của công chức Tài chính – Kế toán:
- Xây dựng dự toán thu, chi ngân sách cấp xã trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; tổ chức thực hiện dự toán thu, chi ngân sách và các biện pháp khai thác nguồn thu trên địa bàn cấp xã;
Trang 28- Kiểm tra và tổ chức thực hiện các hoạt động tài chính, ngân sách theo hướng dẫn của cơ quan tài chính cấp trên; quyết toán ngân sách cấp xã và thực hiện báo cáo tài chính, ngân sách theo đúng quy định của pháp luật;
- Thực hiện công tác kế toán ngân sách (kế toán thu, chi ngân sách cấp
xã, kế toán các quỹ công chuyên dùng và các hoạt động tài chính khác, kế toán tiền mặt, tiền gửi, kế toán thanh toán, kế toán vật tư, tài sản, ) theo quy định của pháp luật;
- Chủ trì, phối hợp với công chức khác quản lý tài sản công; kiểm tra, quyết toán các dự án đầu tư xây dựng thuộc thẩm quyền quản lý của UBND cấp xã theo quy định của pháp luật
* Nhiệm vụ của công chức Tư pháp – Hộ tịch:
- Phổ biến, giáo dục pháp luật; quản lý tủ sách pháp luật, tổ chức phục
vụ nhân dân nghiên cứu pháp luật và tổ chức lấy ý kiến nhân dân trên địa bàn cấp xã trong việc tham gia xây dựng pháp luật;
- Kiểm tra, rà soát các văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và UBND cấp xã báo cáo cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định; tham gia công tác thi hành án dân sự trên địa bàn cấp xã;
- Thực hiện nhiệm vụ công tác tư pháp, hộ tịch, chứng thực, chứng nhận và theo dõi về quốc tịch trên địa bàn cấp xã theo quy định của pháp luật; phối hợp với công chức Văn hóa - xã hội hướng dẫn xây dựng hương ước, quy ước ở thôn, tổ dân phố và công tác giáo dục tại địa bàn cấp xã;
- Chủ trì, phối hợp với công chức khác thực hiện công tác hòa giải ở
cơ sở
* Nhiệm vụ của công chức Văn hóa – xã hội:
- Tổ chức, theo dõi và báo cáo về các hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao, du lịch, y tế và giáo dục trên địa bàn; tổ chức thực hiện việc xây
Trang 29dựng đời sống văn hóa ở cộng đồng dân cư và xây dựng gia đình văn hóa trên địa bàn cấp xã;
- Thực hiện các nhiệm vụ thông tin, truyền thông về tình hình kinh tế -
xã hội ở địa phương;
- Thống kê dân số, lao động, việc làm, ngành nghề trên địa bàn; theo dõi, tổng hợp, báo cáo về số lượng và tình hình biến động các đối tượng chính sách lao động, thương binh và xã hội; theo dõi, đôn đốc việc thực hiện
và chi trả các chế độ đối với người hưởng chính sách xã hội và người có công; quản lý nghĩa trang liệt sĩ và các công trình ghi công liệt sĩ; thực hiện các hoạt động bảo trợ xã hội và chương trình xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn cấp xã;
- Chủ trì, phối hợp với công chức khác và trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố xây dựng hương ước, quy ước ở thôn, tổ dân phố và thực hiện công tác giáo dục tại địa bàn cấp xã
1.2 Một số vấn đề cơ bản về năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số
1.2.1 Khái niệm công vụ công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số
Công vụ là một khái niệm rộng về phạm vi và quan trọng về ý nghĩa cũng như phương thức hoạt động trong nền hành chính thuộc bộ máy nhà
nước và đã được rất nhiều các công trình nghiên cứu đề cập tới
- Từ điển Hành chính công đưa ra khái niệm công vụ “bao gồm các cơ quan khác nhau của Chính phủ, như: các bộ, ngành của nhà nước, các tổ chức doanh nghiệp, các tập đoàn và doanh nghiệp của chính phủ; là các cơ quan chịu trách nhiệm về việc tạo điều kiện và thực thi pháp luật, chính sách công
và các quyết định của chính phủ Đôi khi công vụ được dùng cụ thể đối với các viên chức dân sự của chính phủ là những người có được công ăn việc làm
Trang 30thông qua các tiêu chí phi chính trị và các kỳ sát hạch của hệ thống công tích”
- Công vụ là loại lao động đặc biệt, tách ra khỏi quá trình lao động trực tiếp sản xuất của cải vật cho xã hội
- Người thực hiện công vụ phải là những công chức của Nhà nước Đội ngũ công chức này phải thỏa mãn các điều kiện của pháp luật quy định về công chức
Công vụ được xem là một loại lao động đặc thù thực hiện nhiệm vụ QLNN, để thi hành pháp luật, đưa pháp luật vào đời sống để quản lý, sử dụng
có hiệu quả công sản và ngân sách nhà nước phục vụ nhiệm vụ chính trị Hoạt động công vụ, do đó, được định nghĩa là chức năng tổ chức và hoạt động QLNN nhằm ổn định, phát triển xã hội và đời sống công dân thông qua các công sở, đơn vị phục vụ và toàn thể cán bộ công nhân viên Nhà nước
Có thể thấy rằng hoạt động công vụ khác với nhiều loại hoạt động thông thường khác ở chỗ nó là hoạt động công quyền dựa trên cơ sở vận dụng quyền lực được nhà nước cho phép Hoạt động này được thực hiện bởi một pháp nhân công quyền, được quyền lực nhà nước bảo đảm, và sử dụng nó để thực hiện các nhiệm vụ quản lý do nhà nước chỉ định trong phạm vi hệ thống chính trị của quốc gia, vì lợi ích công của toàn xã hội hay của công dân; có nghĩa vụ, quyền lợi, trách nhiệm do luật định
Theo quy định tại Điều 2, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 thì hoạt động công vụ của cán bộ, công chức là việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức theo quy định của Luật này và các quy định khác có liên quan [17]
Để hiểu thống nhất, và tạo cơ sở nghiên cứu hệ thống năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là người DTTS, trong luận văn này tác giả tiếp
Trang 31cận công vụ ở phạm vi hẹp, tức là chỉ giới hạn trong hoạt động công vụ của
hệ thống các cơ quan nhà nước Theo cách tiếp cận đó, công vụ được hiểu
như sau: Công vụ là một loại hoạt động mang tính quyền lực - pháp lý được
thực thi bởi đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước hoặc những người khác khi được nhà nước trao quyền nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trong quá trình quản lý toàn diện các mặt hoạt động của đời sống xã hội Công vụ là phục vụ nhà nước, phục vụ nhân dân, gắn với quyền lực nhà nước[13]
Từ khái niệm công vụ, tác giả luận văn quan niệm về công vụ công
chức cấp xã là người DTTS là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, được thực hiện bởi đội ngũ công chức cấp xã là người DTTS để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của bộ máy chính quyền cấp xã
1.2.2 Khái niệm năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số
Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về năng lực Có thể điểm
qua một số quan niệm khi tiếp cận nghiên cứu năng lực như sau:
Theo nghĩa thông thường, năng lực là khả năng mà mỗi con người có được thông qua việc trau dồi học vấn, hoạt động thực tiễn công việc, tích lũy kinh nghiệm để đáp ứng yêu cầu nào đó của công việc nhằm giải quyết những công việc hay các tình huống đặt ra
Theo từ điển Tiếng Việt: “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên, sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó; là phẩm chất sinh lý
và tâm lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”[16]
Theo cuốn Thuật ngữ Hành chính, năng lực được định nghĩa là khả năng thực hiện một công việc nhất định nào đó Như vậy, năng lực bao giờ cũng gắn với một chủ thể nhất định (cá nhân, nhóm người, tổ chức)
Trang 32Theo các nhà tâm lý học: Năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao Các năng lực hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên đóng vai trò quan trọng, năng lực con người không phải hoàn toàn tự nhiên mà có, phần lớn do công tác và tập luyện mà có
Từ các cách tiếp cận trên có thể thấy năng lực luôn gắn với một chủ thể nhất định (cá nhân, tổ chức ), năng lực ở mỗi người được hình thành bởi nhiều yếu tố Những yếu tố đó mỗi người có thể được đào tạo đó là: kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm và có thể phải qua rèn luyện, tu dưỡng, thông qua cách ứng xử với các mối quan hệ trong công việc Nhìn chung, năng lực
là sự tập hợp bởi ba nhóm yếu tố (kiến thức, kỹ năng, thái độ) để đạt được kết quả trong công việc
Mặt khác, khi nói đến năng lực không mang tính chung chung, năng lực bao giờ cũng thuộc về hoạt động cụ thể nào đó như năng lực nghiên cứu của hoạt động nghiên cứu khoa học, năng lực giảng dạy của hoạt động giảng dạy, năng lực thực thi công vụ của hoạt động thực thi công vụ gọi chung là năng lực để thực thi công việc Năng lực để thực thi công việc là sự tương ứng giữa những thuộc tính tâm, sinh lý của con người (kiến thức, kỹ năng, thái độ) với những yêu cầu của công việc cụ thể đặt ra Nếu không có sự tương ứng này thì con người sẽ không thể theo đuổi được nghề nghiệp của mình Giữa năng lực cá nhân của mỗi người với năng lực có hay không có để đáp ứng công việc có sự khác nhau, cụ thể:
- Khi không gắn với công việc cụ thể nào đó thì năng lực cá nhân được cấu thành bởi các yếu tố: kiến thức, kỹ năng, thái độ (cách ứng xử, giao tiếp) Mỗi một con người ai cũng có đồng thời cả ba yếu tố trên và không ai có thể giống ai về ba yếu tố đó, tạo nên sự khác nhau về năng lực cá nhân
Trang 33- Năng lực để thực thi công việc là sự phù hợp giữa năng lực cá nhân
và những đòi hỏi, yêu cầu của công việc cụ thể (được cụ thể hóa tại bản mô tả công việc) Năng lực cá nhân phù hợp với những yêu cầu công việc thì công việc có thể sẽ đạt được kết quả cao và ngược lại Năng lực thực thi công việc
là năng lực cần có của bất kỳ một cá nhân nào khi được giao việc đó và nó phụ thuộc vào bản chất của công việc
Giữa năng lực cá nhân và yêu cầu đòi hỏi với công việc có mối quan
hệ mật thiệt với nhau Có trường hợp người có năng lực nhưng lại không làm tốt công việc được giao phó Mặt khác một người sẽ thực hiện tốt công việc nếu năng lực cá nhân phù hợp với những yêu cầu, đòi hỏi của từng công việc
Vì vậy trong tuyển dụng người vào làm việc tại các cơ quan nhà nước cần phải thực hiện tốt nguyên tắc “đúng người, đúng việc”, tức là phải bảo đảm
được hai khía cạnh: thứ nhất, những yêu cầu, đòi hỏi của công việc phải được xây dựng trên ba yếu tố (kiến thức, kỹ năng, thái độ - hành vi - ứng xử); thứ
hai, sự phù hợp của năng lực cá nhân người được tuyển dụng phải phù hợp
với đòi hỏi, yêu cầu công việc cụ thể
Như vậy, Năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là người
DTTS là toàn bộ kiến thức, kỹ năng và thái độ của công chức cấp xã là người DTTS trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ QLNN tại chính quyền cấp
xã bảo đảm hiệu lực, hiệu quả công tác QLNN trên mọi lĩnh vực của đời sống, xã hội của địa phương
1.2.3 Các yếu tố cấu thành năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số
Năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là người DTTS được cấu thành bởi các yếu tố sau đây:
* Kiến thức
Trang 34Kiến thức là nhận thức về quy luật vận động của thế giới xung quanh Khái niệm kiến thức khá rộng Mỗi con người, ngoài kiến thức văn hóa, xã hội, công nghệ còn có kiến thức chuyên môn, tức là am hiểu một ngành hay lĩnh vực cụ thể nào đó Kiến thức được hiểu là những năng lực về thu thập thông tin dữ liệu, năng lực hiểu các vấn đề, năng lực phân tích, năng lực tổng hợp, năng lực đánh giá Đây là những năng lực cơ bản khi mà một cá nhân công chức cần phải có khi tiếp nhận công việc Công việc càng phức tạp thì cấp độ yêu cầu về các năng lực này càng cao
Đối với công chức cấp xã là người DTTS các kiến thức cần có để thực thi nhiệm vụ cần có bao gồm: kiến thức học vấn, kiến thức chuyên môn, kiến thức lý luận chính trị, kiến thức QLNN, kiến thức về ngoại ngữ và tin học
* Kỹ năng
Kỹ năng là những phẩm chất và tài năng đặc biệt, kể cả những kỹ năng lãnh đạo, quản lý, điều hành thuần thục Theo đó kỹ năng được hiểu chung nhất là phương pháp, cách thức biến kiến thức thành hành xử công việc thực tiễn theo chuyên môn, nghiệp vụ một cách có bài bản; quá trình đó có tính lặp
đi lặp lại nhiều lần một cách nhuần nhuyễn, thành thục; nhằm xử lý công việc đặt tới chất lượng và hiệu quả cao hơn Thực tiễn kiểm chứng kỹ năng thuộc
về thực hành và tính chuyên nghiệp trong xử lý công việc thực tế
Kỹ năng là yếu tố tạo ra sự khác biệt trong những tình huống công việc
cụ thể Kỹ năng của công chức bao gồm kinh nghiệm và mức độ thành thạo trong xử lý công việc Kỹ năng là biểu hiện cao nhất của việc áp dụng kiến thức hay kinh nghiệm đã học hỏi, tích lũy được vào thực tiễn công việc Theo thời gian, các kỹ năng của công chức có thể trở thành các phản xạ có điều kiện Đây là năng lực thực hiện các công việc, biến kiến thức thành hành động Thông thường kỹ năng của công chức thường được chia thành các cấp độ: bắt chước (quan sát và hành động theo khuôn mẫu), ứng dụng (thực hiện
Trang 35một số hành động bằng cách làm theo hướng dẫn), vận dụng thực hiện hành động gắn với mỗi hoàn cảnh, vận dụng sáng tạo trở thành phản xạ tự nhiên
Đối với công chức cấp xã là người DTTS kỹ năng nghề nghiệp cần có bao gồm một số kỹ năng như sau: kỹ năng soạn thảo văn bản, giao tiếp, viết báo cáo, làm việc nhóm…
* Thái độ, hành vi ứng xử
Thái độ của công chức là quan điểm, ý thức hay phần nào đó là tính cách của công chức khi thực thi nhiệm vụ Đây là yếu tố quan trọng tạo nên năng lực thực sự và trọn vẹn của công chức Hai người có cùng kỹ năng và kiến thức thì thái độ sẽ tạo ra sự khác biệt Cụ thể, cùng đối mặt với một vấn
đề, một số người sẽ nhìn ra cơ hội, một số khác chỉ nhìn thấy thách thức Thái
độ là yếu tố đóng vai trò quyết định (trong số ba yếu tố cấu thành năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là người DTTS) thành công dài hạn hay phát triển bền vững của chính quyền cấp xã
Thái độ của công chức cấp xã là người DTTS khi thực thi công vụ thường được biểu hiện cụ thể qua: tác phong và phong cách làm việc, trách nhiệm trong công việc, tinh thần phối hợp trong công tác, thái độ phục vụ nhân dân
1.2.4 Các tiêu chí đánh giá năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số
Căn cứ vào các yếu tố cấu thành năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là người DTTS, nhằm đánh giá công chức đó có năng lực thực thi công vụ hay không tác giả luận văn đưa ra 3 nhóm tiêu chí đánh giá:
Thứ nhất: Nhóm tiêu chí đánh giá dựa trên các yếu tố cấu thành năng lực
Thứ hai: Nhóm tiêu chí đánh giá về kết quả thực thi công việc
Trang 36Thứ ba: Nhóm tiêu chí mức độ hài lòng của người dân đối với dịch
vụ mà công chức cung cấp
1.2.4.1 Nhóm tiêu chí đánh giá dựa trên các yếu tố cấu thành năng lực
* Tiêu chí về kiến thức
- Trình độ học vấn
Trình độ học vấn là yếu tố cơ bản cần có đối với mỗi công chức cấp xã
là người DTTS, có trình độ văn hóa sẽ là nền tảng giúp mỗi công chức nhận thức và cho việc đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ và các trình độ khác như quản lý HCNN, lý luận chính trị…Nếu công chức hạn chế về trình độ văn hóa sẽ dẫn đến hạn chế về mặt nhận thức và năng lực thực thi công vụ của công chức sẽ kém hiệu quả Do vậy, trình độ học vấn là tiêu chí quan trọng
để đánh giá năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là người DTTS
Ở nước ta hiện nay, tiêu chuẩn trình độ học vấn của công chức cấp xã
là người DTTS áp dụng theo quy định của Nghị định 112/2011/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư 06/2012/TT-BNV của Bộ Nội vụ thì yêu cầu về trình
độ học vấn đối với công chức cấp xã là tốt nghiệp trung học phổ thông; công
chức cấp xã là người DTTS ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa,
vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì phải tốt nghiệp trung
học cơ sở trở lên (UBND cấp tỉnh căn cứ vào điều kiện cụ thể của địa
phương ban hành cho phù hợp); đồng thời xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng để chuẩn hóa công chức theo quy định Đối với xã miền núi, vùng sâu, vùng xa không có đối tượng tuyển chọn đủ tiêu chuẩn học vấn theo quy định thì học vấn của Trưởng công an xã có thể thấp hơn nhưng phải học xong chương trình tiểu học trở lên
- Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của công chức là trình độ được đào tạo thông qua hệ thống cơ sở giáo dục đào tạo, được cấp các văn bằng chuyên
Trang 37môn phù hợp Đó là kết quả của quá trình đào tạo, quá trình trang bị và nâng cao kiến thức của mỗi công chức để hình thành nên các kỹ năng nghề nghiệp cần thiết phục vụ quá trình thực thi công vụ
Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của công chức cấp xã là người DTTS
được thể hiện ở hai khía cạnh sau: thứ nhất, bằng cấp về trình độ chuyên môn
mà công chức đạt được Bằng cấp về chuyên môn, nghiệp vụ bao gồm từ sơ
cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học; thứ hai, khả năng vận dụng
trình độ chuyên môn, nghiêp vụ vào trong thực tế thực thi công vụ của công chức
Ở nước ta hiện nay, tiêu chuẩn trình độ chuyên môn của công chức cấp
xã là người DTTS theo quy định của Nghị định 112/2011/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư 06/2012/TT-BNV của Bộ Nội vụ thì yêu cầu về trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ đối với công chức cấp xã là tốt nghiệp trung cấp
chuyên nghiệp trở lên của ngành đào tạo phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của
chức danh công chức được đảm nhiệm Đối với các xã công nhận thuộc khu vực miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn công chức cấp xã là người DTTS phải tốt nghiệp từ sơ cấp chuyên môn trở lên (UBND cấp tỉnh căn cứ vào điều kiện cụ thể của địa phương ban hành cho phù hợp) Riêng đối với công chức cấp xã là người DTTS là Trưởng Công an xã thì Pháp lệnh công an xã 2008 và Nghị định 73/2009/NĐ-CP không quy định về trình độ chuyên môn, chỉ cần tốt nghiệp trung học phổ thông trở lên và được đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện tại Trung tâm huấn luyện và bồi dưỡng nghiệp vụ của Công an tỉnh hoặc tại các trường Trung học Cảnh sát nhân dân, Trung học An ninh nhân dân Các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa không có đối tượng tuyển chọn có đủ tiêu chuẩn học vấn theo quy định thì học vấn của Trưởng công an
xã có thể thấp hơn nhưng phải tốt nghiệp tiểu học và phải được đào tạo, bồi
Trang 38dưỡng, huấn luyện tại Trung tâm huấn luyện và bồi dưỡng nghiệp vụ của Công an tỉnh hoặc trường Trung học Cảnh sát nhân dân, Trung học An ninh nhân dân Đối với công chức cấp xã là người DTTS là Chỉ huy trưởng Quân
sự, theo quy định của Luật dân quân tự vệ 2009 quy định phải được đào tạo đạt trình độ trung cấp chuyên nghiệp ngành quân sự cơ sở trở lên
- Trình độ lý luận chính trị
Lý luận chính trị trang bị cho công chức những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm xây dựng cho mọi người nhận thức đúng đắn và niềm tin vững chắc vào lý tưởng cộng sản, vào con đường và biện pháp do Đảng vạch ra để thực hiện lý tưởng đó
Đào tạo lý luận chính trị nhằm hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học, nhận thức tư tưởng, bản lĩnh chính trị, niềm tin và năng lực hoạt động thực tiễn cho đội công chức nhằm đáp ứng yêu cầu của cách mạng trong các thời kỳ lịch sử Từ đó đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành, phát triển và hoàn thiện đường lối chính trị, đảm bảo cho sự lãnh đạo của Đảng đối với toàn xã hội; đồng thời, thông qua công tác này mà chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước thấm sâu vào quần chúng, góp phần nâng cao nhận thức chính trị đội ngũ công chức Nói về vai trò của công tác giáo dục lý luận chính trị, chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Không có lý luận chính trị thì chí khí kém cương quyết, không trông
xa thấy rộng, trong lúc đấu tranh dễ lạc phương hướng, kết quả là “mù chính trị”, thậm chí hủ hóa, xa rời cách mạng”
Trình độ lý luận chính trị của công chức cấp xã là người DTTS được
thể hiện thông qua hai khía cạnh: thứ nhất, bằng cấp mà công chức đạt được
sau khi được đào tạo, bồi dưỡng chương trình lý luận chính trị theo quy định,
bao gồm: sơ cấp, trung cấp, cao cấp; thứ hai, đó là năng lực tư duy lý luận thực
tế khi giải quyết công việc
Trang 39Theo quy định tại Nghị định 112/2011/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư 06/2012/TT-BNV của Bộ Nội vụ, công chức cấp xã sau khi được tuyển dụng phải hoàn thành lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị theo chương trình đối với chức công chức cấp xã hiện đảm nhiệm
- Trình độ QLNN
Trình độ QLNN là những kiến thức, kỹ năng mà công chức được đào tạo để phù hợp với từng chức danh, ngạch, vị trí công việc của công chức để đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý HCNN
Thông qua kiến thức QLNN nhằm trau dồi cho mỗi công chức hiểu biết sâu hơn về hệ thống chính trị, tổ chức nhà nước, pháp luật về công vụ, công chức và quy định của pháp luật QLNN về ngành, lĩnh vực
Hiện nay, khung chương trình đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng tiêu chuẩn
về ngạch bao gồm: bồi dưỡng QLNN ngạch cán sự và tương đương; bồi dưỡng QLNN ngạch chuyên viên và tương đương; bồi dưỡng QLNN ngạch chuyên viên chính và tương đương; bồi dưỡng QLNN ngạch chuyên viên cao cấp và tương đương
Trình độ QLNN đối với công chức cấp xã là người DTTS cũng được
thể hiện qua hai khía cạnh: thứ nhất, chứng chỉ đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quản lý HCNN theo ngạch; thứ hai, khả năng vận dụng kiến thức quản lý
HCNN vào thực tế công việc của từng chức danh mà mỗi công chức đảm nhiệm
Ở nước ta hiện nay, trình độ QLNN của công chức cấp xã là người DTTS quy định tại Nghị định 112/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư 06/TT-BNV của Bộ Nội vụ, công chức cấp xã sau khi được tuyển dụng phải hoàn thành lớp đào tạo, bồi dưỡng quản lý HCNN theo chương trình đối với chức danh công chức cấp xã đảm nhiệm
- Sự hiểu biết về phong tục, tập quán người DTTS
Trang 40Đây cũng được coi là một tiêu chí kiến quan trọng để đánh giá năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là người DTTS Bản thân mỗi công chức không những cần am hiểu sâu sắc những phong tục, tập quán của dân tộc mình mà còn phải tìm hiểu và am hiểu thêm các phong tục, tập quán của các dân tộc khác trong địa phương Khi am hiểu được các phong tục, tập quán đó góp phần việc tuyên truyền, vận động người dân thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước được dễ dàng và hiệu quả hơn Mặt khác, trong quá trình thực thi công vụ mỗi công chức là người DTTS cần chủ động tuyên truyền, vận động người dân bỏ những phong tục, tập quán cổ hủ, lạc hậu và tham mưu giúp UBND xã có những chính sách xây dựng cuộc sống của người dân là người DTTS tại địa phương được văn minh và phù hợp với sự phát triển của đất nước
Bên cạnh am hiểu về phong tục, tập quán của DTTS, công chức cấp xã
là người DTTS cần phải biết thêm ít nhất một thứ tiếng dân tộc khác trong địa phương ngoài tiếng của dân tộc mình, để giao tiếp và trao đổi với người dân là thành phần dân tộc khác trong địa phương góp phần nâng cao hiệu quả công việc
- Trình độ ngoại ngữ
Trình độ ngoại ngữ là khả năng sử dụng ngôn ngữ nước ngoài Trước tình hình hội nhập của nền kinh tế nước ta hiện nay đòi hỏi mỗi công chức phải nâng cao khả năng ngoại ngữ để nâng cao hiệu quả công việc khi cần thiết Trình độ ngoại ngữ được nâng cao nhằm thuận lợi trong việc giao tiếp, ứng xử với các tổ chức, cá nhân nước ngoài khi đến làm việc tại cơ quan, tổ chức hoặc giúp ích cho mỗi công chức khi đi nghiên cứu, học tập tại nước ngoài; nghiên cứu tài liệu bằng tiếng nước ngoài phục vụ trong quá trình giải quyết công việc được thực hiện dễ dàng hơn