Các số liệu và kết quả nêu trong Luận văn là trung thực, xuất phát từ thực tế nghiên cứu về công tác bồi dưỡng cán bộ chính quyền cấp xã là người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lâm
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
CẤP XÃ LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÂM ĐỒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
ĐẮK LẮK - NĂM 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN CHÍ HÒA
BỒI DƯỠNG CÁN BỘ CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÂM ĐỒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Mã số: 8 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS ĐẶNG KHẮC ÁNH
ĐẮK LẮK - NĂM 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu tại Học viện Hành chính Quốc gia, với sự tận tình chỉ bảo, truyền đạt kiến thức của quý thầy, cô giáo đã giúp tôi có nhiều kiến thức mới để phục vụ cho công tác chuyên môn Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc và lãnh đạo Khoa Sau đại học, quý thầy, cô giáo Học viện Hành chính Quốc gia và Phân viện Học viện Hành chính Quốc gia khu vực Tây Nguyên đã tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành chương trình
Xin cám ơn các đồng chí lãnh đạo, chuyên viên các Sở, Ban, ngành của tỉnh; lãnh đạo các Trường và Trung tâm đào tạo - bồi dưỡng tỉnh Lâm Đồng
đã trao đổi, cung cấp đầy đủ nguồn thông tin, tư liệu quý giá giúp tôi hoàn thành đề tài
Với sự kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn thầy
PGS.TS Đặng Khắc Ánh người đã dành nhiều thời gian, tâm huyết truyền đạt
kinh nghiệm, tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn này Mặc dù đã hết sức nỗ lực cố gắng nhưng với thời gian và điều kiện nghiên cứu còn hạn chế, chắc chắn Luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả tha thiết mong nhận được sự đóng góp chân thành của các nhà khoa học, quý Thầy, Cô giáo và đồng nghiệp
Xin trân trọng cám ơn!
Tác giả
Nguyễn Chí Hòa
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các
số liệu và kết quả nêu trong Luận văn là trung thực, xuất phát từ thực tế nghiên cứu về công tác bồi dưỡng cán bộ chính quyền cấp xã là người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng Những kết luận khoa học của Luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Nguyễn Chí Hòa
Trang 5số 8 1.2 Bồi dưỡng cán bộ chính quyền cấp xã là người dân tộc thiểu số 18 1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới bồi dưỡng cán bộ cấp xã nói chung và cán bộ chính quyền cấp xã là người dân tộc thiểu số nói riêng 26 1.4 Kinh nghiệm bồi dưỡng cán bộ cấp xã người dân tộc thiểu số của một số địa phương 40 Tiểu kết chương 1 45 Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG CÁN BỘ CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TỈNH LÂM ĐỒNG 46 2.1 Khái quát về tỉnh Lâm Đồng 46 2.2 Thực trạng công tác bồi dưỡng cán bộ chính quyền cấp xã là người dân tộc thiểu số ở tỉnh Lâm Đồng 59 2.3 Đánh giá thực trạng bồi dưỡng cán bộ chính quyền cấp xã là người dân tộc thiểu số ở tỉnh Lâm Đồng giai đoạn từ 2012-2016 81
Trang 6Tiểu kết chương 2 89
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BỒI DƯỠNG CÁN BỘ CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TỈNH LÂM ĐỒNG 90
3.1 Quan điểm, chủ trương, phương hướng về công tác bồi dưỡng cán bộ chính quyền cấp xã là người dân tộc thiểu số của tỉnh Lâm Đồng 90
3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng bồi dưỡng cán bộ chính quyền cấp xã là người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng 97
3.3 Một số kiến nghị 113
Tiểu kết chương 3 117
KẾT LUẬN 118
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 121
PHỤ LỤC ……… ……… 128
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: So sách cán bộ chính quyền cấp xã và cán bộ chính quyền cấp
xã là người dân tộc thiểu số tỉnh Lâm Đồng 50
Bảng 2.2: Cơ cấu giới tính cán bộ chính quyền cấp xã người dân tộc
Bảng 2.5: Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cán bộ chính quyền cấp xã
người dân tộc thiểu số tỉnh Lâm Đồng 54
Bảng 2.6: Trình độ lý luận chính trị cán bộ chính quyền cấp xã người
dân tộc thiểu số tỉnh Lâm Đồng 55
Bảng 2.7: Trình độ quản lý nhà nước cán bộ chính quyền cấp xã người
dân tộc thiểu số tỉnh Lâm Đồng 57
Bảng 2.8: Trình độ ngoại ngữ, tin học cán bộ chính quyền cấp xã người
dân tộc thiểu số tỉnh Lâm Đồng 58
chính quyền cấp xã người dân tộc thiểu số ở một số cơ sở 67
Bảng 2.10: Đội ngũ giảng viên các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
chính quyền cấp xã tỉnh Lâm Đồng 72
Bảng 2.11: Số lượng cán bộ chính quyền cấp xã tham gia bồi dưỡng các
lớp giai đoạn 2012 - 2016 79
Bảng 2.12: Nhu cầu bồi dưỡng cán bộ chính quyền cấp xã là người dân
tộc thiểu số trong giai đoạn tiếp theo 99
Bảng 2.13: Hình thức bồi dưỡng cán bộ chính quyền cấp xã là người dân
Trang 9tộc thiểu số 106
Bảng 2.14: Phương pháp bồi dưỡng cán bộ chính quyền cấp xã là người
dân tộc thiểu số 111
Trang 101
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài luận văn
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhà nước là một yêu cầu khách quan, một vấn đề quan trọng đối với mỗi quốc gia trong mọi thời đại, và luôn luôn là nhiệm vụ hàng đầu trong mọi cuộc cải cách
Trong thời đại ngày nay, các nước trên thế giới ngày càng nhận thức rằng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức là điều kiện quyết định bảo đảm cho
sự phát triển bền vững của đất nước Đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đúng cán
bộ, công chức không chỉ cần thiết cho việc phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao hiệu quả công tác và quản lý hành chính, mà trong tình hình thế giới hiện nay càng đi vào cạnh tranh gay gắt thì nó còn bảo đảm cho việc khai phá năng lực mang ý nghĩa chiến lược
Với hơn 54 dân tộc cùng sinh sống trên một lãnh thổ giúp đất nước Việt Nam có nền văn hóa vô cùng phong phú và đa dạng Tuy nhiên, đây cũng là thách thức đối với nhà nước trong việc phát huy tối ưu sức mạnh đại đoàn kết các dân tộc bởi do trình độ, điều kiện kinh tế - xã hội, lịch sử làm ảnh hưởng Việc giải quyết không tốt các mối quan hệ này dễ dẫn đến tình trạng mất đoàn kết dân tộc và trở thành yếu điểm mà các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá
Thực tiễn cho thấy, vùng dân tộc thiểu số là nơi tập trung đông đồng bào các dân tộc, sinh sống theo cộng đồng, thường là vùng xung yếu về an ninh, chính trị, có vị trí chiến lược của Tổ quốc, nó đòi hỏi nhất thiết phải có cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số, nhất là đội ngũ cán bộ, công chức
có uy tín, biết tiếng dân tộc, am hiểu phong tục, tập quán của đồng bào để tuyên truyền hướng dẫn các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước
Việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số không chỉ vì sự phát triển của bản thân đồng bào dân tộc thiểu số mà còn phục vụ cho
Trang 112
sự nghiệp cách mạng cả nước, vì chiến lược con người trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo đảm bình đẳng và công bằng xã hội giữa các vùng miền và các dân tộc Do vậy, việc xây dựng cán bộ người dân tộc thiểu số
là một nội dung trọng yếu trong thực hiện bình đẳng, đoàn kết dân tộc và phải được tiến hành trước một bước nhằm tạo điều kiện cho mọi dân tộc có cơ hội phát triển toàn diện, khắc phục những khó khăn do điều kiện tự nhiên, xã hội
và lịch sử tạo ra Mặt khác, chỉ trên cơ sở đội ngũ cán bộ tại chỗ được xây dựng
đủ về số lượng và chất lượng, đồng bộ về cơ cấu, mới tạo động lực đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, đánh thức tiềm năng, thế mạnh vùng dân tộc thiểu số
Để đảm bảo cả số lượng và chất lượng của đội ngũ cán bộ này, đòi hỏi chúng ta phải thực hiện chiến lược quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực người dân tộc thiểu số một cách bài bản, nhất là nguồn nhân lực tại chỗ nhằm tạo nguồn cán bộ đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về sự nghiệp đổi mới
Lâm Đồng là một trong năm tỉnh Tây Nguyên, mang đầy đủ những đặc trưng của một địa phương miền núi phía nam dãy Trường Sơn, là một địa bàn
có 43 dân tộc anh em trong cộng đồng dân tộc Việt Nam cùng chung sống, chiếm 23% dân số của tỉnh; do vậy đây là cơ sở để xây dựng đội ngũ cán bộ cấp xã người dân tộc thiểu số tạo nền tảng cho sự phát triển
Tại địa phương, xuất phát từ đặc điểm của không gian xã hội đa tộc người, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ DTTS nói chung và cán bộ chính quyền cấp
xã người DTTS ở cấp cơ sở nói riêng là một nhiệm vụ rất quan trọng Trong nhiều năm qua, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Lâm Đồng đã dành không ít tâm lực, trí
lực, nguồn lực đầu tư cho đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chính quyền người
DTTS cấp cơ sở và nhờ đó đạt được những kết quả quan trọng Tuy vậy, đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã người DTTS ở tỉnh Lâm Đồng vẫn còn không
ít hạn chế về chất lượng, bất cập về cơ cấu, mà nguyên nhân sâu xa vẫn là
Trang 123
chưa đặt công tác đào tạo, bồi dưỡng trên nền tảng nhân học - tộc người và khoa học giáo dục Do đó, tổng kết, đánh giá những mặt thành công và mặt chưa thành công trong công tác bồi dưỡng tỉnh Lâm Đồng đối với cán bộ chính quyền cấp xã người DTTS thời gian qua là rất cần thiết, xét trên cả chiều cạnh khoa học lẫn chiều cạnh thực tiễn
Vì những lí do nêu trên, tác giả chọn đề tài “Bồi dưỡng cán bộ chính quyền cấp xã là người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng” làm
Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Quản lý công với mong muốn xây dựng hoàn thiện đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã là người dân tộc thiểu số trong
bộ máy quản lý nhà nước tại tỉnh Lâm Đồng, đồng thời góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề đào tạo, bồi dưỡng nói chung và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số nói riêng, trong số đó, có những công trình tiêu biểu sau đây:
Trong cuốn sách Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở nước ta
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa - Luận cứ và giải pháp
do Lê Phương Thảo - Nguyễn Cúc - Doãn Hùng đồng chủ biên (Nxb Lý luận chính trị, H.2008), các tác giả đã luận bàn về vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số, trong đó phần 1: Luận cứ khoa học cho việc xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở nước ta thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; phần 2: Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa - Thực trạng và giải pháp; phần 3: Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số trên một số lĩnh vực chuyên môn - Thực trạng và giải pháp; phần 4: Đổi mới công tác cán bộ dân tộc thiểu số trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa [15]
Trong tác phẩm Những vấn đề cơ bản về chính sách dân tộc ở nước ta
hiện nay do Phan Xuân Sơn - Lưu Văn Quảng đồng chủ biên (Nxb Lý luận
Trang 134
chính trị, H.2006) là tiếp cận ở một khía cạnh khác khi chỉ luận bàn các chính sách dân tộc từ một số vấn đề về quan điểm, nhận thức, lý luận và thực tiễn Đồng thời, phân tích các chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn cách mạng, những vấn đề đang đặt ra cho việc thực hiện các chính sách này; bên cạnh đó đưa ra những quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt các chính sách dân tộc hiện nay [46]
Tác phẩm Một số vấn đề về dân tộc và phát triển do Lê Ngọc Thắng biên
soạn (Nxb Chính trị quốc gia, H.2005) nêu vai trò, vị trí của công tác dân tộc trong giai đoạn cách mạng và giai đoạn hiện nay; một số vấn đề về đổi mới công tác dân tộc trong tình hình mới; đáng quan tâm là những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách đối với nguồn nhân lực trẻ các dân tộc thiểu số [49]
Ngoài ra, còn có những công trình nghiên cứu cán bộ dân tộc thiểu số
như: Lưu Thị Thu Hạnh, Phát triển đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở
tỉnh Hòa Bình trong giai đoạn hiện nay, Luận văn Thạc sỹ Quản lý Hành
chính công, Học viện Hành chính, 2010; Lý Trung Thành, Xây dựng đội ngũ
cán bộ người dân tộc thiểu số - từ thực tiễn ở Thái Nguyên, Tạp chí quản lý
nhà nước, số 220 (T5/2014); Trần Thị Tuyết Mai, Tạo nguồn cán bộ, công
chức người dân tộc Khmer tỉnh Trà Vinh, Luận văn Thạc sỹ Quản lý Hành
chính công, Học viện Hành chính, 2009; Trương Thị Bạch Yến, Tạo nguồn
cán bộ, công chức xã người dân tộc thiểu số ở các tỉnh Tây Nguyên giai đoạn hiện nay, Luận văn Tiến sỹ Khoa học chính trị, Học viện Chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh, 2014; Lưu Thị Thu Hạnh, Phát triển đội ngũ cán bộ người dân
tộc thiểu số ở tỉnh Hòa Bình trong giai đoạn hiện nay, Luận văn Thạc sỹ
Quản lý Hành chính công, Học viện Hành chính, 2010; Hoàng Minh Tùng
(2014), “Đào tạo, bồi dưỡng công chức là người dân tộc thiểu số ở Gia Lai”,
Luận văn thạc sĩ Quản lý công, Học viện Hành chính, Phân viện Tây Nguyên
Trang 145
Những tài liệu trên là nguồn tư liệu phong phú để làm rõ vấn đề đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nói chung và cán bộ chính quyền là người dân tộc thiểu số nói riêng ở các vùng miền trên cả nước Tuy nhiên, đến nay chưa có
đề tài nào nghiên cứu về “Bồi dưỡng cán bộ chính quyền cấp xã là người dân
tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng”
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích
Trên cơ sở phân tích thực trạng công tác bồi dưỡng cán bộ chính quyền cấp xã là người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, luận văn phân tích đánh giá những mặt tích cực, đồng thời chỉ ra những hạn chế, nguyên nhân dẫn đến những hạn chế để từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng bồi dưỡng cán bộ chính quyền cấp xã là người dân tộc thiểu số đáp ứng yêu cầu đổi mới trong giai đoạn hiện nay
- Làm rõ tầm quan trọng của cán bộ chính quyền cấp xã người dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay
- Phân tích đánh giá thực trạng công tác bồi dưỡng cán bộ chính quyền cấp xã là người DTTS trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng để chỉ ra những mặt tích cực; làm rõ những hạn chế trong việc bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã người DTTS; tìm ra những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế đó
Trang 156
- Đề xuất những phương hướng, giải pháp trong việc nâng cao chất lượng bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1.Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2012 -
2016 Tập trung nghiên cứu về công tác bồi dưỡng cán bộ chính quyền cấp xã
là người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Phương pháp khảo cứu tài liệu;
Phương pháp so sánh, phân tích, quy nạp, diễn dịch và phương pháp thực chứng để phân tích làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu;
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Để phục vụ cho việc nghiên cứu và áp dụng các phương pháp nghiên cứu, nguồn tài liệu được lấy từ các tài liệu cụ thể:
Nguồn tư liệu được lấy từ các báo cáo thống kê, báo cáo tổng kết của tỉnh về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chính quyền cấp xã là người DTTS; các kết quả điều tra nghiên cứu đã được công bố của các cuộc điều tra khảo sát
Trang 167
Nguồn tư liệu và báo cáo phân tích thực trạng còn bao gồm hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quy định về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đã được cấp có thẩm quyền ban hành
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần hệ thống hóa những vấn đề phát hiện mới trong việc nâng cao chất lượng bồi dưỡng cán bộ chính quyền cấp xã là người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Qua nghiên cứu, phân tích, giúp đánh giá được thực trạng bồi dưỡng cán
bộ chính quyền cấp xã là người dân tộc thiểu số ở tỉnh Lâm Đồng trong thời gian qua
- Những giải pháp của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho cơ quan quản lý hành chính nhà nước tại địa bàn tỉnh Lâm Đồng hoặc các cơ quan quản lý nhà nước ở các địa phương khác trong việc đẩy mạnh hiệu quả công tác bồi dưỡng cán bộ chính quyền cấp xã là người DTTS
- Kết quả nghiên cứu có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý của các sở, ban, ngành tỉnh Lâm Đồng trong việc bồi dưỡng cán bộ chính quyền cấp xã là người dân tộc thiểu số trong thời gian tới
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung chính của Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học về bồi dưỡng cán bộ chính quyền cấp xã là người dân tộc thiểu số ở tỉnh Lâm Đồng
Chương 2: Thực trạng công tác bồi dưỡng cán bộ chính quyền cấp xã là người dân tộc thiểu số ở tỉnh Lâm Đồng
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao bồi dưỡng cán bộ chính quyền cấp xã là người dân tộc thiểu số ở tỉnh Lâm Đồng
Trang 178
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG CÁN BỘ
CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ LÀ NGƯỜI DÂN TỘC
THIỂU SỐ Ở TỈNH LÂM ĐỔNG
1.1 Chính quyền cấp xã và cán bộ chính quyền cấp xã là người dân tộc thiểu số
1.1.1 Chính quyền cấp xã
1.1.1.1 Khái niệm chính quyền cấp xã
Trong hệ thống hành chính nước ta, xã - phường - thị trấn (gọi chung là cấp xã) là cấp thấp nhất trong hệ thống chính quyền 4 cấp hoàn chỉnh: Trung ương, tỉnh, huyện, xã Vì vậy, cấp xã chính là nền tảng của hệ thống chính trị, đóng vai trò thiết thực trong việc xây dựng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, là yếu tố quyết định sự thành công của sự nghiệp cách mạng nước ta
Chính quyền cấp xã bao gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân,
trong đó Hội đồng nhân dân “là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương
đại diện cho ý chí và nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên” Còn Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu,
“là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và
cơ quan nhà nước cấp trên”
Xuất phát từ vị trí chính quyền cấp xã trong hệ thống chính trị ở cơ sở nên nó có vai trò rất quan trọng trong cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước của nhân dân Có thể khẳng định chính quyền cấp xã là cầu nối quan trọng của Đảng, Nhà nước với nhân dân:
- Cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, là cầu nối trực tiếp giữa hệ
Trang 189
thống chính quyền cấp trên với nhân dân, hàng ngày tiếp xúc, nắm bắt và phản ánh tâm tư nguyện vọng của nhân dân Cấp xã có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư
- Chính quyền cấp xã là nơi trực tiếp giải quyết các yêu cầu của nhân dân Trong thực tế cuộc sống, khi cần có sự can thiệp của chính quyền, thì nơi người dân tìm đến đầu tiên chính là chính quyền cơ sở Điều này đã đúc rút thành câu thành ngữ “Quan thì xa, bản nhà thì gần” Chính quyền cấp xã cũng
là nơi trực tiếp đưa ra các giải pháp cần thiết theo thẩm quyền để giải quyết những yêu cầu chính đáng của người dân, tạo điều kiện cho người dân có cuộc sống bình yên, thực hiện có hiệu quả các quyền và nghĩa vụ của mình trước nhà nước và cộng đồng
- Chính quyền cấp xã là nơi trực tiếp quyết định các vấn đề kinh tế - xã hội ở địa phương Tính hiệu quả trong hoạt động quản lý Nhà nước của chính quyền cấp xã đóng vai trò quan trọng, chủ yếu trong việc cung cấp các dịch
vụ công phục vụ nhân dân của bộ máy Nhà nước Từ đó, chính quyền cấp xã giúp cho cơ quan Nhà nước cấp trên có những căn cứ để hoạch định các chính sách phát triển kinh tế - xã hội sát với yêu cầu của đời sống thực tế
- Chính quyền cấp xã là nơi trực tiếp nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân địa phương để kịp thời phản ánh với cơ quan nhà nước cấp trên, giúp Nhà nước đề ra các biện pháp phù hợp với đặc điểm của mỗi địa phương Thực tế ở một số địa phương thuộc các tỉnh Tây Nguyên cho thấy, nếu không
đi sâu sát nắm bắt nguyện vọng của nhân dân thì sẽ nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp, dễ bị kẻ xấu lợi dụng, gây chia rẽ trong nội bộ nhân dân, phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc
- Chính quyền cấp xã là trung tâm của hệ thống chính trị ở cơ sở; là địa
Trang 191.1.1.2 Đặc điểm của chính quyền cấp xã
Một là, cấp xã là cấp cơ sở trực tiếp tiếp xúc với nhân dân Cán bộ, công
chức cấp xã thực hiện quan hệ công tác không chỉ với tư cách là người thực thi quyền lực nhà nước mà còn là người có mối quan hệ gia tộc và xóm làng lâu đời
Là người trực tiếp giải quyết những vấn đề liên quan đến lợi ích thiết thực của đời sống nhân dân, cán bộ, công chức cấp xã phải đạt được: Một mặt, đúng chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; Mặt khác, phải thấu tình đạt lý trong quan hệ xóm làng Sự nghiệp đổi mới, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước làm cho bộ mặt nông thôn thay đổi từng ngày trên các lĩnh vực về chính trị, kinh tế - xã hội, khoa học - kỹ thuật, quản lý
Hai là, tổ chức bộ máy của chính quyền cấp xã khác với các đơn vị hành
chính cấp trên; ở xã chỉ có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thực hiện việc quản lý địa phương Trong đó Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước, là cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân địa phương và Ủy ban nhân dân là cơ quan chấp hành và đồng thời là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương mà không có các cơ quan tư pháp: Viện Kiểm sát
Trang 2011
và Tòa án Vì thế, chính quyền cấp xã phải quản lý nhà nước về kinh tế, văn hóa, xã hội, anh ninh, quốc phòng theo thẩm quyền do pháp luật quy định
Ba là, cấp xã là cấp thấp nhất, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ cụ thể, là
cấp đưa chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước vào thực tế cuộc sống Ngoài việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp xã nói chung, chính quyền cấp xã còn phải căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương mình chủ động đưa ra các giải pháp tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục nhân dân trong việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, vận động nhân dân nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật; chủ động đưa những tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất để tăng năng suất lao động, phát triển ngành nghề mới, tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm của địa phương, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống của nhân dân địa phương
1.1.2 Cán bộ cấp xã
1.1.2.1 Khái niệm, chức danh cán bộ cấp xã
Cán bộ cấp xã được quy định tại khoản 1, Điều 4, Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng
ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội” [33; tr.5]
Theo Điều 3, Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã Cán bộ xã, thị trấn gồm các chức danh sau:
- Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy;
- Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;
- Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân;
- Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
- Bí thư đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh;
Trang 2112
- Chủ tịch hội liên hiệp phụ nữ;
- Chủ tịch hội nông dân;
- Chủ tịch hội cựu chiến binh [16; tr.22]
1.1.2.2 Đặc điểm, vai trò của cán bộ cấp xã
- Về đặc điểm cán bộ cấp xã:
Cán bộ cấp xã (xã, phường, thị trấn), đặc biệt là tại xã thường là người được tuyển chọn từ nguồn tại chỗ của địa phương, sinh sống và có quan hệ gắn bó với cộng đồng dân cư nơi làm việc
Họ là đội ngũ gần dân nhất, là cầu nối quan trọng giữa chính quyền với
nhân dân Bản thân cán bộ cấp xã là người thường xuyên tiếp xúc và giải
quyết các công việc hằng ngày liên quan đến đời sống của nhân dân Họ là người truyền tải chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của nhà nước đến với nhân dân và ngược lại quá trình tiếp xúc với nhân dân làm cho cán bộ cấp xã hiểu đầy đủ về tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để trình lên cấp trên
Từ những đặc thù của cán bộ cấp xã như đã nêu trên, đòi hỏi về mặt đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ cấp xã phải phù hợp nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ cấp xã đáp ứng với yêu cầu công việc
- Vai trò của cán bộ cấp xã:
Cán bộ cấp xã là những người hàng ngày trực tiếp tiếp xúc với nhân dân, đem chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước vào cuộc sống và biến nó thành hành động của quảng đại quần chúng Đội ngũ cán bộ cấp xã còn là nòng cốt bảo vệ sự đoàn kết trong Đảng và hạt nhân đoàn kết trong cộng đồng dân cư Vai trò uy tín của Đảng, nhà nước được thể hiện thông qua việc làm của đội ngũ cán bộ ở cơ sở Chính sách của nhà nước có được thực hiện tốt hay không phần lớn phụ thuộc vào đội ngũ cán bộ Giữa đường lối chính sách của Đảng và đội ngũ cán bộ cấp xã có quan hệ mật thiết
Trang 22Thứ nhất, Là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân:
Đảng đề ra đường lối, chủ trương; Nhà nước thể chế hóa chúng bằng hệ thống các văn bản pháp luật Mọi hoạt động của đời sống xã hội đều phải tuân theo đường lối, chú trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước
Cấp xã là cấp trực tiếp tổ chức thực hiện mọi chủ trương, đường lối của Đảng và Pháp luật của Nhà nước Mọi hoạt động của chính quyền cấp xã đều
do cán bộ cấp xã thực hiện Do đó, cán bộ cấp xã là một bộ phận không thể thiếu trong đội ngủ cán bộ họ luôn phát huy vai trò của mình trong đời sống chính trị - xã hội của đất nước, của các địa phương
Đội ngũ cán bộ cấp xã đóng vai trò hết sức quan trọng trong xây dựng
và hoàn thiện bộ máy chính quyền cơ sở, trong hoạt động thi hành nhiệm vụ công vụ Cấp sơ sở là cấp trực tiếp gắn với quần chúng, tạo dựng các phong trào trong quần chúng nhân dân Cơ sở mạnh hay yếu một phần phụ thuộc vào chất lượng của đội ngũ cán bộ Cán bộ cấp xã góp phần quyết định sự thành bại của đường lối và nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước Chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước có được thực thi tốt hay không, có hiệu quả hay không một phần quyết định là ở cấp xã
Cán bộ cấp xã là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và quần chúng nhân dân; là nhưng người trực tiếp đem chính sách cảu đảng, pháp luật của nhà nước giải thích cho quần chúng nhân dân rõ và thi hành; đồng thời nắm bắt tình hình triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và nhà nước để
có sự điều chỉnh, sửa đổi bổ sung cho đúng và phù hợp với thực tiển
Thứ hai, Có vai trò quan trọng trong quản lý và tổ chức công việc của chính quyền cơ sở:
Trang 2314
Cán bộ cấp xã có vai trò quan trọng trong quản lý và tổ chức công việc của chính quyền cơ sở, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm lợi ích của nhân dân địa phương Tùy theo vị trí, chức danh của mình, mỗi cán bộ cấp xã sẽ đảm nhận và thực hiện những nhiệm vụ nhất định Việc thực thi công vụ của
họ có vai trò trực tiếp đảm bảo kỹ cương phép nước tại cơ sở, bảo vệ các quyền tự do dân chủ, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm trật tự xã hội, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật thông qya hoạt động của đội ngủ cán bộ cấp xã, nhân dân thể hiện được quyền làm chủ và trực tiếp thực hiện quyền tự quản của mình ở địa phương
Thứ ba, cán bộ cấp xã trong mối quan hệ với hoạt động thực thi công vụ:
Việc làm của cán bộ xã là hoạt động thực thi công vụ Mỗi cán bộ xã đều thực hiện nhiệm vụ thể chế hóa các chủ trương đường lối của Đảng, kế hoạch chính sách pháp luật của nhà nước thành hiện thực và đi vào đời sống
xã hội Cán bộ xã là người có nhiệm vụ phục vụ nhân dân, cũng là người trực tiếp cùng nhân dân, giúp đỡ nhân dân, giải đáp những khó khăn, vướng mắc của nhân dân về những vấn đề trong cuộc sống Cán bộ xã cùng với cán cân pháp luật trở thành trọng tài công lý của cuộc sống, thường xuyên kiểm tra và kịp thời phát hiện những sai phạm của công dân để điều chỉnh đúng hướng và bảo vệ công bằng cho nhân dân [4]
Bằng việc thực hiện trách nhiệm và nghĩa vụ của mình, đội ngũ cán bộ
xã là những người chăm sóc cho cuộc sống của nhân dân, tạo ra một môi trường thuận lợi thúc đẩy tất cả các hoạt động và con người phát triển
Thứ tư, cán bộ cấp xã trong cải cách hành chính nhà nước ở địa phương:
Cán bộ xã có vai trò to lớn trong cải cách hành chính nhà nước ở địa phương Đội ngũ cán bộ cấp xã vừa là chủ thể cải cách hành chính nhưng đồng thời cũng là đối tượng cải cách hành chính
Trang 2415
Với tư cách là người đại diện của cơ quan hành chính trực tiếp giải quyết công việc, thủ tục hành chính với công dân, nên khi bố trí sử dụng đòi hỏi bản thân người cán bộ phải có phẩm chất và năng lực, có trình độ văn hóa, vững vàng về chính trị, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, gương mẫu về đạo đức, lối sống, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, trung thực, không cơ hội, có ý thức
tổ chức kỷ luật, có tác phong dân chủ, khoa học, thái độ lễ phép, tận tụy phục vụ nhân dân, phải thấm nhuần nền hành chính nước ta là nền hành chính phục vụ, dân chủ, minh bạch, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển bền vững [5]
1.1.2.3 Tiêu chuẩn của cán bộ chính quyền cấp xã
- Tiêu chuẩn chung:
Cán bộ cấp xã phải đáp ứng những tiêu chuẩn chung quy định tại Điều
3, Quyết định 04/2004/NĐ-BNV ngày 16/01/2004 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ
về việc Ban hành quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn đó là:
1 Có tinh thần yêu nước sâu sắc, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có năng lực tổ chức vận động nhân dân thực hiện có kết quả đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước ở địa phương
2 Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, công tâm thạo việc, tận tuỵ với dân Không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng Có ý thức kỷ luật trong công tác Trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm
3 Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lỗi của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; có trình độ học vấn, chuyên môn, đủ năng lực và sức khoẻ để làm việc có hiệu quả đáp ứng yêu cầu nhiệm
vụ được giao
- Tiêu chuẩn cụ thể:
Tiêu chuẩn đối với Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân:
Trang 2516
Tuổi đời: Tuổi của Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định phù hợp với tình hình đặc điểm của địa phương nhưng tuổi tham gia lần đầu phải đảm bảo làm việc ít nhất hai nhiệm kỳ
Học vấn: Có trình độ tốt nghiệp trung học phổ thông
Lý luận chính trị: Có trình độ trung cấp lý luận chính trị đối với khu vực đồng bằng; khu vực miền núi phải được bồi dưỡng lý luận chính trị tương đương trình độ sơ cấp trở lên
Chuyên môn, nghiệp vụ: Có trình độ trung cấp chuyên môn trở lên đối với khu vực đồng bằng Với khu vực miền núi phải được bồi dưỡng kiến thức chuyên môn tương đương trình độ sơ cấp trở lên Ngành chuyên môn phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội của từng loại hình đơn vị hành chính
xã, phường, thị trấn Đã qua lớp bồi dưỡng quản lý hành chính Nhà nước, nghiệp vụ quản lý kinh tế, kiến thức và kỹ năng hoạt động đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã
Tiêu chuẩn đối với Chủ tịch và Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân:
Tuổi đời: Tuổi đời của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân và Phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định phù hợp với tình hình đặc điểm của địa phương nhưng tuổi tham gia lần đầu phải đảm bảo làm việc ít nhất hai nhiệm kỳ
Học vấn: Có trình độ tốt nghiệp trung học phổ thông
Chính trị: Có trình độ trung cấp lý luận chính trị trở lên đối với khu vực đồng bằng; khu vực miền núi phải được bồi dưỡng lý luận chính trị tương đương trình độ sơ cấp trở lên
Chuyên môn, nghiệp vụ: ở khu vực đồng bằng, có trình độ trung cấp chuyên môn trở lên Với miền núi phải được bồi dưỡng kiến thức chuyên môn (tương đương trình độ sơ cấp trở lên), nếu giữ chức vụlần đầu phải có trình độ trung cấp chuyên môn trở lên Ngành chuyên mônphải phù hợp với đặc điểm
Trang 2617
kinh tế - xã hội của từng loại hình đơn vịhành chính xã, phường, thị trấn Đã được bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý hành chính Nhà nước, quản lý kinh tế
Như vậy, để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp
xã, cán bộ chính quyền cấp xã không chỉ có lòng nhiệt tình cách mạng, có phẩm chất đạo đực tốt mà còn cần phải có tri thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực công tác để hoàn thành nhiệm vụ
1.1.2.4 Cán bộ chính quyền cấp xã là người dân tộc thiểu số
Ở Việt Nam, khái niệm “người bản địa” xuất hiện vào thời Pháp thuộc, khi phân biệt người dân Việt Nam với người Pháp Có 54 tộc người sinh sống lâu đời trên lãnh thổ Việt Nam nhưng không có tộc người nào là bản địa hay tộc người nào là phi bản địa - dù có tộc người sinh sống lâu đời, có tộc người nhập
cư muộn hơn - mà chỉ có tộc người đa số và tộc người thiểu số Do đó, khái niệm
“tộc người thiểu số”, hay “dân tộc thiểu số” được sử dụng là phù họp với thực tiễn tộc người ở nước ta Gọi tộc người thiểu số là để phân biệt với tộc người đa
số mà tiêu chí phổ dụng là xem xét tỉ lệ dân số tộc người trong tổng dân số quốc gia Một tộc người chỉ được xem là thiểu số khi đặt dân số tộc người đó với tổng dân số cả nước mà không xem xét ở phạm vi vùng hay địa phương Bởi vì, một tộc người thiểu số nào đó của cả nước nhưng đặt trong phạm vi một địa phương nhất định có khi lại chiếm đa số, như trường họp người Thái ở Sơn La, hay người Nùng ở Lạng Sơn [17, tr.17-20]
Hay nói cách khác “Dân tộc thiểu số” (tộc người thiểu số hay dân tộc ít người) là thể hiện trong mối tương quan về số lượng dân số (nhân khẩu) giữa các nhóm dân tộc trong một quốc gia Nếu như dân tộc đa số là dân tộc chiếm
số đông nhất trong một quốc gia có nhiều dân tộc thì ngược lại, DTTS là dân tộc chiếm số dân ít hơn so với dân tộc đông nhất Tại Điều 5, Nghị định 05/2011/NĐ-CP về Công tác dân tộc của Chính phủ ban hành ngày
14/01/2011 qui định: “DTTS là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc
đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” và
Trang 27Từ những phân tích như trên, có thể đi đến một quan niệm chung về cán
bộ chính quyền cấp xã là người dân tộc thiểu số như sau:
Cán bộ chính cấp xã người dân tộc thiểu số là những người có thành
phần xuất thân từ các dân tộc thiểu số Việt Nam được được bầu cử giữ chức
vụ theo nhiệm kỳ trong thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, bao gồm: Chủ tịch, Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân và Chủ tịch, Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân [6]
1.2 Bồi dưỡng cán bộ chính quyền cấp xã là người dân tộc thiểu số
1.2.1 Khái niệm bồi dưỡng và bồi dưỡng cán bộ cấp xã là người dân tộc thiểu số
1.2.1.1 Bồi dưỡng
Trang 2819
Có nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau về hoạt động bồi dưỡng: Hiểu theo nghĩa rộng thì bồi dưỡng là quá trình giáo dục, đào tạo nhằm hình thành nhân cách theo mục đích đã chọn
Hiểu theo nghĩa hẹp, bồi dưỡng có thể coi là quá trình cập nhật kiến thức, kỹ năng còn thiếu hoặc lạc hậu, nhằm mục đích nâng cao hoặc hoàn thiện năng lực hoạt động trong các lĩnh vực cụ thể để làm tốt hơn công việc đang tiến hành
Theo từ điển Tiếng Việt: “Bồi dưỡng là làm cho tăng thêm năng
lực hoặc phẩm chất” [64]
Theo các tài liệu của UNESCO, bồi dưỡng được hiểu như sau: Bồi dưỡng là quá trình cập nhật, bổ sung kiến thức, kỹ năng, thái độ để nâng cao năng lực trình độ, phẩm chất của người lao động về một lĩnh vực hoạt động mà người lao động đã có một trình độ năng lực chuyên môn nhất định qua một hình thức đào tạo nào đó
Tại Điều 5, Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính
phủ thì cụm từ “bồi dưỡng” được hiểu: “Đó là hoạt động trang bị, cập nhật,
nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc” [17; tr.8]
Một số cách hiểu khác thì bồi dưỡng là làm tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất, đó là quá trình hoạt động làm tăng thêm những kiến thức mới, đòi hỏi bổ sung những kỹ năng hoạt động đối với cán bộ, công chức đang giữ một chức danh, một ngạch công chức, viên chức nhất định
Bồi dưỡng cũng có ý nghĩa là nâng cao trình độ nghiệp vụ, quá trình này diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hay kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng các yêu cầu của lao động nghề nghiệp
Bồi dưỡng cũng có thể được hiểu là việc:
+ Hệ thống hóa lại kiến thức mà người học đã biết liên quan đến nội dung khóa học
Trang 2920
+ Bổ sung những mảng kiến thức mà người học đã từng có những lúc
“bị rơi rụng” theo thời gian
+ Cập nhật những kiến thức của ngành, lĩnh vực
Nâng cao được một phần sự thành thạo công việc thông qua sự rèn luyện, thực hành, trao đổi kinh nghiệm trên lớp…
Đặc điểm của bồi dưỡng:
- Đó là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc [32; tr.45]
- Là một quá trình hoàn thiện kỹ năng, năng lực của người lao động để đáp ứng mục tiêu của tổ chức; đó là cơ hội mà người quản lý tạo ra cho người lao động nhằm hoàn thiện kỹ năng, kiến thức chuyên môn có liên quan đến công vụ hiện tại
- Là quá trình hoạt động nhằm tăng thêm những kiến thức mới đòi hỏi với những người mà họ đang giữ chức vụ, đang thực thi công vụ của một ngạch bậc nhất định
Như vậy, bồi dưỡng là quá trình đào tạo nối tiếp, đào tạo liên tục trong khi làm việc nhằm cập nhật kiến thức còn thiếu hay đã lạc hậu, củng cố, mở mang và trang bị một cách có hệ thống những tri thức, kỹ năng, chuyên môn
nghiệp vụ sẵn có
Mục đích của bồi dưỡng là nhằm bổ sung kiến thức và kỹ năng cần thiết nâng cao phẩm chất và năng lực chuyên môn để người lao động có cơ hội củng cố, mở rộng, và nâng cao hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo chuyên môn
- nghiệp vụ đã có, từ đó nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc đang làm
Thời gian của hoạt động bồi dưỡng thường ngắn hơn so với thời gian của hoạt động đào tạo Thời gian của một khóa bồi dưỡng là 1 đến 3 tháng, có khi là 1 hoặc 2 tuần, hoặc là vài ngày Hoàn thành khóa bồi dưỡng, người học nhận chứng chỉ ghi nhận kết quả học tập
Trang 3021
1.2.1.2 Phân biệt giữa đào tạo và bồi dưỡng
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là một trong những nội dung quan trọng trong công tác quản lý phát triển nguồn nhân lực của các cơ quan nhà nước nhằm mục tiêu xây dựng, phát triển đội ngũ công chức thành thạo về chuyên môn, nghiệp vụ, trung thành với nhà nước và tận tụy với công việc phục vụ nhân dân Quá trình đào tạo, bồi dưỡng bao giờ cũng phải tiến hành trên cơ sở xác định nhu cầu ĐTBD của từng cơ quan, đơn vị, từng vị trí công việc, đồng thời, phải dựa trên sự phân tích những “khoảng trống” về năng lực thực hiện công việc của đội ngũ cán bộ
Đào tạo, theo định nghĩa chung nhất là quá trình tác động đến con người, làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ
xảo, một cách có hệ thống để họ có thể thích nghi với khả năng tiếp nhận
một sự phân công lao động nhất định, đóng góp phần công sức của mình vào
sự phát triển xã hội nói chung Đó là quá trình làm cho người ta trở thành có năng lực theo những tiêu chuẩn, đòi hỏi nhất định, là quá trình trang bị những kiến thức, kỹ năng mới Thời gian đào tạo tương đối dài (từ 01 năm học trở lên) và có bằng cấp, chứng chỉ [1]
Bồi dưỡng là quá trình tác động đến con người làm cho người đó “tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất”, là quá trình nâng cao trình độ chuyên môn, kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp một cách thường xuyên, là tăng cường năng lực nói chung trên cơ sở kiến thức, kỹ năng đã được đào tạo Bồi dưỡng đảm đương nhiệm vụ cập nhật, trang bị thêm những kiến thức, kỹ năng, thái độ choán bộ để họ thực hiện tốt hơn, hiệu quả hơn nhiệm vụ được giao
Như vậy, đào tạo được xem như là một quá trình làm cho người ta “trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định” và bồi dưỡng được xác định là quá trình làm cho người ta “tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất” Việc tách bạch khái niệm đào tạo và bồi dưỡng riêng rẽ chỉ để tiện cho việc phân tích điểm giống và khác nhau giữa đào tạo và bồi dưỡng
Trang 3122
Đối với ĐTBD cán bộ: là quá trình tổ chức những cơ hội học tập cho họ nhằm trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng, thái độ làm việc để họ thực hiện công việc được giao tốt hơn, hiệu quả hơn [2] Với quan niệm như vậy, ĐTBD cán bộ nhắm tới các mục tiêu chính sau:
- Trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng, thái độ thực hiện công việc thực tế theo từng chức vụ cụ thể, đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực làm việc hiện tại của cá nhân và tổ chức;
- Trang bị, cung cấp kiến thức, kỹ năng, thái độ và cách thức làm việc cần thiết để giúp cán bộ làm quen, thích ứng với vị trí công việc, việc làm mới
do luân chuyển, thuyên chuyển, biệt phái, đề bạt [13; tr.27]
Qua hai khái niệm trên, có thể nhận thấy những điểm khác nhau tương
đối giữa hai khái niệm “đào tạo” và “bồi dưỡng” như sau:
Hoàn chỉnh một bước hoặc nâng cao một mặt nào đó trình độ cho người được bồi dưỡng
2 2 Nội dung
Cung cấp tri thức, kỹ năng đầy đủ, hoàn chỉnh,
có hệ thống
Bổ sung các tri thức, kỹ năng, chủ trương, đường lối của Đảng và nhà nước
3 3 Hình thức Thường là chính quy Thường là không chính quy
5 5 Kết quả
Được xác nhận bằng các loại văn bằng theo quy định của nhà nước
Được xác nhận qua việc cấp cho các học viên các chứng chỉ bồi dưỡng
Từ những phân tích ở trên cho thấy đào tạo được xem như là một quá trình làm cho người ta “trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định
Trang 3223
và Bồi dưỡng được xác định là quá trình làm cho người ta tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất” Việc tách bạch khái niệm đào tạo và bồi dưỡng riêng rẽ chỉ để tiện cho việc phân tích điểm giống và khác nhau giữa đào tạo và bồi dưỡng Một định nghĩa chung cho ĐTBD CBCC có thể được hiểu như là quá trình làm biến đổi hành vi con người một cách có hệ thống thông qua việc học tập này có kết quả của giáo dục, hướng dẫn phát triển và lĩnh hội kinh nghiệm theo một cách bài bản có kế hoạch
Mặc dù giữa đào tạo, bồi dưỡng có những điểm khác nhau tương đối, tuy nhiên, trong thực tế nhiều khi khó phân biệt một cách rạch ròi Do vậy, hai khái niệm này thường được sử dụng cùng nhau: “đào tạo, bồi dưỡng”,
“đào tạo - bồi dưỡng” trong việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho cán bộ, công chức Trong luận văn này tác giả sử dụng cách viết “đào tạo, bồi dưỡng” để thuận tiện cho quá trình xử lý và phân tích thông tin thực tế thu thập được
1.2.1.3 Bồi dưỡng cán bộ chính quyền cấp xã là người dân tộc thiểu số
Từ cách hiểu trên về bồi dưỡng cán bộ, có thể quan niệm về bồi dưỡng cán bộ chính quyền cấp xã là người DTTS như sau: Bồi dưỡng cán bộ chính quyền cấp xã người DTTS là toàn bộ hoạt động bồi dưỡng các kiến thức, kỹ năng cho đội ngũ cán bộ chính quyền người DTTS nhằm giúp họ nâng cao năng lực, trình độ để hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao
Hay nói cách khác, bồi dưỡng cán bộ chính quyền cấp xã là người DTTS được xác định là một quá trình có kế hoạch làm biến đổi thái độ, kiến thức hoặc
kỹ năng của người cán bộ đó thông qua các lớp bồi dưỡng để làm việc có hiệu quả trong một hoạt động hay trong một loạt các hoạt động nào đó
1.2.2 Vai trò của bồi dưỡng cán bộ chính quyền cấp xã là người dân tộc thiểu số
Trang 3324
Cán bộ chính quyền cấp xã là người DTTS có vai trò rất quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước ở vùng đồng bào DTTS Ngoài vị trí, vai trò của một người cán bộ nói chung, cán bộ chính quyền cấp xã là người DTTS chính là người giúp cho mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước dễ dàng đến với cộng đồng người đồng bào DTTS Là con em của đồng bào dân tộc thiểu số, được sinh ra, lớn lên tiếp xúc và thừa hưởng những bản sắc, truyền thống văn hóa, truyền thống cách mạng của địa phương, dân tộc mình Vì vậy mỗi cán bộ chính quyền cấp xã DTTS là người nắm vững về phong tục, tập quán, bản sắc và truyền thống văn hóa của dân tộc mình, hiểu được địa bàn, dân cư, thấy được những khó khăn, thuận lợi của địa phương và hiểu được tâm tư nguyện vọng của đồng bào người dân tộc thiểu số cán bộ chính quyền cấp xã là người DTTS còn là người có ảnh hưởng quan trọng, tích cực đối với cộng đồng DTTS; tiếng nói và hành động của họ có uy tín và có sức thuyết phục cao đối với đồng bào DTTS
Do đó, họ có thể đóng góp nhiều ý kiến cho việc cụ thể hóa đường lối chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cũng như trong việc xây dựng chủ trương, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Đồng thời, họ dễ dàng mang tâm tư, nguyện vọng, ý kiến của đồng bào dân tộc thiểu số đóng góp cho Đảng, Nhà nước để điều chỉnh quá trình xây dựng và thực hiện chủ trương, chính sách ngày một tốt hơn
Xuất phát từ vai trò của cán bộ chính quyền cấp xã là người DTTS, có thể thấy rằng việc bồi dưỡng cán bộ chính quyền cấp xã là người DTTS là rất quan trọng và cần thiết Nó giúp chuẩn bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp cho việc thực hiện nhiệm vụ của cán bộ người DTTS Đồng thời, là yếu tố quyết định đến việc nâng cao năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã DTTS, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức chuyên nghiệp, có đủ năng lực để xây dựng nền hành chính tiên tiến hiện đại
1.2.3 Mục đích, yếu cầu của bồi dưỡng cán bộ cấp xã
Trang 34+ Bồi dƣỡng đúng chuyên môn, chuyên ngành, gắn với chức danh quy hoạch và vị trí việc làm để phát huy chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao chất lƣợng, hiệu quả công tác, đảm bảo sử dụng nguồn cán bộ lâu dài; cân đối nguồn lực để cán bộ đƣợc bồi dƣỡng, cập nhật kiến thức mới hàng năm; ƣu tiên đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ nữ, cán bộ trẻ
+ Các đơn vị cần nhận thức đầy đủ về công tác bồi dƣỡng cán bộ; chọn
cử cán bộ đi bồi dƣỡng đảm bảo đúng đối tƣợng, tiêu chuẩn theo đúng quy định
+ Cán bộ đƣợc cử đi bồi dƣỡng phải nêu cao tinh thần, ý thức trách nhiệm để hoàn thành nhiệm vụ học tập; khuyến khích tinh thần tự học, tự nghiên cứu, tự bồi dƣỡng
1.2.4 Quy trình thực hiện bồi dưỡng cán bộ cấp xã
- Xác định nhu cầu bồi dưỡng
Xác định nhu cầu bồi dƣỡng là khâu quan trọng trong cả quá trình bồi
Trang 3526
dưỡng Để tránh lãng phí, chồng chéo cần tiến hành điều tra tổng thể nhu cầu bồi dưỡng của cán bộ cấp xã qua đó lập kế hoạch bồi dưỡng cho phù hợp
- Lập kế hoạch, xác định chương trình bồi dưỡng
Sau khi đã xác định được nhu cầu bồi dưỡng của cán bộ cấp xã, cầu xây dựng kế hoạch bồi dưỡng cụ thể Xác định rõ múc đích, nội dung, thời gian, chương trình, đối tượng đảm bảo tính cụ thể và thiết thực
- Tổ chức tiến hành bồi dưỡng
Đơn vị tổ chức các khóa bồi dưỡng căn cứ vào nhu cầu bồi dưỡng của các đơn vị đăng ký, và kế hoạch bồi dưỡng cán bộ hàng năm để chuẩn bị nội dung, giảng viên, cơ sở vật chất phụcvụ cho khóa bồi dưỡng được tiến hành đảm bảo tiến độ và chất lượng
- Kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng
Kiểm tra hoạt động bồi dưỡng cán bộ là một hoạt động quan trọng trong quy trình thực hiện công tác bồi dưỡng, xem có đạt mục tiêu đề ra không, nội dung, chương trình có phù hợp, người học áp dụng được gì sau khóa bồi dưỡng Qua đó có nhưng đánh giá về chất lượng của quá trình bồi dưỡng
Từ những kết qua của quá trình đánh giá chất lượng bồi dưỡng cán bộ
sẽ rút ra những bài học kinh nghiệm quý giá, giúp hoàn thiện và đa dạng hóa các hoạt động bồi dưỡng cán bộ cấp xã nói chung và cán bộ chính quyền cấp
xã là người dân tộc thiểu số nói riêng Từ đó, nâng cao trình độ cho đội ngủ cán bộ nói chung và cán bộ chính quyền cấp xã là người dân tộc thiểu số nói riêng, đáp ướng ngày càng tốt hơn tiến trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước trong tình hình mới
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới bồi dưỡng cán bộ cấp xã nói chung và cán bộ chính quyền cấp xã là người dân tộc thiểu số nói riêng
1.3.1 Các quy định của Đảng và nhà nước
Đảng và nhà nước ta rất coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nhằm đảm bảo có một đội ngũ cán bộ kế tiếp nhau, vững vàng về chính trị, tư
Trang 36đất nước đã nêu rõ: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách
mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và của chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng” [2; tr.54]
Trong văn kiện Đại hội X, Đảng ta đã khẳng định trong thời gian vừa
qua, công tác cán bộ có một số đổi mới về nội dung và cách làm “Triển khai
tương đối đồng bộ các khâu trong công tác cán bộ: Đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng và thực hiện chính sách cán bộ Công tác luân chuyển và quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý bước đầu có chuyển biến tiến bộ, góp phần đào tạo, bồi dưỡng, tạo nguồn cán bộ và khắc phục một bước tình trạng hẫng hụt về cán bộ” [5, tr.26] Văn kiện cũng nêu rõ
các yêu cầu về phẩm chất, năng lực của cán bộ và những quan điểm chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ trong thời kì mới Đảng đã đề ra các yêu cầu, nội
dung cụ thể cần phải đổi mới trong đào tạo cán bộ: “Có cơ chế, chính sách
phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng người có đức, có tài; thay thế những người kém năng lực và kém phẩm chất, có khuyết điểm nghiêm trọng Khắc phục những biểu hiện cá nhân, cục bộ, không
có công tâm, nể nang, tùy tiện trong công tác cán bộ Cụ thể hóa và thể chế hóa nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đi đôi với phát huy trách nhiệm của tổ chức và người đứng đầu của tổ chức trong hệ thống chính trị về công tác cán bộ” [5, tr.136-137]
Căn cứ vào các chủ trương, quan điểm chỉ đạo của Đảng về đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ, công chức, các cơ quan có thẩm quyền của nhà nước đã tích cực triển khai thực hiện, ban hành văn bản cụ thể hóa chính sách đào tạo công chức Ngày 20/11/1996, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 874-
Trang 37dựng, phát triển đất nước Để thực hiện mục tiêu cải cách hành chính nêu trên,
bên cạnh các giải pháp về cải cách thể chế, cải cách tổ chức bộ máy hành chính, cải cách tài chính công thì đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ, công chức là một trong những giải pháp cốt lõi, trong đó bao gồm: Đổi
mới công tác quản lý cán bộ, công chức; cải cách tiền lương và chế độ chính sách đãi ngộ; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức; nâng cao tinh thần trách nhiệm và đạo đức cán bộ, công chức
Trước yêu cầu đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức đáp ứng sự nghiệp phát triển đất nước trong giai đoạn mới, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 74/2001/QĐ-TTg ngày 07 tháng 5 năm 2001 phê duyệt Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2006-2010 với mục tiêu chung cả giai đoạn 2001-2010 là nhằm nâng cao kiến thức, năng lực quản lý, điều hành và thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong đó có mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nguồn để bước đầu hình thành và xây dựng đội ngũ
Trang 38đó là tăng cường hợp tác quốc tế về đào tạo, bồi dưỡng Việc thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trong thời gian tới cần đẩy mạnh về quy mô, nội dung và hình thức hợp tác Trong đó về quy mô đào tạo, bồi dưỡng chúng ta phải mở rộng các dự án đào tạo, bồi dưỡng, tăng cường các chương trình đào tạo theo chương trình hợp tác của Chính phủ Việt Nam ký kết với các quốc gia và vùng lãnh thổ khác Về nội dung đào tạo, bồi dưỡng chúng ta phải tăng cường tổ chức các hoạt động tham quan, khảo sát, trao đổi kinh nghiệm Về hình thức đào tạo, bồi dưỡng, phải kết hợp linh hoạt các hình thức đào tạo, bồi dưỡng: ở nước ngoài, mời chuyên gia nước ngoài tham gia giảng dạy ở trong nước và có thể kết hợp cả hai hình thức đào tạo, bồi dưỡng kể trên
Về kinh phí cho đào tạo, bồi dưỡng: Bộ Tài chính đã ban hành các văn bản pháp luật quản lý nhà nước trong việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, có thể đơn cử một số văn bản pháp luật như: Thông
tư số 150/1998/TT-BTC ngày 19/11/1998 hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công chức nhà nước; Thông tư số 07/2000/TT-BTC ngày 10/01/2000 hướng dẫn việc cấp, quản lý, hạch toán, quyết toán kinh phí thôi việc và nộp ngân sách tiền bồi thường chi phí đào tạo, bồi dưỡng của cán bộ, công chức; Thông tư số 105/2001/TT-BTC ngày 27/12/2001 hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhà nước và đến năm 2008 Bộ Tài chính lại ban hành Thông tư số 51/2008/TT-BTC ngày 16/6/2008 hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhà nước; Văn bản gần đây nhất là Thông
Trang 3930
tư số 139/2010/TT-BTC quy định việc lập dự toán, quản lý và sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước dành cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Theo các quy định đó, kinh phí chi cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức nhà nước được bố trí hàng năm theo dự toán ngân sách của các
Bộ, ngành, các tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương Kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhà nước được sử dụng để thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng những kiến thức về quản lý và chuyên môn nghiệp vụ cho các đối tượng Theo kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhà nước hàng năm được cấp có thẩm quyền phê duyệt trên cơ sở kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Tùy theo khả năng bố trí kinh phí và nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của mình mà các Bộ, ngành, địa phương có thể sử dụng nguồn kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhà nước
để hỗ trợ một phần chi phí cho đối tượng là cán bộ, công chức nhà nước được
cử đi học đại học và tương đương, trên đại học và tương đương Số kinh phí dành cho việc hỗ trợ đào tạo này tối đa không quá 10% tổng kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhà nước đã được phân bổ trong năm
Trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trong nước thì kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhà nước thuộc địa phương quản lý được bố trí chung trong dự toán ngân sách địa phương hàng năm Căn cứ vào kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhà nước của địa phương, khả năng cân đối ngân sách địa phương; các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chủ động
bố trí ngân sách để tổ chức thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhà nước của từng địa phương đảm bảo theo kế hoạch Ngoài nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước dành cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhà nước được bố trí hàng năm, các Bộ, cơ quan ngang Bộ,
cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan Trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ vào
Trang 4031
khả năng ngân sách của mình, có thể tăng chi cho nhiệm vụ này theo chế độ, định mức quy định Điều này đã giúp các địa phương chủ động kinh phí trong việc thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, nhất là trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức có trình độ chuyên sâu
Bên cạnh đó, để hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức có kế hoạch và thực hiện đúng mục tiêu đặt ra, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quy chế đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức tại Quyết định 161/2003/QD-TTg ngày 04 tháng 8 năm 2003 Quy chế đã xác định rõ mục tiêu của công tác đào tạo, bồi dưỡng là trang bị kiến thức về lý luận chính trị; kiến thức, kỹ năng
về quản lý nhà nước; chuyên môn nghiệp vụ; kiến thức ngoại ngữ, tin học và các kiến thức bổ trợ khác để nhằm xây dựng một đội ngũ cán bộ, công chức thành thạo về kỹ năng quản lý, lãnh đạo và chuyên môn nghiệp vụ trong giải quyết công việc để đáp ứng nhu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, có phẩm chất đạo đức tốt, trung thành với nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đồng thời nêu rõ việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức phải căn cứ vào tiêu chuẩn của từng chức vụ, tiêu chuẩn nghiệp vụ của từng ngạch, chức danh cán bộ, công chức; quy hoạch, kế hoạch xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức của cơ quan, đơn vị và nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng của cán bộ, công chức, phục vụ cho việc thực hiện nhiệm vụ, công
vụ mà cán bộ, công chức được giao Đồng thời giao cho Bộ Nội vụ giúp Chính phủ quản lý và thực hiện hoạt động quản lý nhà nước theo thẩm quyền được giao về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trong phạm vi cả nước
Ngoài ra Thủ tướng Chính phủ còn ban hành các văn bản pháp luật khác về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức theo từng đối tượng hoặc mục tiêu riêng, có thể kể đến như: Quyết định số 137/2003/QĐ-TTg ngày 11/7/2003 phê duyệt Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho công tác hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn 2003-2010; Quyết định số 03/2004/QĐ-TTg ngày 07/01/2004 phê duyệt định hướng quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng