1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn trên địa bàn huyện gia lâm, thành phố hà nội

166 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 166
Dung lượng 362,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các kết quả hoạt động cho thấy, phụ nữ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong công tác quản lý và bảo vệ môi trường của Huyện Gia Lâm như các phong trào phân loại, thu gom chất thải rắn

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ THÀNH

VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN

GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Mậu Dũng

NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, báo cáo, kết quả nghiên cứu là hoàn toàn trung thực và chưa từng được sử dụng trong bất kỳ khóa luận, luận văn, luận án nào.

Tôi xin cam đoan các thông tin trong khóa luận đều được ghi rõ nguồn gốc và trích dẫn đầy đủ.

Hà nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thành

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các tập thể, cá nhân trong và ngoài trường Trước hết, tôi xin được bầy tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS Nguyễn Mẫu Dũng Bộ môn Kinh tế tài nguyên và môi trường - Khoa Kinh tế & PTNT Học viện Nông Nghiệp Việt Nam đã dành nhiều thời gian tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy cô giáo Học viện Nông Nghiệp Việt Nam, các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế & PTNT đã trực tiếp giảng dạy và bồi dưỡng kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới tập thể cán bộ Văn phòng Huyện ủy-UBND huyện Gia Lâm, phòng Tài Nguyên và môi trường, Xí nghiệp môi trường Đô Thị, Phòng quản lý đô thị, Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Gia Lâm; Đảng ủy-UBND cùng với người dân tại các xã Phù Đổng, Phú Thị, Văn Đức đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong qua trình nghiên cứu tại địa phương.

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và những người thân đã luôn giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện luận văn của mình.Xin trân trọng cảm ơn!

Hà nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thành

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các chữ viết tắt vii

Danh mục bảng viii

Danh mục hình, biểu đồ, sơ đồ x

Danh mục hộp xi

Trích yếu luận văn xii

The thesis xiv

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.2.1 Mục tiêu chung 3

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 4

1.4 Những đóng góp mới của luận văn 4

Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn 5

2.1. Cơ sở lý luận về vai trò của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn 5 2.1.1. Khái niêm về vai trò của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn 5 2.1.2. Đặc điểm về vai trò của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn 10 2.1.3. Nội dung nghiên cứu về vai trò của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn 12

2.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn 16

2.2. Cơ sở thực tiễn về vai trò của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn 21 2.2.1. Kinh nghiệm về vai trò của phụ nữ trong quản lý môi trường ở các nước trên thế giới 21

Trang 5

iii

Trang 6

2.2.2. Kinh nghiệm về vai trò của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn

ở Việt Nam 24

2.2.3. Một số bài học kinh nghiệm rút ra từ nghiên cứu lý luận và thực tiễn về vai trò của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn huyện Gia Lâm. .30

2.3 Các nghiên cứu liên quan đến đề tài 31

Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 33

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 33

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 33

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 37

3.1.3 Giới thiệu chung về Phụ nữ huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội 43

3.2 Phương pháp nghiên cứu 47

3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 47

3.2.2 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu 48

3.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 50

3.2.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 51

Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 53

4.1. Khái quát chung về môi trường nông thôn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội 53

4.1.1. Khái quát về tình hình môi trường nông thôn ở huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội 53

4.1.2. Hệ thống tổ chức, quản lý môi trường nông thôn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội 58

4.1.3. Khái quát về vai trò của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội 59 4.2. Đánh giá về vai trò của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội 60

4.2.1. Đánh giá về vai trò của phụ nữ trong công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức vệ sinh môi trường nông thôn 60

4.2.2. Đánh giá về vai trò của phụ nữ trong công tác thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt ở nông thôn 65

4.2.3. Đánh giá về vai trò của phụ nữ trong công tác thu gom và xử lý rác thải nông nghiệp 73

Trang 7

4.2.4 Đánh giá về vai trò của phụ nữ trong công tác xử lý nước thải ở vùng

nông thôn huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội

4.2.5 Đánh giá về vai trò của phụ nữ trong công tác vệ sinh đường làng, ngõ xóm ở vùng nông thôn huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội

4.2.6 Đánh giá về vai trò của phụ nữ trong công tác cải tạo cảnh quan và trồng cây xanh ở huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội

4.2.7 Đánh giá về vai trò của phụ nữ trong lĩnh vực cấp nước sạch

4.2.8 Đánh giá về vai trò của phụ nữ trong công tác di dời chuồng trại chăn nuôi

4.2.9 Đánh giá về vai trò của phụ nữ trong công tác vệ sinh đồng ruộng

4.2.10 Đánh giá của người dân về vai trò của phụ nữ trong công tác quản lý môi trường nông thôn trên địa bàn huyện Gia Lâm .

4.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội

4.3.1 Cơ cấu tổ chức quản lý môi trường

4.3.2 Ảnh hưởng của trình độ văn hóa đến vai trò của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn

4.3.3 Ảnh hưởng của thu nhập đến vai trò của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn

4.3.4 Ảnh hưởng của độ tuổi đến vai trò của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn

4.3.5 Công tác chỉ đạo và vận động phụ nữ thực hiện bảo vệ môi trường của tổ chức phụ nữ

4.3.6 Yếu tố cơ sở hạ tầng, công nghệ phục vụ cho quản lý và bảo vệ môi trường

4.3.7 Chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với quản lý và bảo vệ môi trường .

4.3.8 Các yếu tố khách quan ảnh hưởng vai trò của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn

4.3.9 Tổng hợp trong phân tích ma trận SWOT

4.4 Định hướng giải pháp nâng cao vai trò của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội

4.4.1 Định hướng nâng cao vai trò của phụ trong quản lý môi trường nông thôn ở huyện Gia Lâm .

Trang 8

4.4.2. Các giải pháp nhằm nâng cao vai trò của phụ trong quản lý môi

trường nông thôn ở huyện Gia Lâm 104

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 111

5.1 Kết luận 111

5.2 Kiến nghị 112

Tài liệu tham khảo 114

Phụ lục 117

Trang 9

VSMT Vệ sinh môi trường

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Tình hình đất đai của huyện Gia Lâm giai đoạn 2014 – 2016 36

Bảng 3.2 Tình hình lao động của huyện Gia Lâm giai đoạn 2014 - 2016.38 Bảng 3.3 Tình hình cơ sở hạ tầng huyện Gia Lâm năm 2016 40

Bảng 3.4. Kết quả sản xuất - kinh doanh của huyện Gia Lâm giai đoạn 2014 – 2016 41

Bảng 4.1 Nguồn gốc phát sinh RTSH trên địa bàn huyện Gia Lâm 54

Bảng 4.2 Thành phần RTSH trên địa bàn huyện Gia Lâm 55

Bảng 4.3 Khối lượng rác thải trên địa bàn huyện Gia Lâm năm 2016 56

Bảng 4.4 Thống kê khối lượng thu gom rác từ năm 2014-2016 57

Bảng 4.5. Nội dung tuyên tuyền thực hiện quản lý môi trường của phụ nữ huyện Gia Lâm 62

Bảng 4.6. Các hình thức tuyên tuyền thực hiện quản lý môi trường của phụ nữ huyện Gia Lâm 63

Bảng 4.7 Ý kiến đánh giá về công tác tuyên truyền của phụ nữ 65

Bảng 4.8 Tình hình phân loại RTSH của phụ nữ 67

Bảng 4.9 Vai trò của phụ nữ trong thu gom rác thải sinh hoạt 69

Bảng 4.10 Vai trò của phụ nữ trong xử lý rác thải sinh hoạt 71

Bảng 4.11.Đánh giá của cán bộ địa phương về vai trò của phụ nữ trong phân loại, thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt 73

Bảng 4.12 Vai trò của phụ nữ trong thu gom rác thải nông nghiệp 74

Bảng 4.13 Vai trò của phụ nữ trong xử lý rác thải nông nghiệp 76

Bảng 4.14 Vai trò của phụ nữ trong xử lý rác thải nông nghiệp 78

Bảng 4.15 Vai trò của phụ nữ trong xử lý nước thải sinh hoạt 79

Bảng 4.16 Vai trò của phụ nữ trong xử lý nước thải chăn nuôi 80

Bảng 4.17.Đánh giá của cán bộ địa phương về vai trò của phụ nữ trong xử lý nước thải sinh hoạt và nước thải nông nghiệp 81

Bảng 4.18.Vai trò của phụ nữ trong vệ sinh đường làng ngõ xóm ở vùng nông thôn 82 Bảng 4.19.Vai trò của phụ nữ trong công tác tạo cảnh quan và trồng cây xanh

84

Trang 11

Bảng 4.20.Đánh giá của cán bộ về vai trò của phụ nữ trong công tác tạo cảnh

quan và trồng cây xanh 85Bảng 4.21 Vai trò của phụ nữ trong lĩnh vực cấp nước sạch 87Bảng 4.22 Vai trò của phụ nữ trong công tác di dời chuồng trại chăn nuôi

89

Bảng 4.23 Vai trò của phụ nữ trong công tác vệ sinh đồng ruộng 91Bảng 4.24.Ý kiến đánh giá của lãnh đạo về vai trò của phụ nữ trong công tác

làm sạch đồng ruộng 92Bảng 4.25. Ý kiến đánh giá của người dân về vai trò của phụ nữ trong công tác

quản lý môi trường nông thôn 93Bảng 4.26.Ảnh hưởng của trình độ học vấn đến vai trò của phụ nữ trong quản lý

môi trường nông thôn 95Bảng 4.27.Ảnh hưởng của thu nhập đến vai trò của phụ nữ trong quản lý môi

trường nông thôn. 96Bảng 4.28.Ảnh hưởng của độ tuổi đến vai trò của phụ nữ trong quản lý môi

trường nông thôn 98Bảng 4.29.Trình độ chuyên môn của cán bộ phụ nữ cấp xã, chi hội trưởng hội

phụ nữ 99

Trang 12

DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Gia Lâm 33Biểu đồ 4.1 Vai trò của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn 60

Sơ đồ 4.1 Cơ cấu tổ chức quản lý môi trường của huyện Gia Lâm 94

Trang 13

DANH MỤC HỘP

Hộp 4.1. Ý kiến của cán bộ Phụ nữ trong việc tuyên truyền, vận động nhân

dân tham gia quản lý môi trường nông thôn64Hộp 4.2. Ý kiến đánh giá của lãnh đạo về vai trò của phụ nữ trong công tác

phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt ở nông thôn. 73Hộp 4.3. Ý kiến đánh giá của lãnh đạo về vai trò của phụ nữ trong công tác

vệ sinh đường làng, ngõ xóm ở nông thôn 83Hộp 4.4. Ý kiến đánh giá của lãnh đạo về vai trò của phụ nữ trong lĩnh vực

cấp nước sạch 88Hộp 4.5. Ý kiến đánh giá của lãnh đạo về vai trò của phụ nữ trong công tác

di dời chuồng trại chăn nuôi 90

Trang 14

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Nguyễn Thị Thành

Tên Luận văn “Vai trò của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội”.

Ngành: Kinh tế nông nghiệp Mã số: 60.62.01.15

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Trong những năm qua, tốc độ phát triển kinh tế của Huyện Gia Lâm đạt ở mức cao, đời sống người dân được cải thiện rõ rệt Tuy nhiên, song hành cùng tốc độ tăng trưởng kinh tế, đô thị hóa là áp lực về môi trường của Huyện ngày càng lớn Cũng như các khu vực nông thôn khác trên địa bàn Thành phố Hà Nội, Huyện Gia Lâm đang hàng ngày phải đối mặt với các vấn đề môi trường như: ô nhiễm môi trường do sản xuất nghề thủ công; khối lượng chất thải rắn phát sinh ngày càng lớn; ô nhiễm môi trường do hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, làm ảnh hưởng đến sức khỏe người nông dân và chất lượng đất, chất lượng nước ngầm Trên thực tế cho thấy, với đội ngũ cán bộ quản lý môi trường quá thiếu so với nhu cầu công việc, Huyện Gia Lâm đã huy động nhiều lực lượng hội, đoàn thể tham gia vào công tác BVMT, đặc biệt là Phụ nữ Gia Lâm Các kết quả hoạt động cho thấy, phụ nữ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong công tác quản lý và bảo vệ môi trường của Huyện Gia Lâm như các phong trào phân loại, thu gom chất thải rắn, phong trào tuyến đường tự quản Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả nhất định nhưng trên thực tế vai trò của Phụ nữ huyện Gia Lâm trong công tác quản lý môi trường nông thôn chưa được phát huy hết khả năng, nhiều hoạt động vẫn còn mang tính phong trào.Do đó, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Vai trò của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội” Nhằm đánh giá vai trò của phụ nữ huyện Gia Lâm trong quản lý môi trường ở nông thôn trên địa bàn huyện Từ đó có những định hướng, đề xuất những giải pháp để nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn trên toàn huyện Gia Lâm trong thời gian tới.

Đề tài thực hiện trên cơ sở lý luận về khái niệm, đặc điểm, nội dung

về vai trò của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn Đồng thời tìm hiểu thực tiễn tổng quan về vai trò của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn ở một số nước : Hàn Quốc, Nhật Bản và ở Việt Nam.

Để tiến hành đề tài, trước tiên tôi đã tìm hiểu các đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của địa bàn Thông qua các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp chọn điểm, chọn mẫu nghiên cứu Phương pháp thu thập số liệu Phương pháp phân tích số liệu Hệ

Trang 15

thống chỉ tiêu nghiên cứu Đề tài được tiến hành điều tra 60 phiếu gồm cán

bộ tài nguyên môi trường, cán bộ NTM, cán bộ phụ trách môi trường của huyện và xã, cán bộ thôn, xóm và 60 phiếu đối với phụ nữ tại 3 xã Phù Đổng, Phú Thị, Văn Đức trên địa bàn Huyện Gia Lâm thành phố Hà Nội.

Qua quá trình nghiên cứu đưa ra một số nội dung sau:

- Tình hình rác thải ở huyện Gia Lâm chủ yếu là từ các hộ gia đình, các doanh nghiệp và các cơ sở sản xuất với thành phần rác thải khá đa dạng như: thực phẩm thừa, túi nilon, kim loại, giấy Hàng năm, rác thải được thải ra trên địa bàn là 66.112 tấn/năm (năm 2016).

- Trước tình hình ô nhiễm môi trường như vậy, Phụ nữ huyện Gia Lâm đã tích cực thực hiện công tác tuyên truyền, thực hiện các hoạt động thu gom, xử lý rác thải, phân loại rác tại nguồn, đổ rác đúng giờ, đúng nơi quy định, đem rác đến điểm tập trung, đem đốt hoặc đem chôn lấp Thực hiện tốt phong trào “Đoạn đường phụ nữ tự quản”, Cuộc vận đông “ Gia đình 5 không, 3 sạch” Duy trì tổng vệ sinh đường làng, ngõ xóm vào sáng thứ 7 hàng tuần Vệ sinh đồng ruộng thu gom vỏ bao bì thuốc bảo vệ thực vật đã qua sử dụng phát thải trên đồng ruộng, nạo vét kênh mương, thu gom rác nông nghiệp,

xử lý nước thải sinh hoạt và chăn nuôi, tham gia quản lý trong lĩnh vực cấp nước sạch,

di dời chuồng trại Cải tạo cảnh quan và trồng cây xanh.

- Bên cạnh đó phụ nữ trong toàn huyện đã đóng góp, huy động nguồn lực cho các hoạt động bảo vệ môi trường nông thôn trên địa bàn, góp phần nâng cao nhận thức cho người dân.

- Vai trò của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn đã đạt được một số kết quả, song vẫn còn những mặt hạn chế làm ảnh hưởng đến việc quản lý môi trường nông thôn trên địa bàn như: Độ tuổi, nhận thức, thu nhập của phụ nữ; công tác chỉ đạo và vận động phụ nữ tham gia bảo vệ môi trường của tổ chức phụ nữ, cơ

sở hạ tầng, công nghệ phục vụ cho quản lý môi trường, nguồn tài chính cho các hoạt động quản lý và bảo vệ môi trường chưa đáp ứng được với tình hình hiện nay Cuối cùng, nghiên cứu này đã đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn, đưa ra các giải pháp: Huy động nguồn lực, huy động nguồn vốn, tăng cường công tác kiểm tra, tăng cường thành lập các đội tự quản, tăng cường giáo dục tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức cho phụ

nữ nói riêng và người dân nói chung trong công cuộc BVMT Đồng thời, đề tài đưa ra một số kiến nghị, bao gồm: Xây dựng đồng bộ hệ thống văn bản pháp quy liên quan đến công tác quản lý môi trường, Huy động nhiều nguồn lực hơn nữa tham gia bảo

vệ môi trường, đặc biệt là giới nữ, đây là một lực lượng đông đảo và quan trọng không thể thiếu trong vấn đề giải quyết nhân lực tham gia bảo vệ môi trường.

Trang 16

THESIS ABSTRACT

Author's name: NGUYEN THI THANH

Thesis Name: “The role of women in rural environmental management in the Area of Gia Lam District, Hanoi City.”

Major: Agricultural Economics Code: 60.62.01.15

Name of training institution: Vietnam National University of AgricultureDuring the past few years, the economic development of Gia Lam district has been at a high level and the people's living standards have been clearly improved However, in parallel with the economic growth, urbanization is the environmental pressure of the District is growing Like other rural areas in Hanoi, Gia Lam district is facing daily environmental problems such as: environmental pollution caused by handicraft production; The volume of solid waste is increasing; Environmental pollution caused by industrial production, agriculture, affecting farmer's health and soil quality and groundwater quality.

Actually, with the staff of environmental management is too deficient compared to the needs of work, Gia Lam District has mobilized many forces and associations involved in environmental protection, especially Woman of Gia Lam District The results show that women play an increasingly important role in the management and environmental protection of Gia Lam District, such as classification movements, solid waste collection, the movement of self-managed Roads Although the certain results have been achieved, in fact, the role of Gia Lam District's women in rural environmental management has not been fully exploited, many activities still have the nature of movement Therefore, I carried out research on the subject: “The role of women in rural environmental management at the Area of Gia Lam District, Hanoi City.” To evaluate the role of women in Gia Lam District in environmental management in rural areas of the District From that point of view, there are orientations and suggestions for solutions to enhance the role of women in rural environmental management throughout Gia Lam district in the coming time.

The subject is carried out based on the theoretical background on the concept, characteristics and content of the role of women in rural environmental management At the same time, find out the overview of the role of women in rural environmental management in some countries: Korea, Japan and Vietnam.

To carry out the subject, first, I learned about the nature, socio-economic characteristics of the area Through research methodology: point selection, sample selection The method of data collection Method of data analysis Research indicator

Trang 17

system This subject was investigated in 60 votes, including resource and environment officers, new rural officers, officers in charge of environmental issues of district and commune environmental officers, village and hamlet officers, and 60 votes for women in

3 communes of Phu Dong, Phu Thi, Van Duc in the Area of Gia Lam district, Hanoi City.Through the research process, the following contents are given:

- The waste situation in Gia Lam district is mainly from households, enterprises and production establishments with various garbage components such as waste products, plastic bags, metal, paper Annually, waste discharged in the area is 66,112 tons per year (2016).

- In the face of such environmental pollution, women in Gia Lam district actively carry out the propaganda and implementation of waste collection and processing, sorting garbage at the source, dump garbage on time, at the right place, bring garbage to the point of concentration, burning or burying Good implementation of the movement "Women's self-managed Road", Campaign "Family

5 No, 3 Clean" Maintaining good cleaning of village roads and alleys every Saturday morning Field cleaning, collecting used pesticide packaging, disposing of waste in the fields, dredging canals, collecting agricultural waste, processing domestic and livestock wastewater, participating in management in the field of clean water supply, moving cattle shed Improving the landscape and planting trees.

- In addition, women in the whole district have contributed, mobilized resources for environmental protection activities in rural areas, contributing to raising awareness for people.

- The role of women in rural environmental management has achieved some results, but there are limitations that affect the management of rural environment in the area such as age, knowledges, income of women; Steering and mobilizing women works to participate in environmental protection of women's organizations, infrastructure, technology work do not meet yet the current situation.

Finally, this research proposes some solutions to enhance the role of women in rural environmental management, offering solutions: mobilizing resources, raising funds, to strengthen inspection work and strengthening the establishment of self- management teams, strengthening propaganda and education to raise knowledges for women particularly and people in general in environmental protection At the same time, the subject has given some recommendations, including: To build a comprehensive system of legal documents related to environmental management; Mobilizing more resources to participate in environmental protection, especially women, is an indispensable and important force in addressing the issue of human resource participating in environmental protection.

Trang 18

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trong nhiều năm trở lại đây, sự gia tăng nhu cầu khai thác các nguồn tài nguyên theo cấp số nhân đã gây nguy hại lớn tới môi trường toàn cầu, kéo theo

vô số hệ lụy khôn lường về đời sống và sức khỏe con người, trong đó trẻ em và phụ nữ là hai đối tượng bị ảnh hưởng nặng nề nhất Thực tế cho thấy, bản thân phái nữ, đặc biệt là phụ nữ mang thai, và trẻ em dưới 2 tuổi thường dễ bị tổn thương trước các mối đe dọa môi trường, nhất là phụ nữ và trẻ em sống ở vùng nông thôn hoặc vùng ngoại ô các nước đang phát triển Ý thức sâu sắc được điều này, giới nữ ở nhiều nơi trên thế giới đã dần đứng lên tham gia vào công tác bảo vệ môi trường, coi đó như một hành động thiết thực để bảo vệ cuộc sống của bản thân và gia đình Cũng đã có nhiều tổ chức thế giới và các quốc gia triển khai nghiên cứu, xây dựng các chính sách khuyến khích sự tham gia của nữ giới trong các hoạt động bảo vệ môi trường Ngay từ tuyên bố của Hội nghị Liên hợp Quốc về Môi trường và Phát triển Rio de Janeiro, Bazil năm (1992)

đã đề ra nguyên tắc thứ 20 trong số 27 nguyên tắc là: “Phụ nữ có một vai trò quan trọng trong quản lý và phát triển môi trường Do đó việc họ tham gia đầy

đủ là cần thiết để đạt được sự phát triển bền vững” Những nhu cầu và nguyện vọng của phụ nữ phải được phản ảnh rõ ràng trong các chính sách và các biện pháp được thông qua Hơn nữa, các chính phủ phải đảm bảo cho phụ nữ được tiếp cận và kiểm soát các nguồn tài nguyên quan trọng như nước và đất Chính phủ cần phải bảo vệ phụ nữ trước các tác động của suy thoái môi trường và cho phép họ tiến hành những việc cần thiết để cải thiện môi trường sống.

Tại Việt Nam, đã có các nghiên cứu khẳng định rằng phụ nữ là người chịu ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường nhiều nhất, theo Lê Kim Chi (2003)

đã cho thấy rằng người phụ nữ trong bất kỳ hoạt động nào đều có liên quan tới chất thải và là đối tượng chịu tác động của ô nhiễm nhiều nhất Tỷ lệ phụ

nữ tham gia trong các làng nghề chiếm từ 45% - 90%, thậm chí có nơi chiếm tới 98% như làng nghề Ngư Lộc (Thanh Hóa) Tuy nhiên, điều kiện lao động của phụ nữ ở các làng nghề lại rất ít được quan tâm, nhất là việc khám sức khỏe định kỳ và thực hiện chế độ lao động nữ khi bị ốm đau, thai sản, an toàn lao động, bảo hiểm đều không có Do đó, tiềm năng, quyền lợi và trách nhiệm của người phụ nữ trong các hoạt động quản lý môi trường là rất lớn.

Trang 19

Huyện Gia Lâm, Hà Nội có diện tích tự nhiên 114,79 km2 và dân số trên 25 vạn người, là khu vực phát triển đô thị ở phía Đông Bắc của Thủ đô Hà Nội, là nơi tập trung các công trình đầu mối giao thông và hạ tầng kỹ thuật quan trọng của quốc gia

và của thành phố Bên cạnh đó, đây cũng là khu vực phát triển các cơ sở công nghiệp quy mô, các trung tâm dịch vụ, thương mại lớn Trong những năm qua, tốc

độ phát triển kinh tế của Huyện Gia Lâm đạt ở mức cao, đời sống người dân được cải thiện rõ rệt Hạ tầng kinh tế, văn hóa, xã hội nông thôn sau nhiều năm được đầu

tư đã cơ bản đáp ứng yêu cầu phục vụ phát triển sản xuất, dân sinh và phòng chống lụt bão Tuy nhiên, song hành cùng tốc độ tăng trưởng kinh tế, đô thị hóa là áp lực

về môi trường của Huyện ngày càng lớn Cũng như các khu vực nông thôn khác trên địa bàn Thành phố Hà Nội, Huyện Gia Lâm đang hàng ngày phải đối mặt với các vấn đề môi trường như: ô nhiễm môi trường do sản xuất nghề thủ công đang ở mức báo động; khối lượng chất thải rắn phát sinh ngày càng lớn; đa số chất lượng nước

ở các thủy vực tại các làng xã khu vực nông thôn đang bị suy giảm do ngày càng phải tiếp nhận nhiều hơn khối lượng nước thải không qua xử lý của dân cư khu vực đó; ô nhiễm môi trường do hoạt động sản xuất công nghiệp chưa được xử lý triệt để; ô nhiễm môi trường do hoạt động sản xuất nông nghiệp đã và đang diễn ra rất mạnh mẽ, làm ảnh hưởng đến sức khỏe người nông dân và chất lượng đất, chất lượng nước ngầm.

Như vậy có thể nhận thấy quản lý và BVMT trong những năm tới là nhiệm vụ quan trong của Huyện Gia Lâm, đòi hỏi sự tham gia của toàn cộng đồng và các tổ chức đoàn thể bên cạnh cơ quan quản lý Nhà nước để đạt được những mục tiêu về phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới trên địa bàn Huyện.

Đứng trước những vấn đề bức xúc như vậy, trong những năm qua UBND Huyện Gia Lâm đã có nhiều nỗ lực trong công tác quản lý và bảo vệ môi trường Thực tế cho thấy, với đội ngũ cán bộ quản lý môi trường quá thiếu so với nhu cầu công việc, Huyện Gia Lâm đã huy động nhiều lực lượng hội, đoàn thể tham gia vào công tác BVMT, đặc biệt là Phụ nữ Gia Lâm Các kết quả hoạt động cho thấy, phụ nữ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong công tác quản lý và bảo vệ môi trường của Huyện Gia Lâm như các phong trào phân loại, thu gom chất thải rắn, phong trào tuyến đường tự quản Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả nhất định nhưng trên thực

tế vai trò của Phụ nữ huyện Gia Lâm trong công tác quản lý môi trường nông thôn chưa được phát huy hết khả năng, nhiều hoạt động vẫn còn mang tính phong trào.

Trang 20

Hiện nay, công tác quản lý môi trường nông thôn bên cạnh những thuận lợi, cũng còn những khó khăn của giới nữ khi tham gia vào các hoạt động này và những câu hỏi được đặt ra: Thực trạng công tác quản lý môi trường nông thôn trên địa bàn như thế nào? Vai trò của phụ nữ huyện Gia Lâm về công tác quản lý môi trường ở nông thôn hiện nay ra sao? Các yếu tố ảnh hưởng tới vai trò của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn? Từ đó có những định hướng, giải pháp để nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn trên toàn huyện Gia Lâm Do đó, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Vai trò của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội”.

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở đánh giá thực trạng vai trò của Phụ nữ trong việc quản

lý môi trường nông thôn tại huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội; Từ đó

đề xuất định hướng và giải pháp chủ yếu phát huy vai trò của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn ở địa phương trong thời gian tới 1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Góp phần hệ thống hóa cở sở lý luận và thực tiễn về vai trò của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn.

- Đánh giá thực trạng vai trò của phụ nữ trong việc quản lý môi trường nông thôn trên địa bàn huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội.

- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn ở huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội.

- Đề xuất định hướng và giải pháp nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn ở huyện Gia Lâm trong thời gian tới 1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về tăng cường vai trò của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn đồng thời đánh giá sự tham gia của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn và các yếu tố ảnh hưởng đến kế quả thực hiện quản lý môi trường nông thôn tại huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội;

- Đối tượng khảo sát của đề tài là vai trò của phụ nữ trong quản

lý môi trường nông thôn tại huyện Gia Lâm – Thành phố Hà Nội.

Trang 21

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung làm rõ vai trò của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn; nghiên cứu đề xuất định hướng và giải pháp nhằm phát huy vai trò của phụ nữ trong công tác quản lý môi trường nông thôn.

- Phạm vi thời gian: Đề tài được thực hiện dựa trên thu thập các tài liệu có liên quan đến các nội dung nghiên cứu từ năm 2013 đến năm 2015 Thời gian thực hiện từ 4/2016 – 5/2017.

- Phạm vi không gian: Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại địa bàn huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội.

1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN

Đề tài “Vai trò của phụ nữ trong công tác quản lý môi trường nông thôn trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội” có một số đóng góp như sau:

1 Đề tài đã vận dụng lý luận và kinh nghiệm trong việc nâng cao vai trò của phụ nữ trong công tác quản lý môi trường nông thôn trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.

2 Nâng cao vai trò của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn : Đề tài nghiên cứu trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội Với kết quả nghiên cứu, phụ nữ Gia Lâm sẽ phát huy tối đa vai trò của mình trong công tác bảo vệ môi trường nói chung, trong quản lý môi trường nông thôn nói riêng, góp phần giải quyết khó khăn trong thực tế là thiếu nguồn lực trong công tác bảo vệ môi trường của huyện Gia Lâm trong những năm qua.

3 Luận văn đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ trong quản

lý môi trường nông thôn Kết quả nghiên cứu của đề tài đánh giá trung thực vai trò của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn trên địa bàn huyện Gia Lâm.

4 Các giải pháp của đề tài được đề xuất trên cơ sở phân tích và đánh giá thực trạng cũng như phân tích, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn trên địa bàn huyện Gia Lâm Kết quả nghiên cứu và các giải pháp của đề tài áp dụng nhằm nâng cao vai trò của phụ

nữ trong quản lý môi trường nông thôn trên địa bàn huyện Gia Lâm.

Trang 22

PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN

2.1.1 Khái niêm về vai trò của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn 2.1.1.1 Một số khái niệm

a Khái niệm về môi trường

Theo luật bảo vệ môi trường (2015) thì môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.

Theo định nghĩa của Tổ chức kinh tế văn hóa xã hội Liên hiệp quốc (2000) thì môi trường của con người bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình (tập quán, niềm tin) trong đó con người sống và lao động, họ khai thác các tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thỏa mãn những nhu cầu của mình Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên.

* Môi trường bao gồm 4 thành phần:

- Khí quyển: khí quyển là lớp khí bảo vệ bao quanh trái đất bao gồm nitrogen, oxygen, ngoài ra còn có argon, CO2, và một số loại khí khác Nó duy trì

sự sống trên trái đất Nó bảo vệ trái đất khỏi những tác động từ ngoài không gian Nó hấp thu các tia từ vũ trụ và phần lớn bức xạ ánh sáng mặt trời Nó chỉ cho phép các tia có bước sóng từ 300 – 2500 nm và 0,14 – 40 m (sóng radio) đi vào trái đất trong khi lọc hầu hết các sóng tử ngoại có hại (< 300 nm);

- Thủy quyển: bao gồm tất cả các loại nguồn nước như: nước đại dương, sông hồ, nước đóng băng, nước ngầm - 97% là nước ở các đại dương - 2% là nguồn nước bị đóng băng ở các cực - 1% là nước ngọt ở các sông hồ, nước ngầm phục vụ cho nhu cầu con người và các nhu cầu khác;

- Địa quyển: là lớp đất ở võ của trái đất bao gồm các khoáng chất, chất hữu cơ, vô cơ.

- Sinh quyển: Bao gồm tất cả các sinh vật sống và tương tác với môi trường khí, nước và đất Các yếu tố môi trường Môi trường được hình thành bởi các hệ

Trang 23

thống tương tác của các yếu tố vật lý, sinh học và văn hóa bằng nhiều cách khác nhau (Hà Anh, 2003).

Các yếu tố này bao gồm:

- Yếu tố vật lý: như không gian, địa mạo, khối nước, đất, đá, khoáng sản Chúng có những tính chất thay đổi, là nơi cư trú của con người và có những giới hạn nhất định;

- Yếu tố sinh học: như thực vật, động vật, vi sinh vật và con người (3) Yếu

tố văn hóa: như kinh tế, xã hội, chính trị Quan hệ giữa môi trường và phát triển

là 2 yếu tố luôn song hành với nhau, đặc biệt là môi trường và phát triển bền vững Đóng góp của quản lý môi trường và tài nguyên thiên nhiên cho phát triển

là một yếu tố quan trọng hàng đầu hiện nay Mối tương quan giữa môi trường và phát triển thể hiện qua việc: Xác định vai trò của môi trường trong phát triển bền vững Mô tả những rủi ro của hoạt động phát triển đến môi trường Hiểu biết các

cơ hội và rủi ro trong mối tương quan với các quá trình và thỏa thuận quốc tế đến môi trường và phát triển bền vững Nâng cao tầm quan trọng của kiến thức trong việc tạo ra chính sách hỗ trợ môi trường và phát triển bền vững Áp dụng các phân tích và tổng hợp kiến thức hỗ trợ phát triển; Như vậy môi trường sống của con người theo định nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sống, sản xuất của con người như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội.

Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta

cơ sở để sống và phát triển.

* Các chức năng cơ bản môi trường gồm:

- Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật.

- Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người.

- Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình.

- Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên trái đất.

- Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người.

- Con người luôn cần một khoảng không gian dành cho nhà ở, sản xuất

Trang 24

6

Trang 25

thiết cho mình bằng việc khai thác và chuyển đổi chức năng sử dụng của các loại không gian khác như khai hoang, phá rừng, cải tạo các vùng đất và nước mới Việc khai thác quá mức không gian và các dạng tài nguyên thiên nhiên có thể làm cho chất lượng không gian sống mất đi khả năng tự phục hồi.

b Khái niệm về nông thôn

Trong quá trình phát triển các quốc gia trên thế giới đều phân lãnh thổ của mình thành hai khu vực là thành thị và nông thôn Các nhà xã hội học đã đưa ra một số tiêu chí phân biệt khu vực nông thôn và khu vực thành thị như thành phần xã hội của dân số, các di sản văn hóa, sự phồn thịnh, sự phân hóa xã hội của dân cư, mức độ phức tạp của cấu trúc và đời sống xã hội, cường độ và sự đa dạng của mối liên hệ xã hội Sự khác nhau căn bản giữa nông thôn và thành thị được phản ánh rõ nét trong những nguyên lý của xã hội học nông thôn- đô thị Trong đó những tiêu chí quan trọng giúp phân biệt khu vực nông thôn và thành thị bao gồm sự khác nhau về nghề nghiệp, về môi trường, quy mô cộng đồng, mật độ dân số, tính hỗn tạp và thuần nhất của dân số, hướng di cư sự khác biệt xã hội và phân tầng xã hội, hệ thống tương tác trong từng vùng (Bộ nông nghiệp &PTNT, 2010).

Sự phân biệt nông thôn và thành thị có thể dựa vào các tiêu chí quy định cho từng vùng Đối với khu vực thành thị, nhiều nước đã thống nhất coi số lượng dân cư làm tiêu chí để quy định đô thị Cho đến nay trên thế giới đều thống nhất coi đô thị là một điểm dân cư tập trung với số lượng lớn, mật độ cao và tỷ lệ người làm công nghiệp, dịch vụ nhiều hơn hẳn người làm nông nghiệp Tuy nhiên cũng còn tùy vào tiêu chí cụ thể có sự khác nhau giữa các nước, xuất phát từ đặc điểm riêng của mỗi nước.

Như vậy, khái niệm về nông thôn chỉ mang tính tương đối, nó có thể thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia trên thế giới Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, nhìn nhận dưới góc độ quản lý, có thể hiểu “Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa-xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác” (Mai Thanh Cúc và cs., 2005).

c Khái niệm về môi trường nông thôn

Môi trường nông thôn được hiểu là: “Một thành phần của môi trường tự nhiên, trong đó được cấu thành bởi những yếu tố cơ sở vật chất hạ tầng (nhà ở,

Trang 26

vườn tược, ruộng đồng, đường giao thông), các phương tiện máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp, trong đó trọng tâm vẫn là người nông dân và công nhân nông nghiệp với những sản xuất nông nghiệp, cảnh quan nông thôn, các yếu tố trên có mối liên hệ với nhau bằng dây truyền thực phẩm và dòng năng lượng Ngoài hoạt động sản xuất còn có những sinh hoạt về văn hóa xã hội, tập quán, tình cảm của làng xóm của người nông dân” ( Phạm Huy Hoàng, 2016).

d Khái quát về quản về lý môi trường nông thôn

Quản lý môi trường nông thôn là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống ở khu vực nông thôn trên cơ sở có sự tham gia của người dân theo phương châm “Dân biết, dân bàn, dân đóng góp, dân làm, dân kiểm tra, dân quản lý thành quả và dân hưởng lợi” Đây là cơ sở để phát huy nội lực, hướng vào xây dựng tính bền vững cho nông thôn phát triển bền vững (Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2010).

Các mục tiêu chủ yếu của công tác về quản lý môi trường nông thôn bao gồm:

- Khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trường phát sinh trong hoạt động sống của con người trong khu vực nông thôn;

- Phát triển bền vững kinh tế và xã hội ở khu vực nông thôn theo nguyên tắc bền vững bao gồm: Phát triển bền vững kinh tế, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, không tạo ra ô nhiễm và suy thoái chất lượng môi trường sống, nâng cao sự văn minh và công bằng xã hội (Hà Anh, 2003).

Các nguyên tắc chủ yếu của quản lý môi trường nông thôn bao gồm:

- Hướng công tác quản lý môi trường tới mục tiêu phát triển bền vững kinh

tế xã hội khu vực nông thôn, giữ cân bằng giữa phát triển và bảo vệ môi trường;

- Kết hợp giữa chính quyền, các tổ chức kinh tế, xã hội và cộng đồng dân cư trong việc quản lý môi trường;

- Quản lý môi trường cần được thực hiện bằng nhiều biện pháp

Trang 27

e Khái niệm về vai trò

Vai trò thường là tính từ chỉ tính chất của sự vật, sự viêc hiện tượng,dùng để nói về vị trí chức năng, nhiệm vụ mục đích của sự vật, sự việc, hiện tượng trong một hoàn cảnh, bối cảnh và mối quan hệ nào đó (Theo từ điển tiếng việt, 2014).

Theo Tạ Quỳnh Hoa (2006) thì vai trò là một quá trình mà Chính phủ

và cộng đồng cùng nhận một số trách nhiệm cụ thể và tiến hành các hoạt động chung để cung cấp dịch vụ đô thị cho tất cả các cộng đồng.

Như vậy có thể hiểu vai trò là một quá trình trong đó các nhóm dân cư của cộng đồng tác động vào quá trình đánh giá, quy hoạch, thực hiện, quản lý sử dụng hoặc duy trì một dịch vụ, trang thiết bị hay phạm vi hoạt động Yếu tố quan trọng nhất của sự tham gia là đảm bảo đảm cho những người chịu ảnh hưởng được tham gia vào quyền quyết định một công việc hay một dự án nào đó.

Để tiến hành được việc quy hoạch cải tạo với vai trò của cộng đồng, yếu tố cần thiết hàng đầu đó là sự nỗ lực tham gia của người dân Người dân phải thể hiện tính tự chủ tối đa và nỗ lực để cải thiện điều kiện sống và môi trường nơi họ đang ở Ngoài ra, cần có các nguồn lực của cộng đồng: tiền, sức lao động, kiến thức, kỹ năng, sự lãnh đạo, hệ thống tổ chức xã hội trong cộng đồng Bên cạnh đó, cũng cần có sự trợ giúp về kỹ thuật, nguồn lực và dịch vụ của Chính phủ hoặc các tổ chức nào đó để khuyến khích óc sáng tạo, sự giúp đỡ lẫn nhau và tính tự lực của cộng đồng (Tạ Quỳnh Hoa, 2006).

f Khái niệm về phụ nữ

Theo Lưu Bình Nhưỡng (2010) thì “Phụ nữ là người luôn gắn với gia đình, con cái từ lâu, phụ nữ được trao cho “thiên chức” là mang thai, sinh con và nuôi con bằng sữa Tuy nhiên, trong thực tế và xét về tiềm năng thì vấn đề con cái không chỉ có vậy Người phụ nữ luôn gần gũi với con, là chỗ dựa tinh thần cho con, là người chăm sóc con từ khi còn thơ bé đến khi trưởng thành Người phụ nữ luôn thể hiện đức tính đảm đang, chăm

lo cho gia đình Thường là từ khi lấy chồng, người phụ nữ bắt đầu thay đổi và tập trung vào gia đình - tổ ấm của mình dường như đây là “thiên chức” thứ hai của người phụ nữ - “bảo mẫu” của gia đình.

Phụ nữ có đời sống khá phong phú Người phụ nữ luôn luôn nhạy cảm trước những vấn đề của cuộc sống Họ thường tìm cách chia sẻ với những người thân thiết, những người xung quanh Sự ước vọng vươn lên trong cuộc sống và

Trang 28

làm những điều lớn lao hoặc có ý nghĩa đối với bản thân, với gia đình là điều khá thường trực đối với họ” (Lưu Bình Nhưỡng, 2010).

2.1.2 Đặc điểm về vai trò của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn

a Đặc điểm về vai trò của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn

Quản lý môi trường nông thôn được thực hiện thông qua tăng cường năng lực cho phụ nữ và cộng đồng để họ tham gia thực sự vào các hoạt động quản lý môi trường nông thôn Tuỳ thuộc vào trình độ nhận thức, văn hoá, điều kiện kinh

tế, địa lý của từng vùng miền khác nhau, mức độ tham gia của người dân vào quản lý môi trường nông thôn ở các cấp độ khác nhau Các mức độ vai trò của phụ nữ có thể được coi như một tiến trình liên tục và chia thành các cấp độ khác nhau thể hiện vai trò của mình (Phạm Huy Hoàng, 2016).

- Tham gia thụ động: Phụ nữ thụ động tham gia vào các hoạt động quản lý môi trường nông thôn, không tham dự vào quá trình ra quyết định, xây dựng kế hoạch;

- Tham gia thông qua việc cung cấp thông tin: thông qua việc trả lời các câu hỏi điều tra của các nhà nghiên cứu Phụ nữ không tham dự vào quá trình phân tích và sử dụng thông tin;

- Tham gia bởi nghĩa vụ hay bị bắt buộc: Thông qua việc đóng góp lao động, tiền hay một số nguồn lực khác Phụ nữ cho rằng đây

là nghĩa vụ họ phải đóng góp Các hoạt động thường do các tổ chức quần chúng, cán bộ dự án khởi xướng, định hướng và hướng dẫn;

- Tham gia bởi định hướng từ bên ngoài: Phụ nữ tự nguyện tham gia vào các tổ, nhóm do dự án hoặc các chương trình khởi xướng Bên ngoài

hỗ trợ và người dân tự chịu trách nhiệm trong việc ra quyết định;

- Tự nguyện: Phụ nữ tự khởi xướng về việc xác định, lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá các hoạt động phát triển không có sự định hướng từ bên ngoài.

b Các hình thức thể hiện vai trò của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn.

Vai trò của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn được coi như nhân tố quan trọng, quyết định sự thành bại của việc áp dụng phương pháp tiếp cận phát triển dựa vào nội lực và do cộng đồng làm chủ Khi tham gia vào quá trình quản lý môi trường nông thôn với sự hỗ trợ của Nhà nước, phụ nữ tại các cộng đồng dân

cư nông thôn sẽ từng bước được tăng cường kỹ năng, năng lực về quản lý môi trường nhằm tận dụng triệt để các nguồn lực tại chỗ và bên ngoài Khi

Trang 29

xem xét vai trò của phụ nữ trong các hoạt động quản lý môi trường nông thôn, vai trò của của phụ nữ ở đây được thể hiện: Phụ nữ biết, phụ nữ bàn, phụ nữ đóng góp, phụ nữ làm, phụ nữ kiểm tra, phụ nữ quản lý và dân hưởng lợi Như vậy, vai trò của người phụ nữ vẫn theo một trật tự nhất định, các trật tự ở đây hoàn toàn phù hợp với điều kiện, yêu cầu của tình hình nhiệm vụ mới hiện nay (Phạm Huy Hoàng, 2016).

- Phụ nữ biết: là quyền lợi, nghĩa vụ và sự hiểu biết của phụ nữ về những kiến thức bản địa có thể đóng góp vào quá trình quản lý môi trường ở nông thôn, quá trình khảo sát thiết kế các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng môi trường nông thôn Mặt khác, phụ nữ có điều kiện tham gia hiệu quả hơn vào các giai đoạn sau của quá trình xây dựng công trình, phụ nữ nắm được thông tin đầy đủ về công trình mà họ tham gia như: mục đích xây dựng công trình, quy mô công trình, các yêu cầu đóng góp từ cộng đồng, trách nhiệm và quyền lợi của cộng đồng người dân được hưởng lợi;

- Phụ nữ bàn: Ở đây gồm sự tham gia ý kiến của Hội phụ nữ liên quan đến kế hoạch phát triển sản xuất, liên quan đến các giải pháp, mọi hoạt động của phụ nữ trên địa bàn như: bàn luận mở ra một hướng về quản lý môi trường, đầu tư xây dựng công trình phúc lợi công cộng, các giải pháp thiết

kế, phương thức khai thác công trình, tổ chức quản lý công trình, các mức đóng góp và các định mức chi tiêu từ các nguồn thu, phương thức quản lý tài chính Trong nội bộ cộng đồng dân cư hưởng lợi;

- Phụ nữ đóng góp: là một yếu tố không chỉ ở phạm trù vật chất, tiền bạc mà còn ở cả phạm trù nhận thức về quyền sở hữu và tính trách nhiệm, tăng tính tự giác của từng phụ nữ trong cộng đồng Hình thức đóng góp có thể bằng tiền, sức lao động, vật tư tại chỗ hoặc đóng góp bằng trí tuệ;

- Phụ nữ làm: là sự tham gia lao động trực tiếp từ phụ nữ vào các hoạt động phát triển nông thôn như: phụ nữ thực hiện quản lý môi trường ở nông thôn, phụ nữ tham gia quét dọn đường làng ngõ xóm, phụ nữ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, phụ nữ với các hoạt động của các nhóm khuyến nông, khuyến lâm, nhóm tín dụng tiết kiệm và những công việc liên quan đến tổ chức tiếp nhận, quản lý và sử dụng công trình Phụ nữ trực tiếp tham gia vào quá trình cụ thể trong việc lập kế hoạch có sự tham gia cho từng hoạt động thi công, quản lý và duy tu bảo dưỡng, từ những việc tham gia đó đã tạo cơ hội cho phụ nữ có việc làm, tăng thu nhập cho phụ nữ.

Trang 30

- Phụ nữ kiểm tra: có nghĩa là thông qua các chương trình, hoạt động có sự giám sát

và đánh giá của người dân, để thực hiện các quy chế dân chủ cơ sở của Đảng và Nhà nước nói chung và nâng cao hiệu quả chất lượng công trình Ở những công trình có nhiều bên tham gia, sự kiểm tra, giám sát của cộng đồng hưởng lợi có tác động tích cực trực tiếp đến chất lượng công trình và tính minh bạch trong việc sử dụng các nguồn lực của Nhà nước và của người dân vào xây dựng, quản lý và vận hành công trình Việc kiểm tra có thể được tiến hành ở tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư trên các khía cạnh kỹ thuật cũng như tài chính.(Phạm Huy Hoàng, 2016)

- Phụ nữ quản lý: Đó là các thành quả của các hoạt động mà phụ nữ đã tham gia; các công trình sau khi xây dựng xong cần được quản lý trực tiếp của một tổ chức do hưởng lợi lập ra để tránh tình trạng không rõ ràng về chủ sở hữu công trình Việc tổ chức của phụ nữ tham gia duy tu, bảo dưỡng công trình nhằm nâng cao tuổi thọ và phát huy tối đa hiệu quả trong việc sử dụng công trình;

- Mọi người cùng hưởng lợi: chính là lợi ích mà các hoạt động mang lại, tuy nhiên cần chia ra các nhóm hưởng lợi ích trực tiếp và nhóm hưởng lợi gián tiếp Nhóm hưởng lợi trực tiếp là nhóm thụ hưởng các lợi ích từ các hoạt động như thu nhập tăng thêm của của việc thu gom rác thải, dọn vệ sinh đường làng ngõ xóm, các kỹ thuật tiên tiến, phòng trừ dịch bệnh và các hoạt động tài chính, tín dụng Nhóm hưởng lợi gián tiếp là nhóm thụ hưởng thành quả của các hoạt động đó, để hưởng lợi từ mức độ cải thiện môi trường sinh thái, học hỏi nhóm hưởng lợi trực tiếp từ các mô hình nhân rộng, mức độ tham gia vào thị trường để tăng thu nhập (Phạm Huy Hoàng, 2016).

2.1.3 Nội dung nghiên cứu về vai trò của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn

a Vai trò của phụ nữ trong công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường

Phụ nữ đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức, trách nhiệm, phát huy vai trò phụ nữ tự quản, hình thành ý thức chủ động về bảo vệ môi trường, vận động sâu rộng về quản lý môi trường nông thôn trong hệ thống tổ chức nhằm phát huy đầy đủ, toàn diện nội lực và tiềm năng, sáng tạo của phụ nữ, động viên, khuyến khích phụ nữ chủ động, tích cực tham gia với vai trò chủ thể ở nông thôn Phối hợp với Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia quản lý môi trường nông thôn của Trung ương, của huyện và địa phương mình, xây dựng và

tổ chức thực hiện kế hoạch tuyên truyền, phổ biến rộng rãi đến 100% cán bộ, hội

Trang 31

viên, về ý nghĩa, mục đích, chủ trương của Đảng, chính sách đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước, của địa phương về quản lý môi trường nông thôn, trên cơ sở đó tạo

sự thống nhất về nhận thức và hành động của phụ nữ, khuyến khích, động viên phụ nữ tích cực tham gia, đóng góp công sức, tiền của, đất đai, quản lý môi trường nông thôn với vai trò của người làm chủ (Phạm Huy Hoàng, 2016).

Tổ chức biên soạn tài liệu tập huấn, tuyên truyền về quản lý môi trường nông thôn và tổ chức tập huấn, tuyên truyền nâng cao nhận thức với nhiều hình thức phong phú như: Hội thảo, giao lưu sân khấu hóa, tọa đàm, thi tìm hiểu kiến thức, các sự kiện truyền thông.

Tổ chức thông tin tuyên truyền thường xuyên trên các phương tiện thông tin đại chúng về chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, các mô hình, điển hình tiên tiến về quản lý môi trường nông thôn, kịp thời động viên và khuyến khích việc học tập các mô hình, điển hình tiên tiến với phong trào “Phụ nữ với phong trào “5 không 3 sạch”.

b Vai trò của phụ nữ trong xử lý rác thải sinh hoạt và bảo vệ nguồn nước Phụ nữ tích cực vận động, huy động các cán bộ, hội viên, và mọi người dân tham gia tích cực vào các hoạt động quản lý môi trường nông thôn cụ thể, phát triển hạ tầng kinh tế - bằng các việc làm thiết thực như hiến đất làm làm các

hố bi đựng rác thải trên đồng ruộng nông thôn, xả rác đúng nơi quy định, ủng hộ vật chất, tiền mặt, ngày công lao động để xây dựng nhà vệ sinh cho các hội viên nghèo, hỗ trợ xây hầm Bio ga cho các hộ gia đình chăn nuôi gia xúc, gia cầm Phụ nữ tuyên truyền vận động thành lập các tổ vệ sinh môi trường của từng thôn và đội thu gom rác thải, tăng cường công tác khuyến nông, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và cơ giới hóa nông nghiệp nhằm nâng cao giá trị sản xuất.

Bảo vệ, sử dụng nguồn nước sạch hợp lý và tiết kiệm, hiệu quả Kiên quyết lên

án, tạo áp lực xã hội đối với những hành vi cố tình xả, thải gây ô nhiễm môi trường.

c Vai trò của phụ nữ trong quản lý vệ sinh đường làng, ngõ xóm Nhận thức rõ vai trò của phụ nữ trong các gia đình, phụ nữ luôn là lực lượng nòng cốt trong việc tuyên tuyền, hướng dẫn và vận động người dân tham gia vệ sinh đường làng, ngõ xóm.

Duy trì tổng vệ sinh môi trường toàn xã hàng tháng vào ngày quy định, gắn với thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, thu gom rác thải, khơi thông cống rãnh tại các kênh mương và đường làng ngõ xóm.

Trang 32

Duy trì hoạt động của tổ phụ nữ thu gom rác thải, phong trào “Ngày Chủ nhật sạch”, đảm bảo đường làng, ngõ xóm, khu dân cư, khu vực công cộng xanh

- sạch - đẹp Các tổ, nhóm phụ nữ tại các xã, xóm, thôn, tiến hành làm tổng vệ sinh đường làng, ngõ xóm; thu gom rác thải, nạo vét kênh mương, khơi thông cống rãnh Đăng ký và tổ chức cho phụ nữ tham gia xây dựng, tu sửa đường giao thông nông thôn, đường trục chính nội đồng, hệ thống kênh mương, thủy lợi và các công trình phúc lợi, xây dựng các "Đoạn đường phụ nữ tự quản” và gắn biển các đoạn đường do phụ nữ quản lý xanh - sạch - đẹp, định kỳ huy động lực lượng tham gia vệ sinh, duy tu, bảo dưỡng (Nguyễn Huế, 2016).

Huy động nguồn lực, xã hội hóa với phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm", đẩy mạnh công tác bê tông hóa đường làng, ngõ xóm tạo cảnh quan và bảo vệ môi trường sống Với những hình thức hoạt động phong phú, phụ nữ đã góp phần quan trọng bảo vệ môi trường, tạo sức lan tỏa cho cả cộng đồng Từ đó giúp người dân nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, chăm lo từ nếp ăn ở hợp vệ sinh, sử dụng nước sạch, giữ gìn vệ sinh, bảo vệ sức khỏe cho bản thân, gia đình, hình thành hành vi ứng xử thân thiện với môi trường Phong trào thi đua giữ gìn vệ sinh môi trường, làm sạch nhà, sạch ngõ, sạch đường và khu dân cư của phụ nữ các cấp đã thực sự góp phần hoàn thành tiêu chí môi trường, thúc đẩy quá trình xây dựng nông thôn mới ở các xã, nâng cao chất lượng cuộc sống ở từ khu vực dân cư.

d Vai trò của phụ nữ trong cải tạo cảnh quan (trồng cây, cải tạo

ao hồ

sinh thái)

Cây xanh đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội như: điều hòa môi trường không khí, hấp thụ các chất thải độc hại, khói bụi, diệt vi khuẩn, giảm tiếng ồn, góp phần bảo vệ sức khỏe con người, bảo vệ môi trường Ngoài ra, cây xanh với đặc điểm tự nhiên, cùng các công trình kiến trúc khác tạo nên những sắc thái văn hóa đặc trưng, góp phần làm tăng vẻ đẹp cảnh quan đô thị, làm phong phú cuộc sống văn hoá tinh thần của cư dân Việc phát triển cây xanh tạo cảnh quan đã được phụ nữ rất quan tâm, cải tạo ao,

hồ, nạo vét kênh mương, khơi thông dòng chảy, đảm bảo cảnh quan và bảo

vệ môi trường Tích cực vận động phụ nữ và mọi người dân cùng tham gia trồng cây xanh, khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên rừng, trồng cây cải tạo cảnh quan môi trường sống, khu dân cư, cơ quan, trường học Nhiều tuyến đường được trồng cây xanh mới, cùng với các công trình kiến trúc tạo nên diện mạo mới cho nông thôn (Nguyễn Huế, 2016)

Trang 33

e Vai trò của phụ nữ trong công tác di dời chuồng trại chăn nuôi

Nhằm nâng cao nhận thức cho phụ nữ về công tác bảo đảm vệ sinh môi trường, phòng chống dịch bệnh cho đàn gia súc, vận động người dân phải chuyển toàn bộ chuồng trại trâu, bò của mình ra khỏi khu vực dân cư Để từng bước xóa bỏ chăn nuôi theo kiểu tự phát, gây nhiều tác động xấu tới môi trường, xây dựng chăn nuôi theo kiểu khoanh vùng và chuồng trại xa khu dân cư Việc đưa chuồng trại ra khỏi khu dân cư đã làm cho môi trường thôn bản cải thiện đáng kể, chất lượng cuộc sống người dân được nâng lên.

Phụ nữ vận động các hộ gia đình trong đó chị em là người đi đầu trong cải tạo nhà cửa, vườn, ao, di dời chuồng trại ra xa khu vực nhà ở để đảm bảo vệ sinh và giữ gìn sức khỏe.Tổ chức cho phụ nữ tham gia các hoạt động thường xuyên và đột xuất tham gia giải quyết các vấn đề về môi trường trên địa bàn dân cư.

Việc di dời công trình vệ sinh, chuồng trại chăn nuôi ra xa khu vực nhà ở là một trong những tiêu chí để bình xét danh hiệu Gia đình văn hoá trong năm góp phần hoàn thành các tiêu chí NTM (Nguyễn Huế, 2016).

g Vai trò của phụ nữ trong công tác thu gom và xử lý rác thải nông nghiệp ở nông thôn

Bên cạnh việc tuyên truyền, vận động phụ nữ tham gia bảo vệ môi trường nông thôn, giám sát việc thực hiện thu gom rác thải trên đồng ruộng Tất cả lượng rác rau, hoa của nông dân sau khi thu hoạch sẽ được thu gom ủ làm phân bón cho cây trồng hoặc mang đến bán cho các cơ sở chế biến phân vi sinh vừa đem lại thu nhập cho chị em, đồng thời, khắc phục được tình trạng rác thải nông nghiệp tràn lan, góp phần làm cho môi trường ngày càng xanh - sạch - đẹp (Dương Linh, 2016).Phụ nữ là người đi đầu trong việc thu gom rác thải nông nghiệp đảm bảo cảnh quan và bảo vệ môi trường Kiên quyết lên án, tạo áp lực xã hội đối với những hành vi cố tình xả rác thải gây ô nhiễm môi trường sống Kết quả đã đạt được trong những năm qua về công tác bảo vệ môi trường, đã tạo ra ảnh hưởng lớn đến nhận thức của người dân, góp phần tích cực vào việc vận động những hộ nông dân khác tham gia.

Huy động sự tham gia của đông đảo người dân đối với công tác bảo vệ môi trường Tích cực vận động phụ nữ và mọi người dân cùng tham gia thu gom và xử lý hay tận dụng rác thải giác thải một cách khoa học vừa đỡ lãng phí và cũng tránh ô nhiễm.

Trang 34

h Vai trò của phụ nữ trong công tác vệ sinh đồng ruộng

Việc vứt bừa bãi vỏ thuốc bảo vệ thực vật ngay tại bờ ruộng, kênh mương ở các cánh đồng đã trở thành thói quen của nhiều người dân Việc làm này không chỉ gây ô nhiễm nguồn nước, bởi dư lượng còn sót lại trong các vỏ, bao bì đựng thuốc mà còn có thể gây ra tai nạn cho người dân khi đi làm đồng Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, phụ nữ triển khai mô hình “Thu gom túi ni lông, bao bì, chai lọ thuốc bảo vệ thực vật làm sạch đồng ruộng góp phần xây dựng nông thôn mới”, nhằm nâng cao ý thức trong việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và tạo thói quen tốt trong canh tác cho cán bộ, hội viên phụ nữ Không chỉ tổ chức thu gom túi ni lông, bao bì, chai lọ thuốc bảo vệ thực vật làm sạch đồng ruộng, phụ nữ còn thu gom ốc bươu vàng trên đồng ruộng để bảo vệ cây trồng.

Duy trì và nhân rộng các mô hình về bảo vệ môi trường xanh sạch đẹp, tham gia thực hiện tốt các tiêu chí xây dựng nông thôn mới, gắn với phong trào thi đua “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc” và cuộc vận động “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch” Qua

-đó, từng bước làm chuyển biến đời sống của từng hội viên, động viên chị em phát huy tiềm năng, sức sáng tạo, đóng góp tích cực vào việc thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương (Dương Linh, 2016).

2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn

Phụ nữ đã có những đóng góp tích cực trong bảo vệ môi trường, đã tạo nhiều thay đổi đối với khu vực nông thôn cũng như thành thị Bất cứ một quốc gia nào, khi có ô nhiễm môi trường xảy ra thì tình trạng sức khỏe cũng như cuộc sống của người dân đều bị ảnh hưởng, mà phụ nữ và trẻ em là những người chịu ảnh hưởng nhiều nhất, do vậy mà phụ nữ sẽ có những hành động khác nhau với quá trình này Song những hành động đó lại phụ thuộc vào các yếu tố:2.1.4.1.Trình độ học vấn của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn Đây là yếu tố khá quan trọng, trình độ của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn theo thống kê cũng cho thấy có mối liên hệ trực tiếp giữa biến số trình độ học vấn với mức độ tham gia vào hoạt động thu gom, phân loại và xử lý rác thải ở nông thôn, học thức không cao sẽ làm theo bản năng tập quán và làm theo kinh nghiệm Kết quả này cũng được phản ánh trong các thông tin định tính (Nguyễn Thị Thủy, 2015).

Trang 35

2.1.4.2 Nhận thức và hành vi của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn Những người phụ nữ nhận thức được tầm quan trọng của mình trong hoạt động quản lý môi trường sẽ có xu hướng tham gia và vận động những người khác trong cộng đồng cùng tham gia tích cực hơn trong các hoạt động này Một phát hiện khác được đưa ra là không phải những người nhận thức đúng sẽ có hành vi đúng Biểu hiện là nhiều người nhận thấy những khó khăn của công tác quản lý môi trường do thiếu nguồn tài chính nhưng lại e ngại và không muốn đóng thêm phí Rõ ràng, tồn

tại khoảng cách giữa nhận thức và hành vi của người phụ nữ

(Nguyễn Thị Thủy, 2015).

2.1.4.3 Điều kiện kinh tế tài chính của phụ nữ

Những năm gần đây nhân dân trong huyện đã phát huy truyền thống đoàn kết, kiên cường cách mạng, chủ động sáng tạo phát huy những tiềm năng, lợi thế và nguồn lực của địa phương Tăng trưởng kinh tế của người dân nông thôn tuy đã có sự phát triển nhưng chưa thật sự vững chắc, sản xuất nông nghiệp vẫn còn nhỏ lẻ, quan hệ hợp tác trong sản xuất kinh doanh còn hạn chế, sức cạnh tranh của sản phẩm chưa cao Công nghiệp, TTCN và dịch vụ chưa khai thác tối ưu các tiềm năng phát triển của địa phương Cơ sở hạ tầng Kinh tế - Xã hội - Môi trường chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong tình hình mới Trong khi đó môi trường, nguồn nước đang đứng trước nguy cơ

ô nhiễm ngày càng tăng Trên thực tế cho thấy, phụ nữ có ngành nghề khác nhau, có những thu nhập khác nhau thì sẽ có tham gia khác nhau về vấn đề ô nhiễm môi trường đang xảy ra (Nguyễn Thị Thủy, 2015).

Thu nhập được xem là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn Giả sử các yếu tố khác không đổi, khi thu nhập tăng thì nhu cầu về chất lượng môi trường của con người cao hơn so với khi có mức thu nhập thấp Vì vậy người phụ nữ

có thu nhập cao sẽ có những hành động để bảo vệ cuộc sống của mình nhiều hơn như sử dụng nước sạch, xây nhà cao cổng kín tường, đầu tư cho hệ thống chuồng trại trong chăn nuôi tốt hơn, có điều kiện tiếp cận với những tiến bộ, khoa học trong sản xuất nông nghiệp Ngược lại những người phụ nữ có thu nhập thấp thì họ có hoạt động khác để bảo vệ cuộc sống của mình.

2.1.4.4 Độ tuổi của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn

Ở các nhóm tuổi sẽ có những sự khác nhau quan trọng như: sức khỏe, nhận thức, ý thức, trách nhiệm, thời gian dành cho các hoạt động bảo vệ môi trường của mỗi phụ nữ cũng khác nhau Phụ nữ ở độ tuổi 18-30, mặc dù có sức khỏe, có

Trang 36

khả năng tiếp cận thông tin về môi trường kịp thời, song lại bận học tập, kiếm tiền phụ giúp gia đinh, nên thời gian tham gia các công việc tại gia đình và khu dân cư không nhiều Phụ nữ ở độ tuổi 30-45 đây là độ tuổi chị em vừa phải lo kinh tế, chăm sóc con nhỏ, chăm lo gia đình, nhiều vấn đề của cuộc sống, nhiều

sự lo toan khiến chị em không thực hiện được các công việc như tham gia vệ sinh đường làng ngõ xóm, tham gia tập huấn, tiếp cận thông tin Phụ nữ ở động tuổi từ 45-55 thường có nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống cũng như công tác

xã hội do vậy mà họ ý thực được tầm quan trọng của môi trường, mức độ nguy hại rác thải gây ra, từ đó học sẽ tích cực chủ động tham gia vào các hoạt động

để BVMT Phụ nữ ở độ tuổi 55 tuổi trở lên có nhiều thời gian rảnh dỗi nên họ luôn là những người rất nghiêm tục thực hiện các quy ước, hương ước, nội quy

về công tác vệ sinh môi trường ở khu dân cư (Nguyễn Thị Thủy, 2015).

2.1.4.5 Vai trò của phụ nữ, người dân và các tổ chức xã hội

Vai trò của phụ nữ và quần chúng là yếu tố chủ yếu, là một trong những thành tố chính của sự phát triển cộng đồng Vai trò của phụ nữ và người dân

là phương tiện hữu hiệu để huy động nguồn lực địa phương, tận dụng năng lực và tính sáng tạo của phụ nữ để tổ chức các hoạt động hoàn thành tiêu chí môi trường Nó giúp xác định nhu cầu của phụ nữ được sát đáng (phụ nữ cần), sự nhận thức của phụ nữ đầy đủ và rộng rãi (phụ nữ biết), dân chủ động tham gia góp ý xây dựng (phụ nữ bàn), phụ nữ tự đứng ra góp công, góp của xây dựng cùng với sự tham gia hướng dẫn của tổ chức Hội (phụ nữ làm), vì là công trình của phụ nữ, do phụ nữ tự bỏ công xây dựng nên người phụ nữ sẽ là người trực tiếp và tự kiểm tra bảo vệ công trình của mình (phụ

nữ kiểm tra), vì lợi ích trực tiếp của chính mình (phụ nữ hưởng lợi).

2.1.4.6 Cơ sở hạ tầng và công nghệ của nông thôn

Không phải mọi điều kiện về cơ sở hạ tầng và công nghệ hiện đại đều mang lại tác động tốt, mà bên cạnh đó nó còn tạo nhiều tác động ngược tới môi trường do phá vỡ sự ổn định, cân bằng của mô hình sinh thái tự nhiên Vì thế trong quá trình thực hiện công tác quản lý môi trường cần đánh giá tác động của từng công trình và công nghệ tới môi trường để có quyết định đầu tư, xây dựng đúng đắn.

2.1.4.7 Công tác chỉ đạo của cán bộ chính quyền địa phương

Một chính sách tốt, một cách thức tuyên truyền về mức độ độc hại mà rác thải gây ra cho cuộc sống tốt, sẽ làm người dân nhận thức được sự nguy hại đó; từ đó

có ý thức bảo vệ môi trường trong bản thân mỗi con người sẽ được nâng cao.

Trang 37

Để làm được điều đó, công tác chỉ đạo của cán bộ chính quyền địa phương là vô cùng quan trọng Thông qua việc chỉ đạo thực hiện các tiêu chí của phong trào

“Toàn dân chung sức xây dựng nông thôn mới”, phong trào: “Toàn dân tham gia bảo

vệ môi trường”,“Ngày môi trường thế giới”, tạo thành phong trào trên địa bàn có tác dụng tích cực, thường xuyên nhắc nhở người dân ý thức, thói quen bảo vệ môi trường, xây dựng môi nông thôn xanh, sạch, đẹp, tỷ lệ hộ dân được sử dụng nước sạch, nước hợp vệ sinh, quy hoạch nghĩa trang, bãi xử lý rác, triển khai các hoạt động bảo vệ và phát triển nông thôn bền vững (Phạm Huy Hoàng, 2016).

Công tác chỉ đạo được áp dụng đối với từng đối tượng cụ thể

Đối với các cơ quan, đơn vị, trường học: Thực hiện nghiêm túc trách nhiệm bảo vệ môi trường của cộng đồng, bảo vệ môi trường nơi công cộng, trường lớp, chỗ ở, nơi làm việc; thực hiện nghiêm chỉnh Luật Bảo vệ môi trường; tuyên truyền, vận động, thuyết phục người xung quanh cùng tham gia bảo vệ môi trường, giữ gìn, xây dựng môi trường xanh - sạch - đẹp, phát động và làm nòng cốt trong các phong trào bảo vệ môi trường (Phạm Huy Hoàng, 2016).

Đối với khu công nghiệp: Khu công nghiệp hoàn thiện hệ thống

xử lý nước thải tập trung Hệ thống này được kiểm định, đánh giá theo quy chuẩn môi trường hiện hành.Các cơ chế này có ảnh hưởng lớn tới tình hình thực hiện mục tiêu về môi trường tại địa phương, nó đem lại tác động về kinh tế xã hội và cơ bản là môi trường nông thôn.

Đối với thôn, làng, TDP: Thành lập các tổ vệ sinh môi trường, thường xuyên thu gom rác thải của các hộ gia đình, làm sạch đường làng ngõ xóm Nguồn kinh phí chi trả cho người lao động sẽ chủ yếu được thu từ các hộ dân, các cá nhân phát sinh rác thải và các nguồn đóng góp, hỗ trợ khác Xe chở rác được Thành phố hỗ trợ còn lại là tự trang bị thêm xe trở rác để đáp ứng hoạt động vệ sinh môi trường Đối với hộ gia đình: Việc lồng ghép quản lý vệ sinh môi trường trong việc đánh giá “Gia đình văn hóa” Sẽ thúc đẩy cho quá trình đảm bảo vệ sinh môi trường tại các khu dân cư.

2.1.4.8 Vai trò của các bên liên quan trong hoạt động quản lý môi trường

Từ thực tế cho thấy, vấn đề bảo vệ môi trường không chỉ là nhiệm vụ của người dân mà còn là nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên liên quan trong quá trình đó Các bên liên quan ở đây bao gồm.

Trang 38

- Nhóm công nhân vệ sinh môi trường: Các xử lý thống kê định lượng đã chỉ ra mối liên hệ thuận chiều giữa mức độ tham gia của công nhân vệ sinh môi trường và của người dân trong hoạt động phân loại và hoạt động thu gom rác thải, nghĩa là công nhân vệ sinh môi trường tham gia càng tích cực tham gia bao nhiêu thì người dân sẽ tham gia tích cực bấy nhiêu (Phạm Huy Hoàng, 2016).

- Các tổ chức đoàn thể xã hội: Đoàn thể xã hội có vai trò động viên người dân thực hiện các quy định về phân loại và thu gom rác, chất thải Trong các đoàn thể xã hội tại cộng đồng, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh và Mặt trận Tổ quốc là những đoàn thể tham gia tích cực, trong khi đó hội viên phụ nữ thể chưa thể hiện được vai trò thúc đẩy và huy động người dân tham gia quản lý môi trường nông thôn.

- Nhóm người thu mua phế liệu: Một trong các cách phân loại rác thải được nhiều người dân lựa chọn là lọc ra những chai lọ nhựa, báo bìa để đem bán cho người thu mua phế liệu Câu hỏi đặt ra là nếu không có nhóm thu mua phế liệu thì người dân có lọc ra những loại rác có thể tái chế không? Và nếu lọc ra rồi thì họ sẽ xử lý như thế nào tiếp theo? Rõ ràng, nhóm thu mua phế liệu không chính thức này không chỉ có vai trò quan trọng trong cả hệ thống quản lý rác thải mà còn có những ảnh hưởng nhất định đến hành vi phân loại rác thải của người dân đô thị hiện nay.

- Thông tin, truyền thông: Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như loa, đài phát thanh của xã, huyện và các cuộc tập huấn kĩ thuật sản xuất, kiến thức phục vụ đời sống nhân dân ở cơ sở lồng ghép với nội dung phổ biến quan điểm của Đảng, Nhà nước và của tỉnh, huyện về phát triển nông nghiệp bền vững Tổ chức tuyên truyền thông qua các tờ rơi về môi trường Tuyên truyền phổ biến các biện pháp thu gom, xử lý rác thải, nước thải, chất thải chăn nuôi Nội dung tuyên truyền phải phù hợp với từng đối tượng cụ thể.

Đối với những người làm quản lý, biện pháp để nâng cao nhận thức về môi trường là tổ chức các lớp tập huấn cho những đối tượng là cán bộ chủ chốt và ban ngành đoàn thể của huyện, xã đến trưởng thôn khu dân cư Nội dung tập huấn đi sâu vào vai trò của môi trường, bảo vệ môi trường trong phát triển bền vững, các nội dung kinh tế xã hội không thể tách rời những nội dung về bảo vệ môi trường cho lợi ích kinh tế trước mắt; nếu không có những biện pháp bảo vệ môi trường ngay từ lúc này thì phải trả giá đắt trong tương lai (Phạm Huy Hoàng, 2016).

Đối với những người dân thì nội dung tuyên truyền phải dễ hiểu, dể nắm bắt như ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường tới sức khỏe cộng đồng, sản xuất

Trang 39

nông nghiệp Các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường như xử lí chất thải, sản xuất sạch hơn và học hỏi kinh nghiệm tốt ở các vùng khác, các xã khác.2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN

2.2.1 Kinh nghiệm về vai trò của phụ nữ trong quản lý môi trường ở các nước trên thế giới

Hiện nay, trên thế giới đã và đang áp dụng nhiều hình thức quản lý bảo vệ môi trường, lập hoạch, cải cách phương pháp quản lý, xử lý rác thải, phân loại rác thải ngay tại nguồn Mỗi hình thức, đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định Trong các phương pháp trên, thì phương pháp phân loại rác thải ngay tại nguồn là một trong những phương pháp truyền thống dễ thực hiện, giúp cho quá trình quản lý, xử lý nhanh, ít tốn ít thời gian, giảm nhân lực Rác thải đã được phân loại sẵn chỉ cần thu gom vận chuyển đến khu vực xử lý, hoặc tái chế Dưới đây là mô hình quản lý rác thải ở một số nước trên thế giới.

*Kinh nghiệm ở Hàn Quốc.

Là một đất nước nhỏ, Hàn quốc không có nhiều diện tích đất để chôn rác thải Chính vì vậy mà đất nước này rất chú ý đến việc phân loại

và tái chế rác hàng ngày Cũng giống như Nhật Bản, trên đường phố Hàn quốc những thùng rác công cộng xuất hiện không nhiều Với người dân Hàn Quốc thì đây giống như một lời nhắc nhở rằng không được vứt rác,

mà phải mang theo rác của mình và xử lý nó đúng cách (Bích Đào, 2015).

- Quy định về túi vứt rác của người Hàn Quốc: Không phải bất kỳ loại túi nào cũng được sử dụng để bỏ rác, mà mỗi quận và thành phố sẽ có quy định về loại túi để đổ rác riêng và quy định này chỉ được áp dụng tại nơi đó.

Vì thế nếu bạn mang túi đựng rác của khu Gangnam đến khu Songpa-gu để

đổ, bạn hoàn toàn có thể bị phạt Tuy nhiên, quy định này cũng có đôi nét giống với người Nhật, đó là túi đựng rác được chia làm ba loại chính: loại thường, loại dùng để tiêu hủy và loại dành cho thực phẩm.

Người Hàn Quốc sử dụng một hệ thống có tên là jongnyangje để thu thập

và xử lý rác thải sinh hoạt theo cách quy củ và thân thiện với môi trường nhất.

Hệ thống này chia rác thải ra thành nhiều hạng mục nhỏ khác nhau và ứng với mỗi mục sẽ có mức phạt riêng nếu người dân không tuân thủ (Bích Đào, 2015).

- Phân loại rác thải: Rác thải được chia ra thành : rác thường, thực phẩm,

đồ tái chế được và những rác thải có kích thước lớn Về cơ bản, việc phân

Trang 40

loại rác tại Hàn Quốc cũng không khác biệt nhiều so với Nhật Bản Ví dụ như rác thường bao gồm các thứ đồ như: nồi cơm, sản phẩm điện tử, băng đĩa nghe nhìn, chai lọ thuốc, bình đựng nước, đồng hồ, găng tay, khung cửa sổ, chổi, thảm trải sàn hay các sản phẩm bằng nhựa composite Hoặc rác tái chế là những loại chai, lọ, vỏ hộp Nhưng quy trình này không đơn giản Mỗi loại rác lại

có một quy định riêng, ví dụ như quần áo phải được để trong túi riêng không lẫn với các sản phẩm bằng vải khác như gối, gấu bông Giày phải để theo đôi hoặc buộc vào nhau hoặc từng đôi trong các túi riêng biệt (Bích Đào, 2015).

- Cách xử lý rác thải: Rác thải có thể tái chế phải được làm sạch trước khi vứt, không được để lại thức ăn còn lại bên trong Các chai nhựa cần được bóc nhãn và tháo nút Đối với các vật dụng như máy tính, màn hình, bàn phím, máy

in, thiết bị trò chơi, đồng hồ, bàn là, quạt điện và các thiết bị điện tử nhỏ khác, chúng sẽ được phép đặt chung với các rác thải tái chế và được thu dọn không mất phí Quy định này được chính phủ Hàn Quốc đặt ra nhằm khuyến khích việc tái chế đồ điện tử - vốn là một trong những điểm mạnh của đất nước này Việc

xử lý các vật dụng lớn như đồ nội thất, đồ điện tử, máy nóng lạnh sẽ phải trả phí

từ 2.000W – 15.000W (từ 38.000-300.000 VND) cho mỗi thứ tùy vào kích thước lớn nhỏ Bên cạnh đó một số đồ dùng đặc biệt như pin, điện thoại di động hay thuốc phải được xử lý theo cách đặc biệt: mang đến các trung tâm cộng đồng hoặc mang trả lại cho nhà thuốc đối với thuốc chưa sử dụng.

Thức ăn thừa, hay rác thực phẩm: Thực phẩm bỏ đi phải được để ráo nước và cho vào những chiếc túi đặc biệt Một số thức ăn không thể tái sử dụng như thức ăn cho động vật sẽ bị loại khỏi mục rác thải thực phẩm Trong

đó ta có các loại hạt, xương và lông động vật, vỏ hải sản, bã chè Vấn đề về

xử lý thực phẩm bỏ đi tại Hàn Quốc lớn đến nỗi chính phủ nước này đã phải đưa ra quy định thu phí rác thải dựa theo số cân nặng lượng rác sinh hoạt

mà họ thải ra Thay đổi này được áp dụng với mong muốn người dân sẽ có ý thức hơn trong việc làm rác thực phẩm trước khi vứt (Bích Đào, 2015).

- Quy định thời gian vứt rác thải: Ở Hàn Quốc ngày vứt rác cũng được phân ra rõ ràng như Nhật Bản Theo đó người dân sẽ được cung cấp lịch vứt rác cho từng tháng với ngày thu gom rác tái sử dụng riêng, ngày dành cho các vật dụng lớn riêng Nếu không thực hiện theo quy định này người dân có thể bị phạt lên đến 300.000W khoảng 5,7 triệu VND Có thể thấy, việc phân loại và tái chế rác tại Hàn Quốc đã trở thành một “quy tắc sống” của đất nước này Nếu bạn

Ngày đăng: 09/07/2021, 15:06

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w