Sắc lệnh nêu rõ: “Chính phủ sẽ lập ngay một Ban Thanh tra đặc biệt, có uỷnhiệm là đi giám sát tất cả các công việc và các nhân viên của Uỷ ban nhân dân vàcác cơ quan của Chính phủ”, từ đ
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
LÊ NGỌC HỒNG
THANH TRA CHI ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN
TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI PHÒNG
THANH TRA HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Văn Liên
Trang 2NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiêncứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày… tháng 5 năm 2018
Tác giả luận văn
Lê Ngọc Hồng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhậnđược sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên củabạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc tới TS Lê Văn Liên đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian
và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộmôn kế toán, Khoa kế toán - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôitrong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ công chức phòng thanh tra huyệnThái Thụy, tỉnh Thái Bình đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thựchiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọiđiều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thànhluận văn./
Hà Nội, ngày… tháng 5 năm 2018
Tác giả luận văn
Lê Ngọc Hồng
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan ··· i
Lời cảm ơn ··· ii
Mục lục ··· iii
Danh mục chữ viết tắt ··· vi
Danh mục sơ đồ ··· vii
Danh mục bảng ··· viii
Trích yếu luận văn ··· ix
Thesis abstract ··· xi
Phần 1 Mở đầu ··· 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài ··· 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu ··· 2
1.2.1 mục tiêu chung ··· 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể ··· 2
1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ··· 2
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu ··· 2
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu ··· 2
1.3.3 Câu hỏi nghiên cứu ··· 2
Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về thanh tra chi xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước ··· 4
2.1 Cơ sở lý luận về đầu tư xây dựng cơ bản, chi đầu tư · xây dựng cơ bản và thanh tra chi đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước ··· 4 2.1.1 Khái niệm, đặc điểm của đầu tư xây dựng cơ bản ··· 4
2.1.2 Đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước ··· 6
2.1.3 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của chi đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước ··· 7
2.1.4 Khái niệm, đặc điểm và vị trí vai trò của công tác thanh tra trong quản lý nhà nước ··· 9
2.1.5 Mục đích ý nghĩa, nguyên tắc hoạt động thanh tra ··· 15
2.1.6 Nội dung chi đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách nhà nước ··· 22
2.1.7 Nội dung thanh tra chi xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách nhà nước ··· 23
Trang 62.1.8 Quy trình thanh tra chi xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách nhà nước ··· 24
2.1.9 Các nhân tố ảnh hưởng đến thanh tra chi xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà ····
nước ··· 25
2.2 Cơ sở thực tiễn ··· 32
2.2.1 Kinh nghiệm về thanh tra chi xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách nhà nước của một số đơn vị ··· 32
2.2.2 Bài học kinh nghiệm cho thanh tra huyện Thái Thụy ··· 34
Phần 3 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu ··· 35
3.1 Một số đặc điểm của phòng thanh tra huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình ··· 35
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của thanh tra huyện Thái Thụy ··· 35
3.1.2 Cơ cấu tổ chức của phòng thanh tra huyện Thái Thụy, Thái Bình ··· 37
3.1.3 Nguồn nhân lực và cơ sở vật chất ··· 37
3.1.4 Kết quả hoạt động của phòng thanh tra huyện Thái Thụy ··· 39
3.2 Phương pháp nghiên cứu ··· 42
3.2.1 Thu thập thông tin ··· 42
3.2.2 Phương pháp xử lý số liệu ··· 43
3.2.3 Phương pháp phân tích số liệu ··· 43
Phần 4 Kết quả và thảo luận ··· 44
4.1 Thực trạng chi đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước tại huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình ··· 44
4.2 Thực trạng thanh tra chi xây dựng cơ bản tại huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình ··· 46
4.2.1 Chuẩn bị thanh tra ··· 46
4.2.2 Tổ chức tiến hành thanh tra ··· 49
4.2.3 Kết thúc thanh tra ··· 61
4.3 Đánh giá thanh tra chi đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước tại huyện thái thuy, Thái Bình··· 64
4.4 Yếu tố ảnh hưởng đến thanh tra chi xây dựng cơ bản tại huyện Thái Thụy, Thái Bình ··· 69
4.5 Một số giải pháp nâng cao chất lượng cuộc thanh tra chi xây dựng cơ bản tại huyện Thái Thụy, Thái Bình ··· 70
Phần 5 Kết luận và kiến nghị ··· 72
Trang 75.1 Kết luận ··· 72
5.2 Kiến nghị ··· 73
5.2.1 Về phía nhà nước ··· 73
5.2.2 Về phía địa phương ··· 74
5.2.3 Kiến nghị với chủ đầu tư, các ban quản lý dự án ··· 75 Tài liệu tham khảo ··· 76 Phụ lục 1 ··· 77 Phụ lục 2 ··· 82 Phụ lục 3 ··· 83
Trang 9DANH MỤC ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ
Sơ đồ 3.1 Bộ máy tổ chức Thanh tra huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình ··· 37 Sơ
đồ 4.2 Quy trình chuẩn bị thanh tra ··· 48 Sơ đồ 4.9 Quy trình tiến hành thanh tra ··· 61 Sơ đồ 4.10 Quy trình kết thúc cuộc thanh tra ··· 63 Đồ thị 4.11 Đánh giá chất lượng hiệu quả thanh tra chi XDCB tại huyện Thái
Thụy trong thời gian qua ··· 64
Đồ thị 4.12 Ý kiến đánh giá về hiệu quả thu hồi sai phạm thanh tra ··· 65
Đồ thị 4.13 Tổng hợp ý kiến đánh giá nguyên nhân thu hồi sai phạm không hiệu
quả ···
66 Đồ thị 4.14 Kết quả điều tra về một số lĩnh vực cần phải thanh tra thường xuyên
··· 67 Đồ thị 4.15 Tổng hợp ý kiến đánh giá về các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng
thanh tra chi XDCB ··· 69
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.2 Nguồn nhân lực của phòng Thanh tra huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình ··· 38 Bảng 3.3 Cơ sở vật chất phòng Thanh tra huyện Thái Thụy, Thái Bình ··· 39 Bảng 3.4 Tổng hợp tiếp công dân tại UBND huyện Thái Thụy··· 40
Bảng 4.1 Tình hình chi XDCB từ NSNN tại huyện Thái Thụy giai đoạn
2014-2016 ···44Bảng 4.3 Tổng hợp kết quả bố trí vốn đầu tư XDCB giai đoạn (2014-2016),
huyện Thái Thụy ··· 49
Bảng 4.4 Tổng hợp các sai phạm huy động, bố trí, giải ngân vốn ··· 51
Bảng 4.5 Các dự án, công trình XDCB được thực hiện trong 3 năm 2014-2016 tại
huyện Thái Thụy……… …53
Bảng 4.6 Tổng hợp kế hoạch phân bổ, giải ngân vốn tại một số đơn vị được kiểm tra
··· 55 Bảng 4.7.Các công trình thanh tra trực tiếp ··· 59 Bảng4.8 Tổng hợp sai phạm về khối lượng qua thanh tra một số công trình ··· 60
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Lê Ngọc Hồng
Tên Luận văn: Thanh tra chi đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân Sách Nhà nước tại phòng Thanh tra huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
-Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thanh tra chi đầu tư XDCB từ nguồn NSNN
- Phân tích thực trạng thanh tra chi đầu tư XDCB từ nguồn NSNN tại Thanh tra huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
-Đề xuất các giải pháp hoàn thiện thanh tra chi đầu tư XDCB từ nguồn NSNN tạithanh tra huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
Phương pháp nghiên cứu:
Quá trình nghiên cứu sử dụng tài liệu cuộc thanh tra việc quản lý, thực hiện dự ánxây dựng cơ bản trên địa bàn huyện Thái Thụy từ năm 2014-2016 đã được kết luận vàkết quả khảo sát điều tra đối với cán bộ, công chức thuộc các phòng ban chuyên môncủa UBND huyện Thái Thụy, cán bộ của một số UBND xã và tập thể, cá nhân là đốitượng thanh tra
Sau khi thu thập được các thông tin, tài liệu, đối chiếu với các quy định của nhànước và xét tình hình thực tế của địa phương, tình hình chung của cả nước để đánh giácác mặt tích cực và hạn chế, các sai phạm xảy ra (nếu có) Toàn bộ số liệu thu thậpđược xử lý bằng chương trình Excel trên máy tính Dựa trên các số liệu thu thập đểtính toán các chỉ tiêu cần thiết như số tuyệt đối, số tương đối, số trung bình và lậpthành các bảng biểu
Kết quả nghiên cứu và kết luận:
Hoạt động đầu tư XDCB nhằm tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho sự phát triển kinh tế- xã hội của địa phương Hàng năm tỉnh Thái Bình cũng như huyện Thái Thụy giành một lượng lớn nguồn vốn để tập trung cho xâu dựng cơ sở hạ tầng Việc kiểm soát hiệu
Trang 12quả sử dụng vốn đầu tư XDCB từ NSNN thông qua công tác thanh tra chi đầu tư xâydựng cơ bản là yêu cầu bức thiết không những với riêng huyện Thái Thụy và còn đốivới tỉnh Thái Bình trong giai đoạn hiện nay cả tỉnh đang khẩn trương hoàn thànhchương trình mục tiêu nông thôn mới
Trong những năm qua tốc độ xây dựng trên địa bàn huyện Thái Thụy ngày càngnhiều, nhiều dự án đầu tư đúng hướng đã và đang phát huy hiệu quả, làm cơ cấu kinh
tế của huyện chuyển dịch mạnh mẽ, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt ở mức cao
Tuy nhiên, qua công tác thanh tra chi đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sáchNhà nước giai đoạn 2014-2016 cho thấy bên cạnh những thành quả đạt được, tronglĩnh vực đầu tư XDCB trên địa bàn huyện Thái Thụy còn nhiều yếu kém, vốn đầu tưXDCB thuộc NSNN còn bị thất thoát và lãng phí nhiều, hiệu quả sử dụng vốn đầu tưthấp, nhiều dự án không đúng hướng nên khi dự án đưa vào khai thác không phát huyhiệu quả
Trang 13THESIS ABSTRACT
Author: Le Ngoc Hong
Dissertation name: Inspectorate of capital construction investment from the state
budget in Thai Thuy district, Thai Binh province
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research purposes:
Assessment of the state of inspection of capital construction investmentexpenditures from the State budget at the Thai Thuy Inspectorate, Thai Binh province.From there, propose some solutions to improve the inspection of expenditures oncapital construction from the State budget at research units
- To systematize the theoretical basis on inspection of capital construction investment expenditures from the State budget
-Analyze the state of inspection of capital construction investment
expenditures from the State budget at Thai Thuy district, Thai Binh province
- Proposing measures to complete the inspection of capital construction investment expenditures from the State budget at Thai Thuy district, Thai Binh province.
Research Methods:
The study using the document on the inspection of the management andimplementation of capital construction projects in Thai Thuy district from 2014-2016has been concluded and the survey result of cadres, Officials of the People'sCommittees of Thai Thuy district, officials of some Commune People's Committees,collectives and individuals who are subject to inspection
After collecting information and documents, comparing with the regulations ofthe State and considering the actual situation of the localities, the general situation ofthe whole country to assess the positive and negative aspects and violations ( if any).All data collected is processed by the Excel program on the computer Based oncollected data to compute the necessary metrics such as absolute metrics, relativemetrics, averages metrics, and spreadsheets, forms etc
Results and conclusions:
Capital construction activities aim to create material and technical bases forsocio-economic development of the locality Thai Binh province, as well as Thai Thuydistrict, spend a large amount of capital to build infrastructure The effective control of
Trang 14the use of capital construction investment from the state budget through the inspection
of capital construction investment is an urgent requirement not only for Thai Thuydistrict but also for Thai Binh province is currently in the process of completion of anew rural target program
In recent years, the speed of construction in Thai Thuy district has beenincreasing Many investment projects in the right direction have been promotingeffectively, making the economic structure of the district shifts dramatically andeconomic growth high
However, through the inspection of capital construction investment from the state budget in the period 2014-2016, it shows that in addition to the achievements in the field
of capital construction in Thai Thuy still has many weaknesses, capital construction investment budget is wasted, effective use of investment capital is low, many projects are not the right direction when the project put into operation promote efficiency.
Trang 15PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) là lĩnh vực quan trọng, giữ vai trò chủ yếutrong việc xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước Trong cơ cấu nguồn vốn đầu tư XDCB thì nguồn vốn từ ngân sáchNhà nước (NSNN) đóng vai trò chủ đạo, làm nền tảng cho các hoạt động đầu tư.Những năm qua, cùng với sự phát triển của đất nước, của tỉnh Thái Bình,huyện Thái Thụy đã nhận được nhiều sự quan tâm của Đảng, Chính phủ, của tỉnhThái Bình trong tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực đầu tư XDCB Trên cơ sởđịnh hướng đầu tư huyện Thái Thụy trung bình mỗi năm chi hàng trăm tỷ đồng,trong đó phần lớn là vốn ngân sách nhà nước để đáp ứng trong việc xây dựng cơ
sở hạ tầng kỹ thuật Nhiều dự án hoàn thành bàn giao đưa vào khai thác, sử dụng
đã phát huy được hiệu quả góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao đời sốngvật chất, tinh thần của nhân dân trên địa bàn huyện Thái Thụy
Tuy vậy, công tác quản lý chi đầu tư XDCB từ nguồn NSNN của huyện TháiThụy còn nhiều bất cập Tình trạng thất thoát, lãng phí vốn đầu tư XDCB từ NSNNtrong nhiều nội dung và ở tất cả các khâu từ cấp phát, sử dụng và thanh toán vốnđầu tư, vì vậy hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB từ NSNN còn hạn chế Côngtác thanh tra đã đạt được những kết quả tích cực đáng ghi nhận, góp phần pháttriển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, nâng cao hiệu lực, hiệu quả trongquản lý nhà nước Tuy nhiên, trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, thanh tra huyện TháiThụy còn đạt được kết quả khiêm tốn, chất lượng, hiệu quả cuộc thanh tra chưacao, số lượng cuộc thanh tra nhất là về lĩnh vực xây dựng cơ bản chưa nhiều; cần
có một giải pháp về thanh tra xây dựng cơ bản nhất là thanh tra về chi đầu tư xâydựng cơ bản là lĩnh vực giành nhiều sự quan tâm của mọi tầng lớp xã hội Trongquá trình nghiên cứu tại phòng thanh tra huyện Thái Thụy, bản thân nhận thấy vấn
đề đặt ra về quản lý, kiểm soát chi đầu tư XDCB đóng vai trò hết sức quan trọng.Việc có một số giải pháp tăng cường quản lý kiểm soát công tác chi đầu tư XDCB
từ NSNN là việc làm cần thiết và cấp bách trong giai đoạn phát triển hiện nay
Xuất phát từ những lý do trên tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: "Thanh tra chi đầu
tư xây dựng cơ bản từ Ngân Sách Nhà nước tại
phòng Thanh tra huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình " làm luận văn tốt nghiệp của
mình
Trang 161.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng thanh tra về chi đầu tư XDCB từ ngân sách Nhà nước tạiphòng thanh tra huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình Trên cơ sở đó, đề xuất một sốgiải pháp nhằm hoàn thiện thanh tra về chi XDCB từ ngân sách Nhà nước tại đơn
vị nghiên cứu
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thanh tra chi đầu tư XDCB từ nguồn NSNN
- Phân tích thực trạng thanh tra chi đầu tư XDCB từ nguồn NSNN tại Thanhtra huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện thanh tra chi đầu tư XDCB từ nguồn NSNN tại đơn vị nghiên cứu
1.3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động thanh tra do thanh tra huyệnThái Thụy thực hiện về chi đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước tạihuyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Quy trình thanh tra về nội dung chi đầu tư xây dựng cơ
bản sử dụng vốn ngân sách Nhà nước tại huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
Phạm vi về không gian: Phòng thanh tra huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình Phạm vi về thời gian:
+ Thời gian số liệu của luận văn từ năm 2014 đến năm 2016
+ Thời gian thực hiện luận văn: từ tháng 2/2017 đến tháng 5/2018
1.3.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng về thanh tra chi đầu tư XDCB từ ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện Thái Thụy trong thời gian qua?
- Những tồn tại, hạn chế gì về chi đầu tư XDCB trên địa bàn huyện Thái Thụy được phát hiện qua hoạt động Thanh tra?
Trang 17- Giải pháp nào để thực hiện thanh tra chi đầu tư XDCB từ NSNN đạt hiệuquả cao Phòng và chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư XDCB? Những đề xuất,biện pháp gì về cơ chế quản lý giúp cho chủ đầu tư quản lý về chi ngân sách thựchiện các dự án đầu tư XDCB?
Trang 18PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THANH TRA CHI XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN, CHI ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN VÀ THANH TRA CHI ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
2.1.1 Khái niệm, đặc điểm của đầu tư xây dựng cơ bản
2.1.1.1 Khái niệm đầu tư xây dựng cơ bản
Xây dựng cơ bản là hoạt động có chức năng tái sản xuất giản đơn và tái sảnxuất mở rộng các tài sản cố định có tổ chức sản xuất và không có tổ chức sản xuấtcác ngành kinh tế thông qua các hoạt động xây dựng mới, xây dựng mở rộng, xâydựng lại, hiện đại hóa hay khôi phục các tài sản cố định
Theo Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26/11/2014 của Quốc hội nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tại Điều 3, khái niệm đầu tư được hiểu:
“Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình đểhình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư” "Đầu tư XDCB được hiểu làviệc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựngnhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm,dịch vụ trong một thời hạn nhất định."
2.1.1.2 Đặc điểm của đầu tư xây dựng cơ bản
Đầu tư xây dựng cơ bản có những đặc điểm riêng biệt, bao gồm các đặc điểmsau:
- Đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động đòi hỏi lượng vốn lớn và nằm đọng lạitrong suốt quá trình thực hiện đầu tư Vì vậy, quản lý và cấp vốn đầu tư xây dựng
cơ bản phải thiết lập các biện pháp phù hợp nhằm đảm bảo tiền vốn được sử dụngđúng mục đích, tránh ứ đọng và thất thoát vốn đầu tư, đảm bảo cho quá trình đầu
tư xây dựng các công trình được thực hiện đúng theo kế hoạch và tiến độ đã đượcxác định
- Đầu tư xây dựng cơ bản có tính chất lâu dài, thời gian để tiến hành mộtcông cuộc đầu tư cho đến khi thành quả của nó phát huy tác dụng thường đòi hỏinhiều năm tháng với nhiều biến động xảy ra
Trang 19- Sản phẩm đầu tư xây dựng cơ bản là các công trình xây dựng gắn liền vớiđất xây dựng công trình Chính vì vậy, quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản phảidựa vào dự toán chi phí đầu tư xây dựng công trình được xác định và phê duyệttrước khi thực hiện đầu tư xây dựng công trình.
- Sản phẩm đầu tư xây dựng cơ bản có tính đơn chiếc; mỗi hạng mục côngtrình, công trình có một thiết kế và dự toán riêng tùy thuộc vào mục đích đầu tư vàđiều kiện địa hình, địa chất, thủy văn, khí hậu, thời tiết… của nơi đầu tư xây dựngcông trình Mục đích của đầu tư và các điều kiện trên quyết định đến qui hoạch,kiến trúc, qui mô và kết cấu khối lượng, quy chuẩn xây dựng, giải pháp công nghệthi công… và dự toán chi phí đầu tư xây dựng công trình, hạng mục công trình Vìvậy, quản lý chi NSNN trong đầu tư xây dựng cơ bản phải gắn với từng hạng mụccông trình, công trình xây dựng nhằm quản lý chặt chẽ về chất lượng xây dựng vàvốn đầu tư
- Đầu tư xây dựng cơ bản được tiến hành trong tất cả ngành kinh tế quốcdân, các lĩnh vực kinh tế xã hội như công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, xâydựng, y tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh… nên sản phẩm xây dựng cơ bản
có nhiều loại hình công trình và mỗi loại hình công trình có những đặc điểm kinh
tế kỹ thuật riêng Quản lý và cấp vốn đầu tư xây dựng cơ bản phải phù hợp với đặcđiểm của từng loại hình công trình nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
- Đầu tư xây dựng cơ bản thường được tiến hành ngoài trời nên luôn chịuảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, thời tiết và lực lượng thi công xây dựng côngtrình thường xuyên phải di chuyển theo nơi phát sinh nhu cầu đầu tư xây dựngcông trình Quản lý và cấp vốn đầu tư xây dựng cơ bản phải thúc đẩy quá trình tổchức hợp lý các yếu tố về nhân lực, máy móc thi công… nhằm giảm bớt lãng phí,thiệt hại về vật tư và tiền vốn trong quá trình đầu tư xây dựng các công trình.Những đặc điểm của đầu tư xây dựng cơ bản nêu trên cho thấy tính đa dạng
và phức tạp của đầu tư xây dựng cơ bản và đòi hỏi cần phải có cách thức tổ chứcquản lý và cấp phát vốn phù hợp nhằm đảm bảo hiệu quả vốn đầu tư Chính vì vậy,quản lý chi NSNN trong đầu tư xây dựng cơ bản cần phải có những nguyên tắcnhất định, biện pháp, trình tự quản lý, cấp phát vốn dựa trên cơ sở tuân thủ cácnguyên tắc quản lý chi NSNN nói chung và được vận dụng phù hợp với đặc điểmcủa điểm của đầu tư XDCB
Trang 202.1.2 Đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước
2.1.2.1 Vốn đầu tư xây dựng cơ bản và vốn ngân sách Nhà nước
“Vốn đầu tư XDCB là toàn bộ những chi phí đã bỏ ra để đạt được mục đíchđầu tư bao gồm chi phí cho việc khảo sát quy hoạch xây dựng, chi phí chuẩn bịđầu tư, chi phí thiết kế và xây dựng, mua sắm, lắp đặt máy móc thiết bị và các chiphí khác được ghi trong tổng dự toán” Theo quy định tại Luật Đầu tư công số49/2014/QH13: Vốn nhà nước là từ những nguồn sau (1) Vốn từ NSNN; (2) Vốncông trái quốc gia; (3) Vốn trái phiếu Chính phủ; (4) Vốn trái phiếu chính quyềnđịa phương; (5) Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của cácnhà tài trợ nước ngoài; (6) Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; (7) Vốn
từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước;(8) Các khoản vốn vay khác của ngân sách địa phương để đầu tư Phạm vi nghiêncứu của luận án này chỉ tập trung vào vốn từ NSNN
2.1.2.2 Đặc điểm đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách Nhà nước
- Đầu tư XDCB từ NSNN chủ yếu là đầu tư xây dựng các công trình hạ tầngkinh tế - xã hội không có khả năng thu hồi vốn, hiệu quả kinh tế - xã hội do đầu tưnhững công trình này đem lại là rất lớn và có ý nghĩa quan trọng trong phát triểnkinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng của từng địa phương
- Đầu tư XDCB từ NSNN thường chiếm tỷ trọng vốn lớn nhất trong tổngđầu tư phát triển từ NSNN của cả nước nói chung và một địa phương nói riêng
- Chính phủ Trung ương hay chính quyền địa phương tham gia trực tiếp vàoquản lý toàn bộ quá trình đầu tư xây dựng các công trình thuộc nguồn vốn NSNNnhằm đảm bảo sự phù hợp với chiến lược, qui hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế
Trang 212.1.3 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của chi đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước
2.1.3.1 Khái niệm về chi đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước
Đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động đầu tư để tạo ra các tài sản cố định đưavào hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế xã hội nhằm thu được lợi ích dưới cáchình thức khác nhau Xét một cách tổng thể, không một hoạt động đầu tư nào màkhông cần phải có các tài sản cố định Tài sản cố định bao gồm toàn bộ các cơ sởvật chất, kỹ thuật đủ các tiêu chuẩn theo quy định của Nhà nước Để có được tàisản cố định chủ đầu tư có thể thực hiện bằng nhiều cách tiến hành xây dựng mớicác tài sản cố định
Xây dựng cơ bản chỉ là một khâu trong hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản.Xây dựng cơ bản là các hoạt động cụ thể để tạo ra các tài sản cố định (khảo sát,thiết kế, xây dựng, lắp đặt) Kết quả của hoạt động xây dựng cơ bản là các tài sản
cố định, có một năng lực sản xuất và phục vụ nhất định Vậy ta có thể nói: xâydựng cơ bản là một quá trình đổi mới và tái sản xuất mở rộng có kế hoạch các tàisản cố định của nền kinh tế quốc dân trong các ngành sản xuất vật chất, cũng nhưkhông sản xuất vật chất Nó là quá trình xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật chochủ nghĩa xã hội
Như vậy, chi ngân sách về XDCB: là khoản chi tài chính nhà nước được đầu
tư cho các công trình thuộc kết cấu hạ tầng (cầu cống, bến cảng, sân bay, hệ thốngthuỷ lợi, năng lượng, viễn thông…) các công trình kinh tế có tính chất chiến lược,các công trình và dự án phát triển văn hóa xã hội trọng điểm, phúc lợi công cộngnhằm hình thành thế cân đối cho nền kinh tế, tạo ra tiền đề kích thích qúa trình vậnđộng vốn của doanh nghiệp và tư nhân nhằm mục đích tăng trưởng kinh tế và nângcao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân
Điều 4 luật Ngân sách Nhà nước 2015: “ Chi đầu tư xây dựng cơ bản lànhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước để thực hiện các chương trình, dự án đầu tưkết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh
tế - xã hội”
2.1.3.2 Đặc điểm của chi đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước
- Chi NSNN trong đầu tư XDCB là khoản chi lớn của NSNN nhưng không
có tính ổn định
- Chi đầu tư XDCB gắn liền với đặc điểm của đầu tư XDCB
Trang 22- Chi NSNN trong đầu tư XDCB gắn với đặc điểm của NSNN và đặc điểmcủa chi NSNN Bên cạnh đó, nó còn có đặc thù riêng của chi NSNN cho đầu tưXDCB đó là: người quản lý chi đầu tư XDCB và người sử dụng kết quả đầu tưXDCB có thể tách rời nhau, điều này có thể làm giảm chất lượng công trình đầu tưXDCB làm khó khăn cho công tác quản lí chi NSNN.
2.1.3.3 Vai trò của chi đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước
Đầu tư xây dựng cơ bản rất cần thiết cho phát triển kinh tế và đảm bản ansinh xã hội, vì vậy chỉ có chi ngân sách nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản mới
có thể thực hiện được vai trò quan trọng này Đầu tư xây dựng cơ bản đóng vai tròquan trọng trên mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng của mỗiquốc gia
a Về mặt kinh tế
Chi NSNN cho đầu tư xây dựng cơ bản sẽ tạo ra hạ tầng kinh tế kỹ thuật như:điện, đường giao thông, sân bay, cảng biển… tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuấtkinh doanh, hạ giá thành sản phẩm từ đó thu hút đầu tư thu hút đầu tư, thúc đẩyphát triển kinh tế, nâng cao hiệu quả sản xuất ở cơ sở góp phần phát triển kinh tếđịa phương Qua đó tác động đến sự ổn định, tăng trưởng và phát triển nền kinh tế
b Về mặt chính trị, xã hội
Chi NSNN cho đầu tư xây dựng cơ bản tạo điều kiện xây dựng hạ tầng cơ sởcho các vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn như: đường giao thông tớimiền núi, nông thôn, điện, trường học tạo điều kiện phát triển kinh tế ở các vùngnày từ đó tăng thu nhập, cải thiện đời sống người dân, thu hẹp khoảng cách giàunghèo giữa các vùng ở địa phương Đồng thời, chi đầu tư xây dựng cơ bản cũngtập trung vào các công trình văn hóa để duy trì truyền thống, văn hóa của địaphương, của quốc gia; đầu tư vào truyền thông (công trình xây dựng cơ bản tronglĩnh vực phát thanh, truyền hình) nhằm thông tin những chính sách, đường lối củaNhà nước, tạo điều kiện ổn định chính trị của quốc gia; đầu tư xây dựng cơ bảntrong lĩnh vực y tế góp phần chăm sóc sức khỏe của người dân và các dịch vụ côngkhác cho cộng đồng
c Về mặt an ninh, quốc phòng
Kinh tế ổn định và phát triển, các mặt chính trị – xã hội được cũng cố và tăngcường là điều kiện quan trọng cho ổn định an ninh, quốc phòng
Trang 23Chi đầu tư xây dựng cơ bản bằng vốn ngân sách nhà nước còn tạo ra cáccông trình như: trạm, trại quốc phòng và các công trình khác phục vụ trực tiếp cho
an ninh quốc phòng đặc biệt là các công trình đầu tư mang tính bảo mật quốc gia,vừa đòi hỏi vốn lớn vừa đòi hỏi kỹ thuật cao thì chỉ có chi ngân sách nhà nước mới
có thể thực hiện được Điều này nói lên vai trò quan trọng không thể thiếu của chingân sách nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản trong lĩnh vực an ninh, quốcphòng
Tóm lại, chi ngân sách nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản để cung cấpnhững hàng hóa công cộng như: quốc phòng, an ninh, các hoạt động quản lý Nhànước, xây dựng các công trình giao thông, liên lạc; các công trình mang tính chấtphúc lợi xã hội như y tế, giáo dục, văn hóa, thể thao, các công trình phục vụ chophát triển kinh tế quốc gia như điện lực, công nghệ thông tin… Bên cạnh đó, cơ sở
hạ tầng kỹ thuật còn tạo điều kiện thu hút đầu tư, tạo việc làm, tăng thu nhập,chống suy thoái kinh tế và thất nghiệp Vì vậy, chi ngân sách nhà nước cho đầu tưxây dựng cơ bản là tất yếu và không thể thiếu ở mọi quốc gia
2.1.4 Khái niệm, đặc điểm và vị trí vai trò của công tác thanh tra trong quản lý Nhà nước
2.1.4.1 Khái niệm về thanh tra
Năm 1945, ngay sau khi Nhà nước dân chủ nhân dân được thành lập, ngày 23tháng 11 năm 1945, Hồ Chủ tịch ký Sắc lệnh số 64/SL thành lập Ban Thanh tra đặcbiệt Sắc lệnh nêu rõ: “Chính phủ sẽ lập ngay một Ban Thanh tra đặc biệt, có uỷnhiệm là đi giám sát tất cả các công việc và các nhân viên của Uỷ ban nhân dân vàcác cơ quan của Chính phủ”, từ đây thuật ngữ “Thanh tra” xuất hiện, được chỉ một
cơ quan cụ thể, quyền thanh tra được xác định và chính thức giao cho Chính phủ Luật Thanh tra 2004 và Luật Thanh tra năm 2010 không quy định nhiệm vụ,quyền hạn chung của các cơ quan thanh tra Nhà nước mà quy định cụ thể cho từng
cơ quan thanh tra nhà nước, nhưng có thể khái quát nhiệm vụ, quyền hạn chungcủa các cơ quan thanh tra Nhà nước là: quản lý nhà nước về công tác thanh tra;thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cánhân thuộc quyền quản lý của thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp;thực hiện nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật khiếunại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật về chốngtham nhũng
Trang 24Từ những phân tích nêu trên, Thanh tra được hiểu như sau:
“Thanh tra là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý Nhà nước, là việcxem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan nhà nước đối với việc thực hiện chính sách,pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân Hoạt động thanh tra được thựchiện bởi cơ quan chuyên trách theo một trình tự, thủ tục luật định, nhằm phòngngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, phát hiện những sơ hởtrong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với Nhà nước các biệnpháp khắc phục; phát huy nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lựccủa hoạt động quản lý Nhà nước, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền và lợi íchhợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân”
2.1.4.2 Đặc điểm chủ yếu của thanh tra
Một là, thanh tra gắn liền với quản lý Nhà nước
Với tư cách là một chức năng, là một giai đoạn của chu trình quản lý nhànước, thanh tra gắn liền với quản lý nhà nước
Thanh tra là một phạm trù lịch sử, thanh tra gắn liền với vai trò của Nhà nướctrong kiểm soát Nhà nước, kiểm soát xã hội Chính bản chất của quá trình lao động
xã hội đã đòi hỏi tất yếu phải có sự quản lý của Nhà nước để điều hoà những hoạtđộng đơn lẻ và thực hiện những chức năng chung
Như vậy, việc xem xét, định hướng đánh giá kết quả quản lý là một phươngdiện của quản lý xã hội Quản lý Nhà nước là một bộ phận quản lý xã hội và ở đâu
có quản lý nhà nước ở đó có thanh tra
Trong mối quan hệ giữa quản lý và thanh tra thì quản lý nhà Nước giữ vai tròchủ đạo, chi phối hoạt động của thanh tra (quy định thẩm quyền của các cơ quanthanh tra, quy định về tổ chức, quyết định và kết luận thanh tra, sử dụng các kếtquả, các thông tin từ phía các cơ quan thanh tra) Mặt khác, hoạt động chấp hànhcủa quản lý Nhà nước thường bao hàm cả sự điều hành, cho nên trong quá trìnhthực hiện các văn bản pháp luật đòi hỏi phải có sự kiểm tra nghiêm ngặt của các cơquan có thẩm quyền
Hai là, thanh tra là hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước
Tính quyền lực Nhà nước của hoạt động thanh tra có mối liên hệ chặt chẽ vớitính quyền uy - phục tùng của quản lý Nhà nước Là một chức năng của quản lýNhà nước, thanh tra phải thể hiện như một tác động tích cực nhằm thực hiện
Trang 25quyền lực của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý Nói về quyền lực Nhànước trong quá trình thanh tra cũng có nghĩa là xác định về mặt pháp lý tính chấtNhà nước của tổ chức thanh tra Vì vậy, thanh tra phải được Nhà nước sử dụng nhưmột công cụ có hiệu quả trong quá trình quản lý.
Luật Thanh tra 2004 quy định: Thanh tra là cơ quan của cơ quan quản lý Nhànước thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về thanh tra và thực hiện nhiệm vụquyền hạn thanh tra trong phạm vi quản lý của thủ trưởng cơ quan quản lý nhànước cùng cấp
Luật Thanh tra năm 2010 quy định: cơ quan thanh tra Nhà nước trong phạm
vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện và giúp cơ quan Nhà nước có thẩmquyền thực hiện quản lý Nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tốcáo và phòng, chống tham nhũng; tiến hành thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo
và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật
Tính quyền lực Nhà nước của hoạt động thanh tra thể hiện ở chỗ, các cơ quanthanh tra Nhà nước có quyền hạn được xác định và khả năng thực hiện nhữngquyền hạn đó:
- Quyết định tổ chức các cuộc thanh tra theo chương trình, kế hoạch được phê duyệt
- Trình thủ trưởng cơ quan quản lý hành chính phê duyệt hoặc quyết định thanh tra đột xuất khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật
- Yêu cầu đối tượng thanh tra, các cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan
- Niêm phong tài liệu, kiểm kê tài sản, trưng cầu giám định
- Tạm đình chỉ hành vi vi phạm, tạm giữ tiền, đồ vật, giấy phép, thu hồi tài sản
- Xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật (đối với thanh tra chuyên ngành)
- Yêu cầu cấp có thẩm quyền giải quyết đề nghị của thanh tra, yêu cầu truycứu trách nhiệm đối với những người có lỗi gây ra những vi phạm được phát hiện,
kể cả việc chuyển hồ sơ vụ việc vi phạm pháp luật có dấu hiệu của tội phạm sang
cơ quan điều tra để xử lý
- Trong một số trường hợp trực tiếp áp dụng các biện pháp cưỡng chế Nhà nước
Trang 26Tính quyền lực Nhà nước trong quá trình thanh tra được cụ thể hoá trongchức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan thanh tra, phương thức tiến hànhthanh tra, xử lý kết quả thanh tra, quan hệ giữa cơ quan thanh tra với đối tượng bịthanh tra Nếu chỉ chú trọng đến một mặt nào đó mà không thực hiện đồng bộtính quyền lực Nhà nước trên các lĩnh vực trên đều dẫn đến hạ thấp vai trò và hiệuquả của hoạt động thanh tra, hạn chế hiệu lực thanh tra.
Ba là, thanh tra có tính độc lập tương đối;
Đây là đặc điểm vốn có, xuất phát từ bản chất của thanh tra Đặc điểm nàyphân biệt thanh tra với các loại hình cơ quan chức năng khác của bộ máy quản lýnhà nước Khác với hoạt động kiểm tra thường do bản thân các cơ quan, tổ chức tựthực hiện, hoạt động thanh tra thường được tiến hành bởi một cơ quan chuyêntrách Ngoài những nhiệm vụ như những cơ quan quản lý Nhà nước khác, các cơquan thanh tra có nhiệm vụ chủ yếu là xem xét, đánh giá một cách khách quan việcthực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức và cá nhân.Tính độc lập tương đối của thanh tra với cơ quan quản lý Nhà nước cùng cấpthể hiện ở một số nội dung sau:
Các cơ quan thanh tra Nhà nước chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ trưởng cơquan quản lý nhà nước cùng cấp đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn về công tác
tổ chức, nghiệp vụ thanh tra của Thanh tra Chính phủ; chịu sự hướng dẫn về côngtác, nghiệp vụ của cơ quan thanh tra cấp trên
- Chánh thanh tra do Thủ trưởng cơ quan quản lý Nhà nước bổ nhiệm sau khithống nhất với Chánh thanh tra cấp trên
- Trong trường hợp những kiến nghị về thanh tra do Chánh thanh tra đề nghị,thủ trưởng cơ quan quản lý Nhà nước cùng cấp không nhất trí, Chánh thanh tra cóquyền bảo lưu báo cáo với người đứng đầu cơ quan thanh tra Nhà nước cấp trênxem xét, quyết định
- Tổng Thanh tra Chính phủ, Chánh Thanh tra các cấp, các ngành có quyền
ra quyết định thanh tra đột xuất khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật
- Thủ trưởng các cơ quan thanh tra Nhà nước được quyền ra quyết định xử lýtheo quy định của pháp luật đối với những hành vi vi phạm
Các cơ quan thanh tra Nhà nước là bộ phận quan trọng, không thể thiếu trong
cơ cấu bộ máy Nhà nước, là công cụ đắc lực để giữ gìn, bảo vệ và tăng
Trang 27cường trật tự, kỷ cương quản lý, là chức năng thiết yếu của các cơ quan quản lýNhà nước, nhưng có tính độc lập tương đối với cơ quan quản lý.
2.4.1.3 Vai trò, vị trí của công tác thanh tra trong quản lý Nhà nước
Tại Hội nghị tổng kết thanh tra toàn miền Bắc tháng 4 năm 1957, Hồ ChủTịch căn dặn “cán bộ thanh tra giúp trên hiểu biết tình hình địa phương và cấpdưới, đồng thời cũng giúp cho các cấp địa phương kịp thời sửa chữa, uốn nắn nếulàm sai, hoặc làm chậm Cho nên trách nhiệm của công tác thanh tra là quantrọng”
Vị trí vai trò của công tác thanh tra được thể hiện cụ thể trong các văn bảnpháp luật về thanh tra, nhất là từ Pháp lệnh Thanh tra năm 1990 đến Luật Thanhtra năm 2004, Luật Thanh tra năm 2010 Hoạt động thanh tra được xem như mộtkhâu quan trọng của quản lý Nhà nước, thể hiện qua các vai trò và ý nghĩa sau:Thứ nhất: Thanh tra là chức năng thiết yếu của quản lý Nhà nước
Thực tiễn điều hành, quản lý nói chung và quản lý Nhà nước nói riêng đòihỏi trong nhiều trường hợp phải có một phương thức kiểm tra khác với nghĩa kiểmtra thông thường Phương thức kiểm tra này không chỉ dừng lại ở chỗ phát hiện viphạm của đối tượng bị quản lý so với yêu cầu đề ra mà còn phải tìm ra nhữngnguyên nhân chủ quan, khách quan của vi phạm đó Nếu có yếu tố trách nhiệm thìphải chỉ rõ trách nhiệm đó thuộc về tổ chức, cá nhân nào? Chính từ việc tìmnguyên nhân và quy trách nhiệm cùng những yếu tố khác đã làm nảy sinh nhữngyêu cầu mới đối với chính hoạt động kiểm tra như phải thu thập và xử lý dữ liệu,
số liệu nhiều hơn, phức tạp hơn; nhận xét và đánh giá, phân tích tổng hợp nguyênnhân; xử lý và kiến nghị xử lý các đối tượng sai phạm loại hình kiểm tra như vậychính là hoạt động thanh tra
Thực chất thanh tra là một phương thức của kiểm tra, là chức năng của quản
lý, là công cụ của người lãnh đạo, người quản lý Trong quá trình thực hiện chứcnăng quản lý Nhà nước, các cơ quan quản lý Nhà nước nhất thiết phải tiến hànhhoạt động thanh tra đối với việc thực hiện các quyết định mà mình đã ban hành
Đó là một khâu không thể thiếu được trong quá trình hoạt động quản lý Nhà nước.Chính vì vậy thanh tra được xác định là chức năng thiết yếu của quản lý Nhà nước
Thứ 2: Thanh tra góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước
Trang 28Thanh tra, kiểm tra là để đánh giá, nhận xét tình hình và kết quả thực hiệnquyết định quản lý; xem xét lại nội dung và chất lượng quản lý; khi cần thiết phải
bổ sung, sửa đổi, thậm chí phải huỷ bỏ một phần hay toàn bộ quyết định quản lý.Trong trường hợp nội dung và chất lượng quyết định quản lý được thực tế kiểmnghiệm là đúng, là phù hợp, nhưng đối tượng thi hành vẫn không tuân thủ vàkhông chấp hành nghiêm chỉnh thì khi đó hoạt động thanh tra, kiểm tra phải làm rõnguyên nhân chủ quan, khách quan, xác định rõ trách nhiệm thuộc khâu nào, thuộc
cá nhân, tổ chức nào để chấn chỉnh hoặc xử lý khi có vi phạm Với ý nghĩa đóthanh tra thực chất đã góp phần nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước
Thứ 3: Thanh tra là một phương thức bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩaVới tư cách là một chức năng của quản lý Nhà nước, thanh tra chính là hoạtđộng xem xét việc làm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thực hiện đúng chínhsách, pháp luật hay không Nếu cơ quan, tổ chức, cá nhân làm sai hoặc làm chậmthì hướng dẫn sửa chữa và thực hiện đúng quy định Mục đích của thanh tra là pháthiện, phát huy những nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý những vi phạm, bảo đảm
để các cơ quan, tổ chức và cá nhân tuân thủ và chấp hành đầy đủ và nghiêm túccác quy định của pháp luật Thông qua công tác thanh tra tuyên truyền, giáo dụcpháp luật, góp phần tích cực vào việc giúp các cơ quan, tổ chức, cá nhân hiểu đúng
và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật và đó cũng là một hoạt động bảo đảm tăngcường pháp chế
Luật Thanh tra 2010 cũng đã thể hiện cụ thể các quyền cũng như trách nhiệmcủa các cơ quan thanh tra Nhà nước trong việc phòng ngừa, phát hiện và xử lý cáchành vi vi phạm pháp luật
Thứ 4: Thanh tra là một biện pháp phòng ngừa, phát hiện và xử lý nhữnghành vi vi phạm pháp luật
Điều 2 Luật Thanh tra năm 2010 khẳng định “Mục đích hoạt động thanh tranhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và
Trang 29kiểm tra, giám sát đã là một sự nhắc nhở thường xuyên đối với tất cả các đối tượngchịu sự thanh tra, kiểm tra, giám sát phải tuân thủ pháp luật từ đó hạn chế sự viphạm pháp luật Đồng thời qua công tác thanh tra giúp đỡ, hướng dẫn các đốitượng thực hiện đúng các quy định của pháp luật.
Thanh tra, kiểm tra, giám sát là cách thức phân tích một cách sâu sắc, đầy đủnhất các nguyên nhân, động cơ, mục đích, tính chất, mức độ của một hành vi
vi phạm Các kiến nghị, yêu cầu được đưa ra từ hoạt động thanh tra, kiểm tra,giám sát không chỉ hướng vào việc phát hiện, xử lý hành vi vi phạm pháp luật màcòn có tác dụng khắc phục các kẽ hở của chính sách, pháp luật, ngăn ngừa những
vi phạm pháp luật tương tự xảy ra ở một nơi khác hoặc vào một thời điểm khác
2.1.5 Mục đích ý nghĩa, nguyên tắc hoạt động thanh tra
2.1.5.1 Mục đích ý nghĩa của hoạt động thanh tra
Luật Thanh tra năm 2010 quy định: “mục đích hoạt động thanh tra nhằm pháthiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quannhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lýhành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy địnhcủa pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quảhoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợppháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân”
Như vậy, mục đích của hoạt động thanh tra bao gồm cả xây dựng, phát huynhững nhân tố tích cực và chống những tiêu cực, vi phạm pháp luật Tuy nhiên,vẫn còn có nhận thức khác nhau trên thực tế về mục đích của thanh tra là “xâydựng” hay “chống”
2.1.5.2 Các nguyên tắc trong hoạt động thanh tra
Các nguyên tắc hoạt động thanh tra chỉ đạo và chi phối các mối quan hệtrong thanh tra nhằm đảm bảo cho hoạt động thanh tra đạt được mục đích đề ra.Hoạt động thanh tra phải tuân theo các nguyên tắc sau đây:
Một là, hoạt động thanh tra tuân theo pháp luật Trong quá trình thanh tra,những người được giao thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra (Người ra quyếtđịnh thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra, thành viên đoàn thanh tra) phải tuân thủđúng những qui định của pháp luật, bảo đảm tính độc lập, nghiêm minh khi thựchiện những thủ tục cần thiết và trong phạm vi thẩm quyền cho phép Việc ra quyếtđịnh thanh tra trong phạm vi thẩm quyền; việc tiến hành thanh tra trong
Trang 30phạm vi nội dung, thời hạn ghi trong quyết định thanh tra; việc áp dụng các quyềnhạn được thực hiện theo quy định của pháp luật; việc kết luận thanh tra phải dựatrên cơ sở quy định của pháp luật Người ra kết luận thanh tra, Trưởng đoàn thanhtra, thành viên đoàn thanh tra phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận vàviệc làm của mình trong quá trình thanh tra.
Hai là, bảo đảm chính xác khách quan, công khai, trung thực, dân chủ, kịpthời Đây là nguyên tắc quan trọng, vì bất kỳ một kết quả nào trong thanh trakhông đảm bảo tính chính xác đều dẫn đến việc nhìn nhận, đánh giá sai đối tượngthanh tra, từ đó có những xử lý thiếu đúng đắn, trái pháp luật
Phải bảo đảm chính xác trong hoạt động thanh tra mới có thể giúp cho việcđánh giá thực trạng tình hình được chính xác, giúp cho việc xử lý sai phạm đúngngười, đúng lỗi, đúng pháp luật Tính chính xác bảo đảm cho công tác thanh tra đạthiệu quả cao, được đối tượng chấp nhận, nhân dân đồng tình ủng hộ, tạo cơ sởthực hiện kết luận, quyết định xử lý về thanh tra Muốn đảm bảo tính chính xáctrong hoạt động thanh tra nói chung và trong kết luận thanh tra nói riêng, khôngchỉ đòi hỏi có quan điểm đúng đắn, mà cần phải có kiến thức, năng lực và phươngpháp nghiệp vụ mới có thể đem lại kết quả chính xác
Tính khách quan cũng là vấn đề có tính nguyên tắc, nó bảo đảm phản ánhđúng sự thật, không thiên lệch và bóp méo sự thật Tính chính xác và tính kháchquan có tác động qua lại lẫn nhau Có khách quan mới bảo đảm chính xác, ngượclại có chính xác mới thể hiện được tính khách quan
Để bảo đảm tính khách quan, phải sâu sát thực tế, tôn trọng sự thật, phản ánhđúng sự thật Điều quan trọng là phải có bản lĩnh vững vàng, ý thức trách nhiệmcao và có năng lực xem xét, phân tích chính xác, khoa học Trung thực là phản ánhđúng và đầy đủ bản chất của sự việc, không thêm, bớt đồng thời cũng viện dẫn đầy
đủ không cắt xén các quy định pháp luật để xác định rõ đúng, sai
Tính công khai trong hoạt động thanh tra thể hiện ở chỗ phải thông báo nộidung thanh tra để mọi người biết nhằm động viên đông đảo nhân dân tham giaphát hiện, giám sát, kiểm tra góp phần bảo đảm tính chính xác
Vấn đề dân chủ trong hoạt động thanh tra là thể hiện sự tôn trọng và tintưởng vào lực lượng đông đảo quần chúng góp phần tích cực vào kết quả kiểm tra,thanh tra Trong quá trình thanh tra cần coi trọng phát huy dân chủ xã hội chủnghĩa, coi trọng tính thuyết phục và việc thu thập, tiếp nhận thông tin có liên
Trang 31quan, kể cả tạo điều kiện cho đối tượng thanh tra được trình bày ý kiến của họ để
rà soát lại tính đúng đắn từng việc làm cụ thể Cần tránh mọi biểu hiện chủ quan ápđặt, bất chấp ý kiến người khác
Tính kịp thời trong hoạt động thanh tra cũng rất quan trọng bởi vì do yêu cầuquản lý nhà nước và những vấn đề cuộc sống đặt ra là phải được kiểm tra, thanhtra và trả lời đầy đủ, kịp thời mới có đối sách ứng xử cho sát hợp Nếu hoạt độngthanh tra tiến hành chậm trễ hoặc không gắn với chu trình quản lý sẽ kém hiệuquả
Muốn bảo đảm kịp thời, không phải chỉ có đầy đủ những kiến thức sách vở
mà phải có năng lực thực sự, đủ sức phát hiện, phân tích, giám sát chiều sâu, làm
rõ các mối liên hệ mới có thể đánh giá đúng bản chất của sự vật, không lầm lẫn
Ba là, tuân thủ trình tự thanh tra Trong Luật Thanh tra và Nghị định86/2011/NĐ-CP có một chương riêng về hoạt động thanh tra Những nội dung cầnxác định trong chương này là những qui tắc mà hoạt động thanh tra, đối tượngthanh tra và cả những người có liên quan phải chấp hành và thông tư số05/2014/TT-TTCP ngày 16/10/2014 của thanh tra Chính phủ quy định Quy định về
tổ chức, hoạt động, quan hệ công tác của Đoàn thanh tra và trình tự, thủ tục tiếnhành một cuộc thanh tra
Bốn là, xác định đúng đối tượng, phạm vi, nội dung hoạt động thanh tra Đốitượng, phạm vi, nội dung thanh tra luôn được xác định bởi yêu cầu quản lý nhànước Theo từng thời kỳ giai đoạn cụ thể, như một đòi hỏi mang tính tất yếu quản
lý cần phải hướng dẫn kiểm soát hệ thống của mình để hướng đích
Do vậy, việc xác định đối tượng, phạm vi, nội dung hoạt động thanh tra cócăn cứ từ hai phương diện:
- Mức khái quát, hệ thống quản lý cần thông tin về vấn đề gì và thanh tra đápứng theo phương pháp nào lấy ngăn chặn, phòng ngừa là chính hay xử lý là chính
- Mức cụ thể, hoạt động thanh tra thuộc quản lý nhà nước ở lĩnh vực nào thì
có đối tượng phạm vi, nội dung cụ thể theo lĩnh vực đó và điều đó được thể hiệntrực tiếp thông qua quyết định của cấp có thẩm quyền
Năm là, sử dụng đúng quyền hạn trong hoạt động thanh tra Quyền hạn tronghoạt động thanh tra là yếu tố mang tính nguyên tắc đảm bảo cho thanh tra đạt đượcmục đích đề ra Hoạt động thanh tra là hoạt động nhân danh quyền lực
Trang 32hành chính nhà nước của cơ quan quản lý hành chính cấp trên đối với cấp dưới Dovậy giới hạn, phạm vi sử dụng quyền trong thanh tra nằm trong khuôn khổ củaquyền lực hành chính nhà nước Việc sử dụng đúng quyền hạn trong thanh tra đòihỏi trên các khía cạnh: phạm vi, tính chất vấn đề, hành động và không hành độngtrong sử dụng quyền.
Sáu là, hoạt động thanh tra không được làm cản trở hoạt động bình thườngcủa cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra Đây là nguyên tắc thể hiệnmối quan hệ giữa các cơ quan thanh tra với cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượngthanh tra; giữa cơ quan, tổ chức, cá nhân thực thi quyền lực nhà nước với đốitượng chịu sự quản lý
Nhìn một cách tổng quát, mục đích cuối cùng của hoạt động thanh tra là gópphần bảo đảm sự phát triển ổn định và lành mạnh Chính vì vậy mà thanh trakhông được làm cản trở hoạt động của đối tượng Các cơ quan thanh tra chỉ tiếnhành thanh tra những nội dung ghi trong quyết định thanh tra, không được tự ý mởrộng phạm vi thanh tra hoặc kéo dài thời gian thanh tra… Việc kết luận phải chínhxác, khách quan, không vì động cơ cá nhân, không được gây khó khăn, phiền hà,sách nhiễu làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của đối tượng thanh tra.Đồng thời, cần khắc phục tình trạng chồng chéo, trùng lặp trong hoạt động thanhtra, Luật Thanh tra năm 2010 đã quy định hoạt động thanh tra “không trùng lặp vềphạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra giữa các cơ quan thực hiện chứcnăng thanh tra”
2.1.5.3 Nguyên tắc tiến hành cuộc thanh tra
Hoạt động thanh tra góp phần giữ nghiêm kỷ cương pháp luật, thực hiệncông bằng xã hội Để bảo đảm cho cuộc thanh tra đạt được mục đích, yêu cầu đề
ra, khi tiến hành một cuộc thanh tra phải đảm bảo nguyên tắc “tuân theo pháp luật;bảo đảm chính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ, kịp thời; khôngtrùng lặp về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra giữa các cơ quanthực hiện chức năng thanh tra; không làm cản trở hoạt động bình thường của cơquan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra” (Điều 7 Luật Thanh tra 2010) Đóchính là:
a Coi trọng công tác chính trị - tư tưởng
Công tác chính trị - tư tưởng nhằm thống nhất chung về mục đích, yêu cầucuộc thanh tra cần đạt được trong nội bộ Đoàn Thanh tra, giữa những thành viên
Trang 33Đoàn Thanh tra với đối tượng thanh tra và đạt được sự nhất trí cao trong các cơquan chức năng có liên quan đến cuộc thanh tra.
Đối tượng thanh tra và đơn vị được thanh tra cũng cần có nhận thức đúng,thông suốt về cuộc thanh tra Do vậy họ cũng là một trong những đối tượng củacông tác chính trị - tư tưởng Việc công bố quyết định thanh tra phải làm cho cácthành viên trong đơn vị được thanh tra hiểu rõ mục đích, yêu cầu, nội dung tầmquan trọng của cuộc thanh tra Trên cơ sở đó hạn chế sự chống đối, thiếu tinh thầncộng tác, không cung cấp đầy đủ tài liệu, báo cáo cho Đoàn Thanh tra để che dấukhuyết điểm sai phạm của đối tượng, phát huy dân chủ, giữ vững được vai trò lãnhđạo của tổ chức Đảng, sự đóng góp của các đoàn thể, tinh thần thẳng thắn đấutranh xây dựng của cán bộ, đảng viên và quần chúng vào cuộc thanh tra, phát huyđược hiệu lực, hiệu quả cuộc thanh tra
b Tuân thủ quy định của pháp luật, trong quá trình thanh tra
Trong quá trình tiến hành một cuộc thanh tra thì người tham gia cuộc thanhtra phải luôn luôn ý thức và thường trực trong suy nghĩ và việc làm phải tuân theopháp luật, thể hiện trên một số vấn đề:
- Không vượt quyền, không lạm dụng quyền;
- Không che dấu, hoặc bao che hành vi vi phạm;
- Sai phạm đến đâu, nhận xét, đánh giá đúng mức đến đó, không áp đặt ý chíchủ quan Mọi đánh giá, kết luận về đối tượng thanh tra đều phải có căn cứ phápluật, có chứng cứ rõ ràng
Trong quá trình thanh tra thì việc thu thập chứng cứ là yếu tố quan trọngnhằm đánh giá, kết luận chính xác, khách quan
Khi thu thập, đối chiếu, xác minh thẩm tra các thông tin, tài liệu và chứng cứ,Đoàn Thanh tra cần tuân theo quy định của pháp luật, nhằm bảo đảm phải làm rõđược tính chất, mức độ, nguyên nhân sai phạm, trách nhiệm tập thể và trách nhiệm
cá nhân đối với các hành vi vi phạm
* Đối với Người ra quyết định thanh tra, Trưởng đoàn và các thành viên Đoàn Thanh tra
- Không vi phạm những điều cấm trong hoạt động thanh tra (Điều 13 Luật Thanh tra năm 2010)
- Bảo đảm chính xác, khách quan trong thu thập thông tin, tài liệu và chứng cứ
Trang 34Thông tin, tài liệu được thu thập xác minh phải dựa trên những biện pháp,cách thức mà pháp luật cho phép, bảo đảm chính xác, khách quan, trung thực, làmcăn cứ để đối chiếu với các quy định của pháp luật để phân định đúng - sai của cáchoạt động cụ thể.
* Đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra
Đối tượng thanh tra phải tuân thủ pháp luật, phải chấp hành việc thanh tra,kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; chấp hành nghiêm túc các yêu cầucủa Đoàn thanh tra; hợp tác với Đoàn thanh tra; không che dấu khuyết điểm, saiphạm
Thông tin, tài liệu, báo cáo của đối tượng thanh tra cung cấp, biên bản hộinghị, giám định, kiểm kê, niêm phong, xác minh, đối chiếu, ghi trả lời giải trình các hoá đơn, chứng từ, các văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có liênquan v.v nhất thiết phải là văn bản có giá trị pháp lý, có đầy đủ các yếu tố: ngàylập văn bản, chữ ký, họ tên, địa chỉ, có đóng dấu (nếu có) Nếu là các văn bản saochụp, phải được công chứng hợp pháp hoặc người sao lục ký tên, đóng dấu
* Đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, cơ quan hữu quan
Đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và các cơ quan hữu quan phảituân theo pháp luật thể hiện ở việc đáp ứng các yêu cầu liên quan đến cuộc thanhtra theo quy định của pháp luật, không được can thiệp trái pháp luật vào hoạt độngthanh tra
c Chấp hành nghiêm chỉnh quyết định thanh tra và kế hoạch thanh tra
Do tính chất đặc thù của hoạt động thanh tra, cuộc thanh tra được thực hiệnphải trên nguyên tắc chấp hành nghiêm chỉnh quyết định thanh tra Đó là nguyêntắc rất cơ bản đòi hỏi Đoàn thanh tra phải nghiêm chỉnh chấp hành, nhằm:
- Kết quả cuộc thanh tra phải đạt được mục đích, yêu cầu đã đề ra;
- Tiến hành thanh tra theo đúng nội dung, đúng thẩm quyền; đúng phạm vi,đối tượng đã ghi trong quyết định thanh tra Những nội dung mới xuất hiện trongquá trình thanh tra, nếu thấy cần thiết phải báo cáo người có thẩm quyền để raquyết định bổ sung bằng văn bản một cách kịp thời;
- Bảo đảm thời gian hoàn thành cuộc thanh tra theo quyết định thanh tra; nếukéo dài thời hạn thanh tra phải có quyết định gia hạn của cấp có thẩm quyền;
- Chấp hành tốt kỷ luật về chế độ báo cáo
Trang 35d Bảo đảm tính chính xác, trung thực, khách quan; tính hợp pháp và hợp lý trong nội dung báo cáo kết quả thanh tra
Hoạt động thanh tra là một nội dung của hoạt động quản lý nhà nước Kếtluận, kiến nghị hoặc quyết định xử lý từ kết quả thanh tra, đòi hỏi tổ chức, cá nhânliên quan có nghĩa vụ và trách nhiệm thực hiện Tác động của nó không những đốivới đối tượng thanh tra mà còn tác động trực tiếp hay gián tiếp đối với xã hội;thông qua thanh tra góp phần chấn chỉnh quản lý, hoàn thiện chính sách, cơ chếquản lý Vì vậy, bảo đảm tính chính xác, trung thực, khách quan, hợp pháp, hợp lý
là một nguyên tắc mang tính tổng hợp
Tính chính xác, trung thực, khách quan biểu hiện ở chỗ: số liệu, chứng cứphải chính xác, kết luận thanh tra đánh giá sự việc phải khách quan, đúng với sựthật, không suy diễn, áp đặt ý chí chủ quan, không cắt xén, bóp méo sự thật
Báo cáo kết quả thanh tra, kết luận hoặc quyết định xử lý là một dạng “sảnphẩm” của cuộc thanh tra Do đó, người tiến hành cuộc thanh tra bảo đảm nguyêntắc chính xác, trung thực, khách quan, hợp pháp, hợp lý trong suốt quá trình tiếnhành thanh tra là nhằm làm cho “sản phẩm” của cuộc thanh tra có giá trị pháp lý và
có tác dụng tích cực đối với công tác quản lý
Coi trọng công tác chính trị - tư tưởng, chấp hành nghiêm chỉnh quyết địnhthanh tra, tuân thủ theo quy định của pháp luật và bảo đảm các thể thức hành chínhtrong quá trình tiến hành thanh tra, cho ta những cơ sở rất cơ bản để có được kếtluận thanh tra đúng đắn Một kết luận thanh tra chỉ thực sự trung thực, khách quan,
có lý, có tình, khi biết tổng hợp, phân tích các thông tin, tài liệu đã được đối chiếuvới các quy định của pháp luật nhưng phải gắn với hoàn cảnh lịch sử cụ thể, xemxét một cách toàn diện nguyên nhân khách quan và chủ quan bằng quan điểm lịch
sử cụ thể
Tính hợp pháp biểu hiện ở chỗ: Kết luận thanh tra làm rõ đúng hay sai của sựviệc so với chuẩn mực do Nhà nước ban hành trong Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh,Nghị định, Thông tư, quyết định, chỉ thị, các định mức kinh tế - kỹ thuật của cơquan có thẩm quyền ban hành, các cơ chế quản lý của Nhà nước
Tính hợp lý biểu hiện ở chỗ: Kết luận thanh tra được xem xét, đánh giá mộtcách toàn diện, đồng thời xem xét giải quyết trong mối quan hệ tổng thể, sát vớithực tế đang xảy ra và đặt trong từng thời điểm lịch sử nhất định Quá trình chuyểnđổi về cơ chế, chính sách có nhiều sự vật và hiện tượng mới phát sinh
Trang 36trong thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, nên các quy định pháp luật chưa kịpchuyển đổi cho phù hợp, Vì vậy, kết luận thanh tra phải đồng thời vừa bảo đảmtính hợp pháp, vừa bảo đảm tính hợp lý Khi xem xét những hành vi vi phạm phápluật hiện hành, Đoàn Thanh tra còn cần xem xét cả các mặt:
- Sự phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn
- Hiệu quả kinh tế - xã hội
- Sự phù hợp với xu thế phát triển chính sách của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước
2.1.6 Nội dung chi đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách Nhà nước
Trong cơ cấu chi của NSNN, chi đầu tư XDCB thường là khản chi chiếm tỉtrọng tương đối lớn Tùy theo yêu cầu quản lý có thể phân loại chi đầu tư XDCBtheo các tiêu thức khác nhau:
Nếu xét theo tính chất công trình, chi đầu tư XDCB bao gồm:
- Chi xây dựng mới: là các khoản chi để xây dựng các công trình chưa cstrong nển kinh tế quốc dân Kết quả của công trình này là sự hình thành các tài sản
cố định mới của nền kinh tế, góp phần làm tăng số lượng và chất lượng tài sản cốđịnh (TSCĐ) của nền kinh tế, tăng thêm năng lực sản xuất của nền kinh tế
- Chi để cải tạo, mở rộng và đổi mới kỹ thuật: Là các khoản chi để phát triểnthêm quy mô sản xuất, tăng thêm công suất, năng lực và hiện đại hóa tài sản cốđịnh hiện có
- Chi khôi phục TSCĐ: là các khoản chi để xây dựng lại toàn bộ hay từngphần của những TSCĐ đang phát huy tác dụng nhưng bị tổn thất do các yếu tốkhách quan hoặc chủ quan
Nếu xét theo cấu thành vốn đầu tư, chi đầu tư XDCB bao gồm:
- Chi về xây dựng: là những khoản chi để xây dựng các công trình kiến trúctrong các ngành kinh tế quốc dân, như nhà máy, hầm mỏ, bệnh viện, trườnghọc….kể cả giá trị và chi phí lắp đặt các thiết bị gắn với công trình xây dựng như
hệ thống cấp thoát nước, hệ thống chiếu sáng
- Chi về lắp đặt: Là những khoản chi để lắp đặt các thiết bị dây chuyền côngnghệ Như vậy, các chi phí về tiền công lắp đặt, chi phí về vật lieeujphuj và chi phíchạy thử có tải và không có tải máy móc thiết bị hợp thành chi phí về lắp đặt
Trang 37- Chi về mua sắm máy móc thiết bị: Là những khoản chi hợp thành giá trịcảu máy móc thiết bị mua sắm, như chi phí giao dịch; giá trị máy móc thiết bị ghitrên hóa đơn; chi phí vận chuyển, bốc dỡ… Chi về mua sắm máy móc hiết bị có
ý nghĩa quyết định đến việc làm tăng thêm năng lực sản xuất của nền kinh tế quốc dân
- Chi XDCB khác: Là những khoản chi nhằm đảm bảo điều kiện cho quátrình xây dựng các công trình, như chi phí chuẩn bị đầu tư, chi phí khảo sát thiết
kế, chi phí xây dựng đường giao thông, lán trại tạm thời phục vụ thi công, chi phíđền bù đất đai, hoa mùa giải phóng mặt bằng, chi cho bộ máy quản lý của đơn vịchủ đầu tư, chi phí thuê chuyên gia, tư vấn, giám sát xây dựng công trình….Khoản chi này thường chiếm tỉ trọng nhỏ trong chi đầu tư XDCB
Nếu xét theo trình tự XDCB, chi đầu tư XDCB bao gồm:
- Chi chuẩn bị đầu tư: Là những khoản chi phụ vụ cho nghiên cứu về sự cầnthiết phải đầu tư của dự án, xác định quy mô đầu tư, tiến hành tiếp xúc, thăm dò thịtrường để cung ứng vật tư, thiết bị hoặc tiêu thụ sản phẩm Xem xét khả năng cóthể huy động các nguồn vốn để đầu tư và lựa chọn hình thức đầu tư Tiến hànhđiều tra, khảo sát và chọn địa điểm xây dựng… để lập dự án đầu tư và thẩm định
Xét nội dung chi theo trình tự XDCB có ý nghĩa lớn về quản lý thời hạn xâydựng, đảm bảo quản lý chất lượng kỹ thuật của công trình, đảm bảo phương hướngđầu tư đúng đắn, sử dụng vốn tiết kiệm và nâng cao hiệu quả của vốn đầu tư
2.1.7 Nội dung thanh tra chi xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách Nhà nước
- Thanh tra chi chuẩn bị đầu tư: Các khoản chi phục vụ cho nghiên cứu về sựcần thiết phải đầu tư dự án, xác định quy mô đầu tư, tiến hành tiếp xúc, điều
Trang 38tra thăm dò thị trường trong hoặc ngoài nước để tìm nguồn cung ứng vật tư, thiết
bị hoặc tiêu thụ sản phẩm Xem xét khả năng có thể huy động các nuồn vốn để đầu
tư và lựa chịn hình thức đầu tư Tiến hành điều tra, khảo sát và lựa chọn địa điểmxây dựng… để lập dự án đầu tư và thẩm định dự án đầu tư
- Thanh tra chi chuẩn bị thực hiện đầu tư: Là thanh tra các khoản chi về khảosát thiết kế, lập, thẩm định tổng dự toán, dự toán công trình, chi giải phóng mặtbằng, chi chuẩn bị xây dựng công trình kỹ thuật hạ tầng, như các công trình nước,đường, bãi chứa, lán trại… Chi đào tạo công nhân vận hành, chi cho ban quản lýcông trình…
- Thanh tra chi thực hiện đầu tư: Là việc thanh tra tất cả các khoàn chi hợpthành giá trị công trình được nghiệm thu bàn giao và đã được quyết toán, bao gồm:Cho xây dựng công trình; chi mua sắm, gia công, vận chuyển, lắp đặt thiết bị; chiphí lập, thẩm tra báo cáo quyết toán vốn đầu tư hoàn thành, và một số khoản chiphí khác phục vụ cho quá trình thực hiện đầu tư
2.1.8 Quy trình thanh tra chi xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách Nhà nước
Quy trình tiến hành một cuộc thanh tra được quy định tại Chương III Thông
tư số 05/2014/TT-TTCP ngày 16/10/2014 của thanh tra Chính phủ quy định Quyđịnh về tổ chức, hoạt động, quan hệ công tác của Đoàn thanh tra và trình tự, thủtục tiến hành một cuộc thanh tra
Quy trình tiến hành một cuộc thanh tra gồm 3 bước:
- Chuẩn bị thanh tra
+ Thu thập thông tin, tài liệu, nắm tình hình để ban hành quyết định thanh tra;
+ Ra quyết định thanh tra;
+ Xây dựng, phê duyệt kế hoạch tiến hành thanh tra;
+ Phổ biến kế hoạch tiến hành thanh tra;
+ Xây dựng đề cương yêu cầu đối tượng thanh tra báo cáo;
+ Thông báo về việc công bố quyết định thanh tra
- Tiến hành thanh tra
+ Công bố quyết định thanh tra
+ Thu thập thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung thanh tra
+ Kiểm tra, xác minh thông tin, tài liệu
Trang 39+ Thủ tục thực hiện quyền trong quá trình thanh tra
+ Xử lý sai phạm được phát hiện khi tiến hành thanh tra
+ Báo cáo tiến độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ thanh tra
- Kết thúc thanh tra
+ Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ của thành viên Đoàn thanh tra
+ Báo cáo kết quả thanh tra của Đoàn thanh tra
+ Xem xét báo cáo kết quả thanh tra của Đoàn thanh tra
+ Xây dựng Dự thảo kết luận thanh tra
+ Ký và ban hành kết luận thanh tra
+ Công khai kết luận thanh tra
+ Tổng kết hoạt động của Đoàn thanh tra
+ Lập, bàn giao, quản lý, sử dụng hồ sơ thanh tra
Các bước có liên quan chặt chẽ và mật thiết với nhau; bước trước tạo tiền đề
để tiến hành bước sau; bước sau tiếp tục và hoàn thiện bước trước, đảm bảo chocuộc thanh tra đạt mục đích, yêu cầu đã đề ra
2.1.9 Các nhân tố ảnh hưởng đến thanh tra chi xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước
2.1.9.1 Nhân tố bên ngoài
a Cơ sở pháp lý cho hoạt động thanh tra
Cơ sở pháp lý để thực hiện hoạt động thanh tra xây dựng là hệ thống các vănbản pháp luật về lĩnh vực xây dựng Đó là tổng hợp các quy tắc, quy định do các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh các quan hệ phát sinhtrong lĩnh vực xây dựng có tính chất bắt buộc phải thực hiện nhằm thiết lập trật tựcho các hoạt động xây dựng, góp phần duy trì sự ổn định và phát triển bền vững cơ
sở hạ tầng quốc gia Đây là cơ sở quan trọng đầu tiên nhằm hướng tới các hành vicủa chủ thể có liên quan đến lĩnh vực xây dựng được diễn ra trong một khuôn khổ
mà chủ thể quản lý nhà nước mong muốn Đồng thời đây cũng chính là những căn
cứ pháp lý chủ yếu để cơ quan thanh tra xây dựng, người có thẩm quyền đánh giá
và xác định được mức độ chấp hành đúng pháp luật cũng như vi phạm các quyđịnh pháp luật của tổ chức, công dân trong hoạt động xây
Trang 40dựng, từ đó giúp các cơ quan quản lý nhà nước có những giải pháp phù hợp đểthiết lập trật tự pháp luật xây dựng trên thực tiễn.
Hoạt động thanh tra xây dựng mang tính đa ngành, nhiều lĩnh vực Do đó đòihỏi hệ thống pháp luật xây dựng mang tính phân hóa cao theo từng lĩnh vực như:
hệ thống pháp luật đất đai; thị trường bất động sản; quy hoạch kiến trúc; kỹ thậtxây dựng; vật liệu xây dựng… Điều đó yêu cầu chính các chủ thể tiến hành thanhtra xây dựng phải có tập hợp những kiến thức cơ bản về hệ thống các quy địnhpháp luật liên quan đến chuyên ngành xây dựng đồng thời đòi hỏi tính chuyên sâucủa từng lĩnh vực trong xây dựng Đây chính là yếu tố quan trọng quyết định nênchất lượng của cuộc thanh tra bởi việc xác định tính hợp pháp, hợp lý của hoạtđộng xây dựng dựa trên các quy định pháp luật thực định mà đòi hỏi người tiếnhành thanh tra phải biết vận dụng Bên cạnh đó hoạt động thanh tra xây dựng phụthuộc rất nhiều vào chất lượng của những quy định pháp luật về thẩm quyền, chứcnăng, nhiệm vụ của các cơ quan thanh tra xây dựng, bởi các cơ quan thanh tra xâydựng nếu được luật hóa bằng các quy định hợp pháp, hợp lý khi đó các chủ thể tiếnhành thanh tra xây dựng sẽ được tạo điều kiện độc lập về mặt thẩm quyền điều đó
có tác động trực tiếp cũng như gián tiếp đến hiệu quả của hoạt động thanh tra xâydựng Một hệ thống pháp luật đồng bộ, đầy đủ, cụ thể, chặt chẽ và thống nhất sẽgiúp cho việc thực hiện các hoạt động liên quan đến xây dựng được diễn ra theomột trật tự hợp lý, giúp cho các cơ quan quản lý (trong đó có cơ quan thanh tra xâydựng) có cơ sở xác định rõ mức độ vi phạm và là căn cứ khi xử lý Xác định rõràng và đúng đắn quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan thực hiện chức năngthanh tra xây dựng, từ đó tạo niềm tin và sự đồng thuận trong cộng đồng dân cư vàtoàn xã hội
Như vậy, cơ sở pháp lý cho hoạt động thanh tra về xây dựng cơ bản haynhững quy định pháp luật về thanh tra nói riêng và pháp luật nói chung đóng vaitrò quan trọng và là yếu tố tác động trực tiếp, có ảnh hướng lớn tới chất lượng,hiệu quả hoạt động thanh tra
b Dư luận xã hội
Công luận và dư luận xã hội đã và đang phát huy vai trò quan trọng vào quátrình quản lý và phát triển đất nước Các phương tiện truyền thông cùng với dưluận xã hội đã và đang trở thành một những lực lượng xung kích trong việc pháthiện những cái mới, những cá nhân, tập thể điển hình tiên tiến và cả việc tấn côngvào những tệ nạn của đời sống xã hội Sự khen chê của công luận và dư