TRÍCH YẾU LUẬN VĂNTên tác giả: Phạm Thu HàTên luận văn: Đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất cà phê chè tại Sơn La Ngành: Khoa học cây trồng Mã số
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này được hoàn thành bằng sự nhận thức chính xác của bản thân.
Các số liệu trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác.
Mọi sự giúp dỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 28 tháng 9 năm 2017
Tác giả luận văn
Phạm Thu Hà
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành dề tài tốt nghiệp ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô, bạn bè và ngưởi thân Trước tiên, với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm
ơn tới GS TS Phạm Tiến Dũng – Bộ môn Phương pháp thí nghiệm và thống kê sinh học, Khoa nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình hướng dẫn và giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành bản luận văn này.
Tôi xin chân thành cám ơn các thầy giáo, cô giáo Bộ môn Phương pháp thí nghiệm và thống kê sinh học đã tạo điều kiện góp ý, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cám ơn cán bộ, đồng nghiệp công tác tại Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Sơn La; Trường Đại học Tây Bắc đã tạo điều kiện và hỗ trợ tôi trong quá trình điều tra, phân tích và thu thập số liệu Cuối cùng, tôi xin bày tỏ sự biết ơn chân thành tới gia đình, đồng nghiệp
và bạn bè - những người đã luôn bên tôi, động viên, giúp đỡ tôi về vật chất cũng như tinh thần trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, ngày 28 tháng 9 năm 2017
Tác giả luận văn
Phạm Thu Hà
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục hình viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Giả thiết khoa học 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.4 Phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
1.5.1 Những đóng góp mới 3
1.5.2 Ý nghĩa khoa học 4
1.5.3 Ý nghĩa thực tiễn 4
Phần 2 Tổng quan tài liệu 5
2.1 Tình hình sản xuất cà phê 5
2.1.1 Tình hình sản xuất cà phê trên thế giới 5
2.1.2 Tình hình sản xuất cà phê tại Việt Nam 6
2.2 Các nghiên cứu về phân bón, nước tưới, dịch hại đối với cà phê 15 2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 15
2.2.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam 20
Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 32
3.1 Đối tượng, vật liệu nghiên cứu 32
3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 32
3.3 Nội dung nghiên cứu 32
3.4 Phương pháp nghiên cứu 33
3.4.1 Phương pháp điều tra đánh giá thực trạng canh tác cà phê trên địa bàn tỉnh
33
Trang 53.4.2 Phương pháp đánh giá hiệu quả của biện pháp tưới nước bằng công nghệ
Israel đến sinh trưởng phát triển, năng suất cây cà phê chè 33
3.4.3 Đánh giá hiệu quả của phân bón lá chứa Bo thích hợp trong phòng chống hiện tượng chùn ngọn cà phê (do thiếu Bo) 35 3.4.4 Đánh giá hiệu quả của một số biện pháp canh tác trong phòng trừ mọt đục quả cà phê 36
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 38
Phần 4 Kết quả nghiên cứu 39
4.1 Thực trạng canh tác cà phê chè trên địa bàn tỉnh Sơn La 39
4.1.1 Diện tích, sản lượng, năng suất cà phê tại Sơn La 39
4.1.2 Kết quả điều tra, thu thập thông tin về kỹ thuật canh tác cà phê 42
4.1.3 Phân tích khó khăn, điểm mạnh, điểm yếu, đề xuất một số giải pháp phát triển cà phê bền vững trên địa bàn tỉnh 50
4.2 Hiệu quả của mô hình tưới nhỏ giọt israel 53
4.2.1 Ảnh hưởng của tưới nước đến thời gian nở hoa cây cà phê 53
4.2.2 Đánh giá sinh trưởng phát triển, năng suất, chất lượng cà phê 55
4.2.3 Đánh giá tác động đến môi trường của mô hình sử dụng công nghệ tưới nhỏ giọt Israel cho cây cà phê 61
4.3 Ảnh hưởng của phân bón chứa bo tới hiện tượng chùn ngọn 73
4.3.1 Triệu trứng chùn ngọn 73
4.3.2 Ảnh hưởng của các phân bón thử nghiệm tới một số yếu tố cấu thành năng suất 74
4.4 Ảnh hưởng của biện pháp canh tác trong phòng trừ mọt đục quả cà phê 75 4.4.1 Ảnh hưởng của các biện pháp tỉa cành tạo tán đến tỷ lệ quả cà phê mọt đục quả gây hại 75
4.4.2 Đánh giá hiệu quả của biện pháp thu dọn tàn dư đến mọt đục quả cà phê 77 Phần 5 Kết luận và kiến nghị 79
5.1 Kết luận 79
5.2 Kiến nghị 79
Tài liệu tham khảo 81
Phụ lục 85
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Sản lượng cà phê của các nước xuất khẩu cà phê trên thế giới 6
Bảng 2.2 Diện tích trồng cà phê của Việt Nam theo khu vực 7
Bảng 2.3 Lợi nhuận trồng cà phê chè trong điều kiện tưới nước tiết kiệm tại
Châu Phi 18
Bảng 2.4 Định lượng phân bón hàng năm cho cà phê chè (kg/ha) 23
Bảng 2.5 Độ ẩm đất và năng suất cà phê trung bình trong thí nghiệm tưới nước
Bảng 4.5 Tình hình làm cỏ cho vườn cà phê 46
Bảng 4.6 Tình hình tỉa cành, tạo tán cho cây cà phê tại tỉnh Sơn La 47
Bảng 4.7 Tình hình sâu bệnh hại và các biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại được
người dân áp dụng 48
Bảng 4.8 Diện tích cà phê bị thiệt hại do sương muối 49
Bảng 4.9 Tỷ lệ, thời điểm nở hoa tập trung tại các mô hình 54 Bảng 4.10 Một số chỉ tiêu sinh trưởng phát triển cây cà phê trong giai đoạn quả non
56 Bảng 4.11 Các yếu tố cấu thành năng suất trên cây cà phê trong giai đoạn quả
chín (năm 2017) 57 Bảng 4.12 Các yếu tố cấu thành năng suất trên cây cà phê trong giai đoạn quả
chín (năm 2016) 58
Bảng 4.13 Năng suất quả cà phê tại các địa điểm đánh giá (năm 2016) 59
Bảng 4.14 Các chỉ tiêu chất lượng cà phê tại các mô hình đánh giá 60 Bảng 4.15 Kết quả phân tích hàm lượng mùn và các chất đa lượng trong mẫu đất
tại 3 địa điểm nghiên cứu 61 Bảng 4.16 Hàm lượng các chất vi lượng trong mẫu đất tại 3 địa điểm nghiên cứu
63 Bảng 4.17 Độ ẩm đất trồng cây cà phê trong các mô hình đánh giá (năm 2017)
64
Trang 8vi
Trang 9Bảng 4.20 Tổng thu từ các mô hình đánh giá tại 3 địa điểm 68 Bảng 4.21 Chi phí nguyên vật liệu đầu vào cho việc thiết kế hệ thống tưới tại 3
địa điểm đánh giá 68
Bảng 4.22 Tổng chi phí trong năm cho các mô hình đánh giá 69 Bảng 4.23 Hiệu quả kinh tế sau 3 năm ứng dụng hệ thống tưới nhỏ giọt cho cây
cà phê 70
Bảng 4.24 Thời gian hoàn trả kinh phí lắp đặt hệ thống tưới nhỏ giọt 70
Bảng 4.25 Tỷ lệ chùn ngọn trong thời gian thử nghiệm phân bón 73 Bảng 4.26 Ảnh hưởng của việc sử dụng phân chứa Bo tới một số yếu tố cấu
thành năng suất của cây cà phê 74 Bảng 4.27 Tỷ lệ quả bị mọt đục quả Stephanoderes hampei Fer gây hại của biện
pháp tải cành, tạo tán (%) 76 Bảng 4.28 Tỷ lệ quả bị mọt đục quả Stephanoderes hampei Fer gây hại của biện
pháp làm cỏ, thu dọn tàn dư (%) 77
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Phát triển diện tích và sản lượng cà phê Việt Nam 7
Hình 4.1 Hiệu quả của biện pháp tỉa cành tạo tán đến quản lý mọt đục quả 76
Hình 4.2 Hiệu quả của biện pháp thu dọn tàn dư đến mọt đục quả cà phê
78
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂNTên tác giả: Phạm Thu Hà
Tên luận văn: Đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất cà phê chè tại Sơn La
Ngành: Khoa học cây trồng Mã số: 66.62.01.10
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp
Việt Nam Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá đúng thực trạng canh tác cà phê trên địa bàn tỉnh: Diện tích, năng suất, giống sử dụng, các biện pháp kỹ thuật canh tác áp dụng, năng suất và hiệu quả kinh tế của việc trồng cà phê; Đề xuất được một số giải pháp kỹ thuật góp phần tăng năng suất cà phê
- Đánh giá hiệu quả của biện pháp tưới nước bằng công nghệ Israel đối với sinh trưởng, năng suất cà phê.
- Đánh giá hiệu quả của kỹ thuật bón phân có hàm lượng Bo cao cho cà phê để hạn chế hiện tượng chùn ngọn.
- Đánh giá hiệu quả phòng trừ mọt đục quả cà phê bằng một số biện pháp
canh tác.
Phương pháp nghiên cứu
- Dùng phương pháp thu thập thông tin thứ cấp để đánh giá thực trạng canh tác cà phê trên địa bàn tỉnh
- Dùng phương pháp điều tra trực tiếp nông hộ theo bảng hỏi để điều tra phương pháp kỹ thuật của nông dân.
- Đánh giá các mô hình thí nghiệm áp dụng hệ thống tưới nhỏ giọt Israel bằng phương pháp điều tra ngẫu nhiên theo hệ thống 5 điểm Đánh giá hiệu quả sử dụng phân bón lá có chứa Bo trong phòng chống hiện tượng chùn ngọn và biện pháp canh tác phòng trừ mọt đục quả bằng phương pháp thí nghiệm đồng ruộng bố trí kiểu RCB.
- Xử lý số liệu theo chương trình IRRISTAT 5.0, Microsoft Excel 2003
để tính các tham số thống kê cơ bản và tính sai số thí nghiệm
Kết quả chính và kết luận
phê không được bà con chăm sóc đúng theo quy trình kỹ thuật yêu cầu như: Sử dụng phân bón chưa cân đối, lượng sử dụng còn thấp so với yêu cầu; Chưa quan tâm sử dụng phân vi lượng chứa Bo dẫn đến hiện tượng chùn ngọn tương đối phổ biến, có rất ít
Trang 12diện tích được tưới nước trong mùa khô hạn thiếu nước, hiện tượng mọt đục quả cũng thường xuyên xuất hiện Vì vậy trước mắt cần có giải pháp phát triển cà phê bền vững
như tưới nước theo công nghệ Israel , bổ sung Bo để hạn chế chùn ngọn, tỉa cành, tạo tán, dọn vườn giúp giảm mọt đục quả, cùng các biện pháp kỹ thuật bón phân cân đối phòng trừ sâu bệnh hợp lý, an toàn hơn.
- Qua phân tích các thử nghiệm cho thấy:
đất, tăng sinh trưởng, phát triển và năng suất cà phê mà còn tăng hiệu quả kinh tế
+ Phun phân bón lá có hàm lượng Bo cao với 2 lần phun trên tháng trong thời gian 3 – 6 tháng sẽ giúp cây phục hồi nhanh bảo vệ được chồi, búp và lá non cho cây.
+ Việc tỉa cành tạo tán và dọn vườn sau thu hoạch làm giảm tỷ lệ mọt đục quả.
Trang 13THESIS ABSTRACTMaster candidate: Pham Thu Ha
Thesis title: Assessing the situation and proposing some technical
solutions to increase productivity coffee in Son La
Major: Crop science Code: 66.62.01.10
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research objectives
- Evaluate the situation of coffee production in the province: Area, productivity, variety used, technical measures in cultivation have been applied, yield and economic
efficiency of growing coffee; propose some technical solutions
contributing to increasing productivity of coffee
- Evaluate the effectiveness of the measures watered by using Israel
i technology for the growth and yield of coffee.
- Evaluate the effectiveness of some fertilizer application methods for coffee in order to limit dwarf shoots.
- Assess the effectiveness of controlling Coffee Berry Borer (CBB)
by some cultivation methods.
Study methods
- Secondary data collection method is applied to evaluate the actual situation of coffee cultivation in the province
- Using the direct method household survey questionnaire to
investigate the technical methods of farmers.
- Monitoring of experimental models of Israel i drip irrigation using random sampling Follow-up experiments using foliar fertilizers containing Bo in preventing physiology symptoms on shoots and preventive measures against Coffee Berry Borer (CBB) by RCB field trials.
- Data analysis under the program IRRISTAT 5.0, Microsoft Excel
2003 to calculate the basic statistical parameters and experimental error Main findings and conclusion
- Analysis of coffee production in the area shows that: Many coffee gardens are not properly cared for coffee by the farmers in accordance with the technical requirements such as the use of unbalanced fertilizer, the use of insecticides and pesticides are not reasonable, not meet the water needs of plants Due to the farmer’s
Trang 14awareness is still limited, leading to the relatively common phenomenon as physiology symptoms on shoots, Coffee Berry Borer (CBB) also frequently appears Therefore in the current, there is a need to develop sustainable coffee solutions such
as watering with Israel i technology, to apply Bo in order to limit physiology symptoms on shoots, pruning, creating canopy, gardening to reduce the rate of fruit was attacked by fruit borer, and together with technical measures in using appropriate fertilizer and suitable pesticide in controlling pests and diseases.
- Through the analysis of the trials showed that:
+ The use of drip irrigation method of Israel technology only help increase soil moisture, increase growth, increase productivity but also increase economic efficiency.
+ Spraying foliar fertilizers with high Bo concentration 2 times per month for 3-6 months will help the plant to quickly recover, supporting young buds, shoots and young leaves are protected.
+ Pruning, canopy creating and gardening after harvesting
reduce the rate of Coffee Berry Borer (CBB).
Trang 15PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây cà phê cà cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của người dân tại Sơn La, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số Là cây trồng chủ lực của tỉnh Sơn La Vì vậy các biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, giá trị của sản phẩm cà phê thường xuyên được tập trung nghiên cứu.
Cà phê được trồng chủ yếu ở Sơn La là cà phê arabica (cà phê chè) Bắt đầu trồng từ trước năm 1945 với diện tích trồng cà phê còn hạn chế, rải rác trong các vườn nhỏ của hộ gia đình, sản phẩm chủ yếu tự cung tự cấp, chưa trở thành hàng hoá, sau khoảng 50 năm trồng, cây cà phê chè đã trở thành cây mũi nhọn trong phát triển kinh tế và được coi là cây trồng chủ lực của tỉnh Trong những năm gần đây diện tích và sản lượng cà phê chè của tỉnh Sơn La đã tăng lên nhanh chóng với giống chủ lực là catimor Hiện nay, cây cà phê chè trên địa bàn tỉnh được trồng tập trung tại huyện Mai Sơn, thành phố Sơn La, huyện Thuận Châu Năm 2016 diện tích trồng cà phê toàn tỉnh là 12.039 ha (theo thống
kê của Sở Nông nghiệp tỉnh Sơn La), sản lượng cà phê nhân đạt 10.334 tấn; năng suất trung bình cà phê nhân hàng năm đạt 15,08 tạ/ha.
Đánh giá được vai trò, tầm quan trọng của cây cà phê với việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã ban hành nhiều chính sách thu hút doanh nghiệp đầu tư nhằm phát triển cây cà phê, điển hình năm 2015, HĐND tỉnh ban hành Nghị Quyết số 112/2015/NQ-HĐND về chính sách hỗ trợ phát triển cà phê bền vững trên địa bàn tỉnh Sơn La giai đoạn 2015 – 2020, trong đó có nhiều chính sách hỗ trợ các giải pháp kỹ thuật như: tưới nước, tái canh, trồng cây che bóng… Mặc dù vậy, hiện nay việc trồng, chăm sóc, chế biến cà phê đang đối mặt với những khó khăn, thách thức, các tiến bộ khoa học kỹ thuật chưa được áp dụng một cách đồng bộ, vì thế sản xuất Cà phê của Sơn La chưa thật sự bền vững.
Hầu hết diện tích cà phê của của tỉnh Sơn La được trồng bằng hạt do người dân tự sản xuất, chất lượng giống không đảm bảo, dẫn đến nhiều vườn bị thoái hóa ảnh hưởng lớn đến năng suất và chất lượng cà phê Bón phân cho cà phê chưa tuân thủ đúng qui trình kỹ thuật Phần lớn diện tích Cà phê chỉ sử dụng
Trang 16phân hóa học với 3 nguyên tố đa lượng là N, P, K, không sử dụng các loại phân bón trung lượng và vi lượng, không bón bổ sung phân chuồng hay phân hữu cơ
vi sinh đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng cà phê Hầu hết diện tích
Cà phê của tỉnh Sơn la chưa được tưới nước Tình trạng thiếu nước tưới
đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất Cà phê Sơn La
Trong vài năm trở lại đây, trên các vườn cà phê chè tại Sơn La xuất hiện hiện tượng chùn ngọn với các triệu chứng đỉnh sinh trưởng, các búp lá
và lộc non của cây cà phê phát triển kém, các đốt ngắn, lá xoăn lại và bị nhăn dúm gây ảnh hưởng đên sự sinh trưởng và phát triển của cây cà phê, làm giảm năng suất một cách rõ rệt Năm 2015, Viện Bảo vệ thực vật đã xác định được 1 nguyên nhân gây ra hiện tượng chùn ngọn do thiếu dinh dưỡng vi lượng Bo Tuy nhiên việc áp dụng biện pháp kỹ thuật để giảm thiểu hiện tượng trên chưa được nhân rộng Ngoài ra mọt đục quả gây hại gia tăng trong vài năm trở lại đây và việc phòng trừ còn gặp nhiều lúng túng.
Từ tháng 8/2014, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Sơn La đã chỉ đạo xây dựng
mô hình thử nghiệm ứng dụng công nghệ tưới nhỏ giọt của ISAREL cho cây cà phê nhưng chưa có đánh giá về mặt khoa học hiệu quả của các mô hình tưới nhỏ giọt để làm cơ sở khuyến cáo, nhân rộng mô hình.
Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất cà phê chè tại Sơn La” để góp phần tăng năng suất cà phê bền vững tại tỉnh.
1.2 GIẢ THIẾT KHOA HỌC
Mô hình tưới nhỏ giọt Israel được thử nghiệm tại một số hộ trồng cà phê của tỉnh Sơn La, nhưng chưa có đánh giá nào về hiệu quả của mô hình.
Do vậy đề tài xác định rõ hiệu quả, tác động của việc áp dụng công nghệ tưới nhỏ giọt đối với cà phê từ đó khuyến cáo áp dụng cho một số cây trồng khác
Việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật như tưới nước, bón phân, tỉa cành tạo tán chưa hợp lý dẫn tới hiện tượng chùn ngọn (thiếu vi lượng Bo)
và mọt đục quả xuất hiện gia tăng do vậy đề tài đưa ra được một số khuyến cáo kỹ thuật hạn chế hiện tượng chùn ngọn và mọt đục quả cà phê.
1.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Đánh giá đúng thực trạng canh tác cà phê trên địa bàn tỉnh: Diện tích, năng suất, giống sử dụng, các biện pháp kỹ thuật canh tác áp dụng, năng suất và
Trang 17hiệu quả kinh tế của việc trồng cà phê; Đề xuất được một số giải pháp kỹ thuật góp phần tăng năng suất cà phê.
- Đánh giá hiệu quả của biện pháp tưới nước bằng công nghệ Israel đối với sinh trưởng, năng suất cà phê so với biện pháp không tưới.
cao cho cà phê để hạn chế hiện tượng chùn ngọn.
số biện pháp canh tác.
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Việc đánh giá thực trạng được tiến hành ở một số hộ nông dân 3 huyện trồng cà phê lớn nhất của tỉnh (Thành phố Sơn La, huyện Mai Sơn, Thuận Châu).
- Đề tài chỉ đánh giá so sánh hiệu quả của biện pháp tưới nhỏ giọt cho
cà phê và biện pháp không tưới trên vườn cà phê kinh doanh của một số hộ nông dân tại các địa điểm được đầu tư hệ thống tưới nhỏ giọt (xã Chiềng Cọ
- TP Sơn La; xã Chiềng Ban – Mai Sơn; xã Phỏng Lái – Thuận Châu).
- Đề tài tập trung đánh giá hiệu quả kinh tế của biện pháp tưới nhỏ giọt kết hợp bón phân hòa tan thông qua đánh giá một số yếu tố cấu thành năng suất trên cây cà phê; tập trung đánh giá hiệu quả của biện pháp sử dụng phân bón có hàm lượng Bo cao trong hạn chế hiện tượng chùn ngọn cà phê; biện pháp tỉa cành, tạo tán, vệ sinh đồng ruộng trong phòng trừ mọt đục quả cà phê.
Các thí nghiệm so sánh, đánh giá đều được thực hiện trên vườn cà phê kinh doanh 10 năm tuổi đồng đều về sinh trưởng và năng suất ổn định là khoảng 1,5 tấn/ha.
1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 1.5.1 Những đóng góp mới
ra những hạn chế trong kỹ thuật bón phân, tưới nước và tỉa cành tạo tán từ đó đề xuất các giải pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất.
sinh trưởng phát triển và năng suất của cà phê;
- Đánh giá được ảnh hưởng của phân bón vi lượng chứa Bo đối với hiện tượng chùn ngọn và biện pháp canh tác trong phòng trừ mọt đục quả cà phê.
Trang 181.5.2 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học có ý nghĩa về thực trạng áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong canh tác cà phê tại Sơn La Hiệu quả của một số biện pháp kỹ thuật áp dụng (Tưới nước, bón phân, kỹ thuật canh tác).
Làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy về cây cà phê ở Việt Nam.
1.5.3 Ý nghĩa thực tiễn
Đánh giá đúng được thực trạng trồng cà phê trên địa bàn tỉnh Sơn La, đặc biệt thực trạng về tưới nước, bón phân vi lượng chứa Bo, mức độ nhiễm mọt đục quả Từ đó đưa ra khuyến cáo về sử dụng phương pháp bón phân chứa nguyên tố
Bo, biện pháp tưới nước, biện pháp canh tác hợp lý phòng trừ mọt đục quả cho cà phê chè ở Sơn La nhằm tăng năng suất tăng thu nhập cho nông dân.
Trang 19PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CÀ PHÊ
2.1.1 Tình hình sản xuất cà phê trên thế giới
Cách đây hàng nghìn năm, cây cà phê đã được người dân du mục Ethiopi ngẫu nhiên tìm thấy ở làng Capfa, gần thủ đô Ethiopi Cà phê có rất nhiều loài khác nhau Trong đó phổ biến nhất về diện tích trồng cũng như vai trò quan trọng trên thị trường cà phê thế giới là 2 loài cà phê:
Cà phê chè: Coffea arabica
Cà phê vối: Coffea canephora Pieere
Trên thị trường cà phê chè được đánh giá cao hơn cà phê vối vì
có hương vị thơm ngon và chứa ít hàm lượng caffein hơn Các nước trồng cà phê chè có hương vị thơm ngon như: Kenya, Tazania, Ethiopia, Colombia thường trồng ở nơi có độ cao 800m trở lên.
Vì yêu cầu sinh thái khác nhau 2 loại cà phê này được trồng tập chung ở những khu vực khác nhau trên thế giới Cà phê Arabica được trồng chủ yếu ở Châu Mỹ, đặc biệt tại hai nước là Brazin và Colombia Theo Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), Brazil là cường quốc trồng cà phê lớn nhất thế giới (2.155.570 ha) Tiếp
đó là một số quốc gia như Colombia (750.224 ha), Mehico (741.410 ha), Côte d’Ivoire (450.000 ha), Ethyopia (395.003 ha), Indonesia (1.166.000 ha), Việt Nam (633.00 ha) Theo thống kê FAOSTAT (2013), năng suất cà phê trung bình trên thế giới đạt 8,21 tạ/ha, trong đó Châu Á có điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng phù hợp nên năng suất đạt cao nhất 10,16 tạ/ha Châu Mỹ năng suất đạt trung bình 8,79 tạ/ha Tại châu Phi do yếu tố khô hạn đã làm giới hạn năng suất cà phê, năng suất đạt thấp nhất trong các châu lục trồng cà phê (4,31 tạ/ha).
Theo số liệu của tổ chức cà phê quốc tế (ICO) hiện nay có khoảng 20 đến 30 nước sản xuất cà phê tập trung chủ yếu vào các khu vực là: Bắc và Trung Mỹ, Nam Mỹ, Châu Phi và Châu Á - Thái Bình Dương Sản lượng cà phê xuất khẩu giai đoạn 2013-2016 của một số nước có lượng cà phê xuất khẩu lớn thể hiện tại bảng 2.1.
Trang 20Bảng 2.1 Sản lượng cà phê của các nước xuất khẩu cà phê trên thế giới
Nguồn: http://www.ico.org/prices/po-production.pdf - cập nhật ngày 31/10/2017
2.1.2 Tình hình sản xuất cà phê tại Việt Nam
2.1.2.1 Tình hình sản xuất cà phê
Theo Quyết định số 1987/QĐ-BNN-TT của Bộ Nông nghiệp và PTNT ngày 21/8/2012 về Phê duyệt quy hoạch phát triển ngành cà phê Việt Nam đến năm
2020 và tầm nhìn đến năm 2030: đến năm 2020 quy hoạch Tổng diện tích trồng
cà phê cả nước đạt 500.000,0 ha, sản lượng cà phê nhân đạt 1.112.910,0 tấn Tuy nhiên, từ năm 2005 đến nay tổng diện tích và sản lượng cà phê liên tục gia tăng, đến năm 2015 tổng diện tích cà phê cả nước lên tới 670.000 ha sản lượng lên tới 1.700.000 tấn Trong đó diện tích cà phê lớn nhất là tỉnh Đăk lăk với diện tích là 209.760 ha; Lâm Đồng 155.365 ha; Đăk Nông 131.395 ha Số liệu diện tích sản lượng cà phê Việt Nam được thể hiện ở Hình 2.1 và Bảng 2.2.
Trang 21Hình 2.1 Phát triển diện tích và sản lượng cà phê Việt Nam
Nguồn: Tổng cục Thống kê, Bộ NN&PTNT,USDA (2015)
Bảng 2.2 Diện tích trồng cà phê của Việt Nam theo khu vực
Trang 22năm gần đây, cây cà phê trẻ có năng suất cà phê nhân lên đến 4-5 tấn/ha, so với năng suất trung bình 2,5-2,6 tấn/ha Cây già có năng suất
ít hơn 2 tấn/ha Trồng lại cây già là một ưu tiên lớn của Bộ NN & PTNT
và các cơ quan địa phương (Nguyễn Đăng Minh Chánh, 2005).
2.1.2.2 Tình hình phát triển cà phê chè ở Việt Nam
Cà phê chè du nhập vào Việt Nam thông qua người Pháp từ khoảng năm
1850 Tới đầu những năm 1900 thì loại cà phê này mới được trồng ở các tỉnh phía bắc Việt Nam như Lạng Sơn, Ninh Bình và Tuyên Quang Tiếp đó, địa bàn canh tác cà phê chè được mở rộng đến các tỉnh miền trung như Hà Tĩnh và Nghệ An Phải rất lâu sau đó, dân nhập cư người Pháp mới bắt đầu trồng cà phê tại khu vực Tây Nguyên Ngày nay Việt Nam là một trong những nước sản xuất
cà phê vối lớn nhất thế giới Loại cà phê này thường được dùng để chế biến cà phê hòa tan Cà phê vối được trồng nhiều nhất ở các tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên như Đắc Lăk, Gia Lai và Lâm Đồng Trong khi đó cà phê chè được trồng rải rác ở các tỉnh vùng núi phía bắc và các tỉnh miền trung như Lâm Đồng, Điện Biên, Kom Tum, Quảng Trị và Sơn La Tổng diện tích canh tác cà phê chè tại Việt Nam vào khoảng 42.000 Ha vào niên vụ 2013-2014.
Cà phê chè thường được trồng ở độ cao trên 500 mét so với mực nước biển, với nhiệt độ thích hợp trong khoảng 15 0 C – 24 0 C và lượng mưa hàng năm
từ 1.200 mm - 1.900 mm Cây cà phê chè không đòi hỏi nhiều ánh sáng mặt trời như cà phê vối, tuy nhiên, lại khá nhạy cảm với một số bệnh do nấm gây ra như bệnh gỉ sắt do nấm Hemileia vastatrix, bệnh khô cành khô quả và bệnh nấm hồng Corticium salmonicolor Do những đặc điểm này mà cà phê chè khó chăm sóc, dễ bị bệnh hơn, khiến việc canh tác bị giới hạn tại một số khu vực miền trung và miền núi phía bắc Việt Nam (Vũ Hồng Tráng, 2013).
Hai vùng có sản lượng cà phê chè tương đối lớn là Hướng Hóa (Quảng Trị) và Thuận Châu, Mai Sơn (Sơn La); Mường Ảng (Điện Biên) Từ sau năm 2000
đã xuất khẩu sang châu Âu và Nhật Bản (Hoàng Thu Trang, 2009).
2.1.2.3 Tình hình sản xuất cà phê chè tại Tây Bắc và tỉnh Sơn La
Tây Bắc có độ cao bình quân từ 500 - 1500 m so với mặt nước biển vĩ độ 21
- 22 0 33 độ vĩ Bắc, địa hình chia cắt mạnh bởi các dãy núi cao, có mùa khô hanh kéo dài từ tháng 10 năm trước cho tới tháng 4 năm sau, mùa nóng ẩm mưa nhiều kéo dài
từ tháng 5 cho đến tháng 9 nhiệt độ bình quân 20 0 C, cao nhất 30 0 C, thấp
Trang 23nhất 10 – 12 0 C, lượng mưa bình quân từ 1500 – 2000 mm tập trung vào các tháng 6,7,8, độ ẩm không khí đạt từ 80 – 85% Nhìn chung thời tiết khí hậu khá thích hợp cho nhiều loại cây trồng, đặc biệt là các loại cây công nghiệp trong đó cây cà phê chè đã được khẳng định qua nhiều năm, cho năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế cao tại các tiểu vùng khí hậu Tây Bắc như tỉnh Sơn La và Điện Biên (Vũ Hồng Tráng, 2013).
Sơn La là tỉnh có diện tích lớn thứ năm của cả nước, nằm ở khu vực Tây Bắc Việt Nam với 80% diện tích là đồi núi Sơn La có địa hình phức tạp, nghiêng dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam theo hướng chảy của dòng sông Đà và sông Mã, Độ dốc bình quân 25 o đến 30 o Các dãy núi phần lớn theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, độ cao bình quân 600m đến 700m so với mực nước biển, có độ dốc lớn, phân cắt mạnh, nhiều khe, vực Toàn tỉnh có 12 đơn vị hành chính (một thành phố và 11 huyện) với dân số năm 2015 đạt 1.169.650 người (mật độ dân số 83 người/km 2 ) Thu nhập bình quân trên đầu người của tỉnh đạt 1.000 đô la Mỹ vào năm 2015.
Khí hậu ở Sơn La được chia làm hai mùa rõ rệt Mùa đông lạnh khô với lượng mưa ít, chỉ chiếm khoảng 10% tổng lượng mưa hàng năm Trái lại mùa hè mưa nhiều vào khoảng tháng 5 đến tháng 9 Lượng mưa trong khoảng thời gian này chiếm đến 90% tổng lượng mưa hàng năm trên địa bàn tỉnh Do ảnh hưởng của đặc điểm địa lý nên thời tiết giữa các tiểu vùng trên địa bàn Sơn La khá đa dạng, nhưng kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa là điển hình nhất.
không khí bình quân 4 năm gần đây đã tăng so với bình quân nhiều
- Độ ẩm không khí: Trung bình nhiều năm 80,1%
+ Lượng bốc hơi bình quân hàng năm: 947mm.
+ Số giờ nắng bình quân trong năm: 2403,9 giờ.
Cà phê ở Sơn La chủ yếu là cà phê chè (Arabica), có chất lượng cao, việc
sản xuất kinh doanh cà phê tại Sơn La thời gian qua đã đạt được những bước tiến đáng kể.
Theo Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Nông Lâm nghiệp Tây Bắc (TBCAFRD) thuộc NOMAFSI, cà phê chè lần đầu được biết đến tại Sơn La vào
Trang 24những năm 1980 Hiện nay, cà phê chè chủ yếu được trồng ở độ cao 800m trên mặt nước biển, tập trung nhiều ở những khu vực có đất đai và khí hậu phù hợp cho với cây cà phê phát triển Qua quá trình phát triển cây cà phê là một trong nhưng cây trồng công nghiệp lâu năm được xác định là cây trồng có lợi thế, có giá trị kinh tế cao, phù hợp với điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội và được nhân dân chấp nhận và tiếp tục phát triển.
600 Năm 1995 diện tích trồng cà phê toàn tỉnh là 1.591 ha, năm 2000 tăng lên là 3.862 ha (tăng 2.371 ha), đến năm 2006 giảm xuống còn 2.586
ha (giảm 1.276 ha) Giai đoạn này giá cà phê có nhiều biến động, xuống thấp, cộng thêm đợt sương muối cuối tháng 12 năm 1999 làm cho trên 1.000 ha phải cưa đốn phục hồi, trồng lại do bị chết đã ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình sản xuất cà phê của tỉnh và cho người trồng cà phê Đến năm 2015, diện tích trồng cà phê toàn tỉnh năm là 11.793 ha, được trồng ở các huyện Mai Sơn, thành phố Sơn La, Thuận Châu.
năm 2000 đạt 377 tấn; năm 2005 đạt 3.023 tấn (tăng 2.646 tấn); năm
2009 đạt 4.456 tấn; năm 2015 đạt 13.049 tấn Cà phê trở thành một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của tỉnh.
Việc sản xuất cà phê là bước tiến đáng kể trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong nền kinh tế của tỉnh, chuyển từ tập quán quảng canh sang hình thức canh tác có ý thức, thâm canh áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động Phần lớn các hộ gia đình trồng cà phê đều có thu nhập khá và ổn định.
Do cà phê mang lại lợi nhuận khá ổn định nên hầu như những hộ nông dân sở hữu đất đai phù hợp tại Sơn La dần chuyển sang trồng cà phê Chính
vì thế diện tích cà phê của Sơn La năm 2015 đã vượt so với quy hoạch năm
2011 hơn 5000 ha (theo quy hoạch đến năm 2015, đạt 6000 ha).
2.1.2.4 Yêu cầu sinh thái, ảnh hưởng của điều kiện môi trường đến sinh lý ra hoa đậu quả
a Yêu cầu sinh thái
Cà phê là cây trồng nhiệt đới, có nguồn gốc xuất xứ từ Châu Phi và là loại cây có những yêu cầu về điều kiện sinh thái rất khắt khe Yếu tố khí hậu có ảnh hưởng rất mạnh mẽ và có tính chất quyết định đến năng suất, đặc biệt là chất
Trang 25lượng, hương vị cà phê Các yếu tố khí hậu ảnh hưởng chính đến sinh trưởng và phát triển cây cà phê như:
Nhiệt độ: Cà phê chè sinh trưởng bình thường trong khoảng nhiệt độ 5-30 0 C Thích hợp nhất là 15-24 0 C Trên 30 0 C và dưới 5 0 C cây ngừng sinh trưởng, chịu rét tốt nhưng không chịu được sương muối.
Lượng mưa: Cà phê chè cần lượng mưa 1.200 - 1.900 mm/năm Phân bố đều, nhưng phải có tối thiểu 02 tháng khô hạn sau khi thu hoạch để tích lũy hooc môn, phân hóa mầm hoa.
Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí thích hợp cho cà phê chè là trên 70%. Gió: Gió lạnh, gió nóng khô đều có hại cho cây cà phê chè nên việc trồng đai rừng chắn gió ở tất cả các vùng trồng cà phê là biện pháp bắt buộc.
Ánh sáng: Nguồn gốc nguyên thủy của cà phê chè là dưới tán rừng nên ưa ánh sáng tán xạ, ưa bóng mát, kém chịu nắng Vì vậy bắt buộc trồng cây che bóng cho cà phê.
Độ cao địa lý: Những nới có độ cao so với mực nước biển trên 800m ở Tây Nguyên và trên 500m ở miền núi phía bắc đều có những yếu tố khí khậu thích hợp cho cà phê chè.
Cây cà phê không có sự đòi hỏi khắt khe về nguồn gốc địa chất, nó có thể phát triển tốt trên nhiều loại đất khác nhau như: Đất nâu đỏ, nâu vàng trên bazan, đất đỏ vàng trên phiến sét hoặc đất xám trên Granite… Trong đó, với đất nâu đỏ trên bazan, cà phê thường sinh trưởng, phát triển tốt và cho năng suất cao.
Đối với cây cà phê, lý tính (các tính chất vật lý của đất) và độ dày tầng đất là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng, phát triển và năng suất.
Cà phê thích hợp trên đất có thành phần cơ giới trung bình đến hơi nặng (thịt nhẹ-sét), tơi xốp, thoát nước và giữ ẩm tốt, độ dày tầng đất trên 70cm Cà phê có thể trồng được trên các sườn đồi, triền núi, song nếu độ dốc quá lớn cũng không thích hợp với cây cà phê.
Về hoá tính (các tính chất hóa học của đất), cà phê có thể trồng được trên đất có độ pHKCl từ 4,5-5 Đất giàu mùn và giàu dinh dưỡng thì
cà phê sinh trưởng phát triển thuận lợi, tuy nhiên đất có dinh dưỡng trung bình nhưng biết áp dụng các biện pháp thâm canh phù hợp thì cà phê vẫn có khả năng cho năng suất cao (Bùi Văn Sỹ và cs, 2005).
b Ảnh hưởng của điều kiện môi trường đến sinh lý ra hoa đậu quả của cà phê
Sự ra hoa đậu quả của cà phê phản ứng rõ rệt với điều kiện bóng mát,
Trang 26nhiệt độ và sự khô hạn Theo J Boyer, cây cà phê Robusta có bóng mát dày tạo ra ít hoa, trong khi có điều kiện ánh sáng ban ngày, nhiệt độ dồi dào cây sẽ ra hoa nhiều đến nỗi cây có thể bị chết khô do “sai quả” hoặc hiện tượng ra quả cách năm rõ rệt (Nguyễn Đăng Minh Chánh, 2005).
Trồng cây che bóng trong vườn cây cà phê có tác dụng hạn chế khả năng phát dục của cây, tránh cho cây ra hoa quả quá nhiều dẫn đến kiệt sức, khô cành, khô quả Cây che bóng có tác dụng làm cho quả chín chậm lại, đủ thời gian để hạt tích luỹ chất dinh dưỡng, đặc biệt hợp chất thơm làm dinh dưỡng tăng lên.
Sự thay đổi giữa các mùa trong năm và đặc biệt tình trạng khô hạn thiếu hụt nước trong cây đóng vai trò quan trọng đối với quá trình phân hoá mầm hoa Sau thu hoạch cà phê cần một thời gian khô hạn nhất định để phân hoá mầm hoa Thời gian từ 2-3 tháng khô hạn càng dài và càng khốc liệt thì sự phân hoá mầm hoa càng tập trung Ngược lại mùa khô hạn ít thì quá trình phân hoá mầm hoa thường ít và không tập trung nên không có điều kiện để cho năng suất cao.
Bên cạnh yếu tố khô hạn, nhiệt độ thấp ở giai đoạn cây nghỉ ngơi sau thu hoạch cũng có tác động kích thích sự phân hóa mầm hoa Thực tế ở Miền Bắc nước ta tuy không có thời gian khô hạn khốc liệt như ở phía Nam và Tây Nguyên nhưng do nhiệt độ ở những tháng sau thu hoạch thường thấp nên cây cà phê cũng ra hoa tập trung…
Ngoài ra sự thay đổi tỷ lệ C/N trong cây bằng cách bón phân, tạo hình, tỉa cành, xén tỉa, cắt đứt bớt rể tơ…cũng ít nhiều ảnh hưởng tới
sự phân hoá mầm hoa của cây cà phê (Đoàn Triệu Nhạn và cs., 1999).
Sau thời gian khô hạn kéo dài đủ để phân hoá mầm hoa chỉ cần một lượng mưa nhỏ đã đủ kích thích hoa nở Lượng mưa hoặc tưới nước ảnh hưởng lớn đến
số lượng hoa nở Nếu không đủ nước hoa cương lên nhưng không nở được và biến thành hoa chanh, hoa giữ nguyên dạng búp, chuyển sang màu tím rồi khô chết Ngưỡng mưa tối thiểu để hoa nở rất thấp khoảng 3-10mm, nhưng để cho hoa nở bình thường cần lượng mưa cao hơn nhiều từ 25-30mm.
Ở Tây Nguyên điều kiện khí hậu với mùa khô khốc liệt kéo dài cho phép sự phân hoá mầm hoa rất tập trung Tưới nước hợp lý trong mùa khô giúp cho sự ra hoa, đậu quả thuận lợi, tạo điều kiện cho năng suất cao.
Đối với cà phê vối sau khi hoa nở sẽ xảy ra quá trình thụ phấn, thụ tinh để
Trang 27hình thành quả Nước đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển quả và hình thành hạt cà phê.
Theo kết quả nghiên cứu của Cannell (1985) tại Kenya và kết quả nghiên cứu sau này của một số tác giả trên cà phê chè và cà phê vối, có thể phân chia quá trình phát triển của quả cà phê thành 4 giai đoạn sau:
- Giai đoạn đầu đinh
Trong giai đoạn này kéo dài từ 1-2 tháng ở cà phê chè và 3-4 tháng ở cà phê vối sau khi hoa nở Kích thước bên ngoài của quả hầu như không tăng lên
và có hình đầu chiếc đinh ghim nên gọi là giai đoạn “giai đoạn đầu đinh” Tuy rất
ít tăng thể tích, quả gần như đang ngủ nghỉ, nhưng trong giai đoạn này nếu thiếu nước trầm trọng ở các đầu đinh có thể chuyển sang màu hồng rồi rụng quả non.
- Giai đoạn tăng nhanh về thể tích
Từ tháng thứ 3 đến tháng thứ 5 sau khi hoa nở lúc này quả tăng nhanh về mặt thể tích cũng như trọng lượng khô.
Cũng trong giai đoạn này 2 khoang chứa hạt phát triển tới mức tối đa và hoá
gỗ Kích thước của khoang phụ thuộc vào tình trạng nước trong cây Ở giai đoạn này nếu thiếu nước thì các khoang chứa hạt sẽ không thể phát triển tối đa làm cho hạt cà phê hình thành ở các giai đoạn sau có kích thước nhỏ Ở Đak Lak giai đoạn này thường vào khoảng tháng 5 và 6 lúc này đã mưa đều, nhưng những năm mùa khô hạn kéo dài, tháng 5 ít mưa hoặc chưa mưa thì hạt cà phê ở năm đó có thể bị bé
đi Trong giai đoạn này thường có hiện tượng rụng quả hàng loạt do quả cà phê lớn nhanh bị chèn ép, do cung cấp nước, dinh dưỡng không kịp thời.
- Giai đoạn tích luỹ chất khô và hình thành hạt
Từ tháng 6 đến tháng 8 kể từ lúc nở hoa, hạt bắt đầu được hình thành
và hai khoang chứa hạt đóng vai trò như những bồn chứa để tích luỹ chất khô trong hạt Đây là giai đoạn cây cần nhiều dinh dưỡng nhất và cũng cần nhiều nước để việc vận chuyển dinh dưỡng trong cây được thuận lợi.
Trong giai đoạn này nhiệt độ thấp và biên độ nhiệt ngày và đêm cao tạo điều kiện thuận lợi cho việc tích luỹ dinh dưỡng trong hạt, đặc biệt là các hợp chất thơm.
- Giai đoạn quả chín
Trang 28Từ tháng thứ 8 đến tháng thứ 10 sau khi nở hoa, hạt đã hoá cứng, phôi nhũ đã phát triển đầy đủ Diệp lục trong vỏ quả bị phân huỷ, quá trình tổng hợp Ethylen tăng lên và quả chín.
Như vậy trong suốt quá trình ra hoa, đậu quả và tăng trưởng quả của
cà phê, nước đóng vai trò rất quan trọng (Đoàn Triệu Nhạn và cs., 1999) Một hạn chế trong sản xuất cà phê tại tỉnh Sơn La và vùng Tây Bắc là do địa hình chia cắt, thời tiết khí hậu bất lợi: mùa đông lạnh kéo dài, hiện tượng sương muối xảy ra không đồng đều giữa các vùng, tiểu vùng, mưa đá, lũ quét điều đó gây ảnh hưởng xấu đến sản xuất Ngược lại, ở đây có một mùa khô hạn kết hợp với nền nhiệt độ mát mẻ là điều kiện thuận lợi cho cây cà phê chè ra hoa, đậu quả và cho năng suất cao, chất lượng tốt Tuy nhiên giai đoạn mùa khô kéo dài cũng làm hạn chế sinh trưởng của cây cà phê, vì vậy cần nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật cụ thể cho từng tiểu vùng để giúp cây cà phê chè sinh trưởng khoẻ mạnh, tạo tiền đề cho năng suất cao bền vững.
Đoàn Triệu Nhạn (1990), chỉ ra rằng cây cà phê chè không ưa cường độ ánh sáng quá mạnh, chỉ quang hợp tốt khi cường độ ánh sáng khoảng 2300 – 2700 lux.
Do vậy điều tiết chế độ ánh sáng bằng trồng cây che bóng là rất cần thiết Phan Quốc Sủng cũng cho rằng dưới ánh sáng trực xạ, cây cà phê bị kích thích ra hoa quá
độ dẫn tới hiện tượng khô cành, khô quả Còn ánh sáng tán xạ khả năng cây cà phê chè quang hợp tốt, tích luỹ chất hữu cơ có lợi cho cây cà phê.
Theo Phan Quốc Sủng (1987) độ ẩm không khí trên 70 % là thuận lợi cho sinh trưởng, phát triển của cây cà phê Đặc biệt, giai đoạn hoa nở cần
ẩm độ cao (thích hợp nhất là 94 – 97 %), do đó tưới phun mưa là tạo môi trường thích hợp cho hoa cà phê nở Khi ẩm độ không khí quá thấp nếu gặp điều kiện khô hạn và nhiệt độ cao thì quá trình thoát hơi nước tăng cao, cây thiếu nước làm thui chột mầm, nụ hoa và quả non bị rụng.
Nguyễn Võ Linh và cs (2006), đã xây dựng bản tiêu chí phân vùng quy hoạch cà phê chè, theo đó tổng diện tích đất thích hợp cho trồng cà phê chè ở Tây Bắc là 52.500 ha trong đó có 21.500 ha đất rất thích hợp Tác giả và các cộng sự cũng đã xây dựng các dự thảo quy trình chung cho cà phê chè để đạt năng suất từ 2 tấn nhân trở lên cho từng vùng sản xuất cà phê chè như: Buôn Ma Thuột, Nghệ An và Sơn La.
Trang 292.2 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ PHÂN BÓN, NƯỚC TƯỚI, DỊCH HẠI ĐỐI VỚI CÀ PHÊ
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
2.2.1.1 Nghiên cứu về phân bón
Dinh dưỡng đa, trung và vi lượng đóng vai trò vô cùng to lớn trong hoạt động sinh lý của cây cà phê Khi đáp ứng đầy đủ và cân đối các chất dinh dưỡng mà cây cà phê cần cho hoạt động sinh lý (trao đổi chất, quang hợp, hô hấp ) giúp cây sinh trưởng và phát triển bình thường (ra hoa, đậu quả và cho năng suất cao, đảm bảo sản xuất có lãi) Ngược lại trong trường hợp vì lý do nào đó, dinh dưỡng không đáp ứng được cho nhu cầu hoạt động sinh lý, sinh hoá của cây thì cây sẽ sinh trưởng, phát triển hạn chế và năng suất thu hoạch sẽ không cao.
Theo tác giả Michiel Kuit et al (2004), có 14 loại khoáng chất cần thiết và có liên quan đến sự phát triển của cây cà phê và được chia làm 3 nhóm chính là nhóm nguyên tố đa lượng (N, P, K); trung lượng (Ca, Mg, S) và các nguyên tố vi lượng (Bo,
Cl, Cu, Fe, Mn, Mo, Ni, Zn) Tất cả các nguyên tố này đều có vai trò quan trọng đối với cây cà phê ở các mức độ và yêu cầu khác nhau Sự thiếu hụt các nguyên tố khác nhau có tác động trực tiếp đến các bộ phận ở các giai đoạn khác nhau và có các biểu hiện triệu chứng điển hình khác nhau Các loại nguyên tố trung và vi lượng có thể bổ sung cho cây theo con đường bón vào gốc (thông qua dạng phân bón gốc) hoặc phun lên lá (thông qua các loại phân bón lá) Tùy từng điều kiện tự nhiên của từng vùng để lựa chọn các hình thức bổ sung thích hợp.
Theo tính toán của Iyenngar and Awatranami (1975), một ha cây cà phê chè nếu cho năng suất chất khô bình quân là 5kg/cây/năm thì nhu cầu dinh dưỡng cần 375 kg N, 37,5 kg P2O5 và 450 kg K2O/ha/năm Theo De Geus (1967) cho rằng một cây cà phê thành thục hàng năm lấy đi từ đất khoảng
100 g N; 13,6 g P2O5; 120 g K2O; 48,6 g CaO và 16,4 g MgO nhưng phần lớn lại trả lại cho đất do quá trình tạo hình, tỉa cành và rụng lá hàng năm).
Tại Brazil, khi nghiên cứu về phân bón cho cà phê chè trong giai đoạn kinh doanh, Malavolta (1991) cho rằng: Lượng phân đạm, lân và kali bón hàng năm cho 1
ha cà phê chè là: 200 - 300 kg N, 50 kg P2O5 và 200 - 300 kg K2O; lượng phân bón trên được chia làm 3 - 4 lần bón trong mùa mưa Tác giả cho rằng, nhu cầu các chất dinh dưỡng của cây cà phê tăng lên qua từng năm và tăng cao nhất vào năm thứ 3
và 4, đặc biệt là đạm và kali Như vậy, có thể thấy N và
Trang 30K2O là 2 nguyên tố được cây cà phê dùng nhiều nhất cho nhu cầu sinh trưởng và phát riển, đặc biệt là trong thời kỳ mang quả.
Tại Ấn Độ, nghiên cứu của Ramaiah P K (1985) về phân bón cho cà phê giai đoạn kinh doanh kết luận: Để đạt năng suất trên 1 tấn cà phê nhân/ha/năm, người ta bón cho cà phê lượng phân bón 160 kg N, 120 kg P2O5 và 160 kg K2O; Trường hợp năng suất cà phê dưới 1 tấn nhân/ha số lượng phân bón cần thiết là 40 kg N, 90 kg P2O5 và 120 kg K2O.
Theo tính toán của Iyengar và Awatramani (1975) về sử dụng phân bón cho cà phê cho thấy: Yêu cầu dinh dưỡng của cây cà phê chè cần 375 kg N + 37,5 kg P2O5 + 450 kg K2O/ha/năm trên cơ sở tốc độ tăng khối lượng chất khô hàng năm là 5kg/cây thì hàm lượng dinh dưỡng trung bình của cành, lá, quả khi phân tích tương ứng là: 2,5% N, 0,11% P2O5 và 2,49% K2O.
Nghiên cứu của De Geus (1967) kết luận: cây cà phê non (thời kỳ kiến thiết cơ bản), tỉ lệ bón phân N: P: K thích hợp nhất là 1: 2: 1 có nghĩa là cần chú
ý đến lân nhiều hơn đạm và kali Đối với cà phê sinh trưởng và phát triển bình thường trong giai đoạn kinh doanh hàng năm lấy đi từ đất ít nhất là
145 kg K20; Kali là nguyên tố cây cà phê cần nhiều nhất trong thời kỳ phát triển của quả, đặc biệt vào giai đoạn thành thục và quả chín.
Theo Jean Niconas Wintgens (2004) khi nghiên cứu hàm lượng các chất dinh dưỡng trung và vi lượng trong lá cà phê chè kết luận với nguyên tố bo, nếu hàm lượng trong lá nhỏ hơn 30 ppm là thiếu và lớn hơn 100 ppm là thừa, hàm lượng vừa đủ từ 40 đến 100 ppm Đối với các chất vi lượng, chúng ta cần đặc biệt chú ý đến liều lượng khi bổ sung cho cây cà phê tránh hiện tượng dư thừa vừa không đem lại hiệu quả kinh tế, đôi khi còn có tác dụng ngược lại.
Theo Yonara Poltronieri et al (2011), khi nghiên cứu ảnh hưởng của kẽm đến năng suất và chất lượng cà phê nhân trong 2 năm 2006 -
2007 và 2007 - 2008 đối với cà phê chè tại Brazil cho rằng: phun ZnSO4 nồng độ 0,4% cho cà phê chè đã làm tăng năng suất so với đối chứng 29% (năm thứ nhất 2006 - 2007), tăng 23% sau 2 năm và mối tương quan giữa kẽm và năng suất cà phê nhân là rất chặt (r = 0,98).
Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của hấp thu kẽm trong đất trồng cà phê chè tại Brazil các tác giả Andrade S.A.L, Silveira A.P.D and Mazzafera P (2010) cho rằng: nếu bón ZnSO4 vào đất trồng cà phê 4 mức (0, 100, 300 và 900 ppm)
Trang 31thì hàm lượng kẽm tổng số trong đất tương ứng là (2,3; 64,9; 183,3 và 381 ppm).
2.2.1.2 Nghiên cứu về nước tưới
Nước và phân bón là 2 yếu tố không thể thiếu và thay thế đối với sinh trưởng, phát triển của cây trồng nói riêng và sản xuất nông nghiệp nói chung Theo đánh giá của Tolla.T.D (2004) đối với cây lâu năm, cây công nghiệp như chè, cà phê, nước có thể tăng năng suất từ 25 - 50% và phân bón có thể tăng năng suất từ 10 - 15% Ở các nước trên thế giới việc bón phân qua nước tưới đã được áp dụng phổ biến với mục tiêu là tiết kiệm nước tưới và nâng cao hiệu quả
sử dụng phân bón vì phân bón và nước tưới được tập trung chủ yếu ở vùng rễ
do vậy cây có thể hấp thụ được ngay (Clark et al., 1991) Việc bón phân qua nước tưới thường áp dụng với phương pháp tưới nhỏ giọt (Charles Marr, 1993),
đã được phát triển rộng rãi ở Australia, Ấn Độ, Nhật Bản và các nước trong khối ASEAN như Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Singapore,
Tưới nước là biện pháp kỹ thuật có tác dụng quyết định đến quá trình ra hoa, đậu quả và năng suất cà phê Theo Wrigley (1986), tưới nước đã làm tăng hiệu quả sử dụng phân bón do năng suất cà phê tăng đáng kể Biện pháp tưới nước cho cà phê được áp dụng rộng rãi ở Đông và Trung Phi nơi có lượng mưa hàng năm khoảng 1.000 mm Theo Kumar (1982) đề nghị các vườn cà phê ở Kenya cần tưới bổ xung khi lượng nước thiếu hụt lên đến 150mm và lượng nước tưới là 100 mm cộng thêm từ 5-15mm do tổn thất vì sự bốc hơi trong quá trình tưới phun mưa; Zimbabwe, tưới phun mưa ở mức 50 - 65 mm/ lần, chu kỳ tưới 2-3 tuần, nhiều đồn điền cà phê ở Malawi khi được tưới năng suất có thể đạt 5 tấn/ ha với lượng nước tưới 300-400 m 3 /ha/lần tưới và chu kỳ tưới 10-14 ngày/lần Ở Malawi tưới nước đã làm năng suất cà phê tăng tới 250%.
Tổng kết của Ấn Độ cho thấy áp dụng kỹ thuật tưới phun mưa đã có tác dụng cải thiện được điều kiện dinh dưỡng trong cây, giúp quả chín tập trung, chiều dài cành tăng gấp đôi và năng suất tăng từ 85%-95% so với vườn không được tưới (Fisher and Browing, 1978) Nhiều nước trên thế giới khuyến cáo không sử dụng phương pháp tưới gốc vì cho rằng bộ rễ cây cà phê sẽ bị tổn thương nghiêm trọng khi đào bồn (Sivanappan, 1994).
Theo Naidu R (2000), kỹ thuật tưới nhỏ giọt lần đầu tiên được
sử dụng trong nhà kính ở Anh vào cuối thập niên 1940 và trên đồng ruộng ở Israel vào những năm 1950.
Trang 32Công nghệ tưới nhỏ giọt đã được các nước sản xuất cà phê hàng đầu thế giới áp dụng thành công như Brazil, Colombia với mục đích điều khiển
sự nở hoa đồng loạt, khắc phục hiện tượng xoắn chồi ngọn trong điều kiện khô hạn, thiếu nước và giúp tăng năng suất, chất lượng cà phê.
Diện tích cà phê được tưới tại Brazil chiếm 10% tổng diện tích trồng nhưng cung cấp 22% tổng lượng cà phê thu được tại Brazil (Saturnino, 2007) Tưới nước đã tăng năng suất cà phê ở những vùng mà các thời kỳ thiếu nước trùng với giai đoạn phân hoá mầm hoa (Silva et al, 2008.) Tại khu vực phía nam của bang Minas Gerais, tăng 119% về sản lượng đã đạt được trong những năm thu hoạch đầu tiên của các giống cà phê Rubi MG-1192 bằng cách cung cấp mức nước tưới tương ứng với 60% lượng nước bay hơi so với cây cà phê không được tưới tiêu (Gomes et al., 2007) Sử dụng công nghệ tưới nhỏ giọt cho cây cà phê vối (Coffee robusta) năng suất đạt 6,6 tấn/ha.
Tại Châu Phi, tưới nhỏ giọt giúp tăng gấp đôi sản lượng cà phê chè (Coffee arabica):
Bảng 2.3 Lợi nhuận trồng cà phê chè trong điều kiện tưới nước tiết
kiệm tại Châu Phi
Cà phê trồng trong điều kiện
Chỉ tiêu
Tưới nhỏ giọt kết hợp với dinh dưỡng mức tối đa
Năng suất (kg/ha)
Thu nhập hàng năm
(triệu đồng/ha)
Đầu tư (triệu đồng/ha)
Tăng lợi nhuận (%)
Nguồn: Guy Rayev and East Africa manager (2013) Với điều kiện khí hậu khắc nghiệt tại châu Phi, nắng nóng kéo dài, đất đai sa mạc hoá đã dẫn đến năng suất cây trồng đạt thấp Trong điều kiện canh tác nhờ nước trời năng suất cà phê chỉ đạt được 7,3 tạ/ha Khi tác động biện pháp tưới nhỏ giọt, năng suất cà phê tăng gấp đôi, đạt 1,6 tấn/ha Đặc biệt việc kết hợp
Trang 33phân bón thông qua nước tưới nhỏ giọt đã làm tăng năng suất gấp 5 lần và lợi nhuận tăng thêm 58% so với canh tác cà phê nhờ nước trời.
Kỹ thuật tưới nhỏ giọt có những thuận lợi sau:
Tiết kiệm nước: do nước được cung cấp trực tiếp đến phần rễ cây nên tránh được tổn thất nước, thông thường có thể tiết kiệm được 20-30% lượng nước so với tưới phun mưa hay tưới tràn Kết quả nghiên cứu của Snoeck (1998) tại Bờ Biển Ngà cho thấy kỹ thuật tưới nhỏ giọt có thể tiết kiệm được 30- 50% lượng nước tưới so với tưới phun mưa trong khi năng suất cà phê (tích luỹ
2 năm) không có sự khác biệt giữa hai phương pháp tưới (Vermeiren, 1984).
Nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón, chất dinh dưỡng được cung cấp dễ dàng và đều đặn đến vùng hoạt động của bộ rễ thông qua nước tưới (Nathan, 1997)
Kết quả nghiên cứu của Ram (1992) cho thấy kỹ thuật tưới nhỏ giọt làm năng suất cà phê vối tăng 58,9% so với đối chứng không tưới Một nghiên cứu khác của Ấn Độ đã xác định chế độ tưới nhỏ giọt thích hợp cho cà phê vối kinh doanh là 8lít/cây/ngày (Fisher and Browing, 1978) Sivanappan (1994) đã tổng hợp các kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật tưới nhỏ giọt đến sự phát triển của bộ rễ trên nhiều loại cây trồng ở Ấn Độ, Israel , Mỹ, Australia và Thái Lan và nhận thấy bộ rễ các loại cây trồng đều phát triển bình thường.
2.2.1.3 Nghiên cứu về sâu bệnh hại cà phê nói chung và mọt đục quả cà phê nói riêng
Cũng giống những loài cây trồng khác, cà phê bị rất nhiều loài dịch hại tấn công như: Côn trùng, ve, động vật thân mềm, tuyến trùng, chim,…và động vật có vú; đây là những loài dịch hại nguy hiểm, với khoảng trên 900 loài đã được ghi nhận chi tiết và đầy đủ, (R.J Clarke and R Macrae, 1987) Ước tính sự mất mùa trên cà phê do côn trùng ở các châu lục là khác nhau: Châu Phi 10%, Châu Á 15% và Châu Mỹ 12% (Kramer, 1967) Cũng theo Kramer thì giống cà phê Chè Arabica mẫm cảm với sâu bệnh hại nhiều hơn giống cà phê Vối Robusta.
Trong các loài sâu tấn công trên cà phê, gây hại nhiều là sâu non của bộ cánh cứng, chúng có thể đẻ trứng vào kẽ cây Một trong những loài gây hại nhất
chúng nằm xung quanh thân, sau đó đi vào rễ trụ và thân cây Loại dịch hại này làm suy giảm lớn đến sản phẩm cà phê và sản xuất cà phê không có hiệu quả kinh tế (Tapley R – G, 1996).
Trang 34Mọt đục quả cà phê (Stephanoderes hampei Ferr) lần đầu được ghi nhận
là một dịch hại trong năm 1908 ở Uganda Johann Angelo Ferrari (1867) đã phân loại mọt đục quả cà phê Stephanoderes hampei Ferr thuộc bộ Coleoptera, họ Curculionidae, chi Scolytinae Đây là một loại côn trùng gây hại phần lớn cà phê trên toàn thế giới, chúng gây hại trên quả cà phê cả giai đoạn quả non và trưởng thành Con cái trưởng thành khoan một lỗ vào nhân cà phê để đẻ trứng Khi nở,
ấu trùng ăn trong nhân hạt, do đó làm giảm năng suất và chất lượng của sản phẩm Thiệt hại gây ra bởi mọt đục quả cà phê chủ yếu là giảm sản lượng cà phê
do hiện tượng sinh lý của quả, giảm cân, và giảm chất lượng cà phê do đó giá cà phê giảm Người ta ước tính rằng trọng lượng của hạt cà phê giảm 55% khi bị tấn công bởi mọt đục quả cà phê (Montoya, 1999).
Theo Baker, P.S (1999) để phòng trừ sâu đục quả cà phê người nông dân
ở Colombia đã sử dụng biện pháp hóa học, canh tác Phần lớn họ sử dụng biện pháp phòng trừ mọt đục quả cà phê bằng thuốc hóa học, trong số đó một nửa
sử dụng Thasodant (thành phần độc tố là endosulfan) Để ngăn ngừa mọt đục quả cà phê người nông dân đã tiến hành nhặt những quả sâu một cách thường xuyên, song cũng không tiêu diệt hoàn toàn được sâu đục quả Qua khảo sát người ta cho rằng phối hợp nhặt quả thường xuyên và áp dụng phun thuốc trừ sâu từ 2-3 lần/năm, cho hiệu quả phòng trừ mọt đục quả cà phê tốt nhất.
2.2.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
2.2.2.1 Nghiên cứu về phân bón
Cà phê là một loại cây công nghiệp lâu năm nhưng rất nhạy cảm đối với phân bón Trong điều kiện các biện pháp kỹ thuật khác được thoả mãn nếu được bón chất hữu cơ, N, P, K đầy đủ và cân đối thì cà phê cho năng suất cao ổn định, bền vững Ngược lại, phân bón thiếu, lại bón không cân đối thì cây cà phê sẽ bị khô cành khô quả, vườn cà phê thoái hóa và không có hiậu quả kinh tế.
Nguyễn Văn Bộ và Đặng Đức Duy (1998) khi nghiên cứu các tổ hợp NPK cho cà phê chè Catimor kinh doanh năm 1 tại Sơn La cho biết: để đạt năng suất 1,69 tấn cà phê nhân/ha cần bón 200 kg N – 100 kg P 2 O 5 – 400 kg K 2 O.
Bùi Văn Sỹ (2006), Khi nghiên cứu về dinh dưỡng cho cà phê chè tại huyện Hướng Hoá tỉnh Quảng Trị chỉ ra rằng lượng phân bón
Trang 35Tôn Nữ Tuấn Nam và cs (1998), khi bón phân cho cà phê chè mật độ 6666 cây/ha trên đất Bazan Tây Nguyên, năng suất tích luỹ
Năng suất cà phê tương quan rất chặt chẽ với chất hữu cơ Trạm nghiên cứu đất Tây Nguyên thuộc Viện Thổ Nhưỡng Nông hoá đã tổng kết 50 thí nghiệm bón phân hữu cơ cho cà phê (bao gồm phân chuồng, phân xanh hoang dại, phân xanh họ đậu ) đều cho bội thu cao Trong đó 51 % trường hợp bón phân chuồng cho bội thu 150 – 300%, trường hợp bón phân xanh cho bội thu 150 – 200% so với đối chứng không bón hữu cơ.
Theo Vũ Hữu Yêm (1995), sau khi vùi, phân chuồng thường đã
bị mùn hóa một phần và có tác dụng như một sản phẩm hình thành trong quá trình lên men ổn định được cấu trúc đất.
Theo Lương Đức Loan (1997) sau khi vùi chất hữu cơ với khối lượng 30 tấn/ha bằng thân lá cây muồng hoa vàng, cốt khí, thân lạc vào đất thoái hoá sau 20 tháng tính chất vật lý đất đã được cải thiện đáng kể.
Các nguyên tố vi lượng có vai trò quan trọng để hoạt hóa các enzyme xúc tác cho quá trình trao đổi chất của cây trồng nói chung và cà phê nói riêng Các nguyên tố trung và vi lượng như: Lưu huỳnh, can xi, magiê, kẽm, bo…Tuy nhu cầu các nguyên tố này không cao như các nguyên tố đa lượng nhưng nếu thiếu cây trồng sẽ bị rối loạn trao đổi chất và nếu thiếu nghiêm trọng cây biểu hiện ra trạng thái bên ngoài và ảnh hưởng đến năng suất khá rõ Ví dụ như thiếu lưu huỳnh sẽ sinh ra bệnh bạc lá, cây mất màu xanh không thực hiện quang hợp năng suất giảm sút là điều không tránh khỏi Magiê là thành phần cấu tạo của diệp lục nên vai trò của magiê rất quan trọng trong quang hợp hình thành gluxit, magiê có tác dụng kích thích sự thu hút lân của cây cà phê, tham gia vào thành phần của enzym để hoạt hóa các chất có liên quan tới hô hấp và chuyển hóa năng lượng Thiếu magiê lá cà phê thường có vệt vàng hoặc bị sọc trắng, vệt xuất hiện ở giữa lá rồi lan dần ra viền lá tạo thành những vệt nối đuôi nhau như chuỗi hạt và thường xuất hiện trên lá già trước.
Bo là nguyên tố vi lượng rất quan trọng với cây trồng, ảnh hưởng đến hoạt động của một số enzym, nó có khả năng tạo phức với các hợp chất polyhydroxy khác nhau Bo có tác dụng tăng khả năng thấm ở màng tế bào, làm cho việc vận chuyển hydrat carbon dễ dàng, liên quan đến quá trình tổng hợp protein, liqnin,
Trang 36thiết yếu đối với sự phân chia tế bào và quá trình thụ phấn ở cây, nó ảnh hưởng tới sự hút và sử dụng canxi của cây Hàm lượng bo rất khác biệt giữa các loại cây, cây một lá mầm thường thấp hơn các cây hai lá mầm Trong cây, hàm lượng
bo trong lá thường cao hơn thân và giảm dần theo thời gian sinh trưởng Triệu chứng thiếu bo thường bắt đầu xuất hiện ở các bộ phận non của cây, ban đầu đỉnh sinh trưởng chùn lại, dần chết khô, các lá non thường bị biến dạng, gấp nếp và mỏng với màu xanh lợt đến mất màu, trên bề mặt lá thường có những đốm nhỏ màu vàng trắng Trong một số trường hợp đỉnh sinh trưởng bị chết làm cây mọc thêm nhiều chồi bên giống như cây bụi, xuất hiện nhiều vết rạn nứt trên thân và cuống quả Thiếu bo làm hoa kém phát triển, sức sống hạt phấn kém, tầng rời ở cuống và quả không phát triển đầy đủ nên quả non dễ bị rụng, sự phát triển của rễ bị ảnh hưởng, rễ cây nhỏ, mỏng, đầu rễ thường bị chết hoại Giai đoạn cây cà phê cần bo nhiều nhất là sau khi thu hoạch, giai đoạn hình thành và phát triển của quả Biểu hiện triệu chứng thiếu bo rất rõ ở các bộ phận non của cây như các búp non, chồi non và lá non…
Bo là nguyên tố dễ bị rửa trôi, chính vì thế ở các vùng đất có khí hậu ẩm ướt, nóng ẩm mưa nhiều hàm lượng bo thấp hơn so với vùng đất khô hạn và bán khô hạn.
Theo Tôn Nữ Tuấn Nam (1996), khi nghiên cứu triệu chứng biến dạng lá non của cà phê vối cho thấy: Sau 2 năm xử lý với các công thức bón borax 20 kg/ha, bón ZnSO4 20 kg/ha, bón ZnSO4 + borax 20 kg/ha, phun ZnSO4 0,4%, phun boric axít 0,3%, phun nutrazin 0,4% và công thức đối chứng không xử lý Kết quả cho thấy công thức phun ZnSO4 0,4% cho tỉ lệ cây có lá biến dạng thấp nhất 3,57%.
Nghiên cứu của Nguyễn Công Vinh và Lê Xuân Ánh (2007) về ảnh hưởng của bo đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng cà phê catimor trên đất nâu đỏ phát triển trên đá bazan vùng Phủ Quỳ - Nghệ An kết luận: Trên nền bón phân 200 kg N + 100 kg P2O5 + 200 kg K2O/ha/năm và bón thêm 5 kg bo/ha, năng suất tăng 16%, phun 5 kg bo/ha năng suất tăng 34% và bón 10 kg bo/ha năng suất tăng 29% so với đối chứng không bón hoặc phun Bo.
Theo Nguyễn Xuân Vị (2015), xác định được nguyên nhân gây ra hiện chùn ngọn cà phê trên địa bàn tỉnh Sơn La do thiếu nguyên tố vi lượng Bo Hiện tượng chùn ngọn phát sinh mạnh vào giai đoạn từ giữa mùa khô đến đầu mùa mưa (tháng 3 đến tháng 5) sau đó giảm dần Hại nặng trên cây cà phê ở
Trang 37thời kỳ kinh doanh Áp dụng qui trình bón phân hợp lý, tăng cường sử dụng phân có chứa Bo kết hợp phun phân bón lá Bo-HP (0,2) và Biorolex (0,2%) 2 lần/tháng, từ tháng 3 đến thánh 6 để phòng chống hiện tượng chùn ngọn.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2002), đưa ra quy trình bón phân cho cà phê trên đất hình thành trên bazan và đất hình thành trên đá vôi để đạt năng suất từ 2 – 2,5 tấn nhân/ha như bảng 2.4
Bảng 2.4 Định lượng phân bón hàng năm cho cà phê chè (kg/ha)
Ngoài lượng phân bón hóa học quy định trên, để đảm bảo cho vườn cây cà phê bền vững, năng suất cao ổn định thì 2 -3 năm có thể bón vôi 1 lần vào đầu vụ mưa, rải đều trong phạm vi tán cây với lượng
500 – 1.000 kg/ha Vào giai đoạn kinh doanh, hàng năm ta có thể bón thêm mỗi ha 10 – 15 kg ZnSO 4 ; 10 – 15 kg H 3 BO 3 trộn đều với phân đạm, kali, hoặc phun dung dịch các chất trên lá với nồng độ 0,5%.
2.2.2.2 Nghiên cứu về nước tưới
Dẫn theo Hoàng Bá Nghiêm (2007), tưới nước là một trong những biện pháp kỹ thuật quan trọng có tác dụng nâng cao năng suất cà phê rõ rệt, đặc biệt là đối với những vùng có khí hậu khô hạn Những vùng trồng
cà phê chính ở Nam và Trung Mỹ ít khi được tưới nhưng những vùng Đông Phi và một số vùng trồng cà phê ở Ấn Độ biện pháp tưới nước cho
cà phê đã trở nên rất phổ biến Khả năng giữ nước của đất tùy theo loại đất Đất có tầng mặt dày, tơi xốp, nhiều mùn, thành phần cơ giới có tỷ lệ đất thịt cao, có khả năng giữ nước và cung cấp nước cho cây tốt hơn các loại đất tầng mỏng và thành phần cơ giới chủ yếu là sét hay cát.
Trang 38Ngày nay, nông dân trồng cà phê vùng Tây Nguyên đã có những cải tiến kỹ thuật nhất định để có thể áp dụng kỹ thuật tưới phun mưa cho diện tích nhỏ của nông hộ mà chi phí đầu tư không quá cao Mỗi nông hộ với diện tích từ 1-2 ha chỉ cần trang bị 4 cây mưa Hệ thống ống ngầm chính được lắp đặt dưới mặt đất Các cây mưa được luân phiên gắn vào các vị trí khác nhau
để lần lượt tưới cho cả vườn Bơm tưới có công suất 18-20 mã lực.
Trong sản xuất cà phê ở Đaklak, nông dân đang áp dụng chế
Ở nhiều nước trồng cà phê trên thế giới và ở nước ta, tưới nước cho cà phê là một biện pháp kỹ thuật quan trọng nhằm tăng năng suất.
Yêu cầu sinh lý của cây cà phê cần một thời gian khô hạn từ 2-3 tháng để cây ngừng sinh trưởng và phân hóa mầm hoa Không có thời kỳ khô hạn tương đối dài, cây không phân hóa mầm hoa tập trung nên thường không cho năng suất cao Tuy vậy nếu thời kỳ khô hạn kéo dài quá lâu, đặc biệt trong thời kỳ ra hoa sẽ làm cây thiếu nước, hoa quả bị thui, cành khô héo mà chết Do vậy một chế độ tưới nước hợp lý vào thời
kỳ khô hạn sau khi thu hoạch là kỹ thuật giúp vào sự điều chỉnh ra hoa tập trung, tạo điều kiện thuận lợi cho đậu quả nhằm đạt năng suất cao.
Việc xác định chế độ tưới nước luôn là mối quan tâm của người làm công tác nghiên cứu và người sản xuất, Nhiều công trình nghiên cứu về tưới nước đã được thực hiện trên cây cà phê trồng trên đất bazan vùng Buôn Ma Thuột.
Một số các nghiên cứu cơ bản đã được Viện nghiên cứu cà phê phối hợp với đoàn ĐH2 Trường Đại học Thủy lợi trong các năm 1981-1983 để xác định các chỉ tiêu cơ bản liên quan đến chế độ tưới (Lê Ngọc Báu, 2001).
Từ kết quả nghiên cứu tác giả đã đề nghị các phân cấp vùng
ẩm đối với cà phê vối như sau:
Trang 39Khi nghiên cứu về các biện pháp tổng hợp để cung cấp nước và giữ ẩm cho
cà phê trong mùa khô, Lê Ngọc Báu (1995) đã có các kết luận sau Trong thời gian 2 năm đầu sau trồng mới, tủ gốc kết hợp với tưới gốc với 1 lượng 40 lít/ gốc/lần tưới chu kỳ 20 ngày có thể đảm bảo sinh trưởng vườn cây so với biện pháp tưới phun mưa Do vậy tiết kiệm được nước, nguyên vật liệu và máy móc.
- Trong những năm kinh doanh, nếu giữ được điều kiện tưới bổ sung thấp
như vậy kết hợp với tủ gốc, thì biện pháp này có hiệu lực rất kém so với tưới phun mưa 360 m 3 /ha/lần (tương ứng với 40 lít/ gốc ở phạm vi bề rộng bộ rễ).
- Tưới phun mưa với mức 300 m 3 /ha/lần chu kỳ tưới 15 ngày cho thấycó tình trạng thiếu nước vào cuối chu kỳ ở tầng đất 0-30 cm.
Một thí nghiệm về thời điểm tưới được thực hiện trên cà phê chè Catimor
ở Tây Nguyên nhằm mục đích khai thác khả năng kháng hạn của giống cà phê này để tiết kiệm nguồn nước tưới và đẩy lùi thời gian thu hoạch cà phê chè vào gần mùa khô để việc thu hái thuận lợi hơn Thí nghiệm gồm 3 công thức: Đối chứng (tưới bình thường khi chấm dứt mùa khô khoảng 2,5 tháng) Tưới muộn một chu kỳ 25 ngày và tưới muộn 2 chu kỳ là 50 ngày Áp dụng phương pháp tưới gốc với lượng nước tưới lần đầu là 800m 3 , các lần sau là 600m 3 Kết quả cho thấy, công thức tưới muộn 2 chu kỳ làm tăng tỷ lệ rụng quả so với tưới bình thường và làm năng suất cà phê giảm trầm trọng Năng suất ở công thức tưới muộn 2 chu kỳ giảm 35% so với chi phí do tiết kiệm nước tưới không đủ bù vào thiệt hại do giảm năng suất cà phê Công thức tưới muộn 1 chu kỳ so với đối chứng tỏ ra có hiệu quả, năng suất cà phê giảm không đáng kể so với đối chứng đồng thời còn làm thời vụ thu hoạch chuyển gần tới vụ khô, thuận tiện trong thu hái và cải thiện được chất lượng cà phê nhân.
Một thí nghiệm xác định liều lượng nước tưới cho cà phê vối kinh doanh được thực hiện từ năm 1997-1998 tại Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp Tây Nguyên Trong thí nghiệm này, các lượng nước 400, 600, 800 và
1000 lít/gốc được tưới cho cà phê vối kinh doanh trồng trên đất bazan bằng phương pháp tưới gốc, chu kỳ 25 ngày 1 lần Kết quả như sau:
- Ẩm độ tầng đất mặt có tương quan thuận với lượng nước tưới.
Trang 4025