1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiệu quả môi trường của mô hình chăn nuôi lợn sử dụng đệm lót sinh học tại xã liên sơn, huyện tân yên, tỉnh bắc giang

107 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 2,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôi xin chân thành cám ơn Ban chủ nhiệm đề tài “Nghiên cứu ứng dụng côngnghệ đệm lót sinh học trong chăn nuôi lợn nông hộ” - Mã số: ĐTĐL-2014/01 đã chophép tôi tham gia và sử dụng một ph

Trang 1

H C VI N NÔNG NGHI P VI T NAM Ọ Ệ Ệ Ệ

NGUYỄN THỊ NHUNG

Trang 2

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn

và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Nhung

Trang 4

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới PGS.TS Ngô Thế Ân đã động viên, hướng dẫn

và chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt thời gian làm luận văn tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cám ơn Ban chủ nhiệm đề tài “Nghiên cứu ứng dụng côngnghệ đệm lót sinh học trong chăn nuôi lợn nông hộ” - Mã số: ĐTĐL-2014/01 đã chophép tôi tham gia và sử dụng một phần số liệu để hoàn thành báo cáo của mình

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Bộ môn Sinh thái Nôngnghiệp, Khoa Môi trường, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã góp ý và chỉ bảo đểluận văn của tôi được hoàn thành

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Sở Khoa học và Công nghệ Bắc Giang,Chi cục Thú Y huyện Tân Yên, UBND xã Liên Sơn đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôihoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên, khích lệ tôi học tập, nghiêncứu và hoàn thành bản luận văn này

Nhân dịp hoàn thành luận văn, một lần nữa tôi xin được bày tỏ lòng biết ơnchân thành tới Nhà trường, các thầy cô giáo, các bạn bè đồng nghiệp cùng người thân

đã động viên, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu thựchiện đề tài và hoàn thành luận văn

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Nhung

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt v

Danh mục bảng vi

Danh mục biểu đồ vii

Danh mục hình vii

Trích yếu luận văn viii

Thesis abstract ix

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục đích nghiên cứu 2

1.3 Giả thuyết khoa học 3

1.4 Yêu cầu nghiên cứu 3

1.5 Những đóng góp mới, ý nghĩa thực tiễn 3

Phần 2 Tổng quan tài liệu 4

2.1 Hiện trạng phát triên chăn nuôi quy mô nông hộ tại Việt Nam 4

2.1.1 Hình thức chăn nuôi hộ gia đình 4

2.1.2 Hình thức chăn nuôi trang trại tập trung 5

2.2 Chất thải chăn nuôi và các vấn đề môi trường 6

2.2.1 Thành phần, tính chất của chất thải chăn nuôi 6

2.2.2 Ảnh hưởng của chăn nuôi đến chất lượng môi trường 9

2.3 Thực tạng xử lý chất thải trong hoạt động chăn nuôi 11

2.4 Tình hình nghiên cứu đệm lót sinh học trong chăn nuôi lợn 13

2.4.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 13

2.4.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 14

2.4.3 Kết quả ứng dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi 17

2.5 Một số thông tin về đệm lót lên men vi sinh vật ứng dụng trong chăn nuôi 18

Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 21

3.1 Địa điểm nghiên cứu 21

3.2 Thời gian nghiên cứu 21

3.3 Đối tượng nghiên cứu 21

Trang 6

3.4 Nội dung nghiên cứu 21

3.5 Phương pháp nghiên cứu 21

3.5.1 Phương pháp phỏng vấn nông hộ 21

3.5.2 Phương pháp lấy mẫu và phân tích trong phòng thí nghiệm 22

3.5.2 Phương pháp xử lý số liệu 24

Phần 4 Kết quả và thảo luận 25

4.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội của xã Liên Sơn, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang 25 4.1.1 Điều kiện tự nhiên 25

4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 28

4.2 Thực trạng áp dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi lợn tại xã Liên Sơn, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang 30 4.2.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại xã Liên Sơn, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang 30

4.2.2 Hiện trạng xử lý chất thải của các trang trại 33

4.2.3 Thực trạng áp dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện 36 4.3 Hiệu quả môi trường của phương thức chăn nuôi lợn sử dụng đệm lót sinh học 37 4.3.1 Sự biến đổi của chất thải khi sử dụng đệm lót sinh học 37

4.3.2 Sự biến đổi nhiệt độ trong đệm lót sinh học 38

4.3.3 Chất lượng môi trường không khí trong chuồng nuôi 40

4.3.4 Chất lượng nước ngầm khu vực chăn nuôi lợn 47

4.3.5 Chất lượng môi trường đất khu vực chuồng nuôi 50

4.4 Giải pháp phát triển, mở rộng mô hình chăn nuôi lợn bằng đệm lót sinh học 54 4.4.1 Thuận lợi và khó khăn trong ứng dụng mô hình đệm lót sinh học 54

4.4.2 Giải pháp phát triển ứng dụng mô hình đệm lót sinh học 56

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 58

5.1 Kết luận 58

5.2 Kiến nghị 59

Tài liệu tham khảo 60

Phụ lục 63

Trang 7

Kế hoạchKhoa học và Công nghệMôi trường

Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thônQuy chuẩn Việt Nam

Tiêu chuẩn Việt NamTiểu thủ công nghiệp

Ủy ban nhân dân

Vi sinh vật

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Số lượng đầu gia súc, gia cầm được nuôi năm 2013 - 2014 ở nước ta

Bảng 2.2 Lượng chất thải rắn hàng năm từ vật nuôi

Bảng 2.3 Lượng phân lợn thải ra thay đổi theo lứa tuổi

Bảng 2.4 Lượng nước tiểu của một số loại gia súc

Bảng 2.5 Một số chỉ tiêu của nước thải chăn nuôi lợn

Bảng 2.6 Thực trạng quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi

Bảng 3.1 Các chỉ tiêu môi trường không khí và phương pháp phân tích

Bảng 3.2 Các chỉ tiêu chất lượng MT nước ngầm và phương pháp phân tích

Bảng 3.3 Các chỉ tiêu chất lượng đất và phương pháp phân tích

Bảng 4.1 Giá trị sản xuất các ngành kinh tế của xã Liên Sơn giai đoạn 2005 – 9/2015

Bảng 4.2 Số lượng đàn lợn trên địa bạn huyện Tân Yên

Bảng 4.3 Tình hình xử lý chất thải tại các gia trại lợn trên địa bàn

Bảng 4.4 Số hộ gia đình chăn nuôi có sử dụng đệm lót sinh học

Bảng 4.5 Sự biến đổi nhiệt độ ở đệm lót sinh học qua các tháng nuôi

Bảng 4.6 Kết quả phân tích một số khí độc khu vực chuồng nuôi

Bảng 4.7 Nồng độ một số thành phần hóa học và VSV của nước ngầm trong 3 chuồng nuôi

Bảng 4.8 Nồng độ trung bình một số chỉ tiêu trong mẫu đất

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 4.1 Đánh giá của các chủ hộ chăn nuôi về các biện pháp xử lý chất

thải rắn 34Biểu đồ 4.2 Nồng độ H2S trong khí chuồng nuôi của 3 chuồng theo dõi trước

hướng gió 42Biểu đồ 4.3 Nồng độ H2S trong khí chuồng nuôi của 3 chuồng theo dõi sau hướng gió

43Biểu đồ 4.4 Nồng độ NH3 trong khí chuồng nuôi của 3 chuồng theo dõi trước

hướng gió 43Biểu đồ 4.5 Nồng độ NH3 trong khí chuồng nuôi của 3 chuồng theo dõi sau

hướng gió 44Biểu đồ 4.6 Nồng độ CO2 trong khí chuồng nuôi của 3 chuồng theo dõi trước

hướng gió 45Biểu đồ 4.7 Nồng độ CO2 trong khí chuồng nuôi của 3 chuồng theo dõi sau

hướng gió 45Biểu đồ 4.8 Biểu Nồng độ Amoni trong các giếng xung quanh của chuồng nuôi 1

trước và sau khi áp dụng đệm lót sinh học 49

DANH MỤC HÌNH

Hình 4.1 Sơ đồ địa bàn nghiên cứu xã Liên Sơn, huyện Tân Yên 25Hình 4.2 Chuồng trại chăn nuôi theo mô hình đệm lót sinh học 33

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Nguyễn Thị Nhung

Tên Luận văn: Đánh giá hiệu quả môi trường của mô hình chăn nuôi lợn sử

dụng đệm lót sinh học tại xã Liên Sơn, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang

Ngành: Khoa học Môi trường Mã số: 60.44.03.01

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt

Nam Mục đích nghiên cứu:

Đề tài được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả môi trường của việc ứng dụng

mô hình đệm lót sinh học vào chăn nuôi lợn tại xã Liên Sơn Từ đó đề tài đưa ranhững giải pháp nhằm nhân rộng và phát triển chăn nuôi lợn bằng mô hình đệm lótsinh học trên toàn tỉnh

Phương pháp nghiên cứu:

Các phương pháp nghiên cứu áp dụng trong đề tài được dựa trên sự phân tích các mẫu đất, nước và không khí được lấy từ các lô thí nghiệm Đồng thời tiến hành phóng vấn các hộ chăn nuôi trong đó phỏng vấn 4 hộ áp dụng và 10 hộ không áp dụng.

Kết quả chính và kết luận:

Kết quả nghiên cứu cho thấy điều kiện tự nhiên và đặc điểm kinh tế của xã làphù hợp cho phát triển chăn nuôi lợn Chăn nuôi lợn gây ảnh hưởng tới môi trường;chất thải chăn nuôi gây ô nhiễm môi trường Khi sử dụng mô hình chăn nuôi lợn trênnền đệm lót sinh học thì hạn chế được ảnh hưởng của chất thải chăn nuôi tới chấtlượng môi trường Đồng thời, nuôi lợn trên đệm lót sinh học giúp lợn tăng trưởngnhanh, hạn chế được lao động và lượng nước sử dụng để vệ sinh chuồng trại Tuynhiên, việc áp dụng đệm lót sinh học vào trong chăn nuôi lợn chưa được mở mở rộng,

do đệm lót sinh học sinh khí làm cho nhiệt độ chuồng tăng, nên không thích hợp vớimùa hè, chỉ phù hợp với mùa lạnh Từ những thuận lợi và khó khăn khi áp dụng đệmlót sinh học trong chăn nuôi lợn đề tài đưa ra những giải pháp nhằm nhân rộng và pháttriển chăn nuôi lợn bằng mô hình đệm lót sinh học trên toàn tỉnh

Trang 11

THESIS ABSTRACT

Master candidate: Nguyen Thi Nhung

Thesis title: Assessing environmental effects of pig raising on the fermentated

bed at Lien Son commune, Tan Yen district, Bac Giang province

Major: Environmental Sciences Code: 60.44.03.01

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)

Research Objectives:

The thesis was carried out to evaluate the environmental effectiveness of thefermented bed technology for raising hogs at Lien Son commune, Tan Yen district,Bac Giang province Based on assessment results, the thesis proposes somerecommendations to develop and expand this model over the province

Materials and Methods:

The methods applied in this research were based on the environmental analysis

of soil, water and air samples taken from the experiment plots Also householdinterviews were also applied for 4 households with and 10 households withoutfermented bed

Main findings and conclusions:

The study results show that the natural and economic conditions in the commune

is suitable for pig raising Pig husbandry has strong impacts on the environment throught the over discharge of waste When the fermentated bed was applied in pig husbandry, the environment effects are significantly improved This living bed technology offers many benefit but the most notable one is to decrease odor and effectively controls urine and manure In addition, this model helps the pigs grow faster whereas lessens labours and amount of water required to clean the pigsty However, the model application has not been expanded, due to its limitations such as the increase of temperature in the bed, so it is suitable to apply only in the cold sesons, but not in the summer Based on the analysis of advantages and disadvantages, the thesis proposes some recommendations to develop and expand this model over the province.

Trang 12

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn là một trong những mục tiêuđược Đảng và Nhà nước hết sức chú trọng, đặc biệt là phát triển kinh tế hộ giađình thông qua các hoạt động phát triển nông nghiệp, trong đó chăn nuôi là một bộphận quan trọng Những năm qua, chăn nuôi có sự tăng trưởng nhanh cả về quy

mô và giá trị, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất 5-6%/năm cho cả giai đoạn

2001-2013 Tuy vậy, tại một số địa phương do chăn nuôi thiếu quy hoạch đã gây ra tìnhtrạng ô nhiễm môi trường trầm trọng Nếu không được xử lý triệt để, chất thảichăn nuôi là một trong những nguồn gây ô nhiễm nguồn nước, không khí và đất,ảnh hưởng xấu đến môi trường sống và sức khoẻ của cộng đồng dân cư

Ở nước ta hiện nay phương thức chăn nuôi nông hộ vẫn chiếm tỷ lệ lớn,việc xử lý và quản lý chất thải vật nuôi còn gặp nhiều khó khăn Những năm qua,chất thải vật nuôi trong nông hộ được xử lý bằng các biện pháp chủ yếu sau đây:thứ nhất, ủ làm phân chuồng theo phương pháp truyền thống; thứ 2, chất thải chănnuôi được xử lý bằng công nghệ khí sinh học (biogas); thứ 3, xử lý bằng các chếphẩm sinh học và một số phương pháp khác như ao sinh học, thực vật thủy sinh…Còn lại chất thải chăn nuôi được xả trực tiếp ra kênh, mương, ao, hồ gây ô nhiễmnghiêm trọng nguồn nước, đất và không khí, ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe vàđời sống của người dân xung quanh

Hiện nay trên thế giới đã áp dụng nhiều phương thức chăn nuôi như chănnuôi hữu cơ, chăn nuôi an toàn sinh học… và mới đây là công nghệ chăn nuôi sinhthái không chất thải Công nghệ chăn nuôi này dựa trên nền tảng công nghệ lênmen vi sinh độn lót nền chuồng Với công nghệ này toàn bộ phân và nước tiểunhanh chóng được vi sinh vật phân giải và chuyển thành nguồn thức ăn proteinsinh học cho chính gia súc Hơn nữa, chăn nuôi theo công nghệ này không phảidùng nước rửa chuồng và tắm cho gia súc nên không có nước thải từ chuồng nuôigây ô nhiễm nguồn nước và môi trường xung quanh Trong chuồng nuôi không cómùi hôi thối vì vi sinh vật hữu ích trong chế phẩm đã có sự cạnh tranh và tiêu diệtcác vi sinh vật thối rữa gây lên men sinh mùi khó chịu Vì không sử dụng nước rửachuồng và tắm cho gia súc nên trong chuồng không có chỗ cho muỗi sinh sôi và vì

vi sinh vật nhanh chóng phân giải phân nên cũng

Trang 13

không có chỗ cho ruồi đẻ trứng Nhờ hệ vi sinh vật hữu ích tạo được “bức tườnglửa” ngăn chặn các vi sinh vật gây bệnh nên chăn nuôi theo công nghệ này hạn chếđược tới mức thấp nhất sự lây lan bệnh tật giữa gia súc với nhau cũng như giữa giasúc với người.

Về mặt kinh tế, đây là một công nghệ đưa lại hiệu quả cao nhờ tiết kiệmđược 80% nước dùng (chỉ dùng nước cho uống và phun giữ ẩm), tiết kiệm được60% sức lao động chăn nuôi (không phải tắm cho gia súc, không phải rửa chuồng

và dọn phân), tiết kiệm được khoảng 10% thức ăn (nhờ lợn ăn được nguồn vi sinhvật sinh ra trong độn lót không những cung cấp nguồn protein chất lượng cao vềdinh dưỡng và còn là một nguồn probiotics có tác dụng kích thích tiêu hóa và kíchthích vi sinh vật có lợi trong đường ruột phát triển), giảm thiểu được chi phí thuốcthú y (do lợn ít khi bị bệnh và chết) Theo tính toán ở Trung Quốc thì mỗi con lợnthịt chăn nuôi theo công nghệ này tiết kiệm được khoảng 150 tệ (khoảng 450.000VNĐ) Đó là chưa tính đến khả năng bán được các sản phẩm chăn nuôi sinh tháivới giá cao hơn bình thường

Vấn đề ô nhiễm môi trường do chăn nuôi đang được cả thế giới và trongnước ngày càng quan tâm Do vậy việc áp dụng công nghệ chăn nuôi sinh thái này

là hết sức có ý nghĩa Trước khi áp dụng, việc kiểm chứng những lợi ích về mặtnăng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế của phương pháp chăn nuôi này trong điềukiện Việt Nam là cần thiết

Chính vì những lý do trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiệu quả môi trường của mô hình chăn nuôi lợn sử dụng đệm lót sinh học tại xã Liên Sơn, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang”

Trang 14

1.3 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Chăn nuôi sinh thái – chăn nuôi trên nền đệm lót sinh học là một trongnhững giải pháp kỹ thuật góp phần giảm bớt ô nhiễm môi trường chăn nuôi Khinghiên cứu về vai trò của đệm lót sinh học trong việc giảm ô nhiễm môi trườngchăn nuôi nhằm đánh giá hiệu quả của mô hình đồng thời làm cơ sở cho việc xâydựng các giải pháp quả lý phù hợp chất thải chăn nuôi

1.4 YÊU CẦU NGHIÊN CỨU

 Tìm hiểu được đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Tân Yên;

 Xác định được ảnh hưởng của phương thức chăn nuôi lợn trên nền đệm lót sinh học tới môi trường;

 Đánh giá được thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức trong việc mở rộng

mô hình chăn nuôi lợn bằng đệm lót sinh học trên địa bàn các huyện của tỉnh có điềukiện tương đồng

1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA THỰC TIỄN

Đề tài nghiêu cứu nhằm đánh giá hiện trạng chăn nuôi lợn của xã LiênSơn, huyện Tân Yên, hiện trạng xử lý phế thải chăn nuôi lợn và hiện trạng áp dụngđệm lót sinh học tại một số hộ chăn nuôi lợn trên địa bàn xã

Trên cơ sở phân tích đánh giá tác động của việc sử dụng đệm lót sinh họcđối với môi trường nước, đất và không khí, cùng với tồn tại của việc sử dụng đệmlót sinh học trên địa bàn xã Từ đó, đề tài đưa ra một số giải pháp nhằm mở rộng,phát triển nhân rộng mô hình chăn nuôi lợn trên nền đệm lót sinh học trên địa bàntoàn tỉnh và vùng lân cận có điều kiện tương đồng

Kết quả nghiên cứu của đề tài ghóp phần quản lý và xử lý có hiệu quảchất thải chăn nuôi – nguồn ô nhiễm môi trường chủ yếu của các địa phương chănnuôi lợn với quy mô lớn

Trang 15

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI QUY MÔ NÔNG HỘ TẠI VIỆT NAM

Ở nước ta, chăn nuôi được tổ chức sản xuất theo 2 hình thức chính là chănnuôi hộ gia đình và chăn nuôi trang trại tập trung Trong những năm gần đây, cùngvới xu thế phát triển ngành chăn nuôi trên thế giới, nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụsản phẩm chăn nuôi trong nước và xuất khẩu, hình thức chăn nuôi trang trại, giatrại đang thay thế dần mô hình chăn nuôi tận dụng nhỏ lẻ ở gia đình Đây là mộttrong những định hướng quan trọng của chiến lược phát triển chăn nuôi Việt Namđến năm 2020

2.1.1 Hình thức chăn nuôi hộ gia đình

Hiện nay, ở nông thôn Việt Nam có khoảng 8,5 triệu hộ chăn nuôi (Tổngcục Thống kê, 2012) Các hộ dân ở nông thôn thường nuôi từ 2-5 con trâu, bò; 3-

10 con lợn và 20-30 con gia cầm/hộ (Phùng Đức Tiến và cs., 2009) Theo kết quảđiều tra, tính đến thời điểm 01/7/2011, cả nước có trên 4,13 triệu hộ chăn nuôi lợn,7,9 triệu hộ chăn nuôi gà (chiếm tương ứng khoảng 88,8% và 48,6% số hộ nôngnghiệp) Trong đó, số hộ chăn nuôi quy mô dưới 10 con lợn và dưới 20 con gà lầnlượt khoảng 3,57 triệu hộ (86,4%) và 4,3 triệu hộ (54,7%) Như vậy, chăn nuôi củacác hộ gia đình ở nước ta phổ biến vẫn là nhỏ lẻ

Ngành Chăn nuôi hiện đóng góp 27% vào tổng thu nhập của ngành Nôngnghiệp (Cục Chăn nuôi, 2014), trong đó chăn nuôi nông hộ đóng góp tới 70% sảnlượng lượng thực ngành chăn nuôi cho gần 90 triệu người dân Số đầu vật nuôi củanước ta những năm gần đây được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 2.1 Số lượng đầu gia súc, gia cầm được nuôi năm 2013 - 2014

ở nước ta

Tổng số trâu Tổng số bò Tổng số lợn Tổng số gia cầm

SL trứng

Nguồn: Cục Chăn nuôi (2014)

Trang 16

Theo báo cáo của Sở NN & PTNT các tỉnh, ở nước ta hiện nay chăn nuôinông hộ vẫn chiếm chủ yếu về số đầu gia súc cũng như lượng thịt hơi cung cấpcho thị trường Hiện số lượng lợn được chăn nuôi theo phương thức nông hộ nhỏ

lẻ chiếm tới 65% tổng đàn lợn, cung cấp hơn 1/2 sản lượng thịt lợn cho cả nước, sốlượng hộ chăn nuôi dưới 20 con vẫn còn chiếm khoảng 60% Đàn trâu bò thì gầnnhư 100% được nuôi tại nông hộ (Đình Tú và Thạch Bình, 2012)

Với đặc điểm quy mô nhỏ lẻ, phân tán, người chăn nuôi thiếu kiến thứcchăn nuôi tiên tiến, nguy cơ dịch bệnh cao, dịch vụ thú y kém, giá thức ăn cao vàkhông ổn định, phụ thuộc vào các nhà cung cấp, thiếu các tổ chức hoạt động tậpthể, thiếu vốn cộng thêm sự biến động của giá cả đầu ra đã làm cho các hộ chănnuôi vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức và rủi ro rất cao

Một vài năm trở lại đây, do diễn biến tình hình dịch bệnh phức tạp, giá đầuvào cao, đầu ra không ổn định, thiếu vốn nên nhiều người chăn nuôi nhỏ bỏchuồng làm cho tỷ lệ chăn nuôi nhỏ lẻ giảm từ mức 70 - 75% xuống còn 50 - 55%.Nhưng tính trung bình, tỷ lệ các hộ chăn nuôi theo phương thức nông hộ vẫn dẫnđầu cả về số lượng đầu gia súc và tổng sản lượng thịt (Trần Bá Nhân, 2013) Tuyhình thức chăn nuôi hộ mang lại hiệu quả kinh tế cho gia đình nhưng còn rất nhiềuhạn chế như trình độ chăn nuôi lạc hậu, phát triển không tập trung, năng suất chănnuôi thấp hơn chăn nuôi trang trại, ảnh hưởng xấu đến môi trường, công tác phòngtránh dịch bệnh khó kiểm soát và gây thiệt hại lớn nhất là khi tình hình dịch bệnhngày càng phức tạp như hiện nay

2.1.2 Hình thức chăn nuôi trang trại tập trung

Hình thức chăn nuôi hộ gia đình với quy mô nhỏ lẻ, phân tán bộc lộ nhiềuhạn chế, không phù hợp với tình hình hiện nay khi mà các điều kiện về nhu cầuchất lượng sản phẩm, số lượng, điều kiện môi trường ngày một đòi hỏi cao Chănnuôi trang trại, tập trung tạo khối lượng sản phẩm hàng hóa lớn, năng suất, hiệuquả chăn nuôi cao, từng bước kiểm soát được chất lượng sản phẩm, kiểm soát dịchbệnh Chăn nuôi trang trại, tập trung tận dụng, khai thác tiềm năng quỹ đất, nhất làcác vùng đồi gò, đất trũng, đất hoang hóa; khai thác tiềm năng vốn của mọi thànhphần kinh tế xã hội đầu tư mạnh mẽ vào chăn nuôi công nghiệp, tạo công ăn việclàm, tăng thu nhập cho người dân

Hiện nay nhiều địa phương trên cả nước đã và đang hình thành nhiều vùngchăn nuôi tập trung quy mô lớn và dần xoá bỏ phương thức chăn nuôi hộ gia đình

Trang 17

nhỏ lẻ, quy mô nhỏ kiểu tận dụng Xét theo tiêu chí kinh tế trang trại, tại thời điểm01/7/2011, cả nước có 6.202 trang trại chăn nuôi trong tổng sô 20.065 trang trại(chiếm 30,9%), trong đó: 29 trang trại nuôi bò thịt, 3.418 trang trại nuôi lợn, 1.497trang trại nuôi gà thịt Đến năm 2012, số lượng trang trại chăn nuôi tăng tới

8.133 trang trại trong tổng số 22.655 trang trại trong cả nước (chiếm 35,9%) (Tổngcục Thống kê, 2012, 2013)

2.2 CHẤT THẢI CHĂN NUÔI VÀ CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG

2.2.1 Thành phần, tính chất của chất thải chăn nuôi

Chăn nuôi được xác định là một trong những ngành thải ra môi trường chấtthải lớn nhất, đó là sự hỗn tạp các chất thải ở dạng rắn, lỏng hoặc khí … (Bùi HữuĐoàn, 2011) Theo tính toán của FAO, ngành chăn nuôi của thế giới phát thải tới18% tổng số khí nhà kính quy đổi theo CO2 Trong đó, khoảng 65% lượng NO,37% lượng CH4 và 64% lượng NH3 Đây là những chất phát thải chính gây hiệuứng nhà kính Dự báo trong các năm tới lượng khí thải từ chăn nuôi sẽ tiếp tục giatăng do sự phát triển của ngành chăn nuôi tiếp tục tăng Vì vâỵ, việc hạn chế tácđộng xấu của chất thải vật nuôi đến môi trường là mối quan tâm của rất nhiều quốcgia, trong đó có nước ta

Tại Việt Nam, hiện trạng ô nhiễm do chăn nuôi gây ra đang ngày một giatăng Theo ước tính, khối lượng chất thải rắn (chỉ tính riêng lượng phân của vậtnuôi) của mội số vật nuôi chính thải ra trong năm 2011 là 83,67 triệu tấn, năm

2012 là 81,89 triệu tấn và 75,9 triệu tấn năm 2013 nhưng chỉ khoảng 40% số chấtthải này được xử lý, còn lại được xả thẳng ra môi trường

2.2.1.1 Chất thải rắn

Chất thải rắn là hỗn hợp các chất vô cơ, hữu cơ, vi sinh vật, trứng ký sinhtrùng có thể gây bệnh cho người và gia súc khác, gồm phân, thức ăn thừa của vậtnuôi, vật liệu lót chuồng, xác súc vật chết… Chất thải rắn có độ ẩm từ 56-83% tùytheo phân của các loài gia súc gia cầm khác nhau và có tỷ lệ NPK cao (TrươngThanh Cảnh, 2010)

Tổng lượng chất thải rắn phát sinh từ vật nuôi qua một số năm được ướctính như trong Bảng 2.2

Trang 18

Bảng 2.2 Lượng chất thải rắn hàng năm từ vật nuôi

Lượng phân gia súc thải ra trong một ngày đêm phụ thuộc vào giống, loại,

tuổi, khẩu phần ăn, trọng lượng gia súc và phương thức chăn nuôi Theo Vũ Đình

Tôn và cs (2010), lợn ở các lứa tuổi khác nhau thì thải ra lượng phân khác nhau

Trang 19

7

Trang 20

2.2.1.2 Chất thải lỏng

Nước thải chăn nuôi là hỗn hợp bao gồm cả nước tiểu, nước tắm gia súc,rửa chuồng Nước thải chăn nuôi còn có thể chứa một phần hay toàn bộ lượngphân được gia súc, gia cầm thải ra (Bùi Hữu Đoàn, 2012)

Nước thải là dạng chất thải chiếm khối lượng lớn nhất trong chăn nuôi.Theo khảo sát của Trương Thanh Cảnh và các cs (2006), khảo sát trên gần 1000trại chăn nuôi heo quy mô vừa và nhỏ ở một số tỉnh phía nam cho thấy, hầu hết các

cơ sở căn nuôi đều sử dụng một khối lượng lớn cho gia súc Cứ 1kg chất thải dolợn thải ra được pha thêm với 20 – 49 kg nước Việc sử dụng nước tắm cho gia súchay rửa chuồng làm tăng lượng nước thải đáng kể, gây khó khăn cho việc thu gom,

và giàu chất hữu cơ nên khả năng bị phân hủy vi sinh vật rất cao Chúng có thể tạo

ra các sản phẩm có khả năng gây ô nhiễm cho cả môi trường đất, nước và khôngkhí

2.2.1.3 Khí thải

Chăn nuôi là một ngành sản xuất tạo ra nhiều loại khí thải nhất, điển hình làcác khí CO2, CH4, NH3, NO2, N2O, NO, H2S, indol, schatol mecaptan… và hàngloạt các khí gây mùi khác Hầu hết các khí thải chăn nuôi có thể gây độc cho giasúc cho con người và môi trường (Vũ Chí Cương, 2010)

Trang 21

Khí thải chăn nuôi phát sinh từ 3 nguồn chính:

- Khí thải từ hệ thống chuồng trại chăn nuôi: Lượng phát thải các khí ônhiễm từ chuồng nuôi phụ thuộc một số yếu tố: loại hình chăn nuôi (ví dụ chănnuôi lợn sinh sản, lợn thịt hay bò sữa, bò cày kéo, gia cầm, thủy cầm…) trình độquản lý, cách thu gom (thu phân rắn chung hay tách khỏi chất thải lỏng) và dự trữphân (mương dẫn, hầm chứa chất thải…), mức độ thông gió của hệ thống chuồngnuôi (chuồng kín hay mở).…

- Khí ô nhiễm phát thải từ hệ thống lưu trữ chất thải chăn nuôi Tùy thuộcvào loại hình bể chứa, hệ thống thu gom, xử lý… (hố có nền xi măng hay hố đàodưới đất) Bể chứa bằng xi măng kín thường hạn chế phát thải khí ô nhiễm

- Khí thải phát sinh từ vật nuôi như phân, nước tiểu, thức ăn dư thừa, tiêu hóa của vật nuôi,

2.2.2 Ảnh hưởng của chăn nuôi đến chất lượng môi trường

2.2.2.1 Ảnh hưởng đến môi trường không khí

Trong chăn nuôi lợn, ô nhiễm không khí đang là một vấn đề rất nghiêmtrọng Một số hộ chăn nuôi lợn ở nông thôn sống ở gần chợ, trường học, hoặc xenlẫn các khu dân cư, mùi hôi từ phân và nước thải của lợn đã gây ảnh hưởng rất lớnđến cộng đồng xung quanh Mùi thối gây ảnh hưởng xấu tới cơ thể con người Khicon người hít phải sẽ thấy rất khó chịu, nhức đầu, tim đập mạnh, không muốn ăn(Phùng Đức Tiến và cs., 2009) Những chất khí độc như H2S, NH3, CO2, CH4,CO… khi con người hít vào ở nồng độ cao hoặc nồng độ thấp nhưng thường xuyên

sẽ ảnh hưởng đến hệ hô hấp, hệ tuần hoàn, hệ tiêu hóa và hệ thần kinh Lâu ngày

sẽ làm tê liệt hệ thống khứu giác Thần kinh thường xuyên bị mùi hôi thối kíchthích sẽ bị tổn thương làm ảnh hưởng đến chức năng hưng phấn và ức chế vỏ đạinão (Bùi Xuân An, 2004)

Như vậy, vấn đề ô nhiễm môi trường không khí trong chăn nuôi là một vấn

đề lớn, nhưng trong thực tế, vấn đề này chưa được quan tâm đúng mức Hầu hết ởcác cơ sở chăn nuôi đều không có biện pháp xử lý môi trường không khí do gặpnhiều khó khăn và tốn kém Chỉ một số cơ sở lớn thì có hệ thống thông gió đểgiảm mùi song cũng chỉ giảm mùi trong môi trường trại chăn nuôi, còn lượng khíthải vẫn thoát ra ngoài gây ô nhiễm không khí Một số trang trại lớn đã dùng chếphẩm EM để hạn chế mùi Cách này rất hiệu quả nhưng tiếc là số lượng cơ sở thựchiện rất ít (Nguyễn Xuân Nguyên và cs., 2004) Nếu không có biện pháp xử lý ônhiễm môi trường không khí do chăn nuôi thì mùi hôi thối, ruồi, muỗi và các loạisinh vật gây bệnh truyền

Trang 22

2.2.2.2 Ảnh hưởng đến môi trường nước

Chăn nuôi thải ra nước thải có chứa nhiều mầm bệnh nguy hiểm Theo

nghiên cứu của nhiều tác giả, (Nguyễn Quang Khải, 2006) trong phân và nước thải, vi trùng gây bệnh đóng dấu Erysipelothrix insidiosa có thể tồn tại 92 ngày, Brucella 74 – 108 ngày, Samonella 6 – 7 tháng, virus lở mồm long móng trong nước thải là 100 – 120 ngày (Nguyễn Quang Khải, 2006) Riêng các loại vi trùng nha bào Bacillus anthracis có thể tồn tại đến 10 năm, Bacillus tetani có thể tồn tại

3 – 4 năm Trứng giun sán với các loại điển hình như Fasciola hepatica, Fasciola gigantica, Fasciola buski, Ascaris suum, Oesophagostomum spp, Trichocephalus dentatus có thể phát triển đến giai đoạn gây nhiễm sau 6 – 8 ngày và tồn tại 5 – 6 tháng Các vi trùng tồn tại lâu trong nước ở vùng nhiệt đới là Salmonella typhi và Salmonella paratyphi, E Coli, Shigella, Vibrio comma, gây bệnh dịch tả Một số

loại vi khuẩn có nguồn gốc từ nước thải chăn nuôi có thể tồn tại trong động vậtnhuyễn thể thuỷ sinh, có thể gây bệnh cho con người khi ăn sống các loại sò, ốc

hay các thức ăn nấu chưa được chín kĩ (Branscheid W et al., 1987).

Bảng 2.5 Một số chỉ tiêu của nước thải chăn nuôi lợn

Nguồn: Trương Thanh Cảnh và cs (1997, 1998)

2.2.2.3 Ảnh hưởng tới môi trường đất

Chất thải chăn nuôi khi không được xử lý sẽ gây ra ô nhiễm đất Nhiềunghiên cứu cho thấy khả năng tồn tại của mầm bệnh trong đất, cây cỏ có thể gâybệnh cho người và gia súc, đặc biệt là các mầm bệnh về đường ruột như thươnghàn, phó thương hàn, viêm gan, giun đũa, sán lá gan

Khi dùng nước thải chưa xử lý người ta thấy rằng có Salmonella trong đất

ởđộ sâu 50 cm và tồn tại được 2 năm, trứng ký sinh trùng cũng khoảng 2 năm

Mẫu cỏ sau 3 tuần ngưng tưới nước thải có 84% trường hợp có Salmonella và vi trùng đường ruột khác, phân tươi cho vào đất có E.coli tồn tại được 62 ngày, ngoài

ra khoáng và kim loại nặng bị giữ lại trong đất với liều lượng lớn có thể gây ngộđộc cho cây trồng (Cục Chăn nuôi, 2014)

Trang 23

Kết quả nghiên cứu của Chang 1968, Mosley, Kolf 1970 đã cho thấy nhiềuloại vius gây bệnh được đào thải qua phân và sống sót với thời gian từ 5 – 15 ngàytrong phân và đất, trong đó đáng chú ý nhất là các nhóm virus gây bệnh viêm gan,

Reovirus, Adenovirus Các nghiên cứu của G.V Xoxibarov 1974, R Alexan

drennus và cộng tác viên cho thấy trong 1 kg phân tươi có 2100 – 5000 trứng giun

sán Trong đó có 39 – 83 % là Ascaris suum, 60 – 68,7 % là Oesophagostomum và

47 – 58,3 % Trichocephalus sp Điều kiện thuận lợi cho mỗi loại tồn tại và gây

bệnh phụ thuộc vào lượng mưa, nhiệt độ, ánh sáng, kết cấu độ ẩm của đất, phân vàmôi trường xung quanh (Nguyễn Thị Hoa lý, 2004)

Năm 2012, báo chí đã phản ánh về trang trại chăn nuôi heo của Công tyTNHH Hùng Vân tại thôn 2, xã Tiên Phong (Tiên Phước) gây ô nhiễm môi trườngkhiến người dân nơi đây hết sức bức xúc Cánh đồng rộng hơn 1 ha của người dânthôn 2 xã Tiên Mỹ bị chất thải từ trang trại chăn nuôi heo không trổ được Việckhắc phục tình trạng ô nhiễm của Công ty TNHH Hùng Vân chỉ giảm đôi chúttrong thời gian ngắn, rồi đâu lại vào đấy (Phước Tân, 2013)

2.3 THỰC TRẠNG XỬ LÝ CHẤT THẢI TRONG HOẠT ĐỘNG CHĂN NUÔI

Theo kết quả thống kê năm 2010, cả nước có khoảng 8.500.000 hộ cóchuồng trại chăn nuôi quy mô hộ gia đình; khoảng 18.000 trang trại chăn nuôi tậptrung Các trang trại chăn nuôi tập trung quy mô lớn phần lớn có hệ thống xử lýchất thải với các loại công nghệ khác nhau, nhưng hiệu quả xử lý chưa triệt để.Chăn nuôi hộ gia đình mới có khoảng 70% tương ứng với khoảng 5.950.000 hộ cóchuồng trại chăn nuôi, trong đó mới có khoảng 8,7% hộ chăn nuôi có công trìnhkhí sinh học (hầm Biogas) Tỷ lệ hộ gia đình có chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinhcũng chỉ chiếm khoảng 10%

Còn khoảng 23% số hộ chăn nuôi không xử lý chất thải vật nuôi và chỉ có0,6% số hộ có cam kết bảo vệ môi trường Số trang trại chăn nuôi có hệ thống xử

lý chất thải bằng biogas khoảng 67% Trong đó chỉ có khoảng 2,8% có đánh gíatác động môi trường, 13,8% trang trại có cam kế bảo vệ môi trường và chỉ có 1,6%

số trang trại không áp dụng biện pháp xử lý chất thải vật nuôi (Andre’ Lamouche,

2006)

Hiện nay ở nước ta, phần lớn chất thải chăn nuôi được sử dụng làm phânbón, việc xử lý chất thải chăn nuôi có sự khác nhau theo quy mô chăn nuôi Với

Trang 24

qui mô chăn nuôi trang trại thì việc xử lý chất thải chăn nuôi được coi trọng hơn,còn tại các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ gắn liền với sản xuất nông nghiệp, chất thải chănnuôi chủ yếu được trực tiếp bón cho cây trồng, làm thức ăn cho cá Vì vậy, việc

xử lý và quản lý chất thải vật nuôi ở nước ta gặp nhiều khó khăn (Attar A.J; J.T.Brake (1988), Những năm qua, chất thải vật nuôi trong nông hộ được xử lý bằngcác biện pháp chủ yếu: trực tiếp xả ra kênh mương và ao, hồ; ủ làm phân bón; xử

lý bằng công nghệ khí sinh học (biogas) Bên cạnh đó, còn có một số phương phápkhác: xử lý bằng sinh vật thủy sinh (cây muỗng nước, bèo lục bình ), hồ sinh học,

(ử, bán, nuôi cá, tưới cây)

Chất thải vật nuôi không xử lý

Nguồn: Báo cáo công tác BVMT trong chăn nuôi của 55 tỉnh/thành phố (2009)

Do nhiều nguyên nhân khiến công tác bảo vệ môi trường trong hoạt độngchăn nuôi vẫn còn nhiều mặt tiêu cực, tình trạng gây ô nhiễm môi trường của một

số cơ sở chăn nuôi lớn và chăn nuôi trong khu dân cư vẫn chưa được khắc phụctriệt để và có chiều hướng gia tăng (Barnett J và cs, 2009)

Theo báo cáo lực lượng Cảnh sát PCTP về môi trường, từ năm 2010 đếnnay đã phát hiện và xử lý 288 vụ vi phạm pháp luật về môi trường trong lĩnh vựcchăn nuôi tập trung, sản xuất thức ăn chăn nuôi; xử phạt 6,167 tỉ đồng Các viphạm về bảo vệ môi trường chủ yếu trong lĩnh vực này là: xả nước thải, khí thảivượt tiêu chuẩn, quản lý chất thải nguy hại không đúng quy định, vi phạm về hồ sơthủ tục môi trường và thực hiện không đúng, đầy đủ các nội dung cam kết trongbáo cáo bảo cáo đánh giá tác động môi trường, cam kết BVMT

Trang 25

2.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỆM LÓT SINH HỌC TRONG CHĂN NUÔI LỢN

2.4.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Ứng dụng vi sinh vật ở dạng đơn chủng hay đa chủng vào mục đích chăn nuôi nói chung và xử lý môi trường nói riêng đã được các nước có nền công nghệ

vi sinh áp dụng từ lâu và phổ biến dưới các dạng sản phẩm vi sinh khác nhau Cácloại này được áp dụng cho từng công đoạn chăn nuôi cũng như áp dụng cho toàn

bộ quá trình chăn nuôi tùy thuộc vào đặc tính chủa các chủng vi sinh vật cũng nhưmục đích sử dụng

Tại Nhật Bản, chế phẩm EM (Effective Microorganisms) có nghĩa là vi sinhvật hữu hiệu do GS TS Teruo Higa – Trường Đại học Tổng hợp Ryukius,Okinawa, Nhật Bản nghiên cứu và ứng dụng thành công vào sản xuất nông nghiệpvào đầu những năm 1980 Chế phẩm này gồm 87 chủng vi sinh vật hiếu khí và kỵkhí thuộc các nhóm: vi khuẩn quang hợp, vi khuẩn lactic, nấm men, nấm mốc, xạkhuẩn được phân lập, chọn lọc từ 2.000 chủng được sử dụng phổ biến trong côngnghiệp thực phẩm và công nghệ lên men Chế phẩm này được thương mại hóa toàncầu, đang được phân phối ở Việt Nam và được người chăn nuôi tin dùng

Mô hình chăn nuôi lợn sử dụng đệm lót sinh học hoặc đệm lót lên men(fermentation bed) là một loại hình chăn nuôi được tìm thấy tương đối phổ biến ởNhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc Nhiều công trình nghiên cứu xung quanh đốitượng này (Sheng và cs, Wang và cs, 2007; Feng, 2010) đều chỉ ra những ưu điểm

và hạn chế của mô hình chăn nuôi trên đệm lót lên men

Ưu điểm chính của mô hình này:

- Giảm ô nhiễm môi trường (tạo tiểu khí hậu tốt, trong sạch, không ô nhiễm….)

- Tiết kiệm nhân lực (không phải vệ sinh chuồng trại)

- Giảm chi phí tiền điện, nước, tiền mua thuốc thú y (không phải rửa chuồng, không phải sử dụng điện để giữ ấm vào mùa đông)

- Giúp giữ ấm cho vật nuôi vào mùa đông, tăng chất lượng đàn heo và chất lượng sản phẩm

Những hạn chế chủ yếu của mô hình này là:

Trang 26

- Cần đầu tư xây dựng hệ thống chuồng trại đồng bộ (đệm, hệ thống máng

ăn, nước uống,…);

- Khó vệ sinh, khử mùi chuồng trại khi bị mắc bệnh dịch;

- Vật liệu đệm lót (mùn cưa, vỏ trấu…) tạo mùi, có thể gây các bệnh về hô hấp cho vật nuôi;

- Sinh nhiệt cao, gây nóng về mùa hè

Như vậy, ưu điểm nổi trội nhất của đệm lên men là về hiệu quả môi trường,Feng Xiaoyan (2011) đã kết luận rằng mô hình chăn nuôi sử dụng đệm lót sinh họclàm giảm khí thải NH3 rất hiệu quả (Vincent Porphyre and Nguyen Que Coi,2006)

Liên quan đến hạn chế về vấn đề sinh nhiệt trong mùa hè, nhiều nghiên cứucũng đã được tiến hành để tìm các giải pháp có hiệu quả như lắp đặt hệ thốngthông gió, làm mái che v.v Một công trình nghiên cứu tại Trung Quốc rất có ý

nghĩa của Sheng et al (2011) chỉ ra rằng thành phần lớp đệm cũng là yếu tố quyết

định rất lớn đến hiện tượng sinh nhiệt Thông qua một loạt thí nghiệm, nhóm tácgiả kết luận rằng vật liệu thừa trong nuôi trồng nấm cũng có thể sử dụng làm đệmsinh học Với thành phần 20% vật liệu thừa trong sản xuất nấm, 25% mùn cưa và50% vỏ trấu, đệm sinh học tạo ra lượng nhiệt cao hơn hẳn loại đệm với chỉ 50%mùn cưa và 50% vỏ trấu

Tuy nhiên, cho đến nay, các nghiên cứu có tính hệ thống làm minh chứng

về hiệu quả môi trường kinh tế xã hội của đệm lót sinh học là rất hiếm gặp Có thểnói rằng, gần như không thể tìm được các ấn phẩm nào bằng tiếng Anh trong cáctạp chí khoa học quốc tế về tác động tổng hợp của các chỉ tiêu môi trường đất,nước, không khí và các hiệu quả kinh tế xã hội do đệm lót sinh học tạo ra

2.4.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Chăn nuôi lợn hiện nay ở nước ra đã và đang phát triển mạnh cả về sốlượng trang trại, quy mô đầu lợn, chất lượng con giống và phương thức chăn nuôi.Theo kết quả thống kê của Cục chăn nuôi năm 2014, cả nước có khoảng 27 triệucon heo với khoảng 10 nghìn trang trại chăn nuôi tập trung Đa số các trang trại vàchuồng nuôi nằm trong khu vực dân cư nên mức độ ô nhiễm khá cao Mức độ ônhiễm môi trường tại các cơ sở chăn nuôi tập trung và các địa phương có chănnuôi lợn phát triển là rất trầm trọng Thực tế nhiều nơi các chất thải rắn, chất thảilỏng và đặc biệt là nước thải từ bể biogas đều được người chăn nuôi cho chảythẳng ra cống rãnh, ao hồ, sông suối

Trang 27

Nguồn ô nhiễm từ hoạt động chăn nuôi chủ yếu là từ phân thải, nước tiểu vànước rửa chuồng từ các chuồng nuôi Đặc trưng cơ bản của nước thải chăn nuôi là

có hàm lượng chất rắn lơ lửng (SS), chất hữu cơ (thể hiện bởi COD và BOD5), cáchợp chất nito (NH4 – N và N – Tổng) rất cao Trên thực tế phân thải của các loạivật nuôi thường được trộn lẫn cùng với nước tiểu và nước rửa chuồng trại Do đó,nồng độ các hợp chất nito (Tổng Nito Kjendhal) nằm trong khoảng 1.500 – 15.200mg/L, của phôt pho là từ 70 – 1.750 mg/L (A Muder, 2003; M Maurer, 2003).Với nồng độ các chất ô nhiễm cao nên phân thải và nước thải chăn nuôi là mộtnguồn ô nhiễm nghiêm trọng nếu không được quản lý và xử lý triệt để

Theo kết quả của một số nghiên cứu như: Phạm Nhật Lệ, Trịnh QuangTuyên (1997; 2000; 2001); Phùng Thị Vân và cs (2004 a, b, c); Nguyễn Quế Côi

và cs (1992, 2007a; 2007b) cho thấy: Kết quả xác định nồng độ khí độc tại chuồnglợn công nghiệp: Nồng độ NH3: 0,94 mg/m3; H2S: 0,38 mg/m3; CO: 6,7 mg/m3,

NO2: 0,25 mg/m3; SO2: 0,45 mg/m3 so với TCVN 5938-95; 5937-95 thì nồng độnày còn cao hơn mức cho phép từ 2 – 3 lần Kết quả xác định độ nhiễm khuẩn củakhông khí chuồng lợn công nghiệp cho thấy tổng số VSV và nấm mốc

ở không khí khu vực chuồng nuôi lợn nuôi công nghiệp cao hơn 5,7 lần so với quyđịnh của EU (1991) Nước thải chăn nuôi đã qua xử lý bằng hệ thống biogas chothấy không còn trứng giun sán nhưng hàm lượng E.coli còn ở mức độ cao(0,65x103)

Kết quả điều tra thực trạng ô nhiễm môi trường và xử lý chất thải chăn nuôilợn của Viện chăn nuôi (2009) ở 3 vùng sinh thái có tỷ trọng chăn nuôi phát triểncao là Đồng bằng Sông Hồng (Hưng Yên, Nam Định), Đông Nam Bộ (BìnhDương, Đồng Nai) và Đồng bằng sông Cửu Long (Long An, Cần Thơ) cho kết quảcác chỉ tiêu phân tích đều cao hơn mức cho phép Đặc biệt các chỉ tiêu về sinh vậtcao gấp nhiều lần cho phép:

+ Hàm lượng Coliform tại nông hộ đạt 1.1094.317 MPN/100ml, cao gấp218,86 lần mức cho phép; tại gia trại đạt 1.437.333 MPN/100ml, cao gấp 287,46lần mức cho phép; tại trang trại đạt 3.152167, cao hơn mức cho phép 630,43 lần

+ E.coli ở nông hộ đạt 4.492 MPN/100ml, cao gấp 8,9 lần mức cho phép;tại gia trại đạt 1.916 MPN/100ml, cao gấp 3,83 lần mức cho phép; tại trang trại đạt11.069, cao hơn mức cho phép 22,1 lần

Trang 28

Kết quả phân tích mẫu không khí trong chuồng nuôi cho thấy 5/6 chỉ tiêuphân tích đều cao hơn mức tiêu chuẩn cho phép Nồng độ NH3 ở nông hộ đạt0,126 mg/m3, cao hơn 12,6 lần mức cho phép; gia trại đạt 0,111 mg/m3, cao hơnmức cho phép 11,1 lần; trang trại đạt 0,17 mg/m3, cao hơn mức cho phép 17 lần.

Độ nhiễm khuẩn của không khí ở nông hộ đạt 33.619 VK/m3, cao hơn 18,67 lầnmức cho phép, gia trại đạt 39.067 VK/m3, cao hơn mức cho phép 21,7 lần; trangtrại đạt 38.571/m3, cao hơn mức cho phép 21,42 lần

Nghiên cứu của Trịnh Quang Tuyên, Trung tâm nghiên cứu lợn ThụyPhương (2010) tại Hà Tây (cũ), Hà Nội, Thái Bình và Ninh Bình cho thấy, với quy

mô nuôi từ 30 đến 100 lợn nái với khoảng cách từ trang trại đến cộng đồng dân cưdưới 10m và từ 10m đến 100m đều gây mùi hôi cho cộng đồng dân cư, khoảngcách trên 100m cũng có tới 73,9% trang trại gây mùi hôi cho cộng đồng dân cư.Quy mô từ 100 đến 200 lợn nái với khoảng cách từ trang trại đến cộng đồng dân

cư từ 10 đến 100m thì 100% trang trại gây mùi hôi cho cộng đồng dân cư Khoảngcách trên 100m có 87,5% gây ảnh hưởng về mùi hôi cho cộng đồng dân cư Quy

mô trên 200 lợn nái, với khoảng cách trên 100m có 91,7% trang trại gây ảnhhưởng mùi hôi cho cộng đồng dân cư Với quy mô này, không có trang trại nàodưới 100m, nhưng với quy mô nhỏ hơn thì khoảng cách dưới 100m đều ảnh hưởngmùi hôi cho cộng đồng dân cư Như vậy, ảnh hưởng mùi hôi do trang trại chănnuôi lợn cho cộng đồng dân cư với quy mô càng lớn thì mức độ ảnh hưởng càngnhiều

Quản lý và xử lý phân trong cách trang trại chăn nuôi lợn tập trung là mộtkhâu quan trọng trong việc xử lý môi trường nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường.Kết quả điều tra việc quản lý và xử lý phân lợn cho thấy, nhà chứa phân lợn tại cáctrang trại điều tra thì tỷ lệ trang trại có nhà chưa phân lợn ở quy mô chăn nuôi trên

200 lợn nái chiếm đa số (91,7%), nhà chứa phân ở trang trại quy mô từ 30 đến 100nái có tỷ lệ thấp (7,6%) Như vậy, nhà chứa phân lợn mới chỉ được quan tâm ở cáctrang trại quy mô trên 200 lợn nái, quy mô nhỏ hơn còn ít được quan tâm Nhàchứa phân lợn ở các trang trại đi điều tra cũng chỉ là nơi chứa phân lợn hót đượchàng ngày để chuyển đi sử dụng, chưa có biện pháp xử lý phân lợn trước khi đem

sử dụng hoặc bán Phân lợn cũng được các trang trại hót hàng ngày, với trang trạikhông có nhà chứa phân thì thường cho vào bao tải, để tập trung ngay ngoài trời,gây ô nhiễm môi trường xung quanh, đặc biệt vào những ngày trời mưa

Trang 29

Kết quả phân tích về mức độ ô nhiễm nước thải trong chăn nuôi lợn tậptrung tại các tỉnh điều cho thấy, chỉ tiêu COD, nước thải trước biogas so với chỉtiêu nước thải cho phép loại B đều vượt quá giới hạn cho phép với vượt từ 11,7đến 15,6 lần, sai biogas và sau ao chứa nước thải vượt 2,5 lần đến 3,3 lần, nướcthải ra ngoài vượt 1,6 lần đến 2,0 lần Chỉ tiêu BOD5, nước thải trước biogas sovới chỉ tiêu nước thải cho phép loại B đều vượt quá giới hạn cho phép với vượt từ6,9 đến 12,4 lần, sau biogas và sau ao chứa nước thải vượt 2,8 đến 3,5 lần, nướcthải ra ngoài đều vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,3 đến 2,2 lần Các chỉ tiêu NO3-,tổng P, Coliform tại các tỉnh điều tra đều vượt mức cho phép nhiều lần.

Trước hiện trạng chất thải ô nhiễm môi trường do chăn nuôi như vậy,Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã triển khai đề tài nghiên cứu phương thứcchăn nuôi bằng đệm lót sinh học tại tỉnh Hà Nam Phương thức chăn nuôi trên đệmlót sinh học là phương thức nuôi dưỡng động vật trên độn lót chuồng có chứa mộtquần thể các vi sinh vật có ích có thể tồn tại cùng nhau lâu dài trong đột lót, có khảnăng phân giải mạnh chất hữu cơ và ức chế các vi sinh vật có hại và gây bệnh nênmôi trường không ô nhiễm, ít ruồi muỗi và vi sinh vật gây hại Đệm lót sinh họcgiúp môi trường chăn nuôi không bị ô nhiễm vì không có chất thải từ chăn nuôi ramôi trường (phân, nước tiểu của vật nuôi được hệ sinh vật trong đệm lót phângiải), hạn chế ruồi muỗi vì không có nước để muỗi sinh sản và không có phân đểruồi đẻ trứng, các mầm bệnh đều bị tiêu diệt hoặc hạn chế ở mức thấp nhất Về lợiích kinh tế và xã hội nuôi theo mô hình này lợn phát triển đồng đều, khỏe mạnh, ítbệnh, giảm công lao động do không phải dọn rửa chuồng trại… Tuy nhiên, hiện tại

ở Việt Nam chưa có một nghiên cứu nào về tác động môi trường và hiệu quả kinh

tế xã hội do mô hình nuôi này

2.4.3 Kết quả ứng dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi

Ứng dụng đệm lót sinh học là phương pháp xử lý môi trường mới đượcphát triển ở nước ta trong những năm gần đây Theo kết quả khảo sát của Cục chănnuôi (2014) thì tính đến 2013 cả nước có 40/63 tỉnh và thành phố có mô hình ápdụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi Trong đó, 752 trang trại và 61.449 hộ giađình với tổng diện tích là 5,47 triệu m2 đệm lót sinh học

Công nghệ đệm lót phát triển khá mạnh ở các tỉnh phía Bắc như Hà Nam(3.000 hộ, 55.000m2), Bắc Giang (208 trang trại và 49.000 hộ với trên 5 triệu m2).Các tỉnh phía Nam cũng đã và đang phát triển mô hình chăn nuôi trên đệm

Trang 30

lót sinh học nhưng bước đầu còn gặp một số khó khăn về công nghệ và nguyên vậtliệu để xây dựng mô hình (Cục chăn nuôi, 2014).

Tính riêng cho chăn nuôi lợn thì theo kết quả tổng kết trên 55 tỉnh và thànhphố hiện có 28 trạng trại đang ứng dụng công nghệ đệm lót sinh học với tổng diệntích là 24.321 m2 và 3.658 hộ với tổng diện tích là 45.640 m2 Phụ thuộc vào điềukiện và chính sách hỗ trợ của từng tỉnh nên việc triển khai áp dụng đệm lót sinhhọc trong chăn nuôi lợn ở các tỉnh cũng rất khác nhau Tỷ lệ số hộ áp dụng côngnghệ đệm lót sinh học hiện nay cao nhất là tỉnh Hà Nam Đến nay, toàn tỉnh HàNam có 3.036 hộ với diện tích 33.140m2 chuồng nuôi Các tỉnh khác có diện tích

áp dụng cũng ở mức cao là Bà Rịa – Vũng Tàu (15.405 m2), Điện Biên (5.500 m2),Bắc Giang (3.500 m2), Bình Dương (2.670 m2) (Lương Đức Phẩm, 2009).

Cũng theo đánh giá của Cục chăn nuôi (2014), những tồn tại chủ yếu củacông nghệ đệm lót sinh học ứng dụng trong chăn nuôi là:

- Nguyên liệu để làm nền đệm lót sử dụng 50 – 70% mùn gỗ trong khi đónguồn cung của vật liệu này không ổn định và ít nên rất khó triển khai mô hìnhtrên diện rộng

- Lớp đệm lót lên men phân hủy nước tiểu và phân nên nhiệt độ chuồngnuôi luôn tăng cao tới mức 30 – 40oC, thậm chí đạt 45oC, gây ức chế nhiệt cho vật nuôi, nhất là trong mùa hè

- Mật độ chăn nuôi trên đệm lót tối đa chỉ nên từ 1,5 – 2,0 m2/1 con lợn 60kg Mật độ này không phù hợp trong điều kiện chăn nuôi công nghiệp

- Chi phí ban đầu để làm đệm còn ở mức cao và thường xuyên phải bổsung; quy trình áp dụng đòi hỏi phải nghiêm ngặt nên một số hộ không có điềukiện áp dụng

2.5 MỘT SỐ THÔNG TIN VỀ ĐỆM LÓT LÊN MEN VI SINH VẬT SỬ DỤNG TRONG CHĂN NUÔI

Hiện nay trên thế giới đã áp dụng nhiều phương thức chăn nuôi như chănnuôi hữu cơ, chăn nuôi an toàn sinh học… (Drummond, J.G 1980), và mới đây làcông nghệ chăn nuôi sinh thái không chất thải dựa trên nền tảng công nghệ lênmen vi sinh đệm lót nền chuồng Với công nghệ này, toàn bộ phân và nước tiểunhanh chóng được vi sinh vật phân giải và chuyển thành nguồn thức ăn proteinsinh học cho chính gia súc Hơn nữa, chăn nuôi theo công nghệ này không phải

Trang 31

dùng nước rửa chuồng và tắm cho gia súc nên không có nước thải từ chuồng nuôigây ô nhiễm nguồn nước và môi trường xung quanh Trong chuồng nuôi không cómùi hôi thối vì vi sinh vật hữu ích trong chế phẩm sử dụng đã cạnh tranh và tiêudiệt hết các vi sinh vật có hại và sinh mùi khó chịu Vì không sử dụng nước rửa vàtắm cho gia súc nên trong chuồng không có chỗ cho muỗi sinh sôi và vì vi sinh vậtnhanh chóng phân giải phân nên cũng không có chỗ cho ruồi đẻ trứng Nhờ hệ visinh vật hữu ích tạo được bức tường lửa ngăn chăn các vi sinh vật gây bệnh nênchăn nuôi theo công nghệ này hạn chế được tới mức thấp nhất sự lây lan bệnh tật

giữa gia súc với nhau cũng như giữa gia súc với người (Drummond, J.G et al.,

2010)

Cũng nhờ những lợi thế về mặt vệ sinh và môi trường trên mà sản phẩmchăn nuôi có độ vệ sinh an toàn thực phẩm rất cao Hơn nữa chất lượng sản phẩmrất tốt nhờ đảm được các điều kiện tốt nhất về Quyền động vật (animal welfare),con vật được vận động nhiều, không bị stress hay bệnh tật, lại tiêu hóa và hấp thuđược nhiều axit amin Thịt mềm, có màu, mùi và vị ngọt tự nhiên nên được ngườitiêu dùng đánh giá cao (Đỗ Quang Đại, 2011, D Xanhhoullis; Lều Thọ Bách…2009)

Nguyên lý cơ bản của kỹ thuật chăn nuôi sử dụng đệm lót vi sinh vật là sử

dụng VSV có lợi lên men, phân hủy chất thải vật nuôi, đồng thời đảm bảo quyềnsống của động vật, đem lại lợi ích trực tiếp cho động vật nuôi, đó là tạo một môitrường trong sạch không ô nhiễm, gần với tự nhiên làm khôi phục bản năng sống

tự nhiên của chúng; tự do đi lại, đào bới,… do đó chúng có được tâm trạng thoảimái, không có áp lực về tâm lý, giảm căng thẳng (stress), tăng cường dinh dưỡng(nhờ được cung cấp một ngườn protein vi sinh vật có giá trị trong đệm lót) do đótăng được tỷ lệ tiêu hóa hấp thụ, tăng sức đề kháng, tăng sinh trưởng và sinh sản…

Đó chính là thiết lập một môi trường chăn nuôi có được sự cân bằng sinh thái

Cơ chế hoạt động của đệm lót lên men

Thành phần cơ bản của đệm lót lên men bao gồm: các chủng loại VSV cólợi đã được tuyển chọn + nguyên liệu làm chất độn (chất xơ) Chúng có tác dụng:

- Tạo ra các hợp chất hữu cơ như rượu, axit có tác dụng giữ cho đệm lót ở

độ pH ổn định, có lợi cho vi sinh vật có ích và không có lợi cho các vi sinh vật gâybệnh trong đệm lót

Trang 32

- Phân giải mạnh và đồng hóa tốt: các thành phần có trong chất thải độngvật để chuyển hóa thành các chất vô hại thành các protein của bản thân các vi sinh

vật có ích.

- Sử dụng các thành phần khí thải gây độc hại: sử dụng khí thải để sinhtrưởng phát triển và khử được khí độc ở chuồng nuôi (tổng hợp protein từ nguồndinh dưỡng là NH3, NH4+; oxi hóa NH3, NH4+ thành NO2 và NO3; sử dụng hoặcoxi hóa H2S thành các muối sunfat)

- Ức chế các vi khuẩn có hại, vi khuẩn gây thối rữa Chostridiumperfringens, các vi khuẩn gây bệnh đường ruột E.coli Salmonella… do có khảnăng sản sinh ra các các chất kháng vi khuẩn như axit lactic, axit axetic, rượu ethylic, ester, H2O2, bacterioxin

Bên cạnh đó các chủng VSV phải có khả năng thích ứng cao trong nhữngđiều kiện biến đổi của ngoại cảnh (nhiệt độ cao và độ axit cao), đồng thời phảiquan hệ cộng sinh, cộng tồn do đó tạo nên sự cân bằng sinh thái ổn định,

+ Vai trò của nguyên liệu làm đệm lót Tạo ra môi trường sống cho hệ VSV.

Yêu cầu của nguyên liệu phải có thành phần xơ cao, không độc và không gây kíchthích Đặc biệt nguyên liệu phải bền vững với sự phân giải của VSV, đảm bảo thờigian sử dụng kéo dài Các loại chất độn xếp theo thứ tự về chất lượng là: mùn cưa,thóc lép nghiền, trấu, vỏ hạt bông, vỏ lạc, thân cây bông, lõi ngô, thân cây ngô,…

Khi sử dụng, đệm lót VSV sẽ tạo ra vòng tuần hoàn sinh vật Gia súc ăn ở

đi lại ỉa đái trên đệm lót sẽ cung cấp dinh dưỡng cho VSV sử dụng Đồng thời,VSV phân giải phân và nước tiểu tạo thành các chất trao đổi và protein của bảnthân chúng, cung cấp dinh dưỡng làm tăng dinh dưỡng cho gia súc; trợ giúp quátrình tiêu hóa, nâng cao miễn dịch cho con vật sử dụng VSV sinh trưởng phát triển

ở mức độ nhất định đảm bảo sinh ra một nhiệt lượng nhất định để tránh sinh nhiệtlớn trong mùa hè, nhưng cũng đảm bảo nhiệt cung cấp đủ ấm cho động vật nuôitrong mùa đông Vòng tuần hoàn được luân chuyển trong thời gian dài tạo ra mộtmôi trường không chất thải (Trịnh Thị Thanh và cs., 2004)

Trang 33

PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên địa bàn xã Liên Sơn, huyện Tân Yên,tỉnh Bắc Giang

3.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

Phạm vi thời gian: từ tháng 05/2015 – tháng 05/2016

Phạm vi không gian: Một số trang trại nuôi lợn theo quy mô nông hộ tại xã Liên Sơn, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang

3.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Đối tượng: Các hộ chăn nuôi lợn sử dụng đệm lót sinh học trong địa bàn xã Liên Sơn, huyện Tân Yên

3.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Điều kiện tự nhiên- kinh tế xã hội huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang;

- Đánh giá thực trạng áp dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi lợn tại huyện Tân Yên;

- Đánh giá ảnh hưởng của phương thức chăn nuôi lợn bằng đệm lót sinh học tới môi trường không khí, nước ngầm và môi trường đất;

- Đề xuất giải pháp phát triển mở rông mô hình chăn nuôi lợn bằng đệm lótsinh học và các biện pháp quản lý môi trường đối với các loại hình chăn nuôi này

3.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.5.1 Phương pháp phỏng vấn nông hộ

Tiến hành phỏng vấn trực tiếp người dân sống tại xã Liên Sơn, huyện TânYên, Tỉnh Bắc Giang để thu thập thông tin về thực trạng môi trường chăn nuôi lợntại xã Liên Sơn, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang Tổng số 14 hộ đã được phỏngvấn trong đó 4 hộ có sử dụng đệm lót sinh học, 10 hộ không sử dụng đệm lót Tại

xã Liên sơn chỉ có 4 hộ có sử dụng đệm lót nên đã chọn cả (100%) để phỏng vấn.Các hộ không có đệm lót được lựa chọn một cách ngẫu nhiên

Nội dung phỏng vấn bao gồm các thông tin về thực trạng chăn nuôi và ứngdụng mô hình chăn nuôi sử dụng đệm lót sinh học của hộ gia đình ở xã Liên Sơn

Trang 34

Các thông tin được thu thập chi tiết bao gồm, thời gian áp dụng đệm lót, diện tíchchuồng trại, mật độ nuôi, chi phí đầu tư, lợi nhuận và chi phí công lao động của hộgia đình.

3.5.2 Phương pháp lấy mẫu và phân tích trong phòng thí nghiệm

Các mẫu được tiến hành lấy tại 03 chuồng trại chăn nuôi theo mô hình đệmlót sinh học trên địa bàn xã nghiên cứu

Các mẫu khí và nước ngầm được đo trong 2 tháng: tháng bắt đầu đặt đệmlót và tháng thứ 6 chăn nuôi trên đệm lót Mẫu đất được lấy 3 đợt: lúc bắt đầu đặtđệm lót, sau 6 tháng và sau 9 tháng nuôi

a Quan trắc môi trường không khí

- Mẫu khí tại mỗi hộ, mẫu khí được quan trắc tại 2 vị trí trước và sau hướnggió 5m Số lần đo 3 lần/vị trí để tính số trung bình (Shao-Y Sheen, 2005)

- Phương pháp xác định các chỉ tiêu về không khí và tiểu khí hậu chuồng nuôi được thực hiện như sau:

Đo hàm lượng một số khí trong chuồng nuôi

Bảng 3.1 Các chỉ tiêu môi trường không khí và phương pháp phân tích

(NO/NO2) ôxit Phương pháp quang hóa học

Đo độ ẩm, nhiệt độ, tốc độ gió trong chuồng nuôi: sử dụng máy đo đa

thông số LM – 8010 (Đài Loan)

- Thang đo độ ẩm: 10 ~ 95%

- Thang đo nhiệt độ: 0 ~ 50oC

Đo nhiệt độ của lớp đệm lót: sử dụng nhiệt kế thủy ngân thang nhiệt độ

từ 0-100oC

Trang 35

b Quan trắc môi trường nước ngầm

Mẫu nước ngầm được thu thập từ những giếng khoan của các hộ dân sống

xung quanh 3 chuồng nuôi Nước này được sử dụng cho mục đích sinh hoạt, chăn

nuôi, tắm giặt có một phần lọc để nấu ăn Mẫu được lấy 2 lần, tại mỗi chuồng,

mỗi lần lấy tại giếng của 3 hộ xung quanh Các chỉ tiêu phân tích bao gồm: pH;

Photsphat; COD; clorua (Cl-); nitrat (NO3); Amoni và tổng Coliform

Phương pháp lấy mẫu:

Mẫu nước ngầm được thu thập theo các phương pháp hiện hành (chất lượng

nước – lấy mẫu – hướng dẫn lấy mẫu): TCVN 5992: 1995 (ISO 5667 – 2:1991);

TCVN 5993 – 1995 (ISO 5667 – 3:1985); TCVN 6000: 1995 (ISO 5667 –

11:1992)

Phân tích mẫu:

Các thông số cần quan trắc, phương pháp phân tích và thiết bị sử dụng được

liệt kê chi tiết trong bảng 3.2

Bảng 3.2 Các chỉ tiêu chất lượng MT nước ngầm và phương pháp phân tích

c Quan trắc môi trường đất

Mẫu đất được lấy từ những hộ gia đình có sử dụng đệm lót sinh học Xác

định bằng phương pháp sấy đến khối lượng không đổi Phương pháp lấy mẫu đất

tuân thủ theo (chất lượng đất – lấy mẫu – hướng dẫn kỹ thuật lấy mẫu) TCVN

7538-2:2005 (ISO 10381-2:2002)

Mỗi một vị trí lấy mẫu đất ta lấy 3 mẫu tại 3 độ sâu khác nhau dưới nền

chuồng là 20cm; 40cm và 60cm

Trang 36

Bảng 3.3 Các chỉ tiêu chất lượng đất và phương pháp phân tích

STT 1 2 3 4 5 6

- Các số liệu thu thập được thể hiện trên các bảng biểu, đồ thị, xử lý thống

kê trên chương trình Excel: sử dụng chức năng thống kê mô tả để tính các giá trịtrung bình, độ lệch chuẩn, sai số chuẩn, trung vị, mode v.v

Trang 37

PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA XÃ LIÊN SƠN, HUYỆN TÂN YÊN TỈNH BẮC GIANG

4.1.1 Điều kiện tự nhiên

4.1.1.1 Vị trí địa lý

Liến Sơn là một xã nằm ở phía bắc huyện Tân Yên, cách thành phố BắcGiang khoảng 20 km, cách thủ đô Hà Nội 50 km, thành phố Thái Nguyên cách 50

km Xã Liên Sơn có diện tích đất tự nhiên 2016 là 758 ha

- Phía Tây giáp xã Lam Cốt

- Phía Đông giáp Lạng Giang

- Phía Nam giáp thị trấn Cao Thượng

- Phía Bắc giáp thị trấn Nhã Nam

Hình 4.1 Sơ đồ địa bàn nghiên cứu xã Liên Sơn, huyện Tân Yên

Trên địa bàn huyện có một số tuyến giao thông quan trọng chạy qua nhưtỉnh lộ 298 (qua huyện 25km đi Việt Yên), tỉnh lộ 295 (qua huyện 27 km đi LạngGiang và Hiệp Hòa), nên xã Liên Sơn có điều kiện giao thông khá thuận lợi

Trang 38

cho việc giao lưu khoa học kỹ thuật, vận chuyển vật tư và sản phẩm nông nghiệptới các thị trường khác trong tỉnh cũng như ngoài tỉnh.

4.1.1.2 Địa hình, đất đai

Địa hình của xã Liên Sơn có độ dốc từ Bắc xuống Nam và từ Tây sangĐông, chia làm 02 vùng rõ rệt: vùng đồi núi thoải xen kẽ giữa các cánh đồng nhỏhẹp; vùng đồi núi thấp xen kẽ ruộng và các bãi bằng phẳng

Theo kết quả phân loại thổ nhưỡng, trên địa bàn huyện có 7 loại đất:

1) Đất phù sa không được bồi hàng năm ít chua: Diện tích 59 ha chiếm 7,78% diện tích tự nhiên, đất này phù hợp với trồng lúa

2) Đất phù sa được bồi hàng năm, chua, glây yếu: 92 ha chiếm 12,13% diệntích tự nhiên Loại đất này thích hợp với trồng lúa

3) Đất phù sa có sản phẩm feralit: 69,2 ha chiếm 9,12% diện tích tự nhiên Đất có thể trồng lúa và cây công nghiệp ngắn ngày

4) Đất bạc màu phát triển trên phù sa cổ có sản phẩm feralit trên nền cơgiới nặng: 37,98 ha chiếm 5,01% diện tích thích hợp trồng cây công nghiệp, câylương thực và cây ăn quả

5) Đất bạc màu phát triển trên phù sa cổ có sản phẩm feralit trên nền thànhphần cơ giới trung bình: 130,72 ha chiếm 17,25% Vùng này thích hợp với câycông nghiệp và cây lương thực

6) Đất dốc tụ bạc màu có sản phẩm feralit: 186,32 ha chiếm2 4,58% Đất này thích hợp trồng cây công nghiệp và cây ăn quả

7) Đất feralit nâu tím phát triển trên phiến thạch sét, tầng dầy đất mỏng: 182.78 ha chiếm 24,14% Có thể trồng cây lương thực, cây công nghiệp

Về tình hình sử dụng đất đai: Theo số liệu thống kê đất đai của huyện TânYên tính đến ngày 31/12/2013 do phòng Tài nguyên và Môi trường cung cấp:Tổng diện tích đất tự nhiên của xã Liên Sơn là 758 ha trong đó, đất nông nghiệpchiếm 62,27%, đất ở 115,14ha chiếm 15,19%, đất phi nông nghiệp 76,6 ha (gồmđất chuyên dùng, tôn giáo tín ngưỡng, đất nghĩa trang, nghĩa địa, đất sông suối mặtnước và đất phi nông nghiệp khác) chiếm 10,14%, đất chưa sử dụng 96,19 hachiếm 12,23%

Trong đó đất nông nghiệp có 472ha là đất trồng cây lâu năm, đất lâmnghiệp và đất thủy sản với đặc điểm địa hình là đồi núi thấp, sông suối và trũngxen kẽ thì các loại đất trên là điều kiện rất tốt để phát tiển kinh tế chăn nuôi

Trang 39

4.1.1.3 Khí hậu

Xã Liên Sơn là một xã thuộc phía bắc huyện Tân Yên, do đó khí hậu của xãchịu chi phối của khí hậu huyện Tân Yên Tân Yên nằm trong vùng khí hậu nhiệtđới gió mùa vùng Đông Bắc Một năm có bốn mùa rõ rệt thuận lợi cho việc pháttriển đa dạng các loại cây trồng Tính chất khí hậu nhiệt đới thể hiện rõ ở đặc trưngnóng ẩm Nhiệt độ trung bình 23,80C Tháng nóng nhất là tháng 7, nhiệt độ tới

290C, tháng lạnh nhất là tháng 1, nhiệt độ 150C Nhiệt độ cao tuyệt đối là 370C,thấp tuyệt đối là 1,400C, tổng tích ôn 82680C; độ ẩm bình quân năm là 83%

Mùa hè từ tháng 4 đến tháng 10, gió đông nam chiếm ưu thế tuyệt đối, nóng

và mưa nhiều Lượng mưa bình quân cả năm 1496 mm, trong năm có 175 ngàymưa Tháng mưa nhiều nhất là tháng 8,9; tháng mưa ít nhất là tháng 11,12 Mùanày nói chung thời tiết khí hậu thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển cây trồng

Mùa đông từ tháng 11 đến tháng 3, gió đông bắc chiếm ưu thế, lượng mưa

ít (khoảng 10% lượng mưa cả năm), thời tiết khô hanh

4.1.1.4 Chế độ thủy văn

Chế độ thuỷ văn của các sông, suối chảy qua xã Liên Sơn cơ bản phụ thuộcvào chế độ thủy văn của sông Thương Mùa lũ trên các sông ở đây bắt đầu tươngđối đồng nhất về thời gian, thường từ tháng 6 đến tháng 9 Lượng nước trên cácsông trong mùa lũ thường chiếm khoảng 75-85% tổng lượng dòng chảy trong cảnăm và phân phối không đều trong các tháng, lưu lượng lớn nhất thường xuất hiệnvào tháng 7 Trong mùa kiệt lượng nước thường chỉ chiếm 20-25% tổng lượngdòng chảy trong năm Tháng có lưu lượng nhỏ nhất thường xảy ra vào các tháng 1,

2 hoặc 3, đây là khó khăn cho sản xuất nông nghiệp do thiếu nước

4.1.1.5 Tài nguyên nước

Trên địa bàn huyện Tân Yên có sông Thương là hệ thống sông chính Ngoàisông Thương, trên lãnh thổ của huyện còn có ngòi Đa Mai, ngòi Phú Khê, ngòiCầu Niềng, ngòi Thông Thốc Ba ngòi này gần như chảy song song cách đều nhautheo hướng địa hình, tiêu cấp một lượng nước đáng kể đổ vào sông Thương Hệthống nông giang sông Cầu với 9 kênh cấp 2,500 kênh cấp 3, cung

Trang 40

cấp nước cho 5.574 ha đất trồng (chiếm 56,6% diện tích đất trồng của huyện trongmột vụ).

Chế độ nước của các sông suối chảy qua xã Liên Sơn phụ thuộc chủ yếu vàtài nguyên nước của sông Thương

Với đặc điểm địa hình đa dạng, khí hậu nhiệt đới gió mùa có pha cận nhiệtđới là lợi thế để phát triển nền nông nghiệp đa dạng với nhiều cây trồng, vật nuôi

có giá trị kinh tế, đáp ứng được nhu cầu đa dạng của thị trường

4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Liên Sơn là một xã miền núi huyện Tân Yên, là xã có tiềm năng thế mạnhphát triển nông nghiệp, trong những năm gần đây bộ mặt kinh tế xã hội đã cónhiều thay đổi, tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn ổn định ở mức cao, giá trị sản xuấthàng năm tăng lên rõ rệt, trong đó:

Ngành nông nghiệp: Sản xuất nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng,

chiếm tỷ lệ lớn nhất trong cơ cấu GDP của toàn huyện Giá trị sản xuất năm 2011đạt 666 tỷ đồng, năm 2012 là 829 tỷ đồng thì năm 2013 là 1.231 tỷ đồng Như vậytrong 3 năm từ 2011 đến năm 2013 giá trị sản xuất ngành nông nghiệp tăng664.769 tỷ đồng

+ Về trồng trọt: Tính đến tháng 9 năm 2015 thì trên địa bàn xã có: Tổng diện tích gieo trồng 502/489 ha đạt 106% KH, tăng 2,8% so với cùng kỳ

+ Về chăn nuôi: Tính đến tháng 9 năm 2015 thì trên địa bàn huyện có:Tổng đàn trâu 429 con, đạt 96,3% so KH, giảm 1.2% so cùng kỳ; đàn bò 883 con,đạt 99,4% so KH, tăng 3,0% so cùng kỳ; đàn lợn 2.640 con, đạt 86,2% KH, tăng2,5% so cùng kỳ; đàn gia cầm các loại 2,1 triệu con, đạt 84% KH, tăng 1,1% socùng kỳ

Ngành Công nghiệp, Tiểu thủ công nghiệp và Xây dựng: Giá trị sản xuất

năm 2014 là 445 tỷ đồng, đạt 82,9% kế hoạch, trong đó giá trị sản xuất TTCN ướcđạt 150 tỷ đồng, 9 tháng đầu năm 2015 đạt 314 tỷ đồng, đạt 68,6% KH, tăng15,9% so cùng kỳ

Ngành Thương mại, dịch vụ: Giá trị thương mại 9 tháng đầu năm 2015 ước

đạt 355 tỷ đồng, đạt 71,7% so với KH, tăng 14.3% so với cùng kỳ

Kết quả sản xuất các ngàng kinh tế của xã Liên Sơn giai đoạn 2011 –9/2015 được trình bày chi tiết trong bảng 4.1 dưới đây

Ngày đăng: 09/07/2021, 14:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Đỗ Quang Đại (2011). “Đánh giá sử dụng đệm lót nền chuồng lên men vi sinh vật trong chăn nuôi lợn thịt tại Tân Yên – Bắc Giang” Luận văn ThS – Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá sử dụng đệm lót nền chuồng lên men visinh vật trong chăn nuôi lợn thịt tại Tân Yên – Bắc Giang
Tác giả: Đỗ Quang Đại
Năm: 2011
13. Mai Thế Hào (2015). Chất thải trong chăn nuôi gia súc và một số biện pháp xử lý,Truy cập ngày 18/4/2016 tại http://cucchannuoi.gov.vn/tin-moi/chat-thai-trong-chan-nuoi-gia-suc-va-mot-so-bien-phap-xu-ly.html Link
1. Andre’ Lamouche (2006). Công nghệ xử lý nước thải đô thị. NXB Xây dựng, Hà Nội Khác
2. Bộ NN&PTNT (2013). Ứng dụng công nghệ đệm lót sinh học trong chăn nuôi lợn Khác
3. Bùi Hoàng Anh (2015), Đánh giá hiệu quả môi trường và kinh tế xã hội của phương thức chăn nuôi lợn sử dụng đệm lót sinh học tại Hà Nam, Luận văn Thạc sỹ Khoa học Môi Trường, Học viện Nông Nghiệp Việt Nam Khác
4. Bùi Hữu Đoàn (2011). Quản lý chất thải chăn nuôi – Giáo trình đại học, NXB NN Khác
5. Bùi Xuân An (2007). Nguy cơ tác động đến môi trường và hiện trạng quản lý chất thải trong chăn nuôi vùng Đông Nam Bộ. Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh Khác
6. Các giải pháp về chính sách quản lý môi trường chăn nuôi (2011) Khác
7. Cục Chăn nuôi (2015). Báo cáo môi trường chăn nuôi, tháng 8/2015 Khác
8. D. Xanhhoullis and Lều Thọ Bách… (2009). Xử lý nước thải chi phí thấp. NXB xây dựng, Hà Nội Khác
9. Đỗ Ngọc Hòe và, Nguyễn Thị Minh Tâm (2005)., Giáo trình Vệ sinh vật nuôi (Dùng cho các trường THCN). NXB Hà Nội, Hà Nội Khác
11. Lã Văn Kinh, Nguyễn Thanh Vân, Lê Phan Dũng, Đậu Văn Hải, Lê Đình Phùng (2015). Kết quả điều tra quản lý chất thải chăn nuôi heo tại xã Gia Kiệm, Thống Nhất, Đồng Nai. Báo cáo khoa học Viện Chăn nuôi năm 2013 – 2015 Khác
12. Lương Đức Phẩm (2009). Công nghệ xử lý nước thải bằng biện pháp sinh học. NXB Giáo dục, Hà Nội Khác
14. Nguyễn Khoa Lý (2013). Ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi thú y và biện pháp khắc phục, Truy cập ngày 27/8/2016 tại Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w