Hệ thống kiểm soát nội bộ của một doanh nghiệp được hình thànhnhư công cụ để thực hiện chức năng kiểm soát của các nhà quản lý.. Khái niệm kiểm soát nội bộ lúc nàyđược sử dụng trong các
Trang 1H C VI N NÔNG NGHI P VI T NAM ỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM ỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM ỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM ỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
BÙI HOÀNG PHÚC
H TH NG KI M SOÁT N I B T I CÔNG ỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM ỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI CÔNG ỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI CÔNG ỘI BỘ TẠI CÔNG ỘI BỘ TẠI CÔNG ẠI CÔNG
TY TNHH Đ U T VÀ S N XU T MINH ẦU TƯ VÀ SẢN XUẤT MINH Ư VÀ SẢN XUẤT MINH ẢN XUẤT MINH ẤT MINH
Trang 2NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính bản thân tôi Toàn bộ
số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là hoàn toàn trung thực và chưa từngđược sử dụng trong bất kể một luận văn, một khóa luận được sử dụng để bảo vệ bất kỳmột học hàm, học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này đã đượccảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đều được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Bùi Hoàng Phúc
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè,đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc tới PGS.TS Đỗ Văn Viện đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thờigian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộmôn , Khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tậntình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức (cơ quan nơi thựchiện đề tài) đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điềukiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luậnvăn./
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Bùi Hoàng Phúc
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Dang mục bảng vii
Danh mục sơ đồ viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của hệ thống kiểm soát nội bộ doanh nghiệp 3
2.1 Cơ sở lý luận 3
2.1.1 Khái niệm hệ thống kiểm soát nội bộ 3
2.1.2 Vai trò của hệ thống kiểm soát nội bộ 5
2.1.3 Các bộ phận cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ 6
2.1.4 Thiết kế và vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ 18
2.2 Cơ sở thực tiễn 24
2.2.1 Kinh nghiệm kiếm soát nội bộ hiệu quả của DN các nước trên thế giới 24
2.2.2 Kinh nghiệm kiếm soát nội bộ hiệu quả của DN tại Việt Nam 24
2.2.3 Bài học kinh nghiệm về kiếm soát nội bộ hiệu quả cho Công ty TNHH đầu tư và sản xuất Minh Anh 25
2.3 Một số công trình nghiên cứu liên quan 25
Phần 3 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu 27
Trang 63.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 27
3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty TNHH đầu tư sản xuất Minh Anh 27 3.1.2 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý 28
3.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty TNHH đầu tư và sản xuất Minh Anh 32 3.2 Phương pháp nghiên cứu 33
3.2.1 Phương pháp thu thu thập số liệu 33
3.2.2 Phương pháp xử lý số liệu 34
3.2.3 Phương pháp phân tích, đánh giá 35
Phần 4 Kết quả và thảo luận 36
4.1 Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ tại công ty TNHH đầu tư và sản xuất Minh Anh 36 4.1.1 Thực trạng về môi trường kiểm soát 36
4.1.2 Thực trạng hoạt động kiểm soát tại Công ty TNHH đầu tư và sản xuất Minh Anh 46 4.1.3 Thực trạng hoạt động thông tin và truyền thông 55
4.1.4 Thực trạng hoạt động đánh giá rủi ro 60
4.1.5 Thực trạng hoạt động giám sát 61
4.2 Đánh giá chung hệ thống kiểm soát nội bộ tại công ty TNHH đầu tư và sản xuất Minh Anh 62 4.2.1 Kết quả đạt được 62
4.2.2 Những hạn chế tồn tại 67
4.2.3 Nguyên nhân của những hạn chế tồn tại 74
4.3 Định hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại công ty tnhh đầu tư và sản xuất minh anh đến năm 2022 75 4.3.1 Định hướng phát triển công ty và định hướng hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty 75 4.3.2 Mục tiêu 77
4.3.3 Giải pháp hoàn thiện Hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty TNHH đầu tư và sản xuất Minh Anh đến năm 2022 77 4.3.2 Hoàn thiện hoạt động kiểm soát 82
Trang 74.3.3 Hoàn thiện hệ thống thông tin và truyền thông 90
4.3.4 Hoàn thiện hoạt động đánh giá rủi ro 92
4.3.5 Hoàn thiện hoạt động giám sát 95
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 97
5.1 Kết luận 97
5.2 Kiến nghị 98
Tài liệu tham khảo 100
Phụ lục 102
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮTChữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
Trang 9DANG MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Tình hình tài chính của công ty TNHH đầu tư và sản xuấtMinh Anh 2015
-2017 33
Bảng 4.1 Tổng hợp kết quả điều tra về đặc thù quản lý 38
Bảng 4.2 Tổng hợp kết quả điều tra chính sách nhân sự 42
Bảng 4.3 Tổng hợp kết quả điều tra công tác kế hoạch 45
Bảng 4.4 Tổng hợp kết quả điều traHội đồng Quản trị và Ủy ban Kiểm toán 45
Bảng 4.5 Tổng hợp kết quả điều tra về một số hoạt động kiểm soát cơ bản 46
Bảng 4.6 Quy trình tuyển dụng 53
Bảng 4.7 Tổng hợp kết quả điều tra về hệ thống thông tin và truyền thông 56
Bảng 4.8 Tổng hợp kết quả điều tra về hoạt động giám sát 62
Bảng 4.9 Tổng hợp kết quả điều tra Công tác kế hoạch 69
Bảng 4.10 Tổng hợp kết quả điều tra hoạt động giám sát 73
Bảng 4.11 Đề xuất quy trình tuyển dụng tại Công ty 86
Bảng 4.12 Qui trình đánh giá công việc 88
Trang 10DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 3.1 Cơ cấu tổ chức Công ty TNHH đầu tư thương mại Minh Anh 28
Sơ đồ 3.2 Hoạt động mua hàng 48
Sơ đồ 4.1 Cơ cấu tổ chức đề xuất đối với Công ty 79
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂNTên tác giả:Bùi Hoàng Phúc
Tên luận văn: “Hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty TNHH đầu tư và sản xuất Minh
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài đã sử dụng các phương phá nghiên cứu sau: Phương pháp thu thập số liệugồm thu thập số liệu thứ cấp, thu thập số liệu sơ cấp; phương pháp xử lý số liệu; phươngpháp phân tích, đánh giágồm phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh,phương pháp phân tích chi tiết
Kết quả chính và kết luận
Hệ thống hoá và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về hệ thống kiểm soátnội bộ trong các doanh nghiệp Phân tích các quan điểm khác nhau về hệ thống kiểmsoát nội bộ, từ đó tổng quát đưa ra mô hình tổ chức hệ thống KSNB làm khung lý thuyếtnghiên cứu hệ thống KSNB tại Công ty TNHH đầu tư và sản xuất Minh Anh
Luận văn trình bày cụ thể thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ bộ tại Công tyTNHH đầu tư và sẩn xuất Minh Anh Từ đó tiến hành phân tích, đánh giá rút ra đượcnhững ưu điểm và những tồn tại cơ bản mà doanh nghiệp cần khắc phục và hoàn thiệnnhằm đảo bảo các mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ
Luận văn đã nêu được đặc điểm chung về sản xuất kinh doanh, công tác quản lýcũng như những thuận lợi và khó khăn thuộc về môi trường kinh doanh có ảnh hưởngđến việc thiết kế và vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ trong Công ty TNHH đầu tư vàsản xuất Minh Anh
Trang 12Luận văn đã tìm ra nguyên nhân của các tồn tại về hệ thống kiểm soát nội bộ tạiCông ty TNHH đầu tư và sẩn xuất Minh Anhlàm cơ sở cho việc đưa ra các nội dunghoàn thiện.
Luận văn đã nêu lên phương hướng và sự cần thiết hoàn thiện hệ thống kiểm soátnội bộ trong Công ty TNHH đầu tư và sản xuất Minh Anh
Luận văn đã đưa ra các nội dung hoàn thiện cụ thể về hệ thống kiểm soát nội bộtheo từng yếu tố cấu thành HTKSNB tại Công ty TNHH đầu tư và sản xuất Minh Anh
Luận văn cũng đưa ra được các điều kiện cơ bản về phía Nhà nước, các cơ quanchức năng nhằm tạo những tiền đề, cơ sở giúp cho những nội dung hoàn thiện có thể ápdụng vào thực tế, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý, hiệu quả hoạtđộng của doanh nghiệp
Trang 13THESIS ABSTRACTMaster candidate: Bui Hoang Phuc
Thesis title: Internal control system at Minh Anh investment and production limited
liability company
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
Orientate and propose solutions to improve the internal control systemat MinhAnh investment and production limited liability company in the next years
Materials and Methods
Topics used the following research methods: Methods of data collectionincludesecondary data collection, primary data collection; method of dataprocessing;method of analysis and evaluation includemethod of descriptive statistics,comparative method;method of detailed analysis
Main findings and conclusions
Codified and clarified basic theoretical issues about internal control systems inenterprises Analyze different views of the internal control system, from which give themodel of the internal control system as the framework for studying the system of theinternal control system at Minh Anh Investment and Production Company Limited
The thesis has presented specifically the state of the internal control system atMinh Anh Investment and Production Co., Ltd From there, it has analyzed andevaluated the advantages and the basic shortcomings that enterprises needed toovercome and perfect in order to affect the objectives of the internal control system
The thesis has presented the general characteristics of production, businessand management as well as the advantages and disadvantages of the businessenvironment which affect the design and operation of the internal control system in theCong Minh Anh Investment and Production Co., Ltd
Trang 14The thesis has found the causes of the shortcomings of the internal controlsystem at Minh Anh Investment and Production Co., Ltd as the basis for the content ofthe completion.
The thesis has pointed out the direction and the need to improve the internalcontrol system in Minh Anh Investment and Production Company Limited
The thesis has put forward specific contents on the internal control systemaccording to each element of the FSSP at Minh Anh Investment and ProductionCompany Limited
The dissertation also has set out the basic conditions for the State and thefunctional agencies to create the basics and bases for the perfect content can be applied
in practice, thereby it has contributed to the improve the effectiveness of managementand business efficiency of enterprises
Trang 15PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hiện nay, với sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường toàn cầu, áp lực suythoái và những khó khăn nhiều chiều từ nền kinh tế, các doanh nghiệp (DN) ngàycàng quan tâm nhiều hơn đến hệthống kiểm soát nội bộ (KSNB) nhằm giúp tổ chứchạn chế những sự cố, mất mát, thiệt hại, và tăng hiệu quả hoạt động của tổ chức
Đối với DN, hệ thống KSNB là phương sách quản lý hữu hiệu của các nhàquản lý DN Hệ thống này bao gồm các chính sách và thủ tục kiểm soát đượcthiết kế nhằm đảm bảo cho DN đạt được các mục tiêu của mình Trong thời kỳhiện đại, vai trò của hệ thống KSNB không chỉ dừng lại ở việc đảm bảo mà còn
mở rộng sang cả vai trò hỗ trợ và tạo giá trị gia tăng cho DN Hệ thống KSNB cóảnh hưởng tới lòng tin của các nhà đầu tư về sự tồn tại và phát triển của DN
Công ty TNHH đầu tư và sản xuất Minh Anhlà doanh nghiệp được thànhlập năm 2009, chuyên phân phối, cung ứng, buôn bán bình nước nóngARISTON, hàng gia dụng BLUESTONE cho các đại lý cấp 1 và hệ thống cácsiêu thị uy tín tại Việt Nam như: Trần Anh, Mediamart, Nguyễn Kim, HC, Pico,Vinmax, Vincom, Vinpro… Tuy mới được thành lập nhưng Công ty luôn có tốc
độ phát triển nhanh qua các năm: Nếu doanh thu năm 2010 chỉ mới đạt 30 tỷVNĐ thì đến 2013 đã tăng lên 50 tỷ VNĐ và đến năm 2016 đạt 100 tỷ VNĐ.Việc tăng trưởng nhanh đối với một công ty nhỏ mới được thành lập luôn chứađựng nhiều yếu tố rủi ro Do đó, đối với công ty Minh Anh, vấn đề an toàn tronghoạt động luôn được đặt lên hàng đầu Hệ thống KSNB tại công ty đã được xâydựng và tăng cường và bước đầu đã có vai trò hạn chế và ngăn ngừa rủi ro; ngănchặn sớm các gian lận, trộm cắp, tham nhũng, lợi dụng nguồn lực của DN; tạonên được sự minh bạch và hiệu quả trong công tác quản lý điều hành
Từ thực tế đó, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “ Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty TNHH đầu tư và sản xuất Minh Anh”làm nội dung
nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ chuyên ngành kế toán
Trang 161.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Phân tích, đánh giá thực trạng HTKSNB tại công ty TNHH đầu tư và sảnxuất Minh Anh ; Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến HTKSNB tại công ty nhữngnăm gần đây Từ đó đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống KSNB cho công
ty đến năm 2022
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
KSNB trong doanh nghiệp
sản xuất Minh Anh, Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến HTKSNB tại công ty nhữngnăm gần đây
ty TNHH đầu tư và sản xuất Minh Anhđến năm 2022
1.3 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
công ty
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
giải pháp nhằm hoàn thiện HTKSNB tại công ty TNHH đầu tư và sản xuất Minh Anh
sản xuất Minh Anh
liệu điều tháng 12/2017
+ Cácgiải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống KSNB cho công ty đến năm 2022
Trang 17PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HỆ THỐNG
KIỂM SOÁT NỘI BỘ DOANH NGHIỆP
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Khái niệm hệ thống kiểm soát nội bộ
Mọi hoạt động trong đó có hoạt động kiểm soát xuất hiện trong thực tếđều là kết quả của nhu cầu nảy sinh khi một người bất kỳ ngồi lại và kiểm tra cáianh ta đã làm Khi đó, anh ta tự hỏi mình đã làm một việc như thế nào và nếu lạilàm việc đó thì có thể làm tốt hơn ra sao Khi có một người thứ hai liên quan đếnnữa, chức năng đó được mở rộng thêm ra vì có thẩm tra hoạt động của người thứhai đó Trong một doanh nghiệp, khối lượng các nghiệp vụ nhiều và phức tạp nênngười chủ sở hữu hay người quản lý cấp cao thực tế không dễ dàng tiếp xúc vớicác nghiệp vụ đó để kiểm tra hiệu quả của các hoạt động một cách vừa ý được
Với tính đa dạng của các loại hình doanh nghiệp như hiện nay, chủ sở hữu
có nhiều cách thức để đảm bảo tính hiệu lực và hiệu quả của doanh nghiệp Ví
dụ, với loại hình công ty cổ phần (loại hình doanh nghiệp phổ biến), Đại hội đồng
cổ đông bầu ra Hội đồng quản trị để thay mặt cho các cổ đông để quyết định cácvấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty Đối với công ty cổ phần cótrên 11 thành viên phải có Ban kiểm soát để kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp trongđiều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
Người quản lý được chủ sở hữu giao cho việc quản lý khối tài sản đảmbảo mục tiêu đảm bảo tính hiệu lực và hiệu quả thông qua bàn tay vô hình trongquản lý Tính hiệu lực trong quản lý đó là việc đảm bảo những phương hướng,mục tiêu, nguyên tắc, quy trình, thủ tục đã được đặt ra bởi nhà quản lý thì phảiđược chấp hành Tính hiệu quả đó là việc các chi phí bỏ ra thì phải đem lại kếtquả cao nhất Hệ thống kiểm soát nội bộ của một doanh nghiệp được hình thànhnhư công cụ để thực hiện chức năng kiểm soát của các nhà quản lý
Lịch sử cũng đã từng chứng kiến sự sụp đổ của hàng loạt các công ty cổphần có niêm yết ở Hoa Kỳ như Ngân hàng Continental Illinois National Bank &Trust Co (1984); Công ty Dầu khí Texaco Inc (1987); Tập đoàn Tài chínhFinancial Corp of America (1988),… Điều này đã cho thấy vai trò quan trọngcủa hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp
Có nhiều quan điểm khác nhau đã được đưa ra về Hệ thống kiểm soát nội
bộ Năm 1929, Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (Federal Reserve Bulletin) lần đầu
Trang 18tiên đưa ra khái niệm về kiểm soát nội bộ và chính thức công nhận vai trò của hệthống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp Khái niệm kiểm soát nội bộ lúc nàyđược sử dụng trong các tài liệu kiểm toán và được hiểu đơn giản như là một biệnpháp giúp cho việc: bảo vệ tiền không bị các nhân viên gian lận, bảo vệ tài sảnkhông bị thất thoát, ghi chép kế toán chính xác, tuân thủ chính sách của nhà quản
lý và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Với sự sụp đổ hàng loạt của các tập đoàn lớn do ảnh hưởng của quy môcác gian lận gây thiệt hại cho nền kinh tế, nhiều Ủy ban ra đời để khảo sát và tìmcách khắc phục, ngăn chặn các gian lận Ủy ban quốc gia về phòng chống gianlận báo cáo tài chính Treadway Commission (National Commission on FinancialReporting) được thành lập vào năm 1985 với mục tiêu hoạt động cơ bản là xácđịnh các yếu tố gian lận trên báo cáo tài chính và đưa ra các đề xuất để giảmthiểu phạm vi ảnh hưởng của các gian lận đó đến kết xuất thông tin
Ủy ban các tổ chức đồng bảo trợ (COSO) là một Ủy ban gồm nhiều tổchức nghề nghiệp nhằm hỗ trợ cho Ủy ban Treadway như: Hiệp hội kế toán viêncông chứng Hoa Kỳ (AICPA), Hội Kế toán Hoa Kỳ (AAA), Hiệp hội các nhàquản trị tài chính (FEI), Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ (IIA) và Hiệp hội kế toánviên quản trị (IMA) Năm 1992, COSO đã đưa ra Báo cáo COSO về kiểm soát
nội bộ trong đó nêu rõ “Hệ thống kiểm soát nội bộ là một quá trình bị chi phối
bởi ban giám đốc, nhà quản lý và các nhân viên của đơn vị, được thiết kế để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu về sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động, mục tiêu về sự tin cậy của báo cáo tài chính, mục tiêu về
sự tuân thủ các luật lệ và quy định”.
Hệ thống lý luận về kiểm soát nội bộ ở Việt Nam gắn liền với sự ra đời vàphát triển của hoạt động kiểm toán độc lập của Việt Nam Theo chuẩn mực kiểmtoán VSA 400 “Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ” đã đưa ra định nghĩa về Hệthống kiểm soát nội bộ như sau: “Kiểm soát nội bộ là các quy định và các thủ tụckiểm soát do đơn vị được kiểm toán xây dựng và áp dụng nhằm bảo đảm cho đơn
vị tuân thủ pháp luật và các quy định, để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và pháthiện gian lận, sai sót; để lập báo cáo tài chính trung thực và hợp lý; nhằm bảo vệ,quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản của đơn vị”
Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về hệ thống kiểm soát nội bộnhưng có thể thấy rằng quan điểm của Báo cáo COSO là đầy đủ và có hệ thốngnhất, Báo cáo COSO tạo lập một cơ sở lý thuyết rất cơ bản về kiểm soát nội bộ
Trang 192.1.2 Vai trò của hệ thống kiểm soát nội bộ
“Kiểm soát nội bộ là một quá trình”: tức là khẳng định kiểm soát nội bộkhông phải là một sự kiện hay tình huống mà là một chuỗi các hoạt động hiệndiện rộng khắp trong doanh nghiệp Kiểm soát nội bộ tỏ ra hữu hiệu nhất khi nóđược xây dựng như một phần cơ bản trong hoạt động của doanh nghiệp chứkhông phải là một sự bổ sung cho các hoạt động của doanh nghiệp hoặc là mộtgánh nặng bị áp đặt bởi các cơ quan quản lý hay thủ tục hành chính Kiểm soátnội bộ phải là một bộ phận giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu của mình
“Kiểm soát nội bộ bị chi phối bởi con người trong doanh nghiệp” (baogồm ban giám đốc, nhà quản lý và các nhân viên) Con người đặt ra mục tiêu vàđưa cơ chế kiểm soát vào vận hành hướng tới các mục tiêu đã định Ngược lại,kiểm soát nội bộ cũng tác động đến hành vi của con người Mỗi cá nhân có mộtkhả năng, suy nghĩ và ưu tiên khác nhau khi làm việc và họ không phải luôn luônhiểu rõ nhiệm vụ của mình cũng như trao đổi và hành động một cách nhất quán.Kiểm soát nội bộ sẽ tạo ra ý thức kiểm soát ở mỗi cá nhân và hướng các hoạtđộng của họ đến mục tiêu chung của tổ chức
“Đảm bảo hợp lý”: kiểm soát nội bộ chỉ có thể cung cấp một sự đảm bảohợp lý cho ban giám đốc và nhà quản lý việc đạt được các mục tiêu của đơn vị.Điều này là do những hạn chế tiềm tàng trong hệ thống kiểm soát nội bộ như: sailầm của con người, sự thông đồng của các cá nhân, sự lạm quyền của nhà quản lý
và do mối quan hệ giữa lợi ích và chi phí của việc thiết lập nên hệ thống kiểmsoát nội bộ
“Các mục tiêu”: mỗi đơn vị đặt ra mục tiêu mà mình cần đạt tới bao gồm:
Thứ nhất là nhóm mục tiêu về hoạt động: nhấn mạnh đến sự hiệu lực và
hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực
Thứ hai là nhóm mục tiêu về báo cáo tài chính: đơn vị phải đảm bảo tính
trung thực và đáng tin cậy của báo cáo tài chính mà mình cung cấp
Thứ ba là nhóm mục tiêu về sự tuân thủ: đơn vị phải tuân thủ các luật lệ
và quy định
Sự phân chia các nhóm mục tiêu như trên chỉ có tính tương đối vì mộtmục tiêu cụ thể có thể liên quan đến 2 hoặc 3 nhóm trên Sự phân chia này chủyếu dựa vào sự quan tâm của các nhóm đối tượng khác nhau đối với hệ thốngkiểm soát nội bộ của đơn vị; nhóm mục tiêu về hoạt động xuất phát từ yêu cầu
Trang 20của cổ đông, nhà đầu tư vả chủ nợ; nhóm mục tiêu về sự tuân thủ xuất phát từ yêu cầu của các cơ quan quản lý.
2.1.3 Các bộ phận cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ
2.1.3.1 Môi trường kiểm soát
Môi trường kiểm soát bao gồm toàn bộ các nhân tố bên trong và bên ngoàiđơn vị tác động đến việc thiết kế và vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ củadoanh nghiệp Bởi vậy, môi trường kiểm soát đóng vai trò là nhân tố nền tảngtrong hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp
Tính hiệu quả của hoạt động kiểm tra kiểm soát trong các hoạt động củamột tổ chức phụ thuộc chủ yếu vào các nhà quản lý của doanh nghiệp đó Nếucác nhà quản lý cho rằng công tác kiểm soát là quan trọng và không thể thiếuđược đối với mọi hoạt động của đơn vị thì mọi thành viên của đơn vị đó sẽ cónhận thức đúng đắn về hoạt động kiểm tra kiểm soát và tuân thủ mọi quy địnhcũng như chế độ đề ra Ngược lại, nếu hoạt động kiểm tra kiểm soát bị coi nhẹ từphía các nhà quản lý thì chắc chắn các quy chế về kiểm soát nội bộ sẽ khôngđược vận hành một cách hiệu quả bởi các thành viên của doanh nghiệp
Môi trường bên trong
Nhân tố bên trong bao gồm: đặc thù về quản lý, cơ cấu tổ chức, chính sáchnhân sự, công tác kế hoạch, ủy ban kiểm soát Môi trường bên ngoài, ví dụ nhưchính sách của nhà nước, luật pháp…
Thứ nhất, các đặc thù về quản lý
Các quan điểm điều hành sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới chính sách, chế độ,các quy định và các thức tổ chức kiểm tra, kiểm soát trong doanh nghiệp Bởi vìchính các nhà quản lý và đặc biệt là các nhà quản lý cấp cao nhất sẽ phê chuẩncác quyết định, chính sách và thủ tục kiểm soát tại doanh nghiệp
Triết lý về quản lý thể hiện qua quan điểm và nhận thức của nhà quản lý.Phong cách điều hành thể hiện qua cá tính, tư cách và thái độ của nhà quản lý khiđiều hành doanh nghiệp Một số nhà quản lý rất quan tâm đến việc báo cáo lợinhuận và chú trọng đến việc hoàn thành vượt mức kế hoạch Họ hài lòng với hoạtđộng kinh doanh có mức rủi ro cao nhưng thu được nhiều lợi nhuận Ngược lại,một số nhà quản lý không thích mạo hiểm Trong điều hành doanh nghiệp, một
số nhà quản lý muốn phân chia quyền lực cho nhân viên, một số khác thì lại
Trang 21không như thế.
Để đánh giá về các đặc thù về quản lý, người ta thường dựa vào các tiêuchí như: mức độ rủi ro kinh doanh mà nhà quản lý có thể chấp nhận (Mạo hiểmhay thận trọng); sự tiếp xúc giữa nhà quản trị cấp cao và người quản lý điều hành,đặc biệt trong điều kiện cách trở về không gian; thái độ và hành động đối với việclập báo cáo tài chính bao gồm những khuynh hướng khác nhau trong kế toán, ápdụng những nguyên tắc kế toán, mức độ khai báo thông tin trên báo cáo tài chính
và kể cả quan điểm về việc gian lận và giả mạo chứng từ sổ sách
Thứ hai, cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức được xây dựng hợp lý trong doanh nghiệp sẽ góp phần tạo
ra môi trường kiểm soát tốt Cơ cấu tổ chức hợp lý đảm bảo một hệ thống xuyênsuốt từ trên xuống dưới trong việc ban hành các quyết định, triển khai các quyếtđịnh cũng như kiểm tra, giam sát việc thực hiện các quyết định đó trong doanhnghiệp Một cơ cấu tổ chức hợp lý còn góp phần ngăn ngừa có hiệu quả các hành
vi gian lận và sai sót trong hoạt động tài chính kế toán của doanh nghiệp
Để đánh giá về cơ cấu tổ chức, cần dựa vào các tiêu chí: sự thích hợp của
cơ cấu tổ chức trong doanh nghiệp và khả năng cung cấp các thông tin cần thiếtcủa nhà quản lý; mức độ phù hợp giữa trách nhiệm theo cơ cấu tổ chức với nhậnthức của những người quản lý về nhiệm vụ đó; khả năng đáp ứng về kiến thức,kinh nghiệm đối với nhiệm vụ được giao của các nhà quản lý;
Khi đánh giá về chính sách nhân sự, cần dựa vào các tiêu chí: chính sách
và thủ tục cho việc tuyển dụng, huấn luyện, đề bạt và trợ cấp phù hợp cho nhânviên; có biện pháp điều chỉnh thích hợp cho sự khác biệt giữa chính sách nhân sự
Trang 22với các chính sách và thủ tục kinh doanh; cần kiểm tra và lựa chọn các ứng viên
có trình độ, năng lực và kinh nghiệm phù hợp; mức độ phù hợp giữa sự duy trìnhân viên, tiêu chuẩn đề bạt, kỹ thuật đánh giá khả năng làm việc, mối quan hệ
về nguyên tắc đạo đức và các hành vi khác
Thứ tư, công tác kế hoạch
Hệ thống kế hoạch và dự toán bao gồm các kế hoạch sản xuất, tiêu thụ, thuchi quỹ, kế hoạch hay dự toán đầu tư, sửa chữa tài sản cố định, đặc biệt là kếhoạch tài chính gồm ước tính cân đối tình hình tài chính, kết quả hoạt động và sựluân chuyển tiền trong tương lai là những nhân tố quan trọng trong môi trườngkiểm soát Nếu việc lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch được tiến hành khoa học
và nghiêm túc thì hệ thống kế hoạch và dự toán sẽ trở thành công cụ kiểm soáthữu hiệu Vì vậy, trong thực tế các nhà quản lý thường quan tâm xem xét tiến độthực hiện kế hoạch, theo dõi những nhân tố ảnh hưởng đến kế hoạch đã lập nhằmphát hiện ra những vấn đề bất thường và xử lý điều chỉnh kịp thời
Thứ năm, Hội đồng Quản trị và Ủy ban Kiểm toán
Hội đồng Quản trị và Ủy ban Kiểm toán là những thành viên có kinhnghiệm, uy tín trong doanh nghiệp Ủy ban kiểm toán trực thuộc Hội đồng quảntrị, gồm những thành viên trong và ngoài Hội đồng quản trị nhưng không thamgia vào việc điều hành doanh nghiệp
Ủy ban kiểm toán có thể có những đóng góp quan trọng cho việc thực hiệncác mục tiêu của doanh nghiệp thông qua việc kiểm tra các hoạt động tuân thủluật pháp, giám sát việc lập báo cáo tài chính
Khi đánh giá cần xét đến các tiêu chí sau: tồn tại độc lập đối với Ban giámđốc; các cuộc họp thường xuyên và không thường xuyên với các bộ phận liênquan như Phòng Tài chính, phòng kế toán, kiểm toán viên nội bộ và kiểm toánviên độc lâp; sự đầy đủ và kịp thời của các thông tin được cung cấp đến Hội đồngquản trị và của Ủy ban kiểm toán để giám sát các mục tiêu và chiến lược của nhàquản lý; kết quả hoạt động và tình hình tài chính của doanh nghiệp; điều khoảncủa các hợp đồng quan trọng; sự đầy đủ và kịp thời của báo cáo đến Hội đồngquản trị và Ủy ban kiểm toán về các thông tin “nhạy cảm”, việc điều tra và xử lý
Ban kiểm soát trực thuộc Đại hội đồng cổ đông và đóng vai trò tương tự như Ủy banKiểm toán
Trang 23Môi trường bên ngoài
Mỗi tổ chức cùng các nguồn lực của mình vận hành trong một môi trườnghết sức phức tạp là vì có nhiều nhân tố gây tác dụng của môi trường Những nhân
tố đó có thể thuộc về kinh tế, cạnh tranh, công nghệ, chính trị và xã hội
Thứ nhất, nhân tố kinh tế
Một bộ phận lớn của môi trường có liên quan đến nhiều nhân tố kinh tếkhác nhau Trước hết là mọi mặt của hiện trạng kinh tế chịu ảnh hưởng của tìnhhình thế giới, đất nước và các vùng lãnh thổ Trong khuôn khổ đó, có những nhân
tố đặc thù có liên quan đến sản phẩm và dịch vụ của một công ty nhất định Aidùng sản phẩm và vì sao? “Cầu” đối với các nhu cầu khác mạnh như thế nào?
Mặt khác, sau đó có những nhân tố liên quan đến “cung” sản phẩm, dịch vụ Ở
đâu có vật liệu và dịch vụ cần thiết để làm ra sản phẩm nói trên và các vật liệucũng như dịch vụ này có dễ kiếm không? Loại phương tiện máy móc thiết bị sảnnào để sản xuất và loại dây chuyền nào cần đến? Những yêu cầu gì về vốn?
Thứ hai, nhân tố cạnh tranh
Cùng với các khía cạnh kinh tế vừa đề cập là tình hình cạnh tranh hiện taị
Ai là đối thủ cạnh tranh? Số lượng đối thủ này? Họ có quan hệ với công ty nhiềuhay it? Các thế mạnh cạnh tranh của họ là gì? Những nhân tố đó kết hợp lại đểxác định tính chất của môi trường cạnh tranh ảnh hưởng đến ngành kinh doanhnói chung và trực tếp đến từng doanh nghiệp Quan hệ cạnh tranh thường cónhiều quy mô
Thứ ba, nhân tố công nghệ
Tất cả các doanh nghiệp, do bản chất loại hình kinh doanh của họ vàngành kinh doanh họ hoạt động đều phụ thuộc vào nhân tố công nghệ theo cáchthức riêng của họ
Trang 24Đằng sau luật pháp hiện hành là lực lượng xã hội được biểu lộ thông quaquá trình chính trị và sau đó trong một số trường hợp là sự hiệu lực hóa luật pháp.Thái độ và quan điểm của xã hội cũng tạo ra sức mạnh quan trọng thuộc môitrường Cho nên ngày càng đòi hỏi các tổ chức kinh doanh phải có trách nhiệm
xã hội cao hơn
2.1.3.2 Đánh giá rủi ro
Trên cơ sở môi trường kiểm soát thực tế với các yếu tố nội tại cũng nhưbên ngoài, doanh nghiệp cần phân tích và đánh giá những rủi ro ảnh hưởng tớikhả năng hoàn thành những mục tiêu chủ yếu Một loại rủi ro được xác định, bangiám đốc sẽ xem xét những dấu hiệu sự tồn tại của chúng và quản lý chúng nhưthế nào Doanh nghiệp có thể xây dựng kế hoạch, chương trình hoặc đề xuất cáccông việc để xác định các loại rủi ro cụ thể hoặc có thể quyết định chấp nhận rủi
ro bởi vì yếu tố chi phí hoặc những xem xét khác
Rủi ro là những nguy cơ làm cho mục tiêu của tổ chức không được thựchiện Kinh doanh là chấp nhận rủi ro Dù cho quy mô, cấu trúc, loại hình hay vịtrí địa lý khác nhau, mọi tổ chức đều có rủi ro Rủi ro phát sinh từ các nguồn bênngoài lẫn bên trong của tổ chức, nên cần phải đánh giá và phân tích rủi ro, kể cảcác rủi ro hiện hữu lẫn tiềm ẩn
Một sự kiện chỉ được xem là rủi ro nếu nó đe dọa việc đạt được các mụctiêu của doanh nghiệp Do đó, mục tiêu phải được đề ra thì nhà quản lý mới cóthể nhận dạng rủi ro và có những hành động cần thiết để quản lý chúng Có baloại mục tiêu chủ yếu:
Thứ nhất, mục tiêu hoạt động:Liên quan đến tính có hiệu lực và hiệu quả
của các hoạt động trong doanh nghiệp Nó bao gồm các mục tiêu về phương thứcthực hiện, lợi nhuận và bảo vệ tài sản Mục tiêu hoạt động sẽ thay đổi tùy thuộcvào cơ cấu và cách thức thực hiện
Thứ hai, mục tiêu báo cáo tài chính: Đảm bảo độ tin cậy của các thông tin
công khai trên báo cáo tài chính
Thứ ba, mục tiêu về tính tuân thủ: Đảm bảo tuân thủ các quy định, các
nguyên tắc mang tính pháp lý
Mỗi tình huống khác nhau của một hoạt động sẽ liên quan đến một hoặcnhiều mục tiêu Các mục tiêu trong một tổ chức được thực hiện và liên kết vớinhau Mục tiêu phải được triển khai một cách nhất quán và phổ biến đến mọi bộ
Trang 25phận trong doanh nghiệp Người quản lý và nhân viên thực hiện cần hỗ trợ lẫnnhau để hiểu được kết quả cần phải đạt được, vì vấn đề cơ bản trong kiểm soátnội bộ là quản lý mục tiêu.
Trên cơ sở môi trường kiểm soát hiện tại, để đối phó với những rủi ro nhưkinh doanh thua lỗ, vi phạm pháp luật, báo cáo tài chính không trung thực, tài sản
bị tham ô, đánh cắp…, doanh nghiệp phải đề ra đánh giá được những rủi ro cóthể xảy ra để từ đó đề ra những quy định, chính sách để điều hành hoạt động sảnxuất kinh doanh phù hợp Bởi vậy, đánh giá rủi ro đóng vai trò cơ sở để xây dựngcác quy định, chính sách kiểm soát nội bộ Các loại rủi ro có thể xảy ra với doanhnghiệp bao gồm:
Thứ nhất, rủi ro hoạt động
Rủi ro hoạt động là loại rủi ro xảy ra trong doanh nghiệp có liên quan đến:Nguồn lực, sự kiện, đối tượng Các rủi ro hoạt động xảy ra thông thường là doviệc thực hiện không hữu hiệu, không hiệu quả và không tuân thủ như: nghiệp
vụ, hoạt động không được xét duyệt; nghiệp vụ đã xét duyệt nhưng không đượcthực hiện, hoặc thực hiện nhiều lần (bị trùng lắp); sai sót đối tượng liên quan; sửdụng sai sót nguồn lực (Sai sản phẩm, số lượng, giá …); mất mát tài sản, thiếuhụt tài sản
Thứ hai, rủi ro xử lý thông tin
Là loại rủi ro xảy ra trong doanh nghiệp có liên quan đến việc ghi nhậnthông tin, xử lý thông tin, cung cấp kết xuất Các rủi ro xử lý thông tin thường cónguyên nhân từ quá trình ghi chép, nhập liệu như: thiếu hoặc không ghi chép,không nhập liệu nghiệp vụ hoặc và nhập trùng lắp các nghiệp vụ; ghi sai nguồnlực (Loại sản phẩm, số lượng, giá cả sản phẩm); ghi sai các đối tượng liên quanhoặc quá trình xử lý, cập nhật và cung cấp như không cập nhật hoặc cập nhậtnhiều lần; cập nhật không đúng thời điểm; cập nhật sai đối tượng, nguồn lực liênquan; cung cấp thông tin sai đối tượng, thời điểm…
Thứ ba, rủi ro nguồn lực hệ thống
Là các rủi ro xảy ra trong doanh nghiệp có liên quan đến việc phát triển,
sử dụng và bảo quản hệ thống thông tin Rủi ro nguồn lực hệ thống xảy ra do:Thời gian kéo dài, chi phí cao, hệ thống không đạt yêu cầu, thất bại; không đúngđối tượng sử dụng, sử dụng sai chức năng…; hư hỏng hệ thống, mất mát dữliệu…
Trang 262.1.3.3 Thông tin và truyền thông
Nhà quản lý chỉ có thể đưa ra những quyết định phù hợp trong quản trị vàtrong kiểm soát các hoạt động của doanh nghiệp cũng như lập báo cáo tài chínhđáng tin cậy khi dựa trên cơ sở hệ thống thông tin hiệu quả bao gồm cả hệ thống
kế toán Bên cạnh đó, hoạt động truyền thông liên quan đến việc cung cấp một sựhiểu biết rõ ràng đối với các quy định và trách nhiệm của mỗi cá nhân Các kếhoạch, các hoạt động kiểm soát phải được báo cáo lên cấp trên, chuyển từ trênxuống dưới, ngang hàng, ngang cấp trong một doanh nghiệp
Thông tin và truyền thông gồm hai thành phần gắn kết với nhau Đó là hệthống thu nhận, xử lý, ghi chép thông tin và hệ thống báo cáo thông tin bên trongnội bộ và bên ngoài
Thông tin
Để xử lý thông tin trong doanh nghiệp cần có hệ thống thông tin với cácđặc điểm:
Thứ nhất, thông tin được thu nhập, xử lý bởi hệ thống thông tin Thông tin
có thể chính thức hoặc không chính thức Ví dụ, qua đàm phán với khách hàng,nhà cung cấp hoặc nhân viên, nhà quản lý có thể nhận ra được những rủi ro hoặc
cơ hội cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Thứ hai, Hệ thống thông tin không chỉ nhận dạng, nắm bắt các thông tin
cần thiết về tài chính, phi tài chính mà nó còn đánh giá và báo cáo về nhữngthông tin đó theo một trình tự để việc quản lý các hoạt động của doanh nghiệp cóhiệu quả
Thứ ba, hệ thống thông tin thích hợp bao gồm các thông tin về ngành sản
xuất kinh doanh, thông tin kinh tế và những thông tin có liên quan khác từ bênngoài và bên trong doanh nghiệp
Thứ tư, hệ thống kế toán là hệ thống thông tin chủ yếu trong doanh nghiệp
bao gồm hệ thống chứng từ kế toán, hệ thống sổ kế toán, hệ thống tài khoản kếtoán và hệ thống bảng tổng hợp, cân đối kế toán Trong đó, quá trình lập và luânchuyển chứng từ đóng vai trò quan trọng trong công tác kiểm soát nội bộ củadoanh nghiệp
Mục đích của một hệ thống kế toán của doanh nghiệp là sự nhận biết, thuthập, phân loại, ghi sổ và báo cáo các nghiệp vụ kinh tế tài chính của doanhnghiệp đó, thảo mãn chức năng thông tin và kiểm tra của hoạt động kế toán Một
Trang 27hệ thống kế toán hữu hiệu phải đảm bảo các mục tiêu kiểm soát chi tiết như: Tính
có thực (Cơ cấu kiểm soát không cho phép ghi chép những nghiệp vụ không cóthực vào sổ sách của đơn vị); sự phê chuẩn (Đảm bảo mọi nghiệp vụ xảy ra phảiđược phê chuẩn hợp lý); tính đầy đủ (Bảo đảm việc phản ánh trọn vẹn nghiệp vụkinh tế phát sinh); sự đánh giá (Đảm bảo không có sai phạm trong việc tính toáncác khoản giá và phí); sự phân loại (Đảm bảo các nghiệp vụ được ghi chép đúngtheo sơ đồ tài khoản và ghi nhận đúng đắn ở các loại sổ sách kế toán); tính đúng
kỳ (Bảo đảm việc ghi sổ các nghiệp vụ phát sinh được thực hiện kịp thời theoquy định)
Thứ năm, chất lượng thông tin ảnh hưởng đến khả năng của nhà quản lý
để ra quyết định và kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp Chất lượng thông tinchỉ ra sự đầy đủ các dữ liệu thích hợp trong báo cáo Chất lượng thông tin baogồm: thông tin thích hợp; thông tin được cung cấp ngay khi cần; thông tin đượccập nhật kip thời; thông tin chính xác; thông tin có thể tiếp cận dễ dàng bởi người
Nhiệm vụ quản lý tài chính và các hoạt động quan trọng đòi hỏi thông tinđược cung cấp một cách rõ ràng và chính xác đến các nhà quản lý cấp cao.Những nhiệm vụ quan trọng cần được phân chia trách nhiệm cụ thể Mỗi cá nhânphải hiểu rõ vai trò, trách nhiệm của mình, cách thức thực hiện công việc, nguyênnhân dẫn đến rủi ro trong hệ thống kiểm soát nội bộ Đồng thời hiểu rõ sự liênquan giữa công việc cá nhân với bộ phận khác để có thể điều chỉnh các hoạt độngthích hợp Song song với phương tiện truyền thông từ trên xuống, các nhà quản
lý cũng cần phải lắng nghe các thông tin phản hồi từ dưới lên để hoạt động củadanh nghiệp luôn đạt hiệu quả cao
Trang 28Việc truyền thông không chỉ cần thiết bên trong mà còn cả bên ngoàidoanh nghiệp Cổ đông, người phân tích tài chính, người lập pháp cung cấpnhững yêu cầu của họ và họ có thể hiểu được những khó khăn mà doanh nghiệpphải đối phó Khách hàng và người cung cấp có thể cung cấp những thông tinquan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh, làm cho doanh nghiệp có khảnăng đáp ứng những nhu cầu ngày càng phát triển của thị trường.
2.1.3.4 Hoạt động (thủ tục) kiểm soát
Hoạt động kiểm soát là những chính sách, thủ tục để đảm bảo cho các chỉthị của nhà quản lý được thực hiện Các chính sách và thủ tục này thúc đẩy cáchoạt động cần thiết để giảm thiểu những rủi ro của doanh nghiệp và tạo điều kiệncho các mục tiêu đề ra được thực thi nghiêm túc, hiệu quả trong toàn doanhnghiệp
Các thủ tục kiểm soát do các nhà quản lý xây dựng dựa trên ba nguyên tắc
cơ bản đó là: nguyên tắc bất kiêm nhiệm, nguyên tắc phân công phân nhiệm vàchế độ ủy quyền
Thứ nhất, nguyên tắc phân công phân nhiệm: Trách nhiệm và công việc
cần được phân chia cụ thể cho nhiều bộ phận và cho nhiều người trong bộ phận.Việc phân công phân nhiệm rõ ràng tạo sự chuyên môn hóa trong công việc, saisót ít xảy ra và nếu có xảy ra thì cũng dễ phát hiện
Thứ hai, nguyên tắc bất kiêm nhiệm: Nguyên tắc này quy định sự cách ly
thích hợp về trách nhiệm trong các nghiệp vụ có liên quan nhằm ngăn ngừa cácsai phạm và hành vi lạm dụng quyền hạn
Thứ ba, nguyên tắc ủy quyền và phê chuẩn: Theo sự ủy quyền của các nhà
quản lý, các cấp dưới được giao cho quyền quyết định và giải quyết một số côngviệc trong một phạm vi nhất định Quá trình ủy quyền được tiếp tục mở rộngxuống các cấp thấp hơn tạo nên một hệ thống phân chia trách nhiệm và quyềnhạn mà vẫn không làm mất tính tập trung của doanh nghiệp
Các thủ tục kiểm soát để đề phòng sai sót và gian lận kế toán bao gồm:
Thứ nhất, thủ tục kiểm soát nhằm đề phòng các sai sót và gian lận, ngăn
chặn các điều kiện dẫn đến sai sót hay gian lận Kiểm soát dự phòng được thựchiện trước khi nghiệp vụ xảy ra và được tiến hành ngay trong công việc hàngngày của nhân viên Ví dụ: việc ghi sổ kép là một biện pháp dự phòng
Trang 29Thứ hai, kiểm soát nhằm nhận ra các sai sót, gian lận, hoặc phát hiện ra
các điều kiện dẫn đến sai sót, gian lận Kiểm soát phát hiện được tiến hành saukhi nghiệp vụ đã xảy ra Ví dụ: Lập bảng cân đối tài khoản để kiểm tra số dư cáctài khoản
Các thủ tục kiểm soát để tránh rủi ro với hệ thống thông tin bao gồm:
Thứ nhất, thủ tục kiểm soát dữ liệu: Là việc cài đặt, lập trình, vận hành,
sao chép, phục hồi cũng như kỹ thuật giải quyết những sự cố bất thường
Thứ hai, thủ tục kiểm soát phần mềm hệ thống: Là hoạt động kiểm soát
tính hiệu quả của việc mua, cài đặt, sử dụng và bảo trì các phần mềm
Thứ ba, thủ tục kiểm soát tiếp cận hệ thống: Là việc kiểm soát các biện
pháp bảo đảm an toàn cho hệ thống Nếu hoạt động kiểm soát này được thực hiệntốt, đó là biện pháp hiệu quả ngăn ngừa sự xâm nhập trái phép
Thứ tư, thủ tục kiểm soát phát triển và bảo trì hệ thống ứng dụng: Là việc
theo dõi, cập nhật những thay đổi cho hệ thống Khi thay đổi hệ thống, ngườithiết kế hệ thống cần phải tham khảo ý kiến của những người có thẩm quyền,người có trách nhiệm liên quan Hệ thống mới cần được thử nghiệm cho từngchương trình riêng và cho toàn bộ hệ thống Tài liệu liên quan đến thay đổi hệthống phải được lưu trữ để tham khảo khi cần thiết
Các thủ tục kiểm soát nhằm ngăn chặn và phát hiện sai sót trong các quytrình, nghiệp vụ bao gồm:
Thứ nhất, thủ tục kiểm soát thông tin đầu vào: Là việc biến đổi các dữ liệu
bằng ngôn ngữ mà máy có thể hiểu được nhằm ngăn chặn và phát hiện ra sai sóttrước và trong quá trình nhập dữ liệu
Thứ hai, thủ tục kiểm soát xử lý nhằm giám sát sự chính xác của dữ kiện
kế toán trong quá trình xử lý máy tính
Thứ ba, thủ tục kiểm soát thông tin đầu ra bao gồm các chính sách và cách
thức thực hiện nhằm đảm bảo sự chính xác của kết quả quá trình xử lý số liệu
2.1.3.5 Giám sát và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ
Giám sát là bộ phận cuối cùng của kiểm soát nội bộ, là một quá trình đánhgiá chất lượng của hệ thống kiểm soát nội bộ trong suốt thời kì hoạt động để cócác điều chỉnh và cải tiến thích hợp Giám sát có một vai trò quan trọng, nó giúpkiểm soát nội bộ luôn duy trì sự hữu hiệu qua các thời kì khác nhau Quá trình
Trang 30giám sát được thực hiện bởi những người có trách nhiệm nhằm đánh giá việcthiết lập và thực hiện các thủ tục kiểm soát Giám sát được thực hiện ở mọi hoạtđộng trong doanh nghiệp bao gồm: Giám sát thường xuyên và đánh giá định kì vàkiểm toán nội bộ.
Giám sát thường xuyên
Giám sát thường xuyên diễn ra ngay trong quá trình hoạt động của doanhnghiệp, do các nhà quản lý và nhân viên thực hiện trách nhiệm của mình Giámsát thường xuyên thường được áp dụng cho những yếu tố quan trọng trong kiểmsoát nội bộ Giám sát để đánh giá việc thực hiện các hoạt động thường xuyên củanhân viên nhằm xem xét hệ thống kiểm soát nội bộ có nên tiếp tục thực hiện chứcnăng nữa hay không
Các tiêu chí đánh giá giám sát trong doanh nghiệp bao gồm:
Thứ nhất, thu thập thông tin trong nội bộ doanh nghiệp và bên ngoài để
làm rõ những vấn đề phát sinh trong nội bộ hoặc những thông tin nội bộ khácthông qua việc tổ chức các buổi huấn luyện, hội thảo hoặc những hình thức gặp
gỡ khác nhằm cung cấp thông tin phản hồi cho người quản lý
Thứ hai, đối chiếu số liệu thực tế với sổ sách
Thứ ba, kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập: chú trọng các kiến nghị
cải tiến kiểm soát nội bộ của kiểm toán viên độc lập và kiểm toán viên nội bộ
Đánh giá định kỳ
Đánh giá định kì được thực hiện thông qua chức năng kiểm toán nội bộ vàkiểm toán độc lập Qua đó phát hiện kịp thời những yếu kém trong hệ thống vàđưa ra biện pháp hoàn thiện Phạm vi và tần suất giám sát phụ thuộc vào mức độrủi ro Khả năng xảy ra rủi ro cao thì việc giám sát sẽ thực hiện thường xuyênhơn Ngoài ra phạm vi giám sát còn tùy thuộc vào mục tiêu hoạt động, báo cáotài chính hay tuân thủ
Việc đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ tự bản thân nó cũng là một quytrình Người đánh giá phải am hiểu mọi hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ,phải xác định được làm thế nào để hệ thống thực sự hoạt động
Tùy vào quy mô doanh nghiệp, mức độ phức tạp của các yếu tố mà thiết lập
hồ sơ của hệ thống kiểm soát nội bộ khác nhau Ở doanh nghiệp lớn, thiết lập sổ taychính sách, bản mô tả công việc, hướng dẫn thực hiện… Còn đối với các doanhnghiệp nhỏ, hồ sơ kiểm soát nội bộ sẽ đơn giản hơn Tiêu chí đánh giá bao gồm:
Trang 31Thứ nhất, mục đích và tính thường xuyên của giám sát định kì trong hệ
thống kiểm soát nội bộ
Thứ hai, sự phù hợp của quy trình đánh giá.
Thứ ba, sự phù hợp và có hệ thống của phương pháp đánh giá.
Thứ tư, mức độ thích hợp của chứng từ.
Kiểm toán nội bộ
Kiểm toán nội bộ là một bộ phận độc lập được thiết lập nhằm tiến hànhcác công việc kiểm tra và đánh giá các hoạt động phục vụ yêu cầu quản trị nội bộcủa đơn vị
Theo các chuẩn mực thực hành kiểm toán nội bộ do Viện Kiểm toán nội
bộ Hoa Kỳ ban hành năm 1978, “Kiểm toán viên nội bộ là một chức năng đánhgiá độc lập được thiết kế trong một tổ chức để kiểm tra, đánh giá các hoạt độngcủa tổ chức như là một hoạt động phục vụ cho tổ chức” Mục tiêu của Kiểm toánnội bộ là giúp đỡ các thành viên của tổ chức hoàn thành trách nhiệm của họ mộtcách hiệu quả nhất
Theo Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC), kiểm toán nội bộ là “một hoạtđộng đánh giá được lập ra trong một doanh nghiệp như là một loại dịch vụ chodoanh nghiệp đó, các chức năng kiểm tra, đánh giá và giám sát thích hợp và hiệuquả của hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ
Là một trong những nhân tố cơ bản trong hệ thống kiểm soát nội bộ củadoanh nghiệp, bộ phận kiểm toán nội bộ cung cấp một sự quan sát, đánh giáthường xuyên về toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm cả tính hiệu quảcủa việc thiết kế, vận hành các chính sách và thủ tục về kiểm soát nội bộ Bộphận kiểm toán nội bộ hữu hiệu sẽ giúp cho doanh nghiệp có được thông tin kịpthời và xác thực về các hoạt động trong doanh nghiệp, chất lượng của hoạt độngkiểm soát nhằm kịp thời điều chỉnh và bổ sung các quy chế kiểm soát thích hợp
và hiệu quả Tuy nhiên, bộ phận kiểm toán nội bộ chỉ phát huy tác dụng nếu:
Về tổ chức, Bộ phận kiểm toán nội bộ phải trực thuộc một cấp cao vừa đủ
để không bị giới hạn phạm vi hoạt động của nó, đồng thời phải được giao mộtquyền hạn tương đối rộng rãi và hoạt động tương đối độc lập với phòng kế toán
và các bộ phận hoạt động được kiểm tra
Về nhân sự, bô phận kiểm toán nội bộ phải tuyển chọn nhân viên có nănglực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp phù hợp các quy định hiện hành
Trang 322.1.4 Thiết kế và vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ
2.1.4.1 Nội dung của hệ thống kiểm soát nội bộ
Hệ thống kiểm soát nội bộ là hệ thống của tất cả những gì mà một tổ chứccần làm để có được những điều muốn có và tránh những điều muốn tránh Cũngtrên nguyên tắc này, các hệ thống quản lý khác nhau như: Chuẩn mực quốc tếnhư ISO, TQM, QA/QC đảm bảo sự hoạt động hiệu quả của một tổ chức đã đượcxây dựng Để đạt được điều đó, hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp phảiđược thiết kế để đảm bảo các mục tiêu của kiểm soát nội bộ
2.1.4.2 Thiết kế hệ thống kiểm soát nội bộ
Hệ thống kiểm soát nội bộ trong một doanh nghiệp chỉ thực sự hiệu quảkhi các thành phần tạo nên hệ thống kiểm soát nội bộ được xây dựng phù hợp vớicác mục tiêu đề ra của doanh ngiệp
Xây dựng môi trường kiểm soát
Môi trường kiểm soát là những yếu tố của tổ chức ảnh hưởng đến hoạtđộng của hệ thống kiểm soát nội bộ và là các yếu tố tạo ra một môi trường trong
đó toàn bộ thành viên của tổ chức có nhận thức được tầm quan trọng của hệthống kiểm soát nội bộ hay không Ví dụ, nhận thức của ban giám đốc thế nào vềtầm quan trọng của liêm chính và đạo đức nghề nghiệp, về việc cần tổ chức bộmáy hợp lý, về việc phải phân công, ủy nhiệm, giao việc rõ ràng, về việc phảiban hành bằng văn bản các nội quy, quy chế, quy trình sản xuất Một môitrường kiểm soát tốt sẽ là nền tảng quan trọng cho sự hoạt động hiệu quả của hệthống kiểm soát nội bộ
Môi trường kiểm soát chỉ thực sự tốt nếu các nội dung sau được đảm bảo:
Thứ nhất, doanh nghiệp đã ban hành dưới dạng văn bản các quy tắc, chuẩn
mực phòng ngừa ban lãnh đạo và các nhân viên lâm vào tình thế xung đột quyềnlợi với doanh nghiệp, kể cả việc ban hành các quy định xử phạt thích hợp khi cácquy tắc chuẩn mực này bị vi phạm
Thứ hai, doanh nghiệp đã phổ biến rộng rãi các quy tắc, chuẩn mực nêu
trên, đã yêu cầu tất cả nhân viên ký bản cam kết tuân thủ những quy tắc, chuẩnmực được thiết lập
Thứ ba, tư cách đạo đức, hành vi ứng xử và hiệu quả công việc của lãnh
đạo là tấm gương sáng đế nhân viên noi theo
Trang 33Thứ tư, doanh nghiệp có sơ đồ tổ chức hợp lý đảm bảo công tác quản lý
(lập kế hoạch, tổ chức, quản lý nhân sự, lãnh đạo và kiểm soát) được triển khaichính xác, kịp thời, hiệu quả
Thứ năm, doanh nghiệp có bộ phận kiểm toán nội bộ hoạt động theo các
chuẩn mực của kiềm toán Nhà nước và kiểm toán quốc tế Bộ phận kiểm toán nội
bộ phải có khả năng hoạt động hữu hiệu do được trực tiếp báo cáo độc lập, cởi
mở với cơ quan kiểm toán cấp trên hoặc với các lãnh đạo cao cấp của tổ chức
Thứ sáu, doanh nghiệp có các văn bản quy định chung cũng như hướng
dẫn cụ thể trong hoạt động quản lý tổng thể và trong các hoạt động chuyển ngân
Thứ bảy, doanh nghiệp có hệ thống văn bản thống nhất quy định chi tiết
việc tuyển dụng đào tạo, đánh giá nhân viên, đề bạt, trả lương, phụ cấp đểkhuyến khích mọi người làm việc liêm chính, hiệu quả
Thứ tám, doanh nghiệp phải sử dụng "Sổ tay mô tả công việc” quy định rõ
yêu cầu kiến thức và chất lượng nhân sự cho từng vị trí trong tổ chức
Thứ chín, doanh nghiệp không đặt ra những chuẩn mực tiêu chí thiếu thực
tế hoặc những danh sách ưu tiên, ưu đãi, lương, thưởng bất hợp lý tạo cơ hộicho các hành vi vô kỷ luật, gian dối, bất lương
Thứ mười, doanh nghiệp đã áp dụng những quy tắc, công cụ kiểm toán
phù hợp với những chuẩn mực thông dụng đã được chấp nhận cho loại hình hoạtđộng SXKD của mình đảm bảo kết quả kiểm toán không bị méo mó, sai lệch do
sử dụng các chuẩn mực, công cụ kiểm toán không phù hợp
Thứ mười một, doanh nghiệp thường xuyên luân chuyển nhân sự trong các
khu vực vị trí nhạy cảm Quan tâm, nhắc nhở, bảo vệ quyền lợi của những ngườilàm việc trong các khu vực vị trí độc hại, nặng nhọc theo đúng quy định
Đánh giá rủi ro
Không lệ thuộc vào quy mô, cấu trúc, loại hình hay vị trí địa lý, bất kỳ tổchức nào khi hoạt động đều bị các rủi ro xuất hiện từ các yếu tố bên trong hoặcbên ngoài tác động
Các yếu tố bên trong: Sự quản lý thiếu minh bạch, không coi trọng đạođức nghề nghiệp Chất lượng cán bộ thấp, sự cố hỏng hóc của hệ thống máy tính,của trang thiết bị, hạ tầng cơ sở Tổ chức và cở sở hạ tầng không thay đổi kịp với
sự thay đổi, mở rộng của sản xuất Chi phí cho quản lý và trả lương cao, thiếu sựkiểm tra, kiểm soát thích hợp hoặc do xa Công ty mẹ hoặc do thiếu quan tâm
Trang 34Các yếu tố bên ngoài: Thay đổi công nghệ làm thay đổi quy trình vậnhành Thay đổi thói quen của người tiêu dùng làm các sản phẩm và dịch vụ hiệnhành bị lỗi thời Xuất hiện yếu tố cạnh tranh không mong muốn tác động đến giá
cả và thị phần Sự ban hành của một đạo luật hay chính sách mới, ảnh hưởng đếnhoạt động của tổ chức
Để tránh bị thiệt hại do các tác động nêu trên, tổ chức cần thường xuyên:xác định rủi ro hiện hữu và tiềm ẩn Phân tích ảnh hưởng của chúng kể cả tầnsuất xuất hiện và xác định các biện pháp để quản lý và giảm thiểu tác hại củachúng
Việc đánh giá rủi ro chỉ được coi là có chất lượng nếu:
Thứ nhất, ban lãnh đạo đã quan tâm và khuyến khích nhân viên quan tâm
phát hiện, đánh giá và phân tích định lượng tác hại của các rủi ro hiện hữu vàtiềm ẩn
Thứ hai, doanh nghiệp đã đề ra các biện pháp, kế hoạch, quy trình hành
động cụ thể nhằm giảm thiểu tác hại rủi ro đến một giới hạn chấp nhận nào đóhoặc doanh nghiệp đã có biện pháp để toàn thể nhân viên nhận thức rõ ràng vềtác hại của rủi ro cũng như giới hạn rủi ro tối thiểu mà tổ chức có thể chấp nhậnđược
Thứ ba, doanh nghiệp đã đề ra mục tiêu tổng thể cũng như chi tiết để mọi
nhân viên có thể lấy đó làm cơ sở tham chiếu khi triển khai công việc
Xây dựng các hoạt động (thủ tục) kiểm soát
Các hoạt động kiểm soát là các biện pháp, quy trình, thủ tục đảm bảo chỉthị của ban lãnh đạo trong giảm thiểu rủi ro và tạo điều kiện cho tổ chức đạt đượcmục tiêu đặt ra được thực thi nghiêm túc trong toàn tổ chức Ví dụ: kiểm soátphòng ngừa và phát hiện sự mất mát, thiệt hại của tài sản, kiểm soát xem tổ chức
có hoạt động theo đúng chuẩn mực mà tổ chức đã quy định, theo đúng các yêucầu của pháp luật hiện hành…
Chất lượng hoạt động kiểm soát được coi là tốt nếu các nội dung sau đượcđảm bảo:
Thứ nhất, doanh nghiệp đã đề ra các định mức xác định về tài chính và các
chỉ số căn bản đánh giá hiệu quả hoạt động như những chỉ số quản lý khi lập kếhoạch và kiểm soát để điều chỉnh hoạt động sản xuất phù hợp với mục tiêu đề ra
Trang 35Thứ hai, doanh nghiệp đã tổng hợp và thông báo kết quả sản xuất đều đặn
và đối chiếu các kết quả thu được với các định mức, chỉ số định trước để điềuchỉnh, bổ sung kịp thời
Thứ ba, quyền hạn, trách nhiệm và nghĩa vụ trong ba lĩnh vực: Cấp phép
và phê duyệt các vấn đề tài chính, Kế toán và Thủ kho được phân định độc lập rõràng
Thứ tư, doanh nghiệp đã ban hành văn bản quy định rõ ràng những ai có
quyền và/ hoặc được uỷ quyên phê duyệt toàn bộ hay một loại vấn đề tài chínhnào đó
Thứ năm, doanh nghiệp đã lưu giữ các chứng cứ dưới dạng văn bản tạo
điều kiện phân định rõ ràng phần thực hiện công việc với phần giám sát tại bất kỳthời điểm nào, kể cả việc xác định những cá nhân có tránh nhiệm về các sai phạmxảy ra
Thứ sáu, doanh nghiệp đã giám sát, bảo vệ và bảo dưỡng tài sản, vật tư
trang thiết bị khỏi bị mất mát, hao hụt, hỏng hóc hoặc bị sử dụng không đúngmục đích
Thứ bảy, doanh nghiệp đã cấm hoặc có biện pháp ngăn ngừa các lãnh đạo
cao cấp của mình sử dụng kinh phí và tài sản của doanh nghiệp vào các mục đíchriêng
Xây dựng hệ thống thông tin và truyền thông
Chất lượng của hệ thống thông tin và truyền thông là tốt khi đảm bảo:
Thứ nhất, doanh nghiệp thường xuyên cập nhật các thông tin quan trọng
cho ban lãnh đạo và những người có thẩm quyền
Thứ hai, hệ thống truyền thông của doanh nghiệp đảm bảo cho nhân viên
bảo thông tin được cung cấp kịp thời, chính xác đến các cấp có thẩm quyền theo quyđịnh
Thứ ba, doanh nghiệp đã thiết lập các kênh thông tin nóng (một ủy ban
hay một cá nhân nào đó có trách nhiệm tiếp nhận thông tin tố giác, hoặc lắp đặthộp thư góp ý) cho phép nhân viên báo cáo về các hành vi, sự kiện bất thường cókhả năng gây thiệt hại cho doanh nghiệp
Thứ tư, doanh nghiệp đã lắp đặt hệ thống bảo vệ số liệu phòng ngừa sự
Trang 36truy cập, tiếp cận của những người không có thẩm quyền.
Thứ năm, doanh nghiệp đã xây dựng các chương trình, kế hoạch phòng
chống thiên tai, hiểm họa và/ hoặc kế hoạch ứng cứu sự cố mất thông tin số liệu
Xây dựng hệ thống giám sát
Hệ thống giám sát là quá trình theo dõi và đánh giá chất lượng thực hiệnviệc kiểm soát nội bộ để đảm bảo nó được triển khai, được điều chỉnh khi môitrường thay đổi, được cải thiện khi có khiếm khuyết Ví dụ thường xuyên rà soát,kiểm tra và báo cáo về chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống kiểm soát nội
bộ, đánh giá và theo dõi việc ban lãnh đạo cũng như tất cả nhân viên có tuân thủcác chuẩn mực ứng xử của tổ chức sau khi ký cam kết hay không
Hệ thống giám sát hoạt động tốt nếu:
Thứ nhất, doanh nghiệp có hệ thống báo cáo cho phép phát hiện các sai
lệch so với chỉ tiêu, kế hoạch đã định Khi phát hiện sai lệch, doanh nghiệp đãtriển khai các biện pháp điều chỉnh thích hợp
Thứ hai, việc kiểm toán nội bộ được thực hiện bởi người có trình độ
chuyên môn thích hợp và người này có quyền báo cáo trực tiếp cho cấp phụ tráchcao hơn và cho ban lãnh đạo
Thứ ba, những khiếm khuyết của hệ thống kiểm soát nội bộ được phát
hiện bởi kiểm toán nội bộ hoặc kiểm toán độc lập được báo cáo trực tiếp và kịpthời với cấp phụ trách cao hơn, kể cả ban lãnh đạo để điều chỉnh đúng lúc
Thứ tư, doanh nghiệp đã yêu cầu các cấp quản lý trung gian báo cáo ngay
với lãnh đạo về mọi trường hợp gian lận, nghi ngờ gian lận, về các vi phạm nộiquy, quy định của doanh nghiệp cũng như quy định của luật pháp hiện hành cókhả năng làm giảm uy tín doanh nghiệp và gây thiệt hại về kinh tế
Nếu hệ thống kiểm soát nội bộ doanh nghiệp có đủ năm thành phần và nếutất cả những nội dung nêu trên được đảm bảo thì hệ thống này chắc chắn manglại những lợi ích quản lý và kinh tế to lớn cho doanh nghiệp
2.1.4.3 Vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ
Các nguyên tắc vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả
Người quản lý có trách nhiệm thành lập, điều hành và kiểm soát hệ thốngkiểm soát nội bộ phù hợp với mục tiêu của tổ chức Để hệ thống này vận hànhtốt, cần tuân thủ một số nguyên tắc như: Xây dựng một môi trường văn hóa chú
Trang 37trọng đến sự liêm chính, đạo đức nghề nghiệp cùng với những quy định rõ ràng
về trách nhiệm, quyền hạn và quyền lợi
Các quy trình hoạt động và kiểm soát nội bộ được văn bản hóa rõ ràng vàđược truyền đạt rộng rãi trong nội bộ tổ chức Xác định rõ các hoạt động tiềm ẩnnguy cơ rủi ro cao Mọi hoạt động quan trọng phải được ghi lại bằng văn bản Bất
kỳ thành viên nào của tổ chức cũng phải tuân thủ hệ thống kiểm soát nội bộ Quyđịnh rõ ràng trách nhiệm kiểm tra và giám sát Tiến hành định kỳ các biện phápkiểm tra độc lập Định kỳ kiểm tra và nâng cao hiệu quả của các biện pháp kiểmsoát nội bộ
Hạn chế vốn có của hệ thống kiểm soát nội bộ
Một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu chỉ có thể hạn chế tối đa các saiphạm chứ không thể đảm bảo rủi ro, gian lận và sai sót không xảy ra Những hạnchế vốn có của kiểm soát nội bộ bao gồm:
Thứ nhất, kiểm soát nội bộ khó ngăn cản được gian lận và sai sót của
người quản lý cấp cao Các thủ tục kiểm soát là do người quản lý đặt ra, nó chỉkiểm tra việc gian lận và sai sót của nhân viên Khi người quản lý cấp cao cố tìnhgian lận, họ có thể tìm cách bỏ qua các thủ tục kiểm soát cần thiết
Thứ hai, bất kì một hoạt động kiểm soát trực tiếp nào của kiểm soát nội bộ
cũng phụ thuộc vào yếu tố con người Con người là nhân tố gây ra sai sót từnhững hạn chế xuất phát từ bản thân như: vô ý, bất cẩn, sao lãng, đánh giá hayước lượng sai, hiểu sai chỉ dẫn của cấp trên hoặc các báo cáo của cấp dưới
Thứ ba, gian lận cũng có thể xảy ra do sự thông đồng giữa các nhân viên
trong tổ chức với nhau hoặc với bên ngoài
Thứ tư, Nhà quản lý lạm quyền: Nhà quản lý bỏ qua các quy định kiểm
soát trong quá trình thực hiện nghiệp vụ có thể dẫn đến việc không kiểm soátđược các rủi ro và làm cho môi trường kiểm soát trở nên yếu kém
Thứ năm, Hoạt động kiểm soát chỉ tập trung vào các sai phạm dự kiến, do
đó khi xảy ra các sai phạm bất thường thì thủ tục kiểm soát trở nên kém hữu hiệuthậm chí vô hiệu
Thứ sáu, Chi phí thực hiện hoạt động kiểm soát phải nhỏ hơn giá trị thiệt
hại ước tính do sai sót hay gian lận gây ra
Thứ bảy, Những thay đổi của tổ chức, thay đổi quan điểm quản lý và điều
Trang 38kiện hoạt động có thể dẫn đến những thủ tục kiểm soát không còn phù hợp.
Tóm lại, kiểm soát nội bộ cung cấp một sự đảm bảo hợp lý chứ khôngphải bảo đảm tuyệt đối các mục tiêu được thực hiện Kiểm soát nội bộ chỉ có thểngăn ngừa và phát hiện những sai sót, gian lận nhưng không thể đảm bảo làchúng không xảy ra Chính vì vậy, một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu đếnđâu cũng đều tồn tại những rủi ro nhất định Vấn đề là người quản lý đã nhậnbiết, đánh giá và giới hạn chúng trong mức độ chấp nhận được
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.2.1 Kinh nghiệm kiếm soát nội bộ hiệu quả của DN các nước trên thế giới
Trên thế giới, mô hình những tập đoàn lớn như Microsoft, Ford, Nestle…cho thấy phải xây dựng hệ thống kiểm soát quản trị tương tự hình kiểm toán nội
bộ thực sự nghiêm túc chứ không phải hình thức thì mới đảm bảo hiệu quả kiểmsoát nội bộ Nhiều công ty nước ngoài đã phải đầu tư khá lớn vào hệ thống kiểmsoát nội bộ nhằm giảm thiểu các rủi ro và gian lận Đặc biệt là những công tyniêm yết trên thị trường chứng khoán Newyork (NYSE) phải tuân thủ đạo luậtSarbanes-Oxley (ban hành năm 2002) của Ủy ban chứng khoán Mỹ (SEC) vớicác quy định nhằm bảo vệ lợi ích của các nhà đầu tư vào các công ty đại chúngbằng cách buộc các công ty này phải cải thiện sự đảm bảo và tin tưởng vào cácbáo cáo, các thông tin tài chính công khai Trong đó, có nội dung “Trong bộ báo
cáo hàng năm phải có một Báo cáo kiểm soát nội bộ trong đó thể hiện các vấn
đề liên quan đến công tác kiểm toán một cách khá toàn diện Báo cáo này phải cóchứng thực của công ty kiểm toán”
2.2.2 Kinh nghiệm kiếm soát nội bộ hiệu quả của DN tại Việt Nam
nhà nước, ví dụ sự thất bại của Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam Vinashinvới tổng tài sản là 90.000 tỷ đồng nhưng vay nợ đến 80.000 tỷ đồng, cho thấy rằngviệc xây dựng và vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ đóng vai trò quan trọng trongviệc tạo ra hiệu quả hoạt động cho các doanh nghiệp Với những tập đoàn vẫn giữ100% vốn sở hữu nhà nước hoặc duy trì tỷ lệ sở hữu nhà nước cao thì đều hoạt độngkhông hiệu quả vì khó khăn cho doanh nghiệp về việc điều hành, huy động vốn do cơcấu sở hữu tập trung, ít có sự phân chia giữa quyền sở hữu và quyền kiểm soát, tìnhtrạng phân cấp chồng chéo Vì thế, mới có trường hợp công ty mẹ đầu tư vốn vào công
ty con, nhưng công ty con vẫn đăng
Trang 39ký mua cổ phiếu của công ty mẹ, xem đó như một khoản đầu tư hạch toán củamình chứ không phải là cổ phiếu quỹ khi hợp nhất.
Trừ các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài và các doanh nghiệp đã
có và đang xây dựng hệ thống chứng chỉ ISO, TQM Phần lớn các doanh nghiệpchưa hiểu rõ sự cần thiết, lợi ích cũng như cách xây dựng, tổ chức và vận hànhbài bản một hệ thống kiểm soát nội bộ Công tác kiểm tra, kiểm soát thườngchồng chéo, phiến diện, tập trung vào các chỉ số kinh tế - tài chính và kết quảcuối cùng, ít chú trọng kiểm tra, kiểm soát toàn bộ hoạt động của tổ chức, lấyngăn chặn, phòng ngừa là chính Đây là một trong các điểm yếu trong xây dựng
và vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ mà các doanh nghiệp cần khắc phục đểnâng cao sức cạnh tranh khi hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu
2.2.3 Bài học kinh nghiệm về kiếm soát nội bộ hiệu quả cho Công ty TNHH đầu tƣ và sản xuất Minh Anh
Đối với công ty TNHH đầu tư và sản xuất Minh Anh, để tránh thất thoáttài sản, đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp, trước tiên cần nhận thức thực sựnghiêm túc về vai trò của hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp Nhữngnhà lãnh đạo công ty cần hiểu rõ sự cần thiết, lợi ích cũng như cách xây dựng, tổchức và vận hành bài bản một hệ thống kiểm soát nội bộ từ đó giúp cho việc ngănngừa, phát hiện, xử lý các sai phạm được kịp thời Tránh việc kiểm tra, kiểm soátchồng chéo, phiến diện, chỉ tập trung vào các chỉ số kinh tế - tài chính và kết quảcuối cùng, ít chú trọng kiểm tra, kiểm soát toàn bộ hoạt động của tổ chức Việcxây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ phải lấy ngăn chặn, phòng ngừa là chính
2.3 MỘT SỐ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam ” của tác giả Phạm Nguyễn Quỳnh Thanh.
Đề tài đã đề cập đến khái niệm, các bộ phận cấu thành hệ thống KSNB vàhạn chế của hệ thống KSNB, phân loại các loại kiểm soát, tổ chức công tácHTKSNB tại doanh nghiệp Trên cơ sở những lý luận đó tác giả đã áp dụng vàoviệc tìm hiểu và phân tích hệ thống kiểm soát nội bộ tại các công ty vừa và nhỏtại Việt Nam Ngoài những nội dung như môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro,thông tin và giám sát, tác giả chú trọng đến ba vấn đề chính là thủ tục kiểm soáttrong HTKSNB như kiểm soát phòng ngừa, kiểm soát phát hiện và kiểm soát bù
Trang 40đắp Trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện HTKSNB cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam hiện nay.
tài chính tại Trường cao đẳng nghề cơ điện Phú Thọ ” của tác giả Trần Thị Thúy
Lan năm 2010
Đề tài đã khái quát được một số vấn đề chung về HTKSNB, nghiên cứu,phân tích, đánh giá thực trạng HTKSNB trong công tác quản lý tài chính tạitrường Tác giả đã đề cập đến những rủi ro trong quá trình thu học phí của nhàtrường, Dự đoán rủi ro có thể sảy ra trong quá trình mua vật tư dụng cụ, Một sốrủi ro trong quá trình thanh toán chế độ cho CBCNV Ngoài ra tác giả cũng đưa
ra các câu hỏi với CBCNV nhà trường về việc thực hiện các chế độ đối vớiCBCNV nhà trường Từ đó đã đưa các giải pháp nhằm hoàn thiện HTKSNBtrong công tác quản lý tài chính của nhà trường cho những năm sau
chính cổ phần dầu khí Việt nam ” của tác giả Hoàng Thị Thanh Thủy năm 2010.
Đề tài đã tập trung nghiên cứu về kiểm soát nội bộ tại Tổng công ty tàichính cổ phần dầu khí việt nam, nêu lên thực trạng hoạt động KSNB và có nhữngđánh giá về sự hiện hữu, hữu hiệu của KSNB Phân tích đánh giá thực trạngHTKSNB tại tổng công ty, đưa ra những giải pháp hoàn thiện HTKSNB tuynhiên trong đề tài tác giả chưa phân tích rõ toàn bộ các yếu tố dẫn đến rủi ro, saisót tiềm ẩn có thể xảy ra, mà chỉ dựa vào những rủi ro, sai sót đã xảy ra từ đó đưa
ra các giải pháp hoàn thiện HTKSNB tại tổng công ty