1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp cho các hộ nông dân trên địa bàn huyện quế võ, tỉnh bắc ninh

135 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Tình Hình Thực Hiện Chính Sách Hỗ Trợ Vật Tư Nông Nghiệp Cho Các Hộ Nông Dân Trên Địa Bàn Huyện Quế Võ, Tỉnh Bắc Ninh
Tác giả Vũ Văn An
Người hướng dẫn PGS.TS Phạm Văn Hùng
Trường học Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Quản lý kinh tế
Thể loại luận văn
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 206,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Phần 1. Mở đầu (14)
    • 1.1. Tính cấp thiết của đề tài (14)
    • 1.2. Mục tiêu nghiên cứu (15)
      • 1.2.1. Mục tiêu chung (15)
      • 1.2.2. Mục tiêu cụ thể (15)
    • 1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (16)
      • 1.3.1. Đối tượng nghiên cứu (16)
      • 1.3.2. Phạm vi nghiên cứu (16)
    • 1.4. Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học hoặc thực tiễn (16)
  • Phần 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài (18)
    • 2.1. Cơ sở lý luận (18)
      • 2.1.1. Các khái niệm cơ bản (18)
      • 2.1.2. Nội dung thực hiện chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp nông nghiệp 8 2.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp (21)
    • 2.2. cơ sở thực tiễn về thực hiện chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp (26)
      • 2.2.1. Chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp ở một số nước trên thế giới (26)
      • 2.2.2. Chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp cho nông dân Việt Nam (28)
    • 2.3. Những công trình nghiên cứu có liên quan (32)
  • Phần 3. Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu (34)
    • 3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu (34)
      • 3.1.1. Đặc điểm tự nhiên (34)
      • 3.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội (34)
      • 3.1.3. Cơ cấu sản xuất một số ngành sản xuất chính (40)
      • 3.1.4. Tiềm năng, lợi thế và những tồn tại trong quá trình phát triển kinh tế nông hộ (41)
    • 3.2. Phương pháp nghiên cứu (43)
      • 3.2.1. Phương pháp tiếp cận (43)
      • 3.2.2. Phương pháp thu thập tài liệu (44)
      • 3.2.3. Phương pháp xử lý số liệu (44)
      • 3.2.4. Phương pháp phân tích (45)
      • 3.2.5. Hệ thống chỉ tiêu sử dụng (45)
  • Phần 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận (46)
    • 4.1. Các chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp trên địa bàn huyện Quế Võ 32 1. Khái quát về các chính sách (46)
      • 4.1.2. Các chương trình hỗ trợ vật tư nông nghiệp trên địa bàn huyện Quế Võ 34 4.2. Tình hình triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp của nhà nước trên địa bàn huyện Quế Võ (48)
      • 4.2.1. Tình hình phân công, phối hợp thực hiện chính sách (53)
      • 4.2.2. Các hoạt động đã được triển khai (54)
      • 4.2.3. Kết quả thực hiện chính sách (60)
    • 4.3. Thực trạng việc tiếp nhận chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp của các cơ sở sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện (70)
      • 4.3.1. Thông tin chung về các cơ sở sản xuất được phỏng vấn (70)
      • 4.3.2. Thực trạng việc tiếp nhận hỗ trợ vật tư nông nghiệp của các hộ nông dân 56 4.4. Đánh giá chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp phát triển sản xuất nông nghiệp (73)
      • 4.4.1. Một số tác động tích cực của chính sách hỗ trợ (80)
      • 4.4.2. Một số hạn chế của chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp (87)
      • 4.4.3. Đề xuất của người thực hiện và người hưởng lợi đối với các chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp cho phát triển sản xuất nông nghiệp của tỉnh Bắc Ninh thực hiện trên địa bàn huyện Quế Võ (90)
    • 4.5. Giải pháp nâng cao hiệu quả của chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp trên địa bàn huyện Quế Võ (93)
      • 4.5.1. Căn cứ để đưa ra giải pháp (93)
  • Phần 5. Kết luận và kiến nghị (97)
    • 5.1. Kết luận (97)
    • 5.2. Kiến nghị (98)
  • Tài liệu tham khảo (100)
  • Phụ lục (103)

Nội dung

Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Cơ sở lý luận

2.1.1 Các khái niệm cơ bản

Chính sách là quyết định đã được lựa chọn và thực hiện nhằm giải quyết một vấn đề cụ thể, không chỉ là dự định (Lasswell, 1951) Nó bao gồm chuỗi hành động có mục đích, phản ánh những gì chính phủ thực hiện, lý do và sự khác biệt mà nó tạo ra (Anderson, 1984; Dye, 1972) Chính sách mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng nguồn lực để thúc đẩy giá trị ưu tiên (Considine, 1994) và là công việc liên tục của các nhóm hoạch định, nhằm kết nối và biểu đạt các giá trị theo đuổi (Considine, 1994) Đồng thời, chính sách cũng là quá trình xã hội quyết định hành vi nào được chấp nhận và hành vi nào không (Wheelan, 2011), tạo ra khung khổ ý kiến điều chỉnh cách thức sống trong các khía cạnh đa chiều (Colebatch, 2002).

Chính sách là tập hợp các chủ trương và hành động của chính phủ liên quan đến nền kinh tế xã hội Nó bao gồm các mục tiêu mà chính phủ hướng đến cùng với phương thức thực hiện để đạt được những mục tiêu đó.

Chính sách nông nghiệp bao gồm các chủ trương và hành động của chính phủ nhằm cải thiện môi trường phát triển nông nghiệp Điều này được thực hiện thông qua việc tác động đến giá đầu vào và đầu ra, cũng như thay đổi tổ chức và khuyến khích áp dụng công nghệ mới trong lĩnh vực nông nghiệp (Đỗ Kim Chung, 2009).

2.1.1.2 Chính sách hỗ trợ trong nước khi Việt Nam là thành viên chính thức của WTO Đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp là các hộ dân và các trang trại sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Quế Võ

Trợ cấp là những lợi ích tài chính mà chính phủ cung cấp cho các đối tượng cụ thể Trong lĩnh vực nông nghiệp, các chính sách trợ cấp được quy định và ảnh hưởng bởi các quy tắc của WTO, nhằm hỗ trợ người nông dân và phát triển ngành nông nghiệp bền vững.

Trong lĩnh vực trợ cấp, có hai nhóm chính: trợ cấp trong nước và trợ cấp xuất khẩu Trợ cấp trong nước là những lợi ích mà chính phủ cung cấp cho một hoặc một số đối tượng mà không liên quan trực tiếp đến hoạt động hoặc kết quả xuất khẩu Ngược lại, trợ cấp xuất khẩu là những lợi ích có liên quan đến hoạt động hoặc kết quả xuất khẩu.

Hỗ trợ trong nước là các biện pháp và chính sách của chính phủ nhằm duy trì giá nông sản cho người sản xuất nội địa ở mức cao hơn so với giá thị trường thế giới Điều này bao gồm các khoản chi trả trực tiếp cho nông dân, cả những khoản hỗ trợ để ngừng sản xuất nông nghiệp, và các biện pháp giảm chi phí marketing cũng như chi phí đầu vào trong sản xuất nông nghiệp.

Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và cam kết thực hiện Hiệp định Nông nghiệp (AoA) để phù hợp với các quy định của tổ chức này Hiệp định Nông nghiệp bao gồm những cam kết quan trọng về mở cửa thị trường nông sản, giảm thuế quan và bảo vệ quyền lợi của nông dân.

Ba nội dung chính bao gồm giảm trợ cấp xuất khẩu trong nông nghiệp, tăng cường mở cửa thị trường nhập khẩu, và cắt giảm trợ cấp cho các nhà sản xuất trong nước gây bóp méo thương mại Theo đó, AoA phân loại hỗ trợ trong nước thành ba dạng hộp: xanh lá cây, xanh lam và hổ phách, dựa trên tác động của chúng đối với sản xuất và thương mại nông nghiệp.

Hộp Xanh lá cây (Green Box) bao gồm các biện pháp hỗ trợ không gây bóp méo thương mại, cho phép các nước duy trì không giới hạn Những biện pháp này thuộc nhóm 13 chương trình theo Hiệp định Nông nghiệp tại Phụ lục 2 và đáp ứng các điều kiện của hiệp định Đặc điểm chính là các biện pháp này do ngân sách chính phủ chi trả và không mang tính chất hỗ trợ giá Ví dụ, nông dân nhận hỗ trợ từ ngân sách dựa trên tiêu chí thu nhập hoặc mức sử dụng yếu tố sản xuất, không liên quan trực tiếp đến kết quả sản xuất Việc xếp các biện pháp vào Hộp Xanh lá cây cho phép các nước không phải cam kết cắt giảm hay chấm dứt các hỗ trợ này (Dự án Mutrap III, 2010).

Hộp xanh lam (Blue box) và Hộp Xanh lơ (Blue box) bao gồm các khoản chi trả trực tiếp từ ngân sách nhà nước liên quan đến sản xuất trong các chương trình thu hẹp sản xuất nông nghiệp Các quốc gia không cần cam kết cắt giảm các biện pháp này, do đó, các hỗ trợ trong nước thuộc nhóm này cũng không phải giảm bớt hay chấm dứt Mặc dù các biện pháp trong hộp xanh lơ có thể gây ra sự bóp méo thương mại, nhưng vì nằm trong khuôn khổ thu hẹp sản xuất nông nghiệp, chúng vẫn được phép duy trì và phải chịu sự điều chỉnh nghiêm ngặt hơn bình thường.

Hộp hổ phách (Amber box) chứa các biện pháp hỗ trợ có thể gây bóp méo sản xuất và thương mại, yêu cầu các quốc gia cam kết cắt giảm theo lộ trình nhất định Những biện pháp này bao gồm hỗ trợ giá và trợ cấp gắn với sản xuất, không nằm trong hộp xanh lá cây và xanh lơ Tại Vòng đàm phán Uruguay, các quốc gia phải lượng hóa các biện pháp hỗ trợ trong hộp hổ phách thành Tổng hỗ trợ gộp (Total AMS), được kê khai trong Biểu cam kết của từng nước để làm cơ sở cho việc cắt giảm Theo Hiệp định Nông nghiệp, tổng hỗ trợ AMS cho từng sản phẩm và không theo sản phẩm không tính vào Tổng hỗ trợ gộp nếu dưới ngưỡng hỗ trợ cho phép, là 10% giá trị sản lượng cho nước đang phát triển và 5% cho nước phát triển (Dự án Mutrap III, 2010).

2.1.1.3 Phân loại chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp nông nghiệp

Theo OECD (2015) chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp được chia thành:

Hỗ trợ vật tư trực tiếp cho sản xuất giúp nông dân nhận các loại vật tư cần thiết mà không phải chi trả Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho hộ nông dân trong việc phát triển sản xuất nông nghiệp, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

Các sản phẩm như nilon che phủ mạ, thuốc diệt chuột, vắc xin phòng bệnh cho gia súc, gia cầm và công tiêm phòng thường nhận được hỗ trợ theo hình thức này (OECD, 2015).

Trợ giá vật tư là chính sách của nhà nước hỗ trợ một phần chi phí vật tư nông nghiệp, giúp nông dân chỉ cần chi trả phần còn lại, thay vì phải thanh toán toàn bộ Nhờ vào sự hỗ trợ này, các hộ nông dân có cơ hội mua sắm các loại vật tư nông nghiệp, như giống cây trồng, với giá thấp hơn so với thị trường (OECD, 2015).

cơ sở thực tiễn về thực hiện chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp

2.2.1 Chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp ở một số nước trên thế giới 2.2.1.1 Chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn của Trung Quốc

Trong những năm gần đây, sự phát triển mạnh mẽ của khu vực công nghiệp đã mang lại nguồn tài lực lớn cho Trung Quốc, nhưng cũng làm cho khu vực nông thôn tụt hậu về tốc độ và chất lượng tăng trưởng Việc thiếu quan tâm đến thay đổi trong sản xuất nông nghiệp và đời sống nông dân đã dẫn đến những biến chuyển không tốt Đất canh tác ngày càng bị thu hẹp do dự án công nghiệp, trong khi đầu tư cho nông nghiệp không theo kịp yêu cầu của nền kinh tế hiện đại Nông dân vẫn phải đóng thuế nông nghiệp, dẫn đến tình trạng di cư ra thành phố tìm việc, gây áp lực lên khu vực đô thị và ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp Do đó, cần có một cuộc thay đổi lớn về tốc độ và chất lượng phát triển khu vực nông nghiệp, nông dân và nông thôn để hạn chế những mặt trái của quá trình phát triển.

Sau 20 năm cải cách và phát triển kinh tế nông thôn, Đảng Cộng sản Trung Quốc khẳng định rằng, hiện nay và trong một thời gian dài nữa, nông nghiệp Trung Quốc vẫn giữ vị trí hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế và họ chỉ rõ: không có sự ổn định của nông thôn sẽ không có sự ổn định của cả nước, không có sự sung túc của nông dân sẽ không có sự sung túc của nhân dân

13 cả nước, không có hiện đại hóa nông nghiệp sẽ không có hiện đại hóa của toàn bộ nền kinh tế quốc dân

2.2.1.2 Chính sách hỗ trợ nông nghiệp của Đài Loan

Theo Đặng Kim Sơn và Nguyễn Minh Tiến (2000), nông nghiệp đã đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế rực rỡ của Đài Loan trong 2 thập niên từ 1950 đến 1980, với mức tăng trưởng nông nghiệp luôn trên 5% mỗi năm, tạo nền tảng vững chắc cho công nghiệp hóa và hiện đại hóa Đài Loan có 4 tổ chức nông dân chính, bao gồm Nông hội, Hợp tác xã cây ăn quả, Hội thủy lợi và Hội thủy sản, tất cả đều hoạt động dưới sự quản lý của Bộ Nội vụ, trong đó Nông hội đóng vai trò quan trọng nhất.

Nông hội đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối Chính phủ và nông dân, hoạt động như một tổ chức kinh tế - xã hội - chính trị nhằm hỗ trợ các trang trại hộ nông dân quy mô nhỏ trong sản xuất hàng hóa lớn Để nâng cao hiệu quả hoạt động của Nông hội, Nhà nước đã tập trung hỗ trợ đa dạng, với 50% vốn được cung cấp bởi Chính phủ, cùng với các khoản đầu tư trực tiếp khác cho nông thôn như chuyển giao giống mới và tiến bộ kỹ thuật thông qua các chương trình phát triển.

Ngân sách của Nông hội dành cho hoạt động tín dụng chiếm 70% chi tiêu, với mục tiêu hàng đầu là cung cấp tín dụng cho nông dân nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống Trong giai đoạn đầu phát triển nông nghiệp, Nhà nước sử dụng hệ thống tín dụng của Nông hội để đưa vốn đến tay nông dân, đồng thời hỗ trợ Nông hội trong việc tích lũy vốn Nhà nước đã cho Nông hội vay không lãi suất để đầu tư vào các hoạt động như mua sắm máy móc mở rộng sản xuất, và Nông hội sau đó cho nông dân vay lại với lãi suất thấp theo quy định.

Nông hội đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguyên liệu đầu vào cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt từ thập kỷ 60 khi trở thành tổ chức duy nhất cung ứng nấm và măng tây Chính phủ đã ủy quyền cho Nông hội trong việc dự trữ và phân phối phân bón cho nông dân Để bảo quản nông sản hiệu quả, các Nông hội đã đầu tư phát triển hệ thống kho tàng rộng rãi, với mỗi Nông hội xã sở hữu kho chứa nông sản phục vụ cho xã viên Ngoài ra, Nông hội có thể tổ chức nhà máy chế biến nông lâm sản với sự đồng ý của ban chấp hành, nhằm cung cấp dịch vụ cho hội viên và gia tăng giá trị sản phẩm.

Việc gia tăng và bảo quản sản phẩm trước khi bán là rất quan trọng trong công tác khuyến nông Nhờ áp dụng giống mới và phân bón, nông dân đã nhanh chóng nâng cao năng suất cây trồng Cụ thể, năng suất lúa đã tăng từ 3,8 tấn/ha năm 1948 lên 4,8 tấn/ha năm 1950 và đạt 5,2 tấn/ha vào năm 1952 Hoạt động này chủ yếu nhằm hỗ trợ nông dân và không mang tính chất kinh doanh (Đặng Kim Sơn và Nguyễn Minh Tiến, 2000).

Chính sách hỗ trợ nông dân Đài Loan thông qua Nông hội đã giúp họ kiểm soát toàn bộ chuỗi cung ứng vật tư nông nghiệp Tập trung vào sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn, Nông hội đảm bảo nông dân có nguồn cung cấp vật tư với số lượng, chất lượng và giá cả tốt nhất, tạo điều kiện cho họ sản xuất hiệu quả Nông dân vừa là khách hàng, vừa là người quản lý, và hoạt động chuyển giao kỹ thuật kết hợp với các dịch vụ tín dụng, chế biến, sản xuất giống và tiếp thị Lợi nhuận từ dịch vụ tín dụng được đầu tư trở lại vào khuyến nông, thu hút cán bộ kỹ thuật về làm việc tại nông thôn và tạo thị trường cho tiến bộ kỹ thuật Bài học từ Đài Loan cho thấy sự liên kết chặt chẽ giữa Nhà nước và nhân dân, vừa hỗ trợ vừa giao quyền tự quản cho nông dân trong các hoạt động sản xuất nông nghiệp.

2.2.2 Chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp cho nông dân Việt Nam

Từ năm 2000, Chính phủ đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, đặc biệt là trong việc cung cấp vật tư cho sản xuất Các chính sách này bao gồm hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản, lãi suất vay vốn và vắc xin thú y Qua các Quyết định và Thông tư, giống cây trồng được nhận hỗ trợ nhiều nhất, đặc biệt trong việc khắc phục hậu quả thiên tai và dịch bệnh.

2.2.2.1 Tổng quan về các chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp đã được ban hành và thực hiện

Quyết định số 62/1999/QĐ-BNN/KNKL, ban hành ngày 07/09/1999 bởi Bộ trưởng Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn, quy định định mức tạm thời hỗ trợ vật tư kỹ thuật trong chương trình khuyến nông dành cho gia súc lớn Quyết định này nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi và phát triển bền vững ngành nông nghiệp.

Quyết định số 225/1999/QĐ-TTg, ban hành ngày 10 tháng 12 năm 1999, của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt chương trình giống cây trồng, giống vật nuôi và giống cây lâm nghiệp cho giai đoạn 2000 – 2005, nhằm nâng cao năng suất và chất lượng nông sản, thúc đẩy phát triển bền vững ngành nông nghiệp và lâm nghiệp Việt Nam Chương trình này tập trung vào việc nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ mới trong sản xuất giống, góp phần cải thiện đời sống nông dân và bảo vệ môi trường.

Quyết định số 17/2006/QĐ-TTg, ban hành ngày 20 tháng 01 năm 2006, của Thủ tướng Chính phủ, nhằm tiếp tục thực hiện Quyết định số 225/1999/QĐ-TTg ngày 10 tháng 12 năm 1999 Quyết định này tập trung vào chương trình phát triển giống cây trồng, giống vật nuôi và giống cây lâm nghiệp, với mục tiêu nâng cao chất lượng và năng suất đến năm 2010.

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành các quyết định về định mức tạm thời hỗ trợ vật tư trong chương trình khuyến nông – khuyến lâm, cụ thể là Quyết định số 68/2000/QĐ-BNN-KNKL ngày 21/06/2000 và Quyết định số 71/2001/QĐ-BNN ngày 29/06/2001.

Quyết định số 497/QĐ-TTg ngày 17/04/2009 của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc hỗ trợ lãi suất cho vay nhằm mua sắm máy móc, thiết bị, vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp và vật liệu xây dựng nhà ở tại khu vực nông thôn Quyết định này nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn, nâng cao đời sống người dân và cải thiện hạ tầng nông thôn.

Các thông tư hướng dẫn thực hiện dự án hỗ trợ sản xuất thuộc chương trình 135 đã được Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp ban hành, bao gồm Thông tư số 79/2007/TT-BNN ngày 20/09/2007 và Thông tư số 12/2009/TT-BNN ngày 06/03/2009.

Quyết định số 63/2010/QĐ-TTG ngày 15/10/2010 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, thủy sản

Quyết định số 580/QĐ-BNN0-CN ngày 28/03/2011 của Bộ trưởng

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về giao số lượng và kinh phí trợ cấp giống gốc vật nuôi

Những công trình nghiên cứu có liên quan

Sản xuất nông nghiệp tiềm ẩn nhiều rủi ro do biến động giá cả và thời tiết, dẫn đến lợi nhuận thấp và ít hấp dẫn cho nhà đầu tư Tuy nhiên, sản phẩm nông nghiệp là cần thiết cho xã hội Để chuyển mình từ một nước chậm phát triển sang nước công nghiệp hóa hiện đại, Việt Nam cần đột phá trong chính sách nông nghiệp, giải quyết mâu thuẫn và rào cản phát triển Cần chuyển đổi từ nông nghiệp truyền thống sang nền nông nghiệp hàng hóa hiện đại, thực hiện công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn Mục tiêu là tạo ra nền nông nghiệp có giá trị cao thông qua ứng dụng công nghệ và phát triển bền vững.

Chính sách hỗ trợ của Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển sản xuất nông nghiệp Nghiên cứu cho thấy có 19 giả thuyết khác nhau liên quan đến việc thực hiện các chính sách này Các chính sách hỗ trợ không chỉ giúp nông dân cải thiện năng suất mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững trong ngành nông nghiệp Việc phân tích các công trình nghiên cứu liên quan giúp hiểu rõ hơn về hiệu quả và thách thức trong việc thực hiện các chính sách hỗ trợ này.

Đỗ Kim Chung và cộng sự (2010) đã thực hiện nghiên cứu về giải pháp và khuyến nghị chính sách đầu tư công nhằm giảm nghèo và phát triển kinh tế huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang Mục tiêu của nghiên cứu là hệ thống hóa lý luận và thực tiễn liên quan đến đầu tư công cho công tác giảm nghèo và phát triển kinh tế huyện Nghiên cứu cũng đánh giá thực trạng đầu tư công trong lĩnh vực này tại Sơn Động trong thời gian qua, đồng thời đề xuất các giải pháp hiệu quả để tối ưu hóa việc sử dụng nguồn lực đầu tư công, góp phần hoàn thiện cơ chế chính sách đầu tư công cho mục tiêu giảm nghèo và phát triển kinh tế bền vững.

Lương Tiến Khiêm (2009) đã thực hiện nghiên cứu về nhu cầu và khả năng cung cấp dịch vụ công trong hoạt động khuyến nông tại Nghệ An, nhằm hệ thống hóa lý luận và thực tiễn liên quan đến khuyến nông Nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá thực trạng dịch vụ khuyến nông hiện có và khả năng đáp ứng nhu cầu của người sản xuất từ mạng lưới khuyến nông các cấp Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng xác định các nhu cầu cụ thể của người sản xuất về dịch vụ khuyến nông tại địa phương Cuối cùng, tác giả đề xuất các định hướng và giải pháp nhằm nâng cao khả năng cung cấp dịch vụ công của khuyến nông Nghệ An trong tương lai.

Đỗ Kim Chung (2010) trong bài viết "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn hỗ trợ giảm nghèo và đầu tư công cho giảm nghèo" đăng trên Tạp chí Khoa học và Phát triển, đã phân tích các khía cạnh lý thuyết và thực tiễn liên quan đến việc giảm nghèo Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của đầu tư công trong việc hỗ trợ các chương trình giảm nghèo, đồng thời cung cấp những giải pháp hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho người nghèo Bài viết được xuất bản bởi Nhà xuất bản Đại học Nông nghiệp Hà Nội, trong tập 8, số 4.

Nghiên cứu tình hình thực hiện các chính sách hỗ trợ của Nhà nước cho phát triển sản xuất nông nghiệp là cần thiết, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả triển khai công tác hỗ trợ, đặc biệt là trong lĩnh vực vật tư nông nghiệp Việc này sẽ giúp các cấp ngành ở Tỉnh và Huyện có giải pháp phù hợp, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn, đồng thời tăng cường hiệu quả đầu tư công cho địa phương.

Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu

Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

Quế Võ là huyện thuộc đồng bằng trung du Bắc Bộ, nằm ở phía đông tỉnh Bắc Ninh, cách thị xã Bắc Ninh 12 km về phía tây và 45 km về phía tây-nam Hà Nội Huyện có diện tích 17.769 ha, giáp với Hải Dương, Bắc Giang, thành phố Bắc Ninh và Gia Bình Quế Võ được bao bọc bởi 3 con sông lớn (sông Cầu, sông Đuống, sông Thái Bình) cùng hệ thống đê và quốc lộ 18, tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông và phát triển kinh tế Khí hậu nơi đây là nhiệt đới gió mùa, chia thành hai mùa rõ rệt: mùa đông khô lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau với lượng mưa chỉ chiếm 20% tổng lượng mưa cả năm Tuy nhiên, sự thay đổi bất thường của khí hậu, như rét, sương muối mùa đông và mưa bão mùa mưa, gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp tại huyện.

3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

3.1.2.1 Đất đai và tình hình sử dụng đất đai

Tình hình phân bố đất đai của huyện Quế Võ đã có sự thay đổi đáng kể từ năm 2013 đến năm 2015 Cụ thể, tổng diện tích đất tự nhiên của huyện năm 2013 là 17.074,63 ha, nhưng đến năm 2014 và 2015, diện tích này giảm xuống còn 16.074,63 ha, tức là giảm 10.000 ha Nguyên nhân chính của sự giảm này là do thành phố Bắc Ninh mở rộng về phía đông, dẫn đến việc Nhà nước giao 10.000 ha đất cho thành phố Bắc Ninh quản lý, bao gồm 3 xã Vân Dương và Nam Sơn.

Bảng 3.1 Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai huyện Quế Võ qua 3 năm 2013 – 2015

* Tổng diện tích đất tự nhiên

2 Đất cây trồng lâu năm + vườn

3 Đất mặt nước nuôi trồng thuỷ sản

III Đất chưa sử dụng và đồi trọc

3 Đất xây dựng cơ bản

* Một số chỉ tiêu phân tích

- Đât canh tác/khẩu NN

- Đất NN/lao động NN

- Đất canh tác/lao động NN

Nguồn: Phòng Thống kê huyện Quế Võ (2016)

Theo bảng 3.1, diện tích đất nông nghiệp của huyện năm 2013 là 10.897,66 ha, chiếm 63,82% tổng diện tích đất tự nhiên, nhưng đến năm 2015, con số này giảm còn 10.681,84 ha, tương đương 62,58% Tốc độ giảm bình quân hàng năm là 1,00%, chủ yếu do một phần diện tích đất tự nhiên bị trả lại cho thành phố Bắc Ninh và sự chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất xây dựng cho các khu công nghiệp như khu công nghiệp 2 Quế Võ Tình trạng đất đai ngày càng thu hẹp đòi hỏi các nông hộ cần nhận thức rõ về giá trị của đất, trong khi các ngành chức năng cần tăng cường quy hoạch và lập kế hoạch sử dụng đất để đảm bảo sự phát triển kinh tế bền vững cho huyện.

3.1.2.2 Tình hình nhân khẩu và lao động

Theo số liệu thống kê của phòng thống kê huyện Quế Võ ở bảng 3.2 Năm

2013 dân số của Quế Võ là 151.692 người, so với năm 2013 dân số của huyện tăng

Tính đến năm 2014, huyện Quế Võ có dân số 2014 người, với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 1,31% Là một huyện thuần nông, Quế Võ có tỷ lệ số khẩu nông nghiệp cao, với 139.384 khẩu vào năm 2013, chiếm 90,2% tổng dân số Đến năm 2014, tổng số lao động của huyện tăng từ 65.361 lên 69.999 người.

Tốc độ tăng trưởng lao động toàn huyện Quế Võ đạt 6,4% mỗi năm Năm 2014, số lao động trong lĩnh vực nông nghiệp là 61.064, chiếm 93,43% tổng số lao động của huyện.

2015 là 65,086 lao động nông nghiệp nhưng chỉ chiếm 92, 98%

Số lao động trong ngành nghề và buôn bán dịch vụ đang tăng trưởng nhanh chóng với mức tăng trung bình hàng năm đạt 13,84%, trong khi lao động chuyên ngành dịch vụ chỉ tăng 1,12% Điều này cho thấy rằng các hộ thuần nông cần phát triển thêm ngành nghề phụ để gia tăng thu nhập cho gia đình, vì nếu chỉ dựa vào nông nghiệp, năng suất lao động sẽ không cao và có xu hướng giảm dần, đồng thời rủi ro cũng ngày càng lớn.

Theo các chỉ tiêu tính toán, năm 2014, bình quân mỗi hộ có 4,45 khẩu và 2,04 lao động, cho thấy tỷ lệ này phù hợp với huyện nông nghiệp Số người ăn theo không lớn, điều này cho phép các cấp uỷ Đảng và chính quyền tổ chức lao động hiệu quả hơn Đảm bảo mỗi lao động hoạt động đúng với năng lực và sở trường của mình sẽ nâng cao năng suất lao động, góp phần làm giàu cho bản thân, gia đình và xã hội.

Bảng 3.2 Tình hình nhân khẩu và lao động của huyện qua 3 năm 2013 – 2015

1 Tổng số hộ của huyện

4 Một số chỉ tiêu bình quân

- Bình quân khẩu NN/hộ NN

- Bình quân LĐNN/hộ NN

3.1.2.3 Cơ sở vật chất kỹ thuật

Cơ sở vật chất kỹ thuật và hạ tầng nông thôn đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển các ngành kinh tế, bao gồm cả công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ Đây là vấn đề được Đảng bộ và nhân dân Quế Võ đặc biệt quan tâm.

Hệ thống giao thông của Quế Võ đã được cải thiện đáng kể với 23 xã và một thị trấn có mạng lưới đường giao thông liên thôn - xã dài 202km Nhiều thôn xã đã có đường bê tông và đường nhựa, tạo điều kiện thuận lợi cho nông dân trong việc đi lại và vận chuyển nông sản Điều này không chỉ nâng cao hiệu quả công việc mà còn góp phần tăng năng suất lao động trong khu vực.

Xã Quế Võ sở hữu hệ thống giao thông đa dạng với đầy đủ quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ và đường thủy, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu, buôn bán và trao đổi hàng hóa với các vùng trong tỉnh và khu vực lân cận.

Huyện Quế Võ, với lợi thế tiếp giáp ba con sông, có nhiều cửa sông thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Huyện đã đầu tư xây dựng 35 trạm bơm tưới, 17 trạm bơm tiêu và 11 trạm bơm kết hợp với 443 km mương, tạo điều kiện thuận lợi cho nông dân trong việc thâm canh và nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi.

Quế Võ đã trang bị mạng lưới điện và bưu điện đến từng thôn, xã, với hầu hết các xã có điểm bưu điện văn hoá Hiện nay, 100% các xã và hộ dân đã có điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất, góp phần thúc đẩy phát triển ngành nghề và tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động trong huyện.

Huyện có 4 trường trung học phổ thông với cơ sở vật chất hiện đại, thu hút hơn 12.000 học sinh mỗi năm Tại mỗi xã đều có trường mầm non, tiểu học và trung học cơ sở, đảm bảo giáo dục cho trẻ em ở mọi lứa tuổi.

Quế Võ sở hữu cơ sở vật chất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp và nông thôn, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp hàng hóa Tuy nhiên, so với các huyện khác trong tỉnh, Quế Võ vẫn gặp nhiều khó khăn nhất, như được thể hiện trong số liệu bảng 3.3.

Bảng 3.3 Tình hình trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật của huyện

- Tỷ lệ số hộ dùng điện

- Trường trung học cơ sở

- Trường trung học phổ thông

Nguồn: Phòng Thống kê huyện Quế Võ (2015)

3.1.3 Cơ Cấu sản xuất một số ngành sản xuất chính

Trong những năm qua, huyện Quế Võ đã ghi nhận sự phát triển mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực, bao gồm nông nghiệp, thủy sản, công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh và cả nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho huyện trong công cuộc công nghiệp hóa.

Phương pháp nghiên cứu

Trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung vào các chủ thể chính sách như UBND huyện và Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, những cơ quan có vai trò quan trọng trong việc đề xuất điều chỉnh, bổ sung hoặc đổi mới chính sách Đề tài sẽ xem xét các giai đoạn cụ thể của chính sách cùng với tác động và hiệu lực của nó đối với xã hội.

Tiếp cận có sự tham gia được áp dụng trong tất cả các hoạt động của đề tài, đặc biệt trong việc thiết kế Phiếu điều tra và Hệ thống câu hỏi cho phỏng vấn trực tiếp Phương pháp này nhằm tối ưu hóa sự phối hợp giữa các bên liên quan, từ đó thu thập số liệu thực tế hiệu quả hơn.

Tiếp cận kết hợp định tính và định lượng là phương pháp hiệu quả trong việc điều tra và quan sát tình hình thực hiện chính sách Bằng cách thiết lập các chỉ tiêu liên quan, chúng ta có thể lượng hóa các yếu tố định tính cần thiết và áp dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp để đạt được kết quả chính xác và đáng tin cậy.

3.2.2 Phương pháp thu thập tài liệu

3.2.2.1 Thu thập thông tin, tài liệu thứ cấp

Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã thu thập và xử lý dữ liệu thứ cấp đã được công bố để tạo ra một cái nhìn tổng quan về tài liệu và thực trạng địa phương Tài liệu tổng quan được lấy từ nhiều nguồn như internet, sách báo, và các nghiên cứu khoa học đã công bố, cũng như các thảo luận về việc thực hiện chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp trong và ngoài nước Thông tin về đất đai, dân số, và thực trạng liên quan đến chính sách phát triển hợp tác xã được chọn lọc từ các báo cáo, kế hoạch và văn bản của huyện Quế Võ trong giai đoạn 2014-2016.

3.2.2.2 Thu thập thông tin, số liệu sơ cấp Để thu thập được những thông tin về sơ cấp chúng tôi tiến hành lập bảng hỏi và lựa chọn các nhóm đối tượng phù hợp đê phỏng vấn Đối tượng

Nguồn: Tổng hợp của tác giả (2016)

3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu Đối với thông tin thứ cấp: Toàn bộ thông tin này được kiểm tra ở các khía cạnh: Đầy đủ kịp thời, chính xác và sau đó được tính toán phản ánh thông qua bảng thống kê, minh họa đồ thị Đối với thông tin sơ cấp: Toàn bộ thông tin này được kiểm tra, chính lý trước khi nhập vào bảng tính Excel trên máy tính Thông tin điều tra được phân tổ và xử lý trên máy tính công cụ Excel

Phương pháp phân tổ thống kê sẽ được áp dụng sau khi hoàn tất quá trình điều tra, nhằm phân loại chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp thành hai nhóm chính: trồng trọt và chăn nuôi Điều này cho phép phân tích vấn đề nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau và đưa ra các giải pháp phù hợp.

Phương pháp thống kê mô tả sử dụng các chỉ tiêu số tuyệt đối, số tương đối và số bình quân để phân tích thực trạng cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách.

Phương pháp thống kê so sánh được sử dụng để đánh giá sự thay đổi của các chỉ tiêu nguồn lực và kết quả sản xuất của các hộ nông dân trong huyện trước và sau khi áp dụng chính sách Đồng thời, phương pháp này cũng cho phép so sánh kết quả thực hiện chính sách qua từng thời kỳ, từ đó cung cấp cái nhìn tổng quan về hiệu quả của các chính sách nông nghiệp.

3.2.5 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng

* Nhóm chỉ tiêu phản ánh điều kiện kinh tế - xã hội của quận Phân bổ và sử dụng đất đai

Dân số và lao động

Kết quả sản xuất kinh doanh

* Nhóm chỉ tiêu phản ánh nguồn đến thực hiện chính sách

Nguồn kinh phí cho chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp Chi cho hoạt động hỗ trợ vật tư nông nghiệp

Phân bổ kinh phí và hiện vật hỗ trợ vật tư nông nghiệp cho từng ngành sản xuất (trồng trọt, chăn nuôi)

* Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp Giá trị sản xuất chung và của từng ngành

Kết quả hỗ trợ từng ngành: trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản

* Nhóm chỉ tiêu phản ánh tiếp cận chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp Số hộ được tiếp cận

Số lượng và kinh phí các hộ được tiếp cận Diện tích được hỗ trợ

Số đầu con được hỗ trợ

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Ngày đăng: 09/07/2021, 14:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Đào Thị Ngọc Hà (2014). “Đánh giá tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp cho các hộ nông dân trên địa bàn quận Kiến An, thành phố Hải Phòng”. Luận văn Thạc sỹ Kinh tế, Học viện Nông nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ vật tưnông nghiệp cho các hộ nông dân trên địa bàn quận Kiến An, thành phố HảiPhòng
Tác giả: Đào Thị Ngọc Hà
Năm: 2014
11. Hiệp định Nông nghiệp của WTO (1995). Liên minh hợp tác xã Hải Phòng.Truy cập ngày 15/6/2016 tạihttp://lienminhhtxhaiphong.org.vn/PortalFolders, ngày truy cập 21/07/2013 Link
14. OECD (2015), Các chính sách nông nghiệp của Việt Nam 2015, Nhà xuất bản PECD, Paris http://dx.doi.org/10.1787/9789264235151-en15.Phạm Thị Thu Hằng (2009). Hệ thống ngắn gọn về WTO và các cam kết gia nhậpcủa Việt Nam. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam VCCI, Hà Nội Link
1. Ban Kế hoạch Nguồn vốn (2016). Báo cáo chính sách ngành nông nghiệp năm 2016. Tài liệu hợp tác với Trung tâm Thông tin Phát triển Nông nghiệp Nông thôn– AGROINFO Khác
2. Cục thống kê Bắc Ninh (2010). Niên giám thống kê Bắc Ninh năm 2009. Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Khác
3. Dự án Mutrap III (2010). Vấn đề Trợ cấp trong Nông nghiệp trong Vòng Doha và Tác động tới Việt Nam Khác
4. Đặng Kim Sơn (2008). Nông nghiệp, Nông dân và Nông thôn Việt Nam. Nhà xuất bản Nông nghiệp Khác
5. Đặng Kim Sơn và Nguyễn Minh Tiến (2000). Phát triển HTX ở Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc. Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hà Nội Khác
7. Đỗ Kim Chung (2000). Bài giảng chính sách nông nghiệp. Trường đại học nông nghiệp Hà Nội Khác
8. Đỗ Kim Chung (2009). Bài giảng môn chính sách phát triển. Trường đại học nông nghiệp Hà Nội Khác
9. Đỗ Kim Chung (2010). Một số vấn đề lý luận và thực tiễn hỗ trợ giảm nghèo và đầu tư công cho giảm nghèo. Tạp chí Khoa học và Phát triển. Nhà xuất bản Đại học Nông nghiệp Hà Nội. Tập 8, số 4 Khác
10. Đỗ Kim Chung và cs. (2010). Nghiên cứu giải pháp và khuyến nghị về chính sách đầu tư công cho giảm nghèo và phát triển kinh tế huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Khác
12. Nguyễn Hải Hoàng (2011). Nghiên cứu tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp của Nhà nước ở huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.Luận văn Thạc sỹ Kinh tế. Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Hà Nội Khác
13. Nguyễn Hồng Thu (2009). Phát triển nông nghiệp, nông thôn của Nhật Bản – Kinh nghiệm cho Việt Nam. Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội. Số 10.2009 Khác
16. Sở Nông nghiệp & PTNT tỉnh Bắc Ninh (2015). Báo cáo rà soát chính sách chính sách hỗ trợ vật tư trồng trọt, hỗ trợ phát triển chăn nuôi, hỗ trợ phát triển thủy sản giai đoạn 2010 - 2015 Khác
17. Trần Đình Ân và Võ Trí Thanh (2002). Thể chế - Cải cách thể chế và phát triển. Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Khác
20. Văn phòng HĐND & UBND huyện Quế Võ (2015). Báo cáo tổng kết các năm giai đoạn 2013 - 2015 của Văn phòng HĐND & UBND huyện, Phòng công thương, Phòng thống kê, Phòng tài nguyên môi trường, Phòng tài chính kế hoạch, Phòng nông nghiệp & PTNT, Trạm khuyến nông, Trạm thú y huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh Khác
22. Vũ Trọng Khải (2009). Thực trạng chính sách phát triển nông thôn với những vấn đề nảy sinh. Tạp chí phát triển kinh tế số 220 tháng 02/2009 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w