1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Luật học: Quản lý nhà nước về cung ứng dịch vụ hành chính công trực tuyến từ thực tiễn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng

82 19 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của Luận văn nhằm tìm ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước về cung ứng dịch vụ hành chính công trực tuyến ở quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng thời gian tới. Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRƯƠNG CÔNG NAM

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CUNG ỨNG DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG TRỰC TUYẾN TỪ THỰC TIỄN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số : 8 38 01 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS TRƯƠNG THỊ THU TRANG

HÀ NỘI, năm 2021

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan kết quả luận văn thạc sĩ hành chính: “Quản lý nhà nước về cung ứng dịch vụ hành chính công trực tuyến từ thực tiễn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng” được trình bày trong luận văn này là công

trình thuộc sở hữu của cá nhân tôi và chưa từng được công bố trước đó Các dữ liệu, lập luận, phân tích, đánh giá và kết quả là trung thực và có trích dẫn đầy đủ đối với những nội dung thuộc sở hữu của tác giả khác

Tỉ lệ đạo văn được kiểm tra bởi DoiT của luận văn này là 12% Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về những nội dung được trình bày trong báo cáo này

Đà Nẵng, ngày tháng năm 2021

Tác giả luận văn

Trương Công Nam

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả nhận được sự quan tâm, hướng dẫn từ quý Thầy Cô Học viện Khoa học xã hội, sự giúp đỡ tận tình của các cấp Chính quyền thành phố Đà Nẵng và quận Ngũ Hành Sơn bên cạnh những nỗ lực cá nhân

Tôi đặc biệt gửi lời cảm ơn chân thành vì sự hướng dẫn tận tâm của TS Trương Thị Thu Trang qua những nhận xét, góp ý quý giá trong suốt quá trình thực hiện luận văn Bên cạnh đó, cô cũng truyền cho tôi nhiều điều bổ ích về kỹ năng nghiên cứu, tác phong làm việc và định hướng cho tương lai nghề nghiệp Qua đây, tôi muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô và hi vọng cô có thật nhiều sức khỏe, may mắn tiếp tục chặng đường trồng người

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới UBND quận Ngũ Hành Sơn đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn từ những hướng dẫn trong công việc của một cán bộ tới những dữ liệu quý báu mà đơn vị cung cấp để tôi có thể hoàn thành tốt đề tài này Kính chúc quý đơn vị thành công hơn nữa trong thời gian tới

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, tháng 3 năm 2021

Tác giả luận văn

Trương Công Nam

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CUNG ỨNG DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG TRỰC TUYẾN 10

1.1 Khái niệm quản lý nhà nước về cung ứng dịch vụ hành chính công trực tuyến 10 1.2 Vai trò, ý nghĩa của quản lý nhà nước về dịch vụ hành chính công trực tuyến 19 1.3 Các nhân tố tác động đến quản lý nhà nước về dịch vụ hành chính công trực tuyến 21 1.4 Kinh nghiệm quốc tế và các địa phương khác về quản lý nhà nước đối với dịch vụ công trực tuyến 25

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CUNG ỨNG DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG TRỰC TUYẾN TẠI QUẬN NGŨ HÀNH SƠN – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 33

2.1 Khái quát về quận Ngũ Hành Sơn 33 2.2 Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về cung ứng dịch vụ công trực tuyến tại quận Ngũ Hành Sơn 36 2.3 Nhận xét chung về công tác quản lý nhà nước về cung ứng dịch vụ công trực tuyến tại quận Ngũ Hành Sơn 46

CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CUNG ỨNG DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG TRỰC TUYẾN TẠI QUẬN NGŨ HÀNH SƠN - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG……… … 52

3.1 Quan điểm tăng cường công tác quản lý nhà nước về cung ứng dịch vụ công trực tuyến tại quận Ngũ Hành Sơn 52 3.2 Các giải pháp 54

Trang 5

3.3 Các kiến nghị 63

KẾT LUẬN 66 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

STT Từ viết tắt Nghĩa đầy đủ

1 CNTT Công nghệ thông tin

7 UBND Ủy ban nhân dân

8 HĐND Hội đồng nhân dân

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hành chính công hay hành chính nhà nước là hoạt động thực thi quyền hành pháp của Nhà nước, là tiến trình mà nhân sự và các nguồn lực công khác được tổ chức và phối hợp để thiết kế, quản lý và thực hiện thông qua sự điều chỉnh bằng quyền lực pháp luật của Nhà nước tới các quá trình xã hội và hành vi con người từ trung ương đến địa phương

Cung ứng dịch vụ hành chính công là một chức năng quan trọng của nhà nước trong việc duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật, thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của công dân Trong quá trình cải cách nhà nước theo hướng gần dân hơn, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của công dân đang diễn ra hiện nay, một yêu cầu bức thiết đặt ra ở nhiều nước trên thế giới là nâng cao vai trò của nhà nước trong quản lý và cung ứng dịch vụ công

Cung ứng dịch vụ công chịu sự chi phối của rất nhiều yếu tố, cả chủ quan lẫn khách quan ở mỗi quốc gia và thường xảy ra sự bất cập giữa một bên là cung

về dịch vụ công mà đại diện là nhà nước, và một bên là cầu về dịch vụ công mà đại diện là đòi hỏi của mọi người dân trong xã hội Từ cuối những năm 1990, chính quyền các nước Châu Âu đã triển khai các dự án chính quyền điện tử, dù

ở các tốc độ khác nhau, nhằm cung cấp thông tin và dịch vụ điện tử cho người dân và doanh nghiệp Theo sau đó là các nước như Mỹ, Canada, Úc, … và tới

179 quốc gia thành viên Liên hợp quốc có tương tác với người dân và doanh nghiệp qua các cổng thông tin trực tuyến (Mạng quản trị và tài chính công Liên Hợp Quốc [UNPAN], 2006) Sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử trong những năm gần đây và sự phát triển dự kiến trong tương lai gần của loại hình dịch vụ này hoặc tương tự đã khuyến khích người tiêu dùng ngày càng đòi hỏi nhiều hơn vào các dịch vụ tùy chỉnh, nhanh chóng và từ xa Trong khu vực

tư nhân, các cuộc khảo sát nghiên cứu cho thấy rằng khách hàng đạt được mức

độ hài lòng cao từ các nhà cung cấp thương mại điện tử Vì vậy người tiêu dùng

Trang 8

các dịch vụ công đang bắt đầu yêu cầu mức độ đáp ứng và dịch vụ tương tự từ chính phủ như họ mong đợi từ khu vực tư nhân Không những thế, áp lực từ tốc

độ chuyển đổi số trong thủ tục hành chính tại các quốc gia thuộc tổ chức thương mại, kinh tế, … mà Việt Nam là thành viên, các đối tác thương mại song phương cũng khiến yêu cầu thiết lập, tổ chức và quản lý dịch vụ công trực tuyến trở nên bức thiết hơn bao giờ hết

Cải cách hành chính với trọng tâm là chuyển đổi số dịch vụ hành chính công vì đó trở thành cuộc đua của cả các nước phát triển lẫn đang phát triển Đây được xem là động lực mạnh mẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua ưu thế về tốc độ và sự thuận tiện trong xử lý thủ tục hành chính, đồng thời phát triển nền hành chính dân chủ, minh bạch, trong sạch, vững mạnh hướng tới phát triển mọi mặt đời sống xã hội Việt Nam cũng không nằm ngoài

xu thế đó với nỗ lực hội nhập quốc tế những năm vừa qua, quá trình cải cách thủ tục hành chính được tiến hành đồng thời với chuyển đổi số thủ tục được tiến hành đồng bộ từ trung ương tới địa phương

Kể từ khi được khởi xướng vào đầu Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1986, trải qua hơn 30 năm cải cách về tổ chức bộ máy cơ quan nhà nước, tối giản thủ tục hành chính, tối ưu quy trình vừa thực hiện, tìm tòi vừa rút kinh nghiệm, công cuộc cải cách hành chính đã thu được những thành tựu đáng kể, góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước dẫu còn nhiều điều cần phải thực hiện Tất cả đã được nêu ra trong Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 7/3/2019 của Chính phủ về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019-2020, định hướng đến 2025

Tại quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng việc cung ứng dịch vụ công trực tuyến được xem là khâu quan trọng, then chốt trong tiến trình cải cách hành chính và triển khai Chính phủ điện tử Dịch vụ công trực tuyến giúp giảm thời gian, chi phí đi lại cho việc gửi hồ sơ và nhận kết quả của các tổ chức, cá nhân; đặc biệt là tránh được tệ nhũng nhiễu, quan liêu, phiền hà từ một bộ phận cán bộ

Trang 9

công quyền, hách dịch; tăng tính công khai, minh mạch của thủ tục hành chính; nâng cao trách nhiệm, trình độ chuyên môn và kiến thức về công nghệ thông tin của cán bộ công chức được phân công xử lý hồ sơ thủ tục hành chính, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Để việc cung ứng dịch vụ công trực tuyến trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đạt hiệu quả cao, yêu cầu hoàn thiện công tác quản lý nhà nước trong cung ứng dịch vụ công

trực tuyến trên địa bàn quận Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Quản lý nhà nước

về cung ứng dịch vụ hành chính công trực tuyến từ thực tiễn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng” có tính cấp thiết về lý luận và thực tiễn

Là một cán bộ đang công tác tại quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng, với mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé vào việc tăng cường quản lý nhà nước về cung ứng dịch vụ hành chính công trực tuyến của địa phương, Học viên

mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Quản lý nhà nước về cung ứng dịch vụ hành chính công trực tuyến từ thực tiễn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng” để nghiên cứu trong phạm vi luận văn thạc sĩ

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong những thập kỷ qua, các quốc gia trên thế giới tiếp cận việc cung ứng dịch vụ công dựa trên nguyên tắc bình đẳng trong tiếp nhận các dịch vụ của công dân Nhà nước bên cạnh việc thiết kế, tổ chức cũng có trách nhiệm trong thực thi đảm bảo và giám sát tính công bằng trong thụ hưởng, hiệu quả trong cung ứng dịch vụ công Một nền hành chính cồng kềnh sẽ tốn kém và lãng phí, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, mức chi phí này có thể vượt quá ngân sách nhà nước có thể đáp ứng Do đó, cải cách hành chính và số hóa dịch vụ công và xây dựng khu vực dịch vụ công trực tuyến trong thập kỷ qua đã thu hút được nhiều sự chú ý của giới phân tích, các chính trị gia, chuyên gia trong lĩnh vực hành chính công và các doanh nghiệp

Cải cách hành chính khu vực công nói chung và dịch vụ công nói riêng đã diễn ra sớm từ những năm 80 của thế kỷ XX tại các nước phát triển như Mỹ,

Trang 10

Anh, New Zealand, Australia, … Hơn 10 năm sau đó, việc xây dựng trực tuyến kho dữ liệu hành chính công quốc gia bắt đầu xuất hiện tại Mỹ và một số nước Châu Âu Theo Relyea, thuật ngữ chính phủ điện tử đã được đưa ra bởi một báo cáo chung: Tái cấu trúc thông qua công nghệ thông tin - của Ban đánh giá hiệu suất quốc gia và dịch vụ Công nghệ Thông tin của Chính phủ Mỹ năm 1997 Tuy nhiên, vào thời điểm đó, các tổ chức chính phủ chưa có một sự thống nhất chung trong việc phát triển công nghệ thông tin và ứng dụng chúng để xây dựng chính phủ điện tử

Một số đề tài nghiên cứu nổi bật về chính phủ điện tử và dịch vụ hành chính công trực tuyến có thể kể đến như:

- Đề tài “Khám phá các cấu trúc trực tuyến trên Cổng thông tin chính phủ Trung Quốc” của Min Jiang Đề tài này khám phá cấu trúc giao tiếp của các trang web của chính phủ Trung Quốc và sự tác động đến sự tham gia chính trị của công dân Đặt vấn đề với sự không rõ ràng của Đảng và nhà nước trong việc tuyên bố xây dựng một nền hành chính minh bạch, định hướng phục vụ và dân chủ, nghiên cứu trên 31 cổng thông tin chính quyền cấp tỉnh của Trung Quốc Kết quả cho thấy rằng bằng cách thao túng các cấu trúc trực tuyến, chính phủ Trung Quốc sử dụng các hình thức trực tuyến tinh vi hơn kiểm soát xã hội thông qua việc cung cấp thông tin, thiết lập chương trình nghị sự và ngăn chặn những bất đồng chính kiến của công chúng

- Lourdes Torres, Vicente PinaT, Basilio Acerete (2005), “Phát triển chính phủ điện tử trong việc cung cấp các dịch vụ công giữa các thành phố Châu Âu” nghiên cứu về chất lượng và thực trạng cung ứng dịch vụ công trực tuyến của công dân Châu Âu Theo kết quả nghiên cứu này, chính phủ điện tử tại các nước Châu Âu đang dịch chuyển từ giai đoạn mà sự tương tác bị giới hạn ở những gì được hiển thị trên màn hình đến các giai đoạn trong đó có giao tiếp và dịch vụ hai chiều và các giao dịch tài chính có thể được hoàn thành với mức độ bảo vệ quyền riêng tư cá nhân cao

Trang 11

Tại Việt Nam, nhiều địa phương, các bộ, ban, ngành cũng đã có nhiều đề án đóng góp cho sự phát triển chung của dịch vụ công trực tuyến như triển khai ứng dụng công nghệ thông tin, phương tiện kỹ thuật để đảm bảo cung ứng dịch vụ công trên nền tảng trực tuyến Rất nhiều các lĩnh vực đã bước đầu chuyển đổi

số hướng đến tương tác trực tuyến như thông quan điện tử, kê khai thuế điện tử, cấp phép lái xe, hẹn lịch tiếp dân… Nhiều đề tài khoa học như nghiên cứu xây dựng hệ thống thông tin một cửa trong cấp phép đầu tư, thực trạng mô hình một cửa điện tử, khái quát mô hình một cửa điện tử… Một số luận văn cũng khai thác đề tài tương tự như:

Bùi Hoàng Minh (2013), Ứng dụng công nghệ thông tin trong cung cấp

dịch vụ công trực tuyến tại tỉnh Thừa Thiên Huế, Luận văn Thạc sĩ, Học viện

Hành chính Quốc gia, đã hệ thống khung lý luận cơ bản về dịch vụ công trực tuyến đồng thời đánh giá mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong cung ứng loại hình dịch vụ đặc biệt này tại tỉnh Thừa Thiên Huế thông qua các số liệu và phân tích

Đào Hưng (2017), Cung cấp dịch vụ công trực tuyến cấp huyện tại tỉnh

Đắk Lắk, Luận văn Thạc sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia Luận văn đã hệ

thống cơ sở lý luận làm nền tảng cho việc ứng dụng công nghệ thông tin vào cung cấp dịch vụ công Luận văn cũng đánh giá được thực trạng cung cấp dịch vụ công trực tuyến cấp huyện tại tỉnh Đắk Lắk, để thấy được những thuận lợi và khó khăn trong cung cấp dịch vụ công trực tuyến tại cấp huyện Trên cơ sở đó, xây dựng các giải pháp để phát huy những yếu tố tác động tích cực và khắc phục, hạn chế những yếu tố tác động tiêu cực

Vũ Duy Linh (2017), Đổi mới cung cấp dịch vụ công trực tuyến ở Bộ Nông

nghiệp và Phát triển nông thôn, Luận văn Thạc sĩ, Học viện Hành chính Quốc

gia, đã chỉ ra mối quan hệ giữa Quản lý hành chính Nhà nước với dịch vụ công trực tuyến đồng thời đi sâu đánh giá thực trạng các nội dung liên quan đến việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến tại Bộ Nông nghiệp và PTNT đã thực hiện

Trang 12

trong thời gian qua, phân tích những hạn chế và chỉ ra nguyên nhân khách quan, nguyên nhân chủ quan Trên cơ sở đó, luận văn đã đưa ra các giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng và hoàn thiện hoạt động cung cấp dịch vụ công trực tuyến của Bộ

Quách Thị Minh Phượng (2020), Chính sách dịch vụ công trực tuyến ở

Việt Nam hiện nay, Luận văn Tiến sĩ, Học viện Khoa học xã hội Luận án bên

cạnh việc hình thành tư duy và lý luận tương đối toàn diện về chính sách dịch vụ công trực tuyến làm cơ sở cho hoàn thiện chính sách cũng đã cung cấp bức tranh toàn cảnh thực tế chính sách dịch vụ công trực tuyến ở Việt Nam (từ khi ứng dụng CNTT) Luận án cũng đã đưa ra những giải pháp xuất phát từ thực tiễn nghiên cứu

Thành Nguyễn Thùy Ny (2020), Nâng cao chất lượng dịch vụ công trực

tuyến mức độ 3 trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội, Luận văn

Thạc sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia Luận văn phát triển và xác định được một số vấn đề về chất lượng của dịch vụ công trực tuyến Một là, sự đáp ứng của Cổng dịch vụ công và Hệ thống thông tin một cửa điện tử Hà Nội đối với dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội Hai là, chất lượng của dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 đối với Cổng dịch vụ công và Hệ thống thông tin một cửa điện tử Hà Nội trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về vấn đề quản lý nhà nước về cung ứng dịch vụ công nói chung và dịch vụ công trực tuyến nói riêng đã được thực hiện dưới nhiều góc độ khác nhau, song qua khảo sát của học viên,

hành chính công trực tuyến từ thực tiễn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà

chính công trực tuyến tại quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đang có những vướng mắc cần có giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý

Trang 13

nhằm tạo những điều kiện thật thuận lợi cho người dân trong sử dụng dịch vụ hành chính công trực tuyến.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn tìm hiểu vấn đề quản lý nhà nước về cung ứng dịch vụ hành chính công trực tuyến từ thực tiễn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng nhằm tìm ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước về cung ứng dịch vụ hành chính công trực tuyến ở quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng thời gian tới

Với mục đích nêu trên, tác giả xây dựng nhiệm vụ của luận văn như sau:

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

(1) Tổng hợp cơ sở lý luận quản lý nhà nước về dịch vụ hành chính công trực tuyến

(2) Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về dịch vụ hành chính công trực tuyến trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn; nhận diện được những thành tựu, những hạn chế trong công tác quản lý nhà nước về cung ứng dịch vụ hành chính công trực tuyến, nguyên nhân của những hạn chế

(3) Đề xuất những hàm ý chính sách hoàn thiện công tác quản lý nhà nước

về dịch vụ công trực tuyến tại địa phương

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Công tác quản lý nhà nước về cung ứng dịch vụ hành chính công trực tuyến

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về thời gian: Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu vấn đề quản lý nhà nước trong cung ứng dịch vụ hành chính công trực tuyến giai đoạn 2015 – 2020

Về không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại quận Ngũ Hành Sơn

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Trang 14

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các chủ trương, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về quản lý nhà nước đối với dịch vụ công nói chung và dịch vụ hành chính công trực tuyến nói riêng

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập dữ liệu

Dữ liệu được thu thập từ nguồn dữ liệu thứ cấp: Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về hoạt động cung ứng dịch vụ công trực tuyến, chính phủ điện tử; các báo cáo thường kỳ của các cơ quan, ban ngành, đoàn thể trong nước; các ấn phẩm truyền thông; dữ liệu được lưu trữ là các Nghị định, Nghị quyết, văn bản chỉ đạo khác có liên quan Tất cả tài liệu này được lựa chọn, phân tích và sử dụng dưới dạng trích dẫn phục vụ luận văn

- Phương pháp phân tích, tổng hợp và thống kê…

Từ các nguồn dữ liệu thu thập được, phương pháp tổng hợp và thống kê được sử dụng xuyên suốt trong các nội dung chương 1 và chương 2, phương pháp phân tích các dữ liệu được tập trung sử dụng trong chương 2 để chỉ ra hiện trạng thực tế của đối tượng phân tích Phương pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng ở chương 3 để phân tích và đề xuất các quan điểm, giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về cung ứng dịch vụ hành chính công trực tuyến tại quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

6.1 Ý nghĩa lý luận

- Về mặt lý luận: kết quả nghiên cứu và những giải pháp, kiến nghị của luận văn góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về cung ứng dịch vụ hành chính công trực tuyến trong cả nước nói chung và tại quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng nói riêng

Trang 15

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Về mặt thực tiễn: Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho đội ngũ cán bộ thực hiện quản lý nhà nước về cung ứng dịch vụ hành chính công trực tuyến cũng như những ai quan tâm và muốn tìm hiểu về vấn đề vấn đề này

7 Kết cấu của luận văn

Đề tài “Quản lý nhà nước về cung ứng dịch vụ hành chính công trực tuyến

từ thực tiễn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng” được xây dựng theo cấu trúc ngoài phần mở đầu, kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về cung ứng dịch vụ hành

chính công trực tuyến;

Chương 2 Thực trạng quản lý nhà nước về cung ứng dịch vụ hành chính

công trực tuyến từ thực tiễn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng;

Chương 3 Phương hướng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà

nước về cung ứng dịch vụ hành chính công trực tuyến từ thực tiễn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng

Trang 16

Tại Việt Nam những năm qua, hoạt động cung cấp dịch vụ công trong quản lý hành chính nhà nước rất được quan tâm bởi người dân và doanh nghiệp – những đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp Các cấp quản lý, chuyên gia đầu ngành, cán bộ từ chính quyền đến địa phương vì đó cũng vào cuộc quyết liệt đẩy nhanh tốc độ chuyển đổi số trong thủ tục hành chính và triển khai chính phủ điện tử Tuy nhiên, “sẽ không có mô hình tốt nhất có thể vay mượn và đưa vào Việt Nam mà không phải chọn lọc và cấy ghép” [36, tr.295], việc làm rõ bản chất và ý nghĩa hay nội hàm của dịch vụ công là cần thiết

Về cơ bản, Nhà nước có hai chức năng là quản lý nhà nước với mọi lĩnh vực đời sống kinh tế - xã hội và cung ứng dịch vụ công cho người dân và tổ chức Có nhiều định nghĩa về dịch vụ công như “Dịch vụ công là hoạt động vì lợi ích chung, do một cơ quan nhà nước hoặc tư nhân đảm nhận” hay “Dịch vụ được cung cấp bởi chính phủ hoặc một tổ chức chính thức cho người dân trong một xã hội cụ thể” … Tính chất chung của các định nghĩa là để phục vụ cho lợi ích, nhu cầu chung của người dân và tổ chức Ngay cả khi nhà nước chuyển giao một phần việc cung ứng dịch vụ công cho khu vực tư nhân thì nhà nước vẫn có

Trang 17

vai trò điều tiết nhằm đảm bảo sự công bằng trong phân phối các dịch vụ này và khắc phục các bất cập của thị trường

Từ những tính chất trên đây, “dịch vụ công” được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp

Theo nghĩa rộng, dịch vụ công là những hàng hoá, dịch vụ mà Chính phủ can thiệp vào việc cung cấp nhằm mục tiêu hiệu quả và công bằng Theo đó, dịch vụ công là tất cả những dịch vụ nhằm thực hiện các chức năng vốn có của Chính phủ, bao gồm từ chính sách, pháp luật, toà án… cho đến y tế, giáo dục, giao thông công cộng

Theo nghĩa hẹp, dịch vụ công được hiểu là những hàng hoá, dịch vụ phục vụ trực tiếp nhu cầu của các tổ chức và công dân mà Chính phủ can thiệp vào việc cung cấp nhằm mục tiêu hiệu quả và công bằng

Tại Việt Nam, khái niệm dịch vụ công được hiểu là những dịch vụ phục vụ các nhu cầu cơ bản, thiết yếu của cá nhân vì lợi ích chung của xã hội, do Nhà nước chịu trách nhiệm trước xã hội (trực tiếp đảm nhận hay ủy quyền và tạo điều kiện cho khu vực tư nhân thực hiện) nhằm bảo đảm ổn định và công bằng

xã hội

1.1.1.2 Những đặc trưng cơ bản của dịch vụ công

- Là hàng hóa, dịch vụ do nhà nước chịu trách nhiệm tổ chức cung ứng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp (cấp vốn, ủy quyền hay trao cho những ưu đãi để các tổ chức xã hội hoặc tư nhân thực hiện, nhưng nhà nước vẫn phải chịu trách nhiệm)

- Phục vụ trực tiếp cho nhu cầu, lợi ích cơ bản, thiết yếu của các tổ chức và công dân Khi sử dụng dịch vụ, người dân có được các lợi ích trực tiếp đáp ứng nhu cầu thiết thực của mình Những lợi ích này là cơ bản, thiết yếu cho sự tồn tại và phát triển của mỗi người, mỗi tổ chức

- Không vì mục tiêu lợi nhuận Nguyên tắc không nhằm mục tiêu lợi nhuận

có ý nghĩa là các tổ chức, cá nhân cung ứng dịch vụ công được quyền thu các

Trang 18

khoản lợi nhuận nhất định, nhưng không phải thuần túy theo quan hệ thị trường, tức là không thu lợi nhuận tối đa mà chịu sự quản lý, điều tiết của nhà nước và phải lấy mục tiêu phục vụ là chính Các nguồn lợi thu được sau khi trừ chi phí

và trả lương cho người làm việc, về cơ bản được dùng để mở rộng dịch vụ, nâng cao chất lượng phục vụ chứ không được đem chia cho các thành viên của tổ chức cung ứng dịch vụ đó

1.1.1.3 Phân loại dịch vụ công

Nhằm duy trì và trật tự kỷ cương xã hội, đồng thời đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công dân cần xác định khái niệm và phạm vi dịch vụ công trên cơ

sở tách biệt một cách tương đối hai chức năng của Nhà nước Trên cơ sở phạm

vi hoạt động cung ứng dịch vụ công, tùy theo điều kiện cụ thể cho thấy có nhiều cách phân loại DVC Mỗi cách thức phân loại dịch vụ công khác nhau tùy thuộc vào mỗi tiêu chí phân loại hình thành nhiều loại hình hoạt động tương ứng

Dịch vụ công có thể phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau, xét theo tiêu

chí chủ thể cung ứng, dịch vụ công được chia thành 3 loại, như sau:

Dịch vụ công do cơ quan Nhà nước trực tiếp cung cấp: Đó là những dịch vụ công cộng cơ bản do các cơ quan của Nhà nước cung cấp Ví dụ, an ninh, giáo dục, phổ thông, chăm sóc y tế công cộng, bảo trợ xã hội…

Dịch vụ công do các tổ chức phi chính phủ và khu vực tư nhân cung cấp, gồm những dịch vụ mà Nhà nước có trách nhiệm cung cấp, nhưng không trực tiếp thực hiện mà ủy quyền cho tổ chức phi chính phủ và tư nhân thực hiện, dưới sự đôn đốc, giám sát của Nhà nước Ví dụ các công trình công cộng do chính phủ kêu gọi thầu có thể do các công ty tư nhân đấu thầu cạnh tranh xây dựng

Dịch vụ công do tổ chức Nhà nước, tổ chức phi chính phủ, tổ chức tư nhân phối hợp thực hiện Loại hình cung ứng dịch vụ này ngày càng trở nên phổ biến

ở nhiều nước Chẳng hạn như ở Trung Quốc, việc thiết lập hệ thống bảo vệ trật

Trang 19

tự ở các khu dân cư là do cơ quan công an, tổ chức dịch vụ khu phố và ủy ban khu phố phối hợp thực hiện

Dựa vào tính chất và tác dụng của dịch vụ được cung ứng, có thể chia dịch

vụ công thành các loại sau:

- Dịch vụ hành chính công: là những dịch vụ phục vụ cho mọi người dân, nhà nước phục vụ các quyền của người dân, có trách nhiệm cung cấp các giấy tờ hành chính, tư pháp theo quy định của pháp luật Phạm vi dịch vụ hành chính công bao gồm các hoạt động thực thi các chính sách, pháp luật nói chung và việc bảo đảm các quyền và nghĩa vụ có tính pháp lý của các tổ chức và công dân như: cấp giấy phép xây dựng, giấy khai sinh, chứng minh nhân dân, xác minh

hộ tịch, hộ khẩu, bổ trợ tư pháp, thu thuế, hải quan

- Dịch vụ sự nghiệp công: là loại dịch vụ cung cấp các hàng hóa dịch vụ về giáo dục – đào tạo, chăm sóc sức khỏe, văn hóa và tinh thần do các tổ chức sự nghiệp cung ứng, không thu tiền hoặc có thu một phần nhưng không vì mục tiêu lợi nhuận

- Dịch vụ công ích: là dịch vụ cung cấp các hàng hóa có tính chất kinh tế đáp ứng nhu cầu vật chất thiết yếu cho sinh hoạt của người dân, nó gắn liền với việc cung ứng của các cơ sở hạ tầng kỹ thuật cơ bản

Ở giới hạn nghiên cứu của đề tài này, mọi dữ liệu và phân tích chỉ tập trung về Dịch vụ hành chính công – loại dịch vụ gắn liền với chức năng Quản lý Nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu của người dân thông qua cơ quan công quyền hay các cơ quan do Nhà nước thành lập được ủy quyền thực hiện Công dân được sử dụng dịch vụ này thông qua việc đóng lệ phí hoặc phí cho Cơ quan hành chính Nhà nước mà không thông qua quan hệ cung cầu, ngang giá trên thị trường Phần phí hoặc lệ phí dùng để hỗ trợ ngân sách Nhà nước

1.1.2 Dịch vụ Hành chính công trực tuyến

Dịch vụ hành chính công ở luận văn này được tiếp cận theo cách hiểu của Nghị định số 43/2011/NĐ-CP, tức là tiếp cận dịch vụ hành chính công dưới góc

Trang 20

độ “những dịch vụ liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật, không nhằm mục tiêu lợi nhuận, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân dưới hình thức các loại giấy tờ có giá trị pháp lý trong các lĩnh vực mà cơ quan nhà nước đó quản lý”, đồng thời “mỗi dịch vụ hành chính công gắn liền với một thủ tục hành chính để giải quyết hoàn chỉnh một công việc cụ thể liên quan đến tổ chức, cá nhân” Ở giới hạn phạm vi đề tài này, tác giả chỉ đề cập đến dịch vụ hành chính công ở cấp quận/ huyện

Dịch vụ hành chính công ở cấp quận là những dịch vụ liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp quận, do các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ở cấp quận thực hiện nhằm cung cấp cho các tổ chức,

cá nhân các loại giấy tờ pháp lý

Nghị định số 43/2011/NĐ-CP cũng nêu rõ “Dịch vụ công trực tuyến là

dịch vụ hành chính công và các dịch vụ khác của cơ quan nhà nước được cung cấp cho các tổ chức, cá nhân trên môi trường mạng” Ngày 15/11/2017, Bộ

Thông tin và Truyền thông ban hành Thông tư số 32/2017 TT-BTTTT quy định

về việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến, đảm bảo khả năng truy cập thuận tiện đối với trang thông tin điện tử của cơ quan nhà nước, dịch vụ công trực tuyến Theo đó, dịch vụ công trực tuyến được triển khai theo 4 mức độ (Điều 5, Chương II):

 Mức độ 1 - Dịch vụ công trực tuyến mức độ 1 phải cung cấp đầy đủ các thông tin cơ bản sau:

a) Tên thủ tục hành chính;

b) Trình tự thực hiện;

c) Cách thức thực hiện;

d) Thành phần, số lượng hồ sơ;

e) Thời hạn giải quyết;

f) Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính;

g) Cơ quan giải quyết thủ tục hành chính;

Trang 21

h) Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: ghi rõ kết quả cuối cùng của việc thực hiện thủ tục hành chính;

i) Thông tin nếu có về mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính, mẫu kết quả thực hiện thủ tục hành chính, yêu cầu, điều kiện, phí, lệ phí;

j) Hình thức nhận hồ sơ, trả kết quả (trực tiếp, qua dịch vụ bưu chính, qua môi trường mạng);

k) Văn bản quy phạm pháp luật quy định trực tiếp về thủ tục hành chính, quyết định công bố thủ tục hành chính

 Mức độ 2 - Dịch vụ công trực tuyến mức độ 2 phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sau:

a) Cung cấp đầy đủ thông tin cơ bản như dịch vụ công trực tuyến mức độ 1; b) Cung cấp đầy đủ các biểu mẫu điện tử không tương tác và cho phép người sử dụng tải về để khai báo sử dụng;

c) Hồ sơ in từ biểu mẫu điện tử không tương tác sau khi khai báo theo quy định được chấp nhận như đối với hồ sơ khai báo trên các biểu mẫu giấy thông thường

 Mức độ 3 - Dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sau

a) Đáp ứng các yêu cầu của dịch vụ công trực tuyến mức độ 2;

b) Các biểu mẫu của dịch vụ được cung cấp đầy đủ dưới dạng biểu mẫu điện tử tương tác để người sử dụng thực hiện được việc khai báo thông tin, cung cấp các tài liệu liên quan (nếu có) dưới dạng tệp tin điện tử đính kèm và gửi hồ sơ trực tuyến tới cơ quan cung cấp dịch vụ;

c) Hồ sơ hành chính điện tử được sắp xếp, tổ chức, lưu trữ trong cơ sở dữ liệu của ứng dụng dịch vụ công trực tuyến để bảo đảm khả năng xử lý, tra cứu, thống

kê, tổng hợp, kết nối, chia sẻ với các cơ sở dữ liệu của các hệ thống ứng dụng liên quan;

Trang 22

d) Các giao dịch trong quá trình xử lý hồ sơ và cung cấp dịch vụ được thực hiện trên môi trường mạng;

e) Việc thanh toán phí, lệ phí (nếu có) và nhận kết quả được thực hiện trực tiếp tại cơ quan cung cấp dịch vụ hoặc qua dịch vụ bưu chính

 Mức độ 4 - Dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sau:

a) Đáp ứng các yêu cầu của dịch vụ công trực tuyến mức độ 3;

b) Cung cấp chức năng thanh toán trực tuyến để người sử dụng thực hiện được ngay việc thanh toán phí, lệ phí (nếu có) qua môi trường mạng;

c) Việc trả kết quả cho người sử dụng có thể được thực hiện trực tuyến, qua dịch vụ bưu chính hoặc trực tiếp Kết quả dưới dạng điện tử của dịch vụ công trực tuyến có giá trị pháp lý như đối với kết quả truyền thống theo quy định về kết quả điện tử của cơ quan chuyên ngành

Tại Việt Nam hiện nay, dịch vụ hành chính công được thực hiện nhiều nhất tại cấp quận/ huyện do đặc thù giải quyết thủ tục hành chính

Như vậy, dịch vụ hành chính công trực tuyến cấp quận đang được thực hiện tại nước ta hiện nay bao trùm hầu hết tất cả hoạt động kinh tế - xã hội của người dân, doanh nghiệp, tổ chức xã hội do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở cấp quận thực hiện trên môi trường mạng Các dịch vụ hành chính công trực tuyến hiện nay đang được cung cấp bao gồm Tư pháp, xây dựng, lao động – thương binh và xã hội, nông nghiệp và phát triển nông thôn, tài nguyên môi trường, giáo dục và đào tạo, nội vụ, văn hóa, y tế, tài chính – thương mại

Đặc điểm của các loại dịch vụ hành chính công trực tuyến do cấp quận/ huyện cung cấp cũng là các đặc điểm của các loại dịch vụ hành chính công thuần túy:

- Phạm vi quản lý của các dịch vụ hành chính công trực tuyến rất rộng lớn, bao gồm hầu hết các lĩnh vực kinh tế - xã hội của một đơn vị hành chính cấp quận/ huyện;

Trang 23

- Đối tượng sử dụng dịch vụ công trực tuyến đa dạng nhưng chủ yếu là người dân và các doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ, các đối tượng mang tính

Tóm lại, dịch vụ hành chính công trực tuyến cấp quận/ huyện là loại hình dịch vụ công có số lượng lớn thủ tục hành chính, cung ứng cho lượng lớn các đối tượng trong xã hội và tương đối ổn định Đây là những dịch vụ có có tác động lớn đến nhất đến số đông người dân, doanh nghiệp trong một địa phương

1.1.3 Quản lý hành chính nhà nước

Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động hành chính của cơ quan thực thi quyền lực nhà nước (quyền hành pháp) để quản lý, điều hành các lĩnh vực của đời sống xã hội theo quy định của pháp luật, đó là Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp Tuy hệ thống các cơ quan: quyền lực, xét xử và kiểm sát thực hiện quyền lập pháp và tư pháp không thuộc hệ thống quản lý hành chính nhà nước nhưng trong cơ chế vận hành của nó cũng có công tác hành chính như chế độ công vụ, công tác tổ chức cán bộ… và phần công tác này cũng phải tuân thủ những quy định thống nhất của nền hành chính nhà nước Quyền hành pháp có 2 nội dung:

Trang 24

– Một là lập quy được thực hiện bằng việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để hướng dẫn thực hiện pháp luật

– Hai là quản lý hành chính nhà nước tức là tổ chức, điều hành, phối hợp các hoạt động kinh tế – xã hội để đưa luật pháp vào đời sống xã hội

Như vậy, có thể hiểu quản lý hành chính nhà nước bản chất chính là hoạt động thực thi quyền hành pháp của Nhà nước, đó là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực pháp luật nhà nước đối với các quan hệ xã hội và trật

tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, do các

cơ quan trong hệ thông quản lý hành chính từ Chính phủ ở Trung ương xuống

Uỷ ban nhân dân các cấp ở địa phương tiến hành

1.1.4 Quản lý nhà nước về dịch vụ hành chính công trực tuyến

Quản lý hành chính Nhà nước về dịch vụ hành chính công trực tuyến là hoạt động thực thi quyền hành pháp của Nhà nước đối với hoạt động cung ứng dịch vụ hành chính công trực tuyến từ sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực pháp luật

Trong những năm trở lại đây, thực hiện yêu cầu của Chính phủ về việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến theo các quy định tại Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13/6/2011 của Chính phủ Quy định về việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên trang/cổng TTĐT của cơ quan nhà nước, Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ về Chính phủ điện tử và Quyết định số 1819/QĐTTG ngày 26/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2016 - 2020, các Bộ ngành và địa phương đã cung cấp ngày càng nhiều các dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 để phục vụ người dân và doanh nghiệp Tuy nhiên qua đánh giá sơ bộ, chất lượng và hiệu quả của dịch vụ công trực tuyến còn hạn chế, nhiều dịch vụ khó sử dụng, hoạt động không ổn định, số lượng hồ sơ xử lý còn ít Vì vậy, việc

Trang 25

đẩy mạnh vai trò quản lý nhà nước trong hoạt động này là cần thiết để đồng bộ thực hiện từ trung ương tới từng địa phương và người dân, doanh nghiệp

Nội dung quản lý nhà nước về dịch vụ hành chính công trực tuyến bao gồm:

- Ban hành văn bản quy phạm pháp luật đối với quản lý nhà nước về cung ứng dịch vụ hành chính công trực tuyến

- Tuyên truyền, phổ biến pháp luật quản lý nhà nước về cung ứng dịch vụ hành chính công trực tuyến

- Thực hiện pháp luật quản lý nhà nước về cung ứng dịch vụ hành chính công trực tuyến

- Kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật quản lý nhà nước về cung ứng dịch vụ hành chính công trực tuyến

- Giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý nhà nước về cung ứng dịch vụ hành chính công trực tuyến

1.2 Vai trò, ý nghĩa của quản lý nhà nước về dịch vụ hành chính công trực tuyến

Trong cải cách hành chính, công nghệ thông tin góp phần tự động hóa, đơn giản hóa các quy trình, thủ tục hành chính, tạo ra phong cách lãnh đạo, làm việc mới chuyện nghiệp, thân thiện, hiệu quả Ứng dụng công nghệ thông tin và cải cách hành chính là hai hoạt động song song và hỗ trợ nhau trong việc nâng cao tính minh bạch và hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước Thông qua hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, bộ máy hành chính nhà nước dễ dàng liên kết với nhau hơn trong thực hiện nhiệm vụ, Chính phủ cũng thông qua

đó để điều hành bộ máy nhà nước một cách nhanh chóng, hiệu quả và chính xác; kiểm soát tốt hơn mọi hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước trước những biến động phức tạp của thực tiễn xã hội

Ở Việt Nam, trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, cải cách hành chính, vai trò, trách nhiệm của Nhà nước đối với dịch vụ công đã được xác định

Trang 26

rõ trong đường lối, chủ trương của Đảng cũng như trong các quy định pháp luật Vai trò, ý nghĩa của quản lý nhà nước về cung ứng dịch vụ hành chính công trực tuyến được thể hiện như sau:

Thứ nhất, quản lý nhà nước về cung ứng dịch vụ hành chính công trực

tuyến có vai trò quan trọng, liên quan đến sự tồn tại và phát triển của nhà nước, của toàn xã hội, góp phần vào việc thực hiện mục tiêu phát triển đất nước QLNN về cung ứng dịch vụ hành chính công trực tuyến có hiệu quả sẽ tạo ra được niềm tin, sẽ gắn kết mọi người dân với nhà nước và xã hội Hiện nay, hoạt động quản lý của nhà nước về cung ứng dịch vụ hành chính công trực tuyến với bộ máy và tất cả các quy trình, công cụ của nó sẽ tác động trực tiếp hoạt động cung ứng dịch vụ hành chính công, tức là môi trường của hoạt động hành chính Công tác quản lý nhà nước về cung ứng dịch vụ hành chính công trực tuyến hiệu quả sẽ bảo đảm sự công bằng, tính hiệu quả cũng như kiểm soát chất lượng dịch vụ hành chính công Đặc biệt, đối với một số lĩnh vực dịch vụ thiết yếu, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống tinh thần, sức khoẻ, năng lực và trình độ của người dân, hoạt động quản lý của nhà nước càng đòi hỏi sự chặt chẽ, giải quyết nhanh chóng và xử lý kịp thời thì các dịch vụ công trực tuyến đó càng đòi hỏi có sự quản lý nhà nước hiệu quả Cùng với đó, quản lý nhà nước về cung ứng dịch vụ hành chính công trực tuyến sẽ tạo ra một môi trường kết nối, hình thành chuỗi cung ứng dịch vụ trực tuyến để bảo đảm hiệu quả cao nhất Việc quản lý không chỉ thiết lập các trật tự trong cung ứng dịch vụ, cũng không chỉ đơn thuần điều tiết các hoạt động này

Thứ hai, việc quản lý nhà nước về cung ứng dịch vụ hành chính công

trực tuyến giúp Nhà nước với tư cách là người quản lý nắm bắt được nhu cầu, mức độ sử dụng dịch vụ hành chính công trực tuyến của người dân từ đó giúp Nhà nước xây dựng được khung pháp lý cũng như các quy trình, thủ tục trong quản lý phù hợp với thực tế, tránh được “bệnh quan liêu” mang tính

Trang 27

“bàn giấy” cứng nhắc… Hơn nữa, việc nắm bắt nhu cầu này sẽ giúp cơ quan quản lý nhà nước định hướng được xu thế phát triển của công nghệ thông tin

từ đó nâng cao hơn nữa chất lượng cung ứng dịch vụ hành chính công trực tuyến, tạo ra những sản phẩm dịch vụ mang tính thiết yếu, phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội và có lợi cho người dân, cho cộng đồng

Thứ ba, quản lý nhà nước về cung ứng dịch vụ hành chính công trực

tuyến góp phần thúc đẩy sức sản xuất phát triển, tạo môi trường kinh doanh sản xuất lành mạnh, … góp phần xây dựng đất nước giàu có, văn minh Đó là

vì, khi hoạt động cung ứng dịch vụ hành chính công trực tuyến được quản lý tốt thì các dịch vụ hành chính công trực tuyến sẽ được triển khai mạnh và sâu rộng từ đó tạo nhiều điều kiện thuận lợi về thời gian, kinh phí cho người dân khi có nhu cầu sử dụng các dịch vụ hành chính công liên quan đến hoạt động

1.3 Các nhân tố tác động đến quản lý nhà nước về dịch vụ hành chính công trực tuyến

1.3.1 Hạ tầng kỹ thuật – công nghệ thông tin

1.3.1.1 Hạ tầng kỹ thuật

Hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin là tập hợp thiết bị tính toán (máy chủ, máy trạm), thiết bị ngoại vi, thiết bị kết nối mạng, thiết bị phụ trợ, mạng nội bộ, mạng diện rộng

- Hạ tầng trung tâm tích hợp dữ liệu: Đây là bộ phận đóng vai trò kho lưu trữ các dữ liệu, phần mềm, thường là những máy tính có dung lượng lớn và tốc

độ xử lý cao

- Hạ tầng máy tính: Là hệ thống máy vi tính, thiết bị di động, máy quét mã vạch… có khả năng kết nối và sử dụng các dịch vụ được lưu trữ tại hạ tầng trung tâm tích hợp dữ liệu Mức độ phổ biến và chất lượng của các máy tính trong hạ tầng máy tính quyết định đến tính phổ biến và thuận tiện trong quá trình tiếp cận, sử dụng dịch vụ công trực tuyến

Trang 28

- Hạ tầng mạng LAN và Internet: Đây là các thiết bị đóng vai trò kết nối các máy tính với trung tâm dữ liệu cung cấp dịch vụ công và truyền tải các dữ liệu trong hệ thống

- Các biện pháp đảm bảo an toàn, an ninh thông tin: Để bảo đảm cho tính

an toàn và bảo mật các thông tin của cơ quan nhà nước cũng như các cá nhân, tổ chức có thực hiện dịch vụ công trực tuyến thì các biện pháp bảo đảm an toàn, an ninh thông tin là đòi hỏi tất yếu

1.3.1.2 Hệ thống phần mềm và cơ sở dữ liệu

Hệ thống các phần mềm điện tử được cài đặt và hoạt động trên nền tảng hạ tầng kỹ thuật, thực hiện các yêu cầu nhất định của người dùng Tùy thuộc và cấp

độ và yêu cầu của người dùng mà hệ thống ứng dụng rất đa dạng và phong phú

Cơ sở dữ liệu là tập hợp các thông tin, tài liệu, hồ sơ được phân loại theo từng nội dung, lĩnh vực cụ thể và được lưu trữ dưới dạng số hóa trong hạ tầng thông tin tích hợp dữ liệu Một cơ sở dữ liệu tốt với đầy đủ các thông tin cần thiết và được phân loại, sắp xếp một cách khoa học sẽ thúc đẩy hiệu quả quá trình giải quyết công việc; ngược lại, với một cơ sở dữ liệu không đầy đủ thì việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện

1.3.2 Môi trường pháp lý

Môi trường pháp lý, chính sách về ứng dụng công nghệ thông tin là hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, các chính sách về ứng dụng công nghệ thông tin trong cơ quan hành chính nhà nước Đây là một hệ thống văn bản từ trung ương đến địa phương định hướng cũng như hướng dẫn cho các bộ ngành, địa phương triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong đó

có cung cấp dịch vụ công trực tuyến cấp quận/ huyện

Việc quy định không đầy đủ hoặc quy định thiếu sót các nội dung liên quan đến dịch vụ công trực tuyến sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến công tác triển khai thực hiện, gây khó khăn, thậm chí là lãng phí trong quá trình triển khai Ở chiều

Trang 29

hướng ngược lại, các văn bản, chính sách được ban hành ồ ạt, thiếu nhất quán hoặc không đảm bảo chất lượng cũng có thể gây lãng phí, thiếu hiệu quả khi triển khai thực tế

Như vậy, hệ thống thể chế, văn bản quy định cần đảm bảo tính đầy đủ, chính xác, phù hợp với thực tế để đảm bảo quá trình triển khai sẽ đạt được hiệu quả tốt nhất đề ra, tức là giúp công tác quản lý nhà nước về dịch vụ hành chính công trực tuyến đạt yêu cầu hiệu quả

1.3.3 Trình độ tin học của công chức

Trình độ tin học của công chức ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình thao tác, giải quyết thủ tục hành chính trên phần mềm, chính vì vậy cũng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cung cấp dịch vụ công Ở mỗi vị trí khác nhau, với vai trò khác nhau trong quá trình giải quyết các hồ sơ thủ tục hành chính trực tuyến thì người công chức yêu cầu trình độ tin học khác nhau Có thể phân ra hai nhóm công chức:

- Công chức lãnh đạo: Cần có kỹ năng tin học cơ bản và nắm được cách thức theo dõi các phần mềm liên quan đến quá trình giải quyết thủ tục hành chính Tình trạng cung cấp dịch vụ công trực tuyến tại cơ quan, đơn vị được thể hiện trên phần mềm cung cấp đầy đủ thông tin để nhà lãnh đạo có sự phân công nhân lực, đưa ra các quyết định, chính sách phù hợp giúp duy trì và cải thiện chất lượng dịch vụ công trực tuyến được cung cấp

- Công chức trực tiếp tác nghiệp: Lực lượng công chức này yêu cầu có kỹ năng tin học thành thạo, đặc biệt là nắm rõ và sử dụng thuần thục các phần mềm liên quan đến quá trình tiếp nhận và giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính trực tuyến Tất cả các bước của quá trình cung cấp dịch vụ công trực tuyến đều chịu ảnh hưởng lớn từ các hoạt động xử lý hồ sơ trên phần mềm của lực lượng này Công chức tác nghiệp nếu có kỹ năng tốt và sử dụng thành thạo các phần mềm

có liên quan thì sẽ rút ngắn thời gian, nâng cao chất lượng công việc, góp phần đem lại sự hiệu quả trong quá trình cung cấp dịch vụ hành chính công trực tuyến

Trang 30

cũng như hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về cung cấp dịch vụ hành chính công trực tuyến

1.3.4 Các yếu tố kinh tế - xã hội

Có nhiều yếu tố có thể tác động tới hoạt động quản lý nhà nước về cung ứng dịch vụ hành chính công trực tuyến tại địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, tuy nhiên mức độ ảnh hưởng do các yếu tố tự nhiên là không đáng kể Các tác động lớn nhất đến từ sự đổi mới công nghệ và thói quen của người dân, doanh nghiệp

1.3.4.1 Sự tiến bộ của khoa học – kỹ thuật

Sự phát triển của khoa học, kỹ thuật trong những thập niên qua đã thay đổi gần như mọi mặt của đời sống xã hội, len lỏi tới từng thói quen của người dân Các cơ quan hành chính nhà nước cũng không nằm ngoài hành trình thay đổi này Từng bước, cùng với sự đổi mới công nghệ, các cơ quan hành chính nhà nước đã đưa các thủ tục hành chính được số hóa, quy trình xử lý thủ tục hành chính cũng được đồng bộ và chuẩn hóa Quá trình tiếp nhận và xử lý hồ sơ giờ đây có thể thực hiện trực tuyến nhanh chóng và thuận tiện Tất cả giao dịch đều được lưu trữ và theo dõi đơn giản bởi máy tính Dịch vụ công trực tuyến cũng ra đời từ đó và không ngừng nâng cao năng lực xử lý

Không những thế, công nghệ tạo điều kiện tốt nhất cho các cán bộ quản lý trong cơ quan hành chính nhà nước trong thụ lý và kiểm tra, theo dõi hồ sơ Người dân với một chiếc điện thoại thông minh nhỏ gọn cũng có thể thao tác dễ dàng với hệ thống

1.3.4.2 Thói quen thực hiện các giao dịch trực tuyến của người dân và doanh nghiệp

Việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến xuất phát từ các cơ quan hành chính nhà nước và mức độ sử dụng thường xuyên các dịch vụ công trực tuyến của người dân, doanh nghiệp là hai yếu tố đi liền với nhau và tác động qua lại lẫn nhau Quá trình cung cấp dịch vụ công trực tuyến sẽ là vô nghĩa khi người dân vẫn giữ thói quen làm việc trực tiếp tại trụ sở các cơ quan hành chính khi có nhu

Trang 31

cầu thực hiện thủ tục hành chính Mặt khác, các dịch vụ công trực tuyến được cung cấp không đáp ứng đúng với nhu cầu của người dân cũng sẽ nhanh chóng

bị người dân từ chối sử dụng

Như vậy, thói quen sử dụng các giao dịch trực tuyến, trong đó có giao dịch với các cơ quan hành chính nhà nước đóng vai trò lớn đến quá trình cung cấp dịch vụ công trực tuyến Việc người dân sử dụng các dịch vụ công trực tuyến ở mức độ cao sẽ góp phần dần cải thiện chất lượng cũng như mức độ cung cấp dịch vụ công trực tuyến, và khi dịch vụ công trực tuyến có chất lượng tốt càng tạo sức hút cho người dân, doanh nghiệp sử dụng thay thế cho các dịch vụ truyền thống

1.4 Kinh nghiệm quốc tế và các địa phương khác về quản lý nhà nước đối với dịch vụ công trực tuyến

1.4.1 Kinh nghiệm quốc tế

Bảng 1.1 Những quốc gia dẫn đầu về chính phủ điện tử 2020

Nguồn: Khảo sát chính phủ điện tử của Liên Hợp quốc 2020

Trang 32

1.4.1.1 Kinh nghiệm từ Đan Mạch

Đan Mạch nổi tiếng là quốc gia có mức độ tham nhũng ít nhất trên thế giới hiện nay Nhưng không chỉ thế, quốc gia Bắc Âu này còn đứng đầu thế giới về chính phủ điện tử theo xếp hạng thường niên của Liên Hợp quốc năm 2018 và

2020 Và dường như có sự liên quan giữa hai điều này Ông Adam Lebech - Phó Tổng Giám đốc Cục Số hóa Đan Mạch giải thích rằng: “Chính phủ điện tử tạo ra

sự minh bạch và làm giảm tham nhũng”

Thành quả này có được là cả quá trình chuyển đổi hoạt động của chính phủ sang mô hình quản trị, truyền thông và dịch vụ công số trong hơn 20 năm qua Cụ thể của quá trình chuyển đổi đó là, quy định tài khoản bắt buộc của công dân đối với các khoản thanh toán từ chính quyền (NemKonto); giải pháp xác thực điện tử an toàn (NemID), mỗi người đều có một phương tiện nhận dạng cá nhân

và xác thực trực tuyến an toàn; thiết lập một số cổng thông tin phổ biến như dữ liệu sức khỏe cá nhân (sundhed.dk), một điểm truy cập duy nhất vào tất cả các dịch vụ công (borger.dk) và cổng dịch vụ công dành riêng cho các doanh nghiệp (virk.dk) Các công cụ và tài liệu học tập kỹ thuật số dành cho mọi người được phổ biến rộng khắp; nhiều dữ liệu cơ bản của khu vực công là trực tuyến và truy cập miễn phí

Công dân Đan Mạch bắt buộc phải đăng ký thư điện tử, ngoài 9% người lớn tuổi, 91% công dân trưởng thành còn lại đều có địa chỉ thư điện tử Với mức

độ sử dụng internet cao khi 97% dân số trong độ tuổi 16-74 có thể truy cập tại nhà, tỉ lệ tương tác trực tuyến với các cơ quan chức năng lên đến 89% dân số [6]

Quốc gia có diện tích nhỏ nhất trong khối Bắc Âu có dân số 5,7 triệu người, tương đương dân số của thủ đô Hà Nội Không chỉ làm mê đắm lòng người với những khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ tươi đẹp, Đan Mạch còn xã hội

Trang 33

hơn cả các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới, khi có hệ thống phúc lợi xã hội

vô cùng tốt

Khu vực công được người dân tín nhiệm, khi 83% dân số tin tưởng ở chính phủ trong việc xử lý các dữ liệu của họ Gồm 5 vùng và 98 thành phố tự trị, họ phi tập trung hóa khu vực công, điều này mang lại tính chủ động cao

Đứng đầu thế giới về chính phủ điện tử, các nền tảng tương tác công dân của chính phủ đều làm hài lòng đại đa số công dân sử dụng, với tỉ lệ hài lòng lên hơn 80-90% Đại diện Liên Hiệp quốc cho rằng một trong những sáng tạo chính

từ quốc gia này là cách tiếp cận “số hóa đầu tiên” khi việc tương tác điện tử là bắt buộc Tính thân thiện với người dùng và đơn giản của khu vực điện tử cũng

là ưu điểm mà quốc gia tạo ra được [6]

Công dân Đan Mạch sử dụng ID kỹ thuật số (NemID) để tương tác với chính phủ, ngân hàng và khu vực tư nhân trên một loạt dịch vụ Công dân có thể thực hiện các giao dịch ngân hàng, lấy tờ khai thuế từ một cổng thông tin của chính phủ và thậm chí lên lịch cuộc hẹn với thợ làm tóc của họ, tất cả chỉ bằng cách đăng nhập bằng ID

Nước này cũng đã ra mắt Digital Post, một hộp thư kỹ thuật số, do chính phủ cung cấp, nơi công dân nhận được thông tin liên lạc từ nhà nước Ngày nay, hơn 90% công dân từ 15 tuổi trở lên có hộp thư kỹ thuật số cá nhân và sử dụng

nó để liên lạc với các cơ quan công cộng - cắt giảm chi phí trên toàn bộ khu vực công [6]

Bí quyết thành công của chính phủ điện tử, theo Adam Lebech, là hệ thống backoffice hỗ trợ tuyệt hảo tích hợp cho những dịch vụ công “Phải làm suy nghĩ về việc sử dụng dữ liệu như thế nào”, ông giải thích, “như lý thuyết về tảng băng, cần đầu tư rất nhiều cho backoffice” [6]

Tiết giảm 99% chi phí, Digital Post là một điển hình cho tính hiệu quả về kinh tế của chính phủ điện tử Tính hiệu quả cũng được chứng minh khi chỉ có 2% trong số 4,8 triệu công dân từ 15 tuổi trở lên có hộp thư số với Digital Post

Trang 34

không đọc thư Điều thú vị là những người trẻ trong độ tuổi 15-17 chiếm 1/5 số lượng những người không đọc thư này [6] Trong những năm qua, một lượng lớn thư điện tử đã được chính quyền trung ương, vùng và thành phố gửi đến công dân

Liên tục cải tiến, chính phủ Đan Mạch chứng tỏ họ xứng đáng với vị trí dẫn đầu nhiều năm liền Tháng 10 năm 2018, sau khi bảng xếp hạng chính phủ điện tử thế giới được công bố, Đan Mạch phát hành chiến lược mới về chính phủ điện tử Họ đặt trọng tâm cải cách vào 3 lĩnh vực

Trong khi suy nghĩ “ai sử dụng dữ liệu và dữ liệu dùng cho mục đích gì, chúng tôi muốn tăng tính minh bạch”, ông Adam Lebech giải thích Đồng thời,

họ muốn phát triển dịch vụ số cho công dân và cả doanh nghiệp, cũng như sử dụng trí thông minh nhân tạo để nâng cao công nghệ và giải pháp phúc lợi kỹ thuật số, tức là học hỏi từ những sai lầm như cách mà Google đã làm [6]

Đặt mục tiêu đạt đến độ tin cậy lên đến 90%, chính phủ kỳ vọng công dân

số của họ sẽ thoải mái sử dụng điện thoại thông minh cho nhiều chức năng hơn

là việc thanh toán như hiện tại

“Khu vực công tương lai lấy công dân và doanh nghiệp làm trọng tâm, sẽ cung cấp dịch vụ tốt hơn và mang tính cá nhân nhiều hơn”, vị quản lý có gần 2 thập niên gắn bó với việc xây dựng hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông cho chính phủ Đan Mạch đầy tin tưởng [6]

1.4.1.2 Kinh nghiệm từ Hàn Quốc

Hàn Quốc là quốc gia rất thành công trong việc xây dựng Chính phủ điện tử Từ năm 2004 đến nay, Hàn Quốc luôn nằm trong nhóm 10 nước phát triển nhất về Chính phủ điện tử Hàn Quốc đã triển khai rất bài bản ngay từ đầu, từ việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để tạo hành lang pháp lý cho hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin xây dựng Chính phủ điện tử Chính

Trang 35

phủ Hàn Quốc đã thiết kế nhiều chương trình để hỗ trợ phát triển 3 yếu tố cơ bản là: công nghệ, nguồn nhân lực và các tiêu chuẩn Chính phủ điện tử

Đối với doanh nghiệp, Chính phủ Hàn Quốc đã xây dựng hệ thống Chính phủ vì doanh nghiệp, cổng dịch vụ một cửa dành cho doanh nghiệp: u-Trade Hub, dịch vụ hải quan điện tử, dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp một lần…

Đối với người dân, Hàn Quốc chú trọng vào xây dựng một hệ thống thông tin quốc gia tạo thành một cơ sở dữ liệu nền tảng và hình thành thói quen tra cứu thông tin liên quan đến Chính phủ qua mạng Từ năm 1995, các dịch vụ hành chính công của Chính phủ Hàn Quốc đã được đưa dần lên mạng internet, tập cho người dân thói quen làm việc theo các cơ chế “một cửa” và phong cách làm việc không giấy tờ

1.4.2 Kinh nghiệm từ các địa phương khác

1.4.2.1 Kinh nghiệm triển khai dịch vụ công trực tuyến tại thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị đầu tiên trong cả nước xây dựng “Một cửa điện tử” từ những năm 2005 Hệ thống “Một cửa điện tử” cung cấp thông tin một cách tự động và trực tuyến về tình trạng giải quyết hồ sơ cấp phép Người dân có thể dùng phương tiện liên lạc thông dụng nhất hiện nay là điện thoại để được trả lời tự động về tình trạng hồ sơ bằng điện thoại, tin nhắn qua

“Một cửa điện tử” “Một cửa điện tử” là công cụ hữu hiệu để người dân và lãnh đạo giám sát các dịch vụ công Ngoài việc truy cập trang thông tin điện tử và sử dụng điện thoại qua hệ thống một cửa điện tử người dân có thể tra cứu thông tin trực tiếp tại các quận huyện, sở ngành qua các hệ thống mã vạch hoặc kiosk với màn hình cảm ứng Như vậy người dân được cung cấp thông tin ở mọi nơi, 24/7

và không phụ thuộc vào tinh thần làm việc hay thái độ của công chức tại các cơ quan hành chính nhà nước

Tiếp nối với các thành công trong quá trình ứng dụng hóa công nghệ thông tin vào hoạt động của các cơ quan nhà nước nói chung và nâng cao chất lượng

Trang 36

cung cấp dịch vụ công trực tuyến nói riêng, năm 2016, UBND thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Chương trình phát triển công nghệ thông tin – truyền thông giai đoạn 2016-2020 Điểm nhấn của chương trình chính là thành phố phấn đấu cung cấp 100% dịch vụ công trực tuyến nằm trong danh mục nhóm các dịch vụ công được ưu tiên sẽ được cung cấp đến người dân, doanh nghiệp ở mức độ 3, 4

Thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị đi đầu trong cấp phép trực tuyến Cấp giấy phép qua mạng đối với giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đầu tư và giấy phép thành lập văn phòng đại diện Hàng năm có hàng chục ngàn doanh nghiệp đăng ký kinh doanh và có trên 50% doanh nghiệp đăng ký trực tuyến Hình thức phục vụ này đã giảm thời gian chờ đợi, đi lại của người dân; giảm được áp lực lên cơ quan cấp phép, giảm áp lực lên giao thông

1.4.2.2 Kinh nghiệm triển khai dịch vụ công trực tuyến ở Bộ Tài Chính

Bộ Tài chính được đánh giá là cơ quan có sự quan tâm đặc biệt vào việc ứng dụng CNTT trong công tác quản lý - điều hành của Bộ Đặc biệt, Bộ Tài chính là cơ quan dẫn đầu về cung cấp DVCTT trong số các Bộ, Ngành

Theo đó, hàng năm, Bộ Tài chính đã chi khoảng 1.500 tỷ đồng cho lĩnh vực CNTT, góp phần thực hiện hiệu quả các hoạt động của Bộ trong quản lý thuế, hải quan, chứng khoán, kho bạc [11, tr40] …

Về cung cấp dịch vụ công trực tuyến, Ban điều hành Triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong cơ quan Nhà nước nhận định, Bộ Tài chính là một trong những Bộ, ngành cung cấp nhiều dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 nhất

Theo đó, Bộ Tài chính đã triển khai 372 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3

và 4 trên tổng số 935 dịch vụ công do Bộ cung cấp [11, tr40]

Trong đó, Hải quan cung cấp 73 dịch vụ công mức độ 4, từ năm 2014 đến nay tiếp nhận 17 triệu tờ khai; Thuế cung cấp 7 dịch vụ công mức độ 4 với

Trang 37

lượng hồ sơ khá lớn Hơn 500.000 doanh nghiệp nộp thuế qua mạng với gần 2 triệu chứng từ [11, tr40]

Như vậy có thể thấy, hoạt động quản lý Nhà nước đối với hoạt động dịch vụ công trực tuyến tại Bộ Tài chính hết sức được quan tâm và có những chỉ đạo sát sao, có kết quả tích cực

1.4.3 Bài học kinh nghiệm cho quận Ngũ Hành Sơn

Qua kinh nghiệm thực tiễn của những mô hình tiên tiến có kết quả tốt nhất thế giới hiện nay và từ kết quả triển khai tại đơn vị cấp Bộ là Bộ Tài chính, đơn

vị cấp tỉnh/ thành phố là Hồ Chí Minh về cung cấp dịch vụ công trực tuyến, quận Ngũ Hành Sơn đúc rút ra những điều làm nên cốt lõi và triển khai thực hiện Theo đó, để cung cấp đến người dân và doanh nghiệp trên địa bàn quận dịch vụ công trực tuyến mang tính khả thi, có hiệu lực và hiệu quả, quận Ngũ Hành Sơn cần có những lưu ý sau:

Một là, các cấp lãnh đạo, nhất là người đứng đầu, cùng toàn thể đội ngũ

CBCCVC phải có quyết tâm chính trị và tạo được sự đồng thuận cao Việc chuyển đổi mô hình xử lý, giải quyết công việc từ lề lối làm việc cũ sang quy chuẩn làm việc mới như cấp dịch vụ DVCTT vẫn là điều khá mới mẻ, do đó đòi hỏi quyết tâm cao của lãnh đạo, sự ủng hộ của các Bộ, Ngành liên quan và của Chính phủ

Hai là, phải tuyên truyền sâu rộng, nâng cao nhận thức đến toàn thể

CBCC, người dân, tổ chức và doanh nghiệp về những lợi ích mang lại Sự vào cuộc, tham gia của các cấp, ngành, đơn vị liên quan phải thực sự chủ động, tích cực và đồng thuận

Ba là, đào tạo và phát triển nhân lực CNTT cả về quản lý, triển khai, ứng

dụng là khâu quan trọng đảm bảo sự thành công của việc cung cấp DVCTT tới người dân, tổ chức và doanh nghiệp Đội ngũ làm việc phải chuyên nghiệp, khoa học, năng lực quản lý tốt, chuyên môn nghiệp vụ phải vững vàng, có kinh nghiệm trong quản lý Nhà nước để đảm bảo nguyên tắc “Tiếp nhận, thẩm định

Trang 38

và phê duyệt” tại các đơn vị quản lý Nhà nước thuộc Bộ tạo sự chính xác, công khai, minh bạch và niềm tin cho người dân và doanh nghiệp

Bốn là, tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng CNTT đồng bộ bao gồm việc đầu tư

phần cứng (Trung tâm tích hợp dữ liệu, trụ sở, thiết bị, đường truyền, …) và phần mềm (Các phần mềm dịch vụ công, hệ thống cơ sở dữ liệu, …)

Năm là, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc trong công tác chuẩn bị, công tác

tổ chức phối hợp, kịp thời uốn nắn, điều chỉnh những nội dung chưa phù hợp trong công tác đầu tư, trong việc thiết lập hệ thống, quy trình trao đổi, xử lý công việc và cả trong ý thức, thái độ của cán bộ công chức

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1, luận văn đã hệ thống lại cơ sở lý thuyết và trình bày tổng quan về hoạt động cung ứng dịch vụ công đặc biệt là dịch vụ công trực tuyến dưới góc nhìn quản lý hành chính Nhà nước Bên cạnh các khái niệm cơ bản, các quan điểm, góc nhìn từ nhiều nhà nghiên cứu, chương này cũng đề cập đến các nhân tố có ảnh hưởng lớn đến quản lý nhà nước về dịch vụ hành chính công trực tuyến, một số bài học kinh nghiệm từ quốc tế và các địa phương khác trong nước, trong đó, các nhân tố có ảnh hưởng lớn đến quản lý Nhà nước về dịch vụ hành chính công trực tuyến bao gồm: hạ tầng kỹ thuật – công nghệ thông tin, môi trường pháp lý, trình độ tin học của công chức và các yếu tố kinh tế - xã hội Kinh nghiệm thực tiễn trong triển khai chính phủ điện tử của Đan Mạch và Hàn Quốc – hai quốc gia dẫn đầu thế giới về thành công trong xây dựng và triển khai chính phủ điện tử và hai đơn vị là Hồ Chí Minh và Bộ Tài chính cũng được mổ xẻ, phân tích, rút ra bài học kinh nghiệm

Những nội dung đề cập tại chương 1 là cơ sở nhận thức có tính nền tảng để

từ đó luận văn đi sâu phân tích thực trạng quản lý Nhà nước về dịch vụ hành chính công trực tuyến tại một địa phương cụ thể là quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng ở chương tiếp theo

Trang 39

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CUNG ỨNG

DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG TRỰC TUYẾN

TỪ THỰC TIỄN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

2.1 Khái quát về quận Ngũ Hành Sơn

2.1.1 Vị trí địa lý

Sau khi tách tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng thành tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng, Quận Ngũ Hành Sơn được thành lập theo Nghị định số 07/CP ngày 23 tháng 1 năm 1997 của Chính phủ và Quyết định 181/QĐ-UB ngày 27 tháng 1 năm 1997 của Uỷ ban nhân dân lâm thời thành phố Đà Nẵng

Quận Ngũ Hành Sơn nằm về phía Đông Nam của thành phố Đà Nẵng; phía đông giáp với biển Đông có dải cát dài 12 km, rộng 1 km dọc bờ biển; phía Tây giáp với huyện Hòa Vang là đồng ruộng xen kẽ với bãi bồi, có sông Cẩm Lệ bao quanh nối với sông Hàn đổ ra biển với chiều dài khoảng 15 km; phía Bắc giáp với quận Hải Châu và Sơn Trà; phía Nam giáp tỉnh Quảng Nam

2.1.2 Dân cư

Quận Ngũ Hành Sơn có diện tích: 38,59 km², chiếm 3% diện tích toàn thành phố; dân số: 68.270 người, chiếm 7,37% dân số toàn thành phố, mật độ dân số: 1.769,11 người/ km² [22] Quận Ngũ Hành Sơn gồm 04 đơn vị hành chính cấp phường: Mỹ An, Khuê Mỹ, Hòa Hải, Hòa Quý

2.1.3 Văn hóa

Ngũ Hành Sơn có 5 ngọn núi ứng với Ngũ hành, gồm: Thủy Sơn và Mộc Sơn ở phía Đông, còn Thổ Sơn, Kim Sơn, Hỏa Sơn ở phía Tây đường tỉnh lộ Đà Nẵng – Hội An, nằm trên khu đất dài khoảng 2 km, rộng khoàng 800m Cùng với vẻ đẹp độc đáo của thiên nhiên ban tặng, trong lòng nó còn ẩn chứa những giá trị lịch sử, văn hóa, tâm linh với nhiều ngôi chùa cổ, như: Linh ứng, Tam Thai, Quán Thế Âm, Từ Tôn, các hang động Huyền Không, Huyền Vy, Tàng Chơn, Quán Thế Âm, động Âm Phủ,…cùng với Làng nghề đá mỹ nghệ điêu

Trang 40

khắc được hình thành và phát triển trên 400 năm đã trở thành sản phẩm du lịch đặc sắc, là điểm đến không thể thiếu của du khách trong hành trình đến với Đà Nẵng Hằng năm, các lễ hội - đặc biệt là lễ hội Quán Thế Âm, ngày càng được đầu tư và tạo sức lan tỏa trong đời sống người dân, trở thành hoạt động tín ngưỡng, văn hóa đặc sắc, thu hút ngày càng nhiều người dân và khu khách đến tham quan, thưởng lãm Đặc biệt, Khu Danh thắng Ngũ Hành Sơn có vị trí địa

lý hết sức thuận lợi: Nằm trên tuyến hành lang kinh tế Đông – Tây, là tâm điểm của cả nước, tiếp giáp với các di sản văn hóa thế giới: Cố Đô Huế, Phố cổ Hội

An và Thánh địa Mỹ Sơn, bên cạnh đó còn có biển, có sông và núi rất thuận lợi cho việc khai thác và phát triển du lịch Năm 1980, Quần thể di tích Ngũ Hành Sơn được Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia Và mới đây, ngày 24/12/2018, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã ký Quyết định 1820/QĐ-TTg xếp hạng Danh thắng Ngũ Hành Sơn là Di tích quốc gia đặc biệt

Với điều kiện thuận lợi về vị trí địa lý, tự nhiên, mật độ dân cư phù hợp cùng với điểm nhấn văn hóa của một thành phố du lịch, hiện nay, thành phố Đà Nẵng đang định hướng xây dựng quận Ngũ Hành Sơn thành khu đô thị hiện đại phía Đông Nam thành phố Chủ trương này đã tạo nhiều điều kiện cho quận Ngũ Hành Sơn phát triển một các mạnh mẽ, với tốc độ đô thị hóa nhanh Sự phát triển, bứt phá ngoạn mục của quận Ngũ Hành Sơn đóng góp ngày càng lớn vào sự phát triển đột phá của thành phố Đà Nẵng, tạo điều kiện thuận lợi cho nền văn hóa và đời sống tinh thần của nhân dân trong quận được khôi phục, giữ gìn và phát huy Là một cửa ngõ quan trọng, là “mặt tiền” phía Đông - Nam thành phố, quận Ngũ Hành Sơn ý thức được trách nhiệm của mình đại diện cho thành phố trên các mặt hiện đại, văn minh, sạch đẹp Phát triển một đô thị hiện đại nhưng phải gắn chặt với môi trường sinh thái và các giá trị lịch sử văn hóa

Và hoạt động cung ứng dịch vụ hành chính công trực tuyến trên địa bàn quận sẽ

là một trong những bước chuyển đầu tiên để thực hiện định hướng đó

Ngày đăng: 09/07/2021, 10:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Chính phủ (1997), Nghị định của Chính phủ 07-cp ngày 23 tháng 01 năm 1997 về việc thành lập đơn vị hành chính trực thuộc thành phố Đà Nẵng 6. Thanh Hằng (2019), Chính phủ điện tử đứng đầu thế giới,https://nhipcaudautu.vn/cong-nghe/chinh-phu-dien-tu-dung-dau-the-gioi-3328224/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định của Chính phủ 07-cp ngày 23 tháng 01 năm 1997 về việc thành lập đơn vị hành chính trực thuộc thành phố Đà Nẵng" 6. Thanh Hằng (2019), "Chính phủ điện tử đứng đầu thế giới
Tác giả: Chính phủ (1997), Nghị định của Chính phủ 07-cp ngày 23 tháng 01 năm 1997 về việc thành lập đơn vị hành chính trực thuộc thành phố Đà Nẵng 6. Thanh Hằng
Năm: 2019
7. Đào Hưng (2017), Cung cấp dịch vụ công trực tuyến cấp huyện tại tỉnh Đắk Lắk, Luận văn Thạc sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cung cấp dịch vụ công trực tuyến cấp huyện tại tỉnh Đắk Lắk
Tác giả: Đào Hưng
Năm: 2017
8. Nguyễn Thị Hương (2020), Chiến lược số của Đan Mạch và những gợi mở đối với Việt Nam, https://tcnn.vn/news/detail/48615/Chien-luoc-so-cua-Dan-Mach-va-nhung-goi-mo-doi-voi-Viet-Nam.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược số của Đan Mạch và những gợi mở đối với Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Hương
Năm: 2020
9. Đặng Thị Thu Hương (2020),Tổng quan về Báo cáo khảo sát Chính phủ điện tử năm 2020 của Liên hợp quốc, https://aita.gov.vn/tong-quan-ve-bao-cao-khao-sat-chinh-phu-dien-tu-nam-2020-cua-lien-hop-quoc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về Báo cáo khảo sát Chính phủ điện tử năm 2020 của Liên hợp quốc
Tác giả: Đặng Thị Thu Hương
Năm: 2020
12. Vũ Duy Linh (2017), Đổi mới cung cấp dịch vụ công trực tuyến ở Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Luận văn Thạc sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới cung cấp dịch vụ công trực tuyến ở Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Tác giả: Vũ Duy Linh
Năm: 2017
13. Lê Chi Mai (2006), Dịch vụ hành chính công, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch vụ hành chính công
Tác giả: Lê Chi Mai
Nhà XB: Nxb. Lý luận chính trị
Năm: 2006
15. Bùi Hoàng Minh (2013), Ứng dụng công nghệ thông tin trong cung cấp dịch vụ công trực tuyến tại tỉnh Thừa Thiên Huế, Luận văn Thạc sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Ứng dụng công nghệ thông tin trong cung cấp dịch vụ công trực tuyến tại tỉnh Thừa Thiên Huế
Tác giả: Bùi Hoàng Minh
Năm: 2013
16. Thành Nguyễn Thùy Ny (2020), Nâng cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội
Tác giả: Thành Nguyễn Thùy Ny
Năm: 2020
17. Quách Thị Minh Phượng (2020), Chính sách dịch vụ công trực tuyến ở Việt Nam hiện nay, Luận văn Tiến sĩ, Học viện Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách dịch vụ công trực tuyến ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Quách Thị Minh Phượng
Năm: 2020
18. Relyea, H. C. (2002), E-gov: Introduction and overview, Government Information Quarterly, 19, 9–35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: E-gov: Introduction and overview
Tác giả: Relyea, H. C
Năm: 2002
22. Tổng Cục Thống kê (2010), Niên giám thống kê thành phố Đà Nẵng năm 2010, Nxb. Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê thành phố Đà Nẵng năm 2010
Tác giả: Tổng Cục Thống kê
Nhà XB: Nxb. Thống kê
Năm: 2010
23. Từ điển Petit Larousse, http://www.thefreedictionary.com/public+service Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Petit Larousse
24. Từ điển Oxford, http://www.worldbank.org/en/topic/ict/brief/e-government Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Oxford
14. Minh Duyên (2019, Xây dựng Chính phủ điện tử: Kinh nghiệm từ các nước, http://hdll.vn/vi/thong-tin-ly-luan/xay-dung-chinh-phu-dien-tu-kinh-nghiem-tu-cac-nuoc.html Link
1. Chính phủ (2011), Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13/6/2011 Quy định về việc cung cấp thông tin và DVCTT trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan Nhà nước Khác
2. Chính phủ (2015), Nghị quyết 36a/NQ-CP ngày 14/11/2015 về Chính phủ điện tử Khác
3. Chính phủ (2011), Nghị quyết 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ về ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính (CCHC) giai đoạn 2011-2020 Khác
4. Chính phủ (2015), Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ về Chính phủ điện tử Khác
10. Min Jiang (2009), Khám phá các cấu trúc trực tuyến trên Cổng thông tin chính phủ Trung Quốc Khác
11. Liên Hợp Quốc (2020), Khảo sát Chính phủ điện tử của Liên Hợp quốc năm 2020 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w