29 Chương 2 TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA VỀ ỨNG DỤNG KĨ THUẬT CỦA CÁC KIẾN THỨC CHƯƠNG”DAO ĐỘNG CƠ” VẬT LÍ 12 THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH.. Với mong muốn nâng c
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA VẬT LÍ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH
Năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập
Trong cuộc sống hằng ngày, sáng tạo là từ ngữ mà chúng ta nghe rất nhiều như con người sáng tạo, công ty sáng tạo, việc làm sáng tạo…Trong hoạt động học tập của học sinh sáng tạo cũng được sử dụng rất rộng dãi như có sáng tạo mới khi đưa ra lời giải mới cho bài tập, ý tưởng sáng tạo khi đưa ra những thí nghiệm để kiểm chứng một giả thuyết nào đó Tất cả những gì học sinh nghĩ ra mà giáo viên chưa dạy, học sinh chưa biết, chưa từng tìm hiểu qua sách vở nhờ trao đổi với bạn bè đều được coi như là sáng tạo Vậy năng lực sáng tạo là gì? a) Khái niệm năng lực sáng tạo
“Năng lực” là những kĩ năng và kĩ xảo học được hoặc sẵn có của mỗi cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt
“Sáng tạo” là hoạt động tạo ra bất cứ cái gì ở bất cứ lĩnh vực nào của thế giới vật chất và tinh thần có đồng thời tính mới ( là sự khác biệt của đối tượng cho trước so với đối tượng cùng loại ra đời trước đó về mặt thời gian.) và tính ích lợi như tăng năng suất, tăng hiệu quả, tiết kiệm, giảm giá thành, thuận tiện khi sử dụng, thân thiện với môi trường Tóm lại, “sáng tạo là quá trình hoạt động của con người để tạo ra cái mới có giá trị giải quyết vấn đề đặt ra một cách hiệu quả, đáp ứng nhu cầu xác định của con người” [3]
Năng lực sáng tạo có thể hiểu là khả năng tạo ra những cái mới, sản phẩm mới các giá trị mới về vật chất và tinh thần trên cơ sở dựa vào những hiểu biết đã biết lúc ban đầu để hình thành lên cái mới Hay như Huỳnh Văn Sơn cho rằng: “Năng lực sáng tạo là hoạt động tạo ra cái mới hoặc giải quyết vấn đề một cách mới mẻ của con người” [13, tr29] Trong tâm lí học, năng lực sáng tạo được định nghĩa: “Là
6 tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả” [16, tr178]
Nói cách khác, năng lực sáng tạo chính là khả năng thực hiện được những điều sáng tạo Biết làm thành thạo, luôn luôn đổi mới có những nét độc đáo riêng và phù hợp với thực tế Năng lực sáng tạo phản ánh hoạt động lí tính của con người, đó là khả năng nhận thức thế giới, phát hiện ra các quy luật khách quan và sử dụng những quy luật đó vào việc cải tạo thế giới tự nhiên phục vụ loài người và biểu hiện trình độ tư duy phát triển ở mức độ cao của con người b) Biểu hiện của năng lực sáng tạo
Những hành động, biểu hiện của HS trong hoạt động học tập có mang tính sáng tạo cụ thể như sau:
Dựa vào mục đích thí nghiệm đã có HS đề xuất các phương án tiến hành thì nghiệm kiểm chứng một giả thuyết hay cùng một thí nghiệm có thể đưa ra nhiều cách chế tạo khác nhau
Khả năng phán đoán, phát hiện vấn đề mấu chốt, tìm ra ẩn ý của vấn đề hay trong câu hỏi của GV, bài tập hoặc vấn đề mở nào đó
Dám đề xuất những cái mới, phương pháp giải mới không theo những cái cũ, cách giải đã có và biết biện hộ, bảo vệ, phản bác cho đề xuất đó
Ví dụ: Khi gặp một bài Vật Lí mới HS có thể đề xuất phương pháp giải khác theo suy nghĩ của mình mà không cần phải đi theo gợi ý của GV hay cách giải đã có từ trước và biết cách lập luận để bảo về ý kiến đó
Vận dụng kiến thức lí thuyết đã học vào thực tế một cách linh hoạt như giải thích một số hiện tượng vật lí, giải thích kết quả thí nghiệm hoặc các ứng dụng của vật lí trong kĩ thuật có liên quan
Ví dụ : Tại sao lúc trưa nắng, mặt đường nhựa khô ráo nhưng nhìn từ xa có vẻ như ướt nước ? (Dựa vào hiện tượng phản xạ toàn phần HS có thể trả lời: Đó là vì các tia sáng phản xạ toàn phần trên lớp không khí sát mặt đường và đi vào mắt )
Biết tự tóm tắt, tìm ra vấn đề, tự giải quyết với những bài tập mới kiến thức mới
Ví dụ: Khi GV đưa ra bài tập mới, kiến thức mới mà HS chưa từng làm, tìm hiểu qua thì HS cũng có thể tự phân tích, tự tìm ra vấn đề cốt lõi để giải quyết đúng đắn
Những biểu hiện của sự sáng tạo của học sinh trong học tập như nêu trên được thể hiện tốt hay không tốt, nhiều hay ít còn tùy thuộc vào khả năng, cách kiểm tra, đánh giá của GV và cũng sẽ là những căn cứ để chúng tôi đánh giá hiệu quả của HĐNK về chương “Dao động cơ” đối với việc phát triển năng lực sáng tạo của học sinh trong quá trình thực nghiệm sư phạm c) Các biện pháp phát triển năng lực sáng tạo trong học tập của học sinh
Kết hợp chặt chẽ giữa dạy học tái hiện và sáng tạo: GV phải chuyển dạy từ trí nhớ là chính đến kết hợp dạy trí nhớ với tư duy và tưởng tượng, trong đó tư duy, tưởng tượng phải có vị trí quan trọng trong hoạt động học tập của HS
Dạy học các ứng dụng kĩ thuật của Vật lí
1.2.1 Khái niệm về ứng dụng kĩ thuật của Vật lí Ứng dụng kỹ thuật của vật lí được hiểu là các đối tượng, thiết bị máy móc (hoặc hệ thống các đối tượng thiết bị, máy móc) được chế tạo và sử dụng với mục đích nào đó trong kỹ thuật, đời sống mà nguyên tắc hoạt động của chúng dựa trên các khái niệm, định luật, hiệu ứng, nguyên lí của Vật lí đó [12]
Với quan niệm về ứng dụng kỹ thuật như vậy thì trong chương trình Vật lí phổ thông có nhiều ứng dụng kỹ thuật được nghiên cứu
Các máy phát điện (Máy phát điện xoay chiều một pha, ba pha) mà nguyên tắc hoạt động của chúng dựa trên hiện tượng cảm ứng điện từ
Máy ảnh, kính hiển vi, kính lúp, kính thiên văn là sự ứng dụng quy luật đường đi của các tia sáng qua thấu kính, lăng kính…
1.2.2 Bản chất của việc nghiên cứu các ứng dụng kĩ thuật của vật lí trong DH
Việc nghiên cứu những ứng dụng kỹ thuật của vật lí đòi hỏi phải quan tâm đặc biệt tới việc làm sáng tỏ các nguyên tắc vật lí trong hoạt động của các thiết bị khác nhau Biết các nguyên tắc cơ bản về sự hoạt động của một số thiết bị, HS có thể tìm thấy ứng dụng của chúng trong các máy khác, phân tích ưu, nhược điểm của các dụng cụ khác nhau Ở đây, GV nên sử dụng rộng rãi các sơ đồ, đồ án, hình vẽ kỹ thuật, nghĩa là nói với HS bằng ngôn ngữ kỹ thuật Kết quả của việc HS nghiên
9 cứu các ứng dụng kỹ thuật của vật lý phải là sự lĩnh hội vững chắc những khái quát hóa kỹ thuật
Cùng với việc nghiên cứu những thiết bị cụ thể, HS cần được vận dụng các kiến thức vật lí vào việc nghiên cứu các lĩnh vực kĩ thuật quan trọng nhất, có vai trò quyết định tới sự phát triển của sản xuất công nghiệp, nông nghiệp Quá trình này góp phần chỉ ra cho HS thấy mối quan hệ gắn bó của sự phát triển vật lí và kỹ thuật trong đời sống con người và sự phát triển xã hội
Tuy nhiên, không chỉ vật lí là nền tảng của kỹ thuật mà kỹ thuật cũng thúc đẩy nhưng nghiên cứu khoa học vật lí tạo ra những phương tiện kỹ thuật mới để nghiên cứu vật lí có hiệu quả hơn
Việc nghiên cứu các ứng dựng kỹ thuật của vật lí trong dạy học thực chất là sự “sắp xếp” các kiến thưc vật lí trong các mối quan hệ khác nhau, mối quan hệ có tính chất vật lí – kỹ thuật Thông qua việc nghiên cứu cấu tạo, hoạt động của các thiết bị kỹ thuật, HS xác định được mối quan hệ có tính quy luật vật lí tồn tại trong hoạt động của thiết bị, giải thích được hoạt động của nó trên cơ sở những định luật, nguyên lí vật lí đã biết
1.2.3 Vai trò của việc nghiên cứu các ứng dụng kĩ thuật trong dạy học Vật Lý
Nghiên cứu các ứng dụng kỹ thuật của vật lí được thực hiện trên cơ sở các kiến thức khoa học cơ bản, cho HS làm quen với những nguyên lí chủ yếu của những ngành sản xuất chính, đồng thời tạo cho HS những kỹ năng kỹ xảo cần thiết trong lao động sản xuất, trong việc sử dụng những công cụ đơn giản của nền sản xuất hiện đại Điều cần chú ý ở đây là việc nghiên cứu các ứng dụng kỹ thuật của vật lí là cầu nối giữa lý thuyết và thực tiễn, giữa bài học vật lí và đời sống
Xét về phương diện lí luận dạy học thì việc nghiên cứu các ứng dụng kỹ thuật là giai đoạn củng cố kiến thức (khái niệm, định luật, hiệu ứng, nguyên lý…) vật lí thông qua việc vận dụng nó trong trường hợp cụ thể Qua đó sự hiểu biết về nội dung kiến thức (khái niệm, định luật, hiệu ứng, nguyên lý…) vật lí sẽ sâu sắc và mềm dẻo hơn Đồng thời việc nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật sẽ tạo điều kiện xác định tính thống nhất giữa cái trìu tượng (khái niệm, định luật, hiệu ứng, nguyên lý…) với cái cụ thể (các thiết bị, máy móc…)
Trong quá trình nghiên cứu các ứng dụng kỹ thuật, HS làm quen dần việc vận dụng các kiến thức vật lí (định luật, nguyên lí…) vào giải thích các hoạt động của một ứng dụng kỹ thuật hay tham gia vào quá trình thiết kế đơn giản dưới dạng hình vẽ, sơ đồ, bản vẽ kèm theo những lời chú thích tương ứng Ở mức độ cao hơn,
HS có thể thảo luận về mặt lý thuyết một số vấn đề cụ thể của ứng dụng kỹ thuật vật lý Quá trình này sẽ tạo điều kiện phát huy óc sáng tạo kỹ thuật, phát triển tư duy sáng tạo của HS
Các ứng dụng kỹ thuật của vật lý là sự minh chứng cho vai trò ngày càng tăng của việc ứng dụng vật lý vào nền công nghiệp sản xuất hiện đại, phát triển cao Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật của vật lí giúp HS thấy được ý nghĩa to lớn của việc phát minh ra các định luật , nguyên lí, hiệu ứng…vật lí cũng như việc ứng dụng chúng vào môn Vật Lí
1.2.4 Các con đường nghiên cứu ứng dụng kĩ thuật của vật lí trong dạy học
Việc nghiên cứu một thiết bị kĩ thuật trong dạy học Vật lí có thể diễn ra theo một trong hai con đường lĩnh hội các ứng dụng kĩ thuật của Vật lí
1.2.1.1 Dạy học các ứng dụng kĩ thuật theo con đường thứ nhất
Quan sát cấu tạo của đối tượng kĩ thuật đã có sẵn (ví dụ: Mô hình động cơ đốt trong), giải thích nguyên tắc hoạt động của nó
1.2.1.1.Dạy học các ứng dụng kĩ thuật theo con đường thứ hai
Dựa trên những định luật Vật lí, những đặc tính Vật lí của sự vật hiện tượng thiết kế một thiết bị nhằm giải quyết một yêu cầu kĩ thuật nào đó [14] Con đường thứ hai thực chất là một bài tập sáng tạo Việc sử dụng mô hình dù diễn ra theo con đường nào cũng đòi hỏi việc kết hợp sử dụng mô hình( trong đó có việc tiến hành thì nghiệm với mô hình), hình vẽ ( trên bảng, giấy hoặc tấm bảng trong) và lời nói của GV để làm rõ nguyên tắc hoạt động, cấu tạo, tác dụng của từng bộ phận cơ bản và sự chuyển vận của thiết bị
Dựa vào phân tích ở trên việc dạy học theo con đường thứ hai có thể tiến hành theo các bước sau:
Bước 1 : Ôn tập các định luật ,nguyên lý Vật lý và nguyên tắc hoạt động của thiết bị trên các định luật nguyên lý
Bước 2 : Đưa ra nhiệm vụ thiết kế một thiết bị có chức năng nào đó cho học sinh Bước 3 : Hướng dẫn học sinh vận dụng các mối quan hệ có tính quy luật, có tính nhân quả về Vật lý đã biết để đề xuất những dự án thiết kế thiết bị đó Tổ chức cho học sinh thảo luận các dự án thiết kế thiết bị theo phương án khả thi nhất
Bước 4: Đưa ra mô hình vật chất chức năng ứng với dự án đã lựa chọn và mô hình vận hành để kiểm tra tính đúng đắn của thiết bị này
Bước 5 : Bổ sung hoàn thiện mô hình về phương diện kỹ thuật phù hợp với thực tiễn hoặc đưa ra vật chất hoặc mô hình có thêm các chi tiết kỹ thuật để học sinh có thể hiểu biết thêm đầy đủ về ứng dụng kỹ thuật, cuối cùng là tóm tắt lại chức năng, cấu tạo, nguyên tắc hoạt động của ứng dụng kỹ thuật vừa nghiên cứu.
Hoạt động ngoại khóa ở trường phổ thông về ứng dụng kĩ thuật của vật lí với việc phát huy năng lực sáng tạo và nâng cao chất lượng kiến thức của học sinh 11 1 Vị trí, vai trò của hoạt động ngoại khóa trong hệ thống các hình thức tổ chức dạy học ở trường phổ thông
Để hoàn thành tốt mục tiêu giảng dạy của bộ môn, đặc biệt là mục tiêu giảng dạy về rèn luyện nâng cao năng lục sáng tạo của HS Người GV cần có sự phối hợp chặt chẽ, linh hoạt giữa hoạt động nội khóa với hoạt động ngoài giờ lên lớp (ngoại khóa)
Hoạt động ngoại khóa Vật lí theo quan niệm đổi mới phương pháp dạy học là một hình thức tự học tích cực, bổ ích và có hiệu quả, nối liền bài giảng trên lớp với thực tiễn đời sống, mở rộng, kéo dài trường suy tưởng, thẩm định về bài học cho HS; phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của người học, kiểm tra lại chất lượng dạy học trong giờ học chính khóa Gây hứng thú cho người học và thậm chí cả GV Để vận dụng có hiệu quả hình thức dạy học tổ chức HĐNK vật lí cho HS thì
GV cần phải hiểu rõ vị trí và vai trò của hình thức dạy học này
1.3.1 Vị trí, vai trò của hoạt động ngoại khóa trong hệ thống các hình thức tổ chức dạy học ở trường phổ thông a) Vị trí của hoạt động ngoại khóa trong hệ thống các hình thức tổ chức dạy học ở trường phổ thông
Nhà trường phổ thông có ba hình thức tổ chức đào tạo là: Dạy học trên lớp; giáo dục lao động kĩ thuật tổng hợp và hướng nghiệp dạy nghề; công tác giáo dục ngoài giờ lên lớp
Hoạt động ngoại khóa là các hoạt động nằm ngoài chương trình học chính khóa Hoạt động ngoại khóa liên quan đến tất cả các hoạt động văn hóa – khoa học - thể thao - giải trí - xã hội ngoài giờ học trên lớp Đây là một trong những sân chơi để học sinh tự nguyện tham gia theo nhu cầu, khả năng của bản thân
Hoạt động ngoại khóa nói chung và hoạt động ngoại khóa vật lí nói riêng thuộc lĩnh vực văn hóa – khoa học trong toàn bộ công tác giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường phổ thông b) Vai trò của hoạt động ngoại khóa trong hệ thống các hình thức tổ chức dạy học ở trường phổ thông
Hoạt động ngoại khóa vật lí nói riêng và hoạt động ngoại khóa nói chung có vai trò rất quan trọng trong công tác giáo dục ở nhà trường phổ thông, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trên tất cả các mặt, cụ thể là:
Hoạt động ngoại khóa giúp HS giải tỏa căng thẳng trong việc học với khối lượng kiến thức lớn ở trên lớp Ngoài giờ học, HS có thể tham gia các hoạt động thể thao như bóng đá, bóng chuyển, cầu lông…Các hoạt động ngoại khóa mang lại nhiều ích lợi về sức khỏe, giúp HS năng động hơn cả về thể chất lẫn tinh thần Đây là một trong những yếu tố quan trọng giúp HS cải thiện tốt chất lượng học tập cũng như các tích cực trong các hoạt động khác
Hoạt động ngoại khóa còn mang lại lợi ích rất lớn trong việc giúp HS phát triển kĩ năng, khám phá bản thân, phát triển những gì đã có Rèn luyện cho HS thói quen lập kế hoạch, thực hiện các kế hoạch, mục tiêu đã được vạch ra
Việc tham gia tích cực vào các hoạt động ngoại khóa giúp HS cân bằng cuộc sống, thư giãn và tiếp thêm sinh lực từ đó khám phá ra những sở thích mới mẻ, những trải nghiệm thú vị Tích cực tham gia các hoạt động để tăng thêm tính chuyên nghiệp, khám phá cơ hội và mở rộng tầm nhìn ngoài những kiến thức tích lũy khi HS còn ngồi trên ghế nhà trường Hơn nữa, kỹ năng giao tiếp, ứng xử và giải quyết tình huống, trình bày trước đám đông của HS được cải thiện rõ rệt thông qua các hoạt động ngoại khóa
Ngoại khóa Vật lí cho phép GV khắc phục được những bất cập về thời trong giờ học chính khóa giữa thời gian với khối lượng kiến thức cần truyền đạt, có
13 thể mở rộng, hiểu thực tế hơn Bổ sung những nội dung chưa được đặt ra trong giờ học chính khóa
Ngoài ra, HĐNK còn góp phần phát triển năng lực tư duy như tư duy lôgic, tư duy trừu tượng và đặc biệt là năng lực tư duy sáng tạo cho HS
1.3.2 Đặc điểm của hoạt động ngoại khóa Vật lí
Do sự hạn chế của thời gian học trong giờ chính khóa mà số lượng kiến thức
GV cần truyền đạt, HS cần tiếp thu lại nhiều nên vì vậy cần phải có các hoạt động ngoại khóa để giúp HS nắm vững kiến thức hơn và hiểu sâu sắc hơn
Hoạt động ngoại khóa là một hình thức tổ chức dạy học có các đặc điểm sau:
HĐNK là hoạt động ngoài giờ học trên lớp, không mang tính bắt buộc, không được quy định trong chương trình nội khóa Là hoạt động tự nguyện của cá nhân hay nhóm HS có hứng thú, sở thích, mối quan tâm về một vấn đề nào đó của bài học
HĐNK có thể được tổ chức dưới nhiều dạng: dạng tập thể cả lớp, dạng nhóm theo năng khiếu, dạng học tập, nhận dịp kỉ niệm, ngày lễ…dưới nhiều hình thức: tổ ngoại khóa, câu lạc bộ khoa học, dạ hội khoa học, dạ hội nghệ thuật…
Điều tra tình hình dạy học nội và ngoại khóa về chương “Dao động cơ” trong chương trình Vật lý lớp 12 ở các trường THPT Huyện Thuận thành, thành phố Bắc ninh
Nghiên cứu tổ chức hoạt động ngoại khóa về dạy học các ứng dụng kĩ thuật của chương “Dao động cơ” lớp 12 trung học phổ thông theo hướng phát huy tính sáng tạo của học sinh và góp phần củng cố, mở rộng kiến thức về chương dao động cơ mà học sinh đã học trong nội khóa
Tìm hiểu việc dạy (thông qua phỏng vấn trao đổi với giáo viên) và việc học (thông qua trao đổi với học sinh, phiếu điều tra cơ bản) nhằm đánh giá tình hình dạy học nội và ngoại khóa chương “Dao động cơ” Vật Lý lớp 12
Hoạt động dạy và học của GV và HS trong tiến trình tổ chức HĐNK
Phòng thực hành vật lí và kho đựng dụng cụ thí nghiệm vật lí của trường
1.4.4.1 Tình hình dạy và học chương “Dao động cơ”
Tình hình dạy của giáo viên
Qua việc tổng hợp kết quả ở các phiếu tham khảo ý kiến giáo viên, hỏi ý kiến trực tiếp, tham khảo giáo án của các giáo viên vật lí và trực tiếp dự giờ các GV của
27 trường THPT Thuận Thành 2 nói trên về tình hình dạy chương “Dao động cơ” ở lớp
12 (có mẫu ở phần phụ lục), chúng tôi nhận thấy:
Phương pháp giảng dạy của GV chủ yếu là theo phương pháp truyền thống thông báo tiến trình giảng dạy theo đúng trình tự SGK Mặc dù, có một số ít GV đã áp dụng, sử dụng các phương pháp giảng dạy mới vào giảng dạy tuy nhiên như vậy là chưa đủ
Các câu hỏi GV mang tính đơn điệu chỉ tái hiện các kiến thức cũ liên quan mà chưa kích thích tính tích cực suy nghĩ, sự hứng thú khi học bài mới dẫn đến HS thụ động trong việc nghe và chỉ ghi chép
Mức độ sử dụng thí nghiệm còn thấp, một phần do GV chưa quan tâm, một phần trường có nhiều GV lớn tuổi nên khả năng sử dụng thấp Mặc dù, các thí nghiệm này tương đối đơn giản, không mất nhiều thời gian và việc chuẩn bị tương đối đơn giản
Về hình thức tổ chức dạy học và phương tiện hỗ trợ: chủ yếu là hình thức lớp – bài, vẫn là bảng đen, phấn trắng, GV đứng trên bục giảng bài và tất cả
HS hướng về phía GV đang diễn giảng hoặc thực hiện thí nghiệm
Qua trao đổi, GV cũng cho biết nguyên nhân của phương pháp dạy học như trên là:
Do thời gian rất trên lớp ít (3 tiết/ tuần) cần phải tập trung để rèn luyện kĩ năng giải bài tập cho HS vì nội dung kiểm tra của môn đặt nặng vào bài tập
Chương “Dao động cơ” là chương đầu tiên lại là chương chiếm số câu hỏi tương đối nhiều khi thi đại học nên GV tranh thủ mọi thời gian để giúp HS làm bài tập hơn là cho HS tham gia các hoạt động ngoại khóa, thí nghiệm
Do thời gian hạn chế, GV ít có điều kiện tiến hành thí nghiệm minh họa Ngoài ra, một số GV do tâm lí ngại thực hiện các thí nghiệm biểu diễn trên lớp
Tình hình học tập của học sinh
- Do giờ học nội khoá còn nặng nề, chưa tạo được hứng thú học tập cho HS cho nên có nhiều HS thụ động trong việc tiếp thu kiến thức Đa số các em nghe giảng một cách thụ động, lười suy nghĩ, chỉ ghi chép những gì GV ghi trên bảng, tập trung học lí thuyết và giải các bài tập một cách rập khuôn
- Các em chỉ quan sát GV làm thí nghiệm biểu diễn mà không trực tiếp tham gia vào thí nghiệm xây dựng bài Kĩ năng vận dụng kiến thức vật lí đã học vào giải thích các hiện tượng vật lí trong đời sống và ứng dụng kĩ thuật còn kém
- HS chưa từng được giao nhiệm vụ thiết kế, chế tạo dụng cụ vật lí, chưa bao giờ được tham gia các hoạt động mang tính chất vừa học vừa chơi về vật lí nên khả năng diễn đạt của học sinh về một vấn đề còn rất kém, thường lúng túng khi diễn đạt ý tưởng của mình
1.4.5 Tình trạng thiết bị TN
Vì trường đạt chuẩn quốc gia nên cơ sở vật chất, trang thiết bị thí nghiệm trường được trang bị rất đầy đủ.Tuy nhiên, cũng có nhiều đồ dùng đã củ, khả năng sử dụng thấp
Tình trạng cơ sở vật chất tại trường THPT Thuận Thành 2
Số phòng học bộ môn: 5 phòng ( Tin, Hóa, Sinh, Tiếng anh, Vật lí)
Số phòng thực hành: 10 phòng ( Vật lí: 1; Hóa: 1; Sinh: 1; Anh: 4; Tin: 3)
1.4.6 Nguyên nhân những hạn chế và cách khắc phục
Do trường không có GV chuyên quản lí phòng TN Vật lí cũng như chuyên trách dạy thí nghiệm nên khi GV giảng dạy mất thời gian cho việc chuẩn bị dẫn đến tâm lí ngại thí nghiệm Để HS có cơ hội làm thí nghiệm, tìm hiểu hơn các ứng dụng của vật lí nhà trường nên bổ sung GV chuyên phụ trách dạy thí nghiệm và quản lí phòng TN