1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ tổ chức hoạt động ngoại khóa về chế tạo và sử dụng một số thí nghiệm đơn giản chương quang hình

103 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổ Chức Hoạt Động Ngoại Khóa Về Chế Tạo Và Sử Dụng Một Số Thí Nghiệm Đơn Giản Chương "Quang Hình" Vật Lý 11 Trung Học Phổ Thông Nhằm Phát Triển Năng Lực Sáng Tạo Của Học Sinh
Tác giả Phạm Anh Đức
Người hướng dẫn TS. Dương Xuân Quý
Trường học Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Vật lí
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 3,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM PHẠM ANH ĐỨC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA VỀ CHẾ TẠO VÀ SỬ DỤNG MỘT SỐ THÍ NGHIỆM ĐƠN GIẢN CHƯƠNG "QUANG HÌNH" VẬT LÝ 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔN

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

PHẠM ANH ĐỨC

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA VỀ CHẾ TẠO

VÀ SỬ DỤNG MỘT SỐ THÍ NGHIỆM ĐƠN GIẢN CHƯƠNG

"QUANG HÌNH" VẬT LÝ 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

PHẠM ANH ĐỨC

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA VỀ CHẾ TẠO

VÀ SỬ DỤNG MỘT SỐ THÍ NGHIỆM ĐƠN GIẢN CHƯƠNG

"QUANG HÌNH" VẬT LÝ 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH

Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Vật lí

Mã số: 60.14.01.11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS DƯƠNG XUÂN QUÝ

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn: "Tổ chức hoạt động ngoại khóa về chế tạo và sử dụng một số thí

nghiệm đơn giản chương "Quang hình" Vật lý 11 trung học phổ thông nhằm phát triển năng lực sáng tạo của học sinh"

Tôi xin cam đoan:

Luận văn sử dụng những thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, các thông tin đã được chọn lọc, phân tích, tổng hợp, xử lý và đưa vào luận văn đúng quy định

Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực và chưa

được sử dụng để bảo vệ trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2016

Tác giả

Phạm Anh Đức

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, phòng đào tạo Sau Đại học, Ban chủ nhiệm, quý Thầy, Cô giáo khoa Vật lí Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên và quý thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu cùng quý Thầy, Cô giáo tổ Vật

lí trường THPT Lương Thế Vinh và trường THPT Cẩm Phả, thành Phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đã cộng tác, tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập, nghiên cứu và TNSP

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn :

TS Dương Xuân Quý, người đã tận tình hướng dẫn trong suốt thời gian nghiên cứu

và hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lớp cao học Vật lí K21 đã giúp đỡ, đóng góp nhiều ý kiến trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này

Xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp giúp

đỡ, động viên tác giả hoàn thành luận văn này

Thái Nguyên, tháng năm 2016

Tác giả

Phạm Anh Đức

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC HÌNH, ĐỒ THỊ vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài 3

4 Giả thuyết khoa học của đề tài 3

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3

6 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3

7 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 4

8 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 4

9 Đóng góp của đề tài 4

10 Cấu trúc của đề tài 4

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 6

1.1 Cơ sở lí luận về hoạt động ngoại khóa ở trường THPT 6

1.1.1 Vị trí, vai trò của hoạt động ngoại khóa trong hệ thống các hình thức tổ chức dạy học ở trường phổ thông 6

1.1.2 Các đặc điểm của hoạt động ngoại khóa Vật lí 7

1.1.3 Nội dung của hoạt động ngoại khóa Vật lí 7

1.1.4 Các hình thức hoạt động ngoại khóa Vật lí 8

1.1.5 Phương pháp hướng dẫn hoạt động ngoại khóa Vật lí 14

Trang 6

1.1.6 Quy trình tổ chức hoạt động ngoại khóa Vật lí 14

1.2 Thiết kế, chế tạo và sử dụng các dụng cụ TN đơn giản trong dạy học Vật lí ở trường phổ thông 16

1.2.1 Các đặc điểm cơ bản của dụng cụ TN đơn giản 16

1.2.2 Sự cần thiết của việc sử dụng các dụng cụ TN đơn giản trong dạy học Vật lí ở trường phổ thông 17

1.2.3 Các khả năng sử dụng các dụng cụ TN đơn giản trong dạy học Vật lí ở phổ thông 17

1.3 Tính tích cực trong học tập 18

1.3.1 Khái niệm về tính tích cực của HS trong học tập 18

1.3.2 Các biểu hiện của tính tích cực trong học tập 18

1.3.3 Các cấp độ của tính tích cực trong học tập 19

1.3.4 Những yếu tố thúc đẩy tính tích cực của HS trong học tập 19

1.4 Năng lực sáng tạo trong học tập 20

1.4.1 Khái niệm năng lực sáng tạo trong học tập 20

1.4.2 Các biểu hiện của năng lực sáng tạo của HS trong học tập 21

1.4.3 Các biện pháp phát huy năng lực sáng tạo của HS trong hoạt động ngoại khóa 21

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 22

Chương 2 TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA VỀ CHẾ TẠO VÀ SỬ DỤNG MỘT SỐ THÍ NGHIỆM ĐƠN GIẢN CHƯƠNG "QUANG HÌNH" VẬT LÝ 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH 24

2.1 Mục tiêu dạy học của phần Quang hình học lớp 11 24

2.1.1 Mục tiêu kiến thức 24

2.1.2 Mục tiêu kĩ năng 25

Trang 7

2.1.3 Mục tiêu phát triển tư duy và năng lực sáng tạo 25

2.1.4 Mục tiêu về tình cảm, thái độ 26

2.2 Điều tra tình hình dạy học các kiến thức về phần “Quang hình học” lớp 11 ở một số trường THPT thuộc tỉnh Quảng Ninh 26

2.2.1 Mục đích điều tra 26

2.2.2 Phương pháp điều tra 26

2.2.3 Đối tượng điều tra 27

2.2.4 Kết quả điều tra 27

2.3 Thiết kế chế tạo thiết bị TN về thấu kính hội tụ và thấu kính phân kì 33

2.3.1 TBTN về thấu kính hội tụ 33

2.3.2 TBTN về thấu kính phân kì 41

2.3.3 Đánh giá về những ưu, nhược điểm của bộ TN đã chế tạo 43

2.4 Kế hoạch tổ chức hoạt động ngoại khóa về thấu kính phần "Quang hình học" ở lớp 11 THPT 45

2.4.1 Xác định mục tiêu của hoạt động ngoại khóa 45

2.4.2 Dự kiến nội dung của buổi cho HS báo cáo sản phẩm đã chế tạo được kết hợp với hội vui vật lí về kiến thức phần “Quang hình học” 45

2.4.3 Xác định phương pháp 55

2.4.4 Xác định hình thức tổ chức 55

2.4.5 Dự kiến các bước và thời gian học ngoại khóa 56

2.4.6 Xây dựng công cụ đánh giá 58

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 60

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 60

3.1 Mục đích 60

3.2 Đối tượng và thời gian thực nghiệm 61

3.3 Phương pháp thực nghiệm 61

3.4 Phân tích diễn biến và đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 61

3.4.1 Phân tích diễn biến hoạt động ngoại khóa 61

3.4.2 Đánh giá hiệu quả của việc phát huy tính tích cực và năng lực sáng tạo của HS 66

3.4.3 Sơ bộ đánh giá hiệu quả của hoạt động ngoại khóa 72

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 74

Trang 8

KẾT LUẬN 75 TÀI LIỆU THAM KHẢO 77 PHỤ LỤC

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Kết quả đo tiêu cự thấu kính hội tụ 39

Bảng 2.2: Kết quả TN đo tiêu cự thấu kính phân kì 43

Bảng 3.1: Phân bố tần số điểm kiểm tra 70

Bảng 3.2: Xếp loại điểm kiểm tra 70

Bảng 3.3: Bảng phân phối tần suất 71

Bảng 3.4: Bảng phân phối tần suất lũy tích 72

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH, ĐỒ THỊ

Hình 2.1: Các bộ phận của bộ thí nghiệm 33

Hình 2.2: Một số chân đễ bằng gỗ 35

Hình 2.3: Một số vít hãm 35

Hình 2.4: Vật 35

Hình 2.5: Tấm nhựa làm màn hứng ảnh 36

Hình 2.6: HS chế tạo khung bằng nhôm 36

Hình 2.7: HS chế tạo các dụng cụ TN 37

Hình 2.8: HS tiến hành lắp ráp TN 37

Hình 2.9: Sơ đồ bố trí thí nghiệm đo tiêu cự của thấu kính hội tụ 38

Hình 2.10: Các bộ phận của bộ thí nghiệm thấu kính phân kì 41

Hình 2.11: Sơ đồ bố trí thí nghiệm đo tiêu cự của thấu kính phân kì 42

Hình 2.12 Thí nghiệm về thấu kính hội tụ 55

Đồ thị 3.1: Xếp loại điểm kiểm tra 71

Đồ thị 3.2: Phân phối tần suất điểm kiểm tra 72

Đồ thị 3.3: Phân phối tần suất lũy tích điểm kiểm tra 72

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thế kỷ XXI mở ra cho thế giới cơ hội toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế Điều

đó đặt Việt Nam đứng trước cơ hội lớn nhằm tăng cường hợp tác quốc tề, đồng thời tạo động lực thúc đẩy nhanh quá trình hội nhập và phát triển đất nước Để giải quyết được vấn đề đó đòi hỏi mỗi người lao động trong xã hội phải biết cách vận dụng tích cực và linh hoạt tri thức nhân loại vào thực tiễn cuộc sống nhằm đáp ứng được nhu cầu cạnh tranh ngày càng cao của xã hội hiện đại

Đứng trước đòi hỏi của xã hội, nhiệm vụ quan trọng đặt ra cho ngành Giáo dục - Đào tạo nước ta là làm thế nào đào tạo và cung ứng cho xã hội những con người có đủ phẩm chất, tài năng để xây dựng và phát triển đất nước, đây là nhân tố đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển mỗi đất nước Đó cũng chính là lí do ngành Giáo dục -

Đào tạo nước ta đã đặt ra mục tiêu: “Ưu tiên nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực,

đặc biệt chú trọng nhân lực khoa học - công nghệ trình độ cao, cán bộ quản lý, kinh doanh giỏi và công nhân kỹ thuật lành nghề trực tiếp góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế; đẩy nhanh tiến độ thực hiện phổ cập trung học cơ sở” [2]

Luật giáo dục 2005 đã quy định về mục tiêu, nội dung, phương pháp, chương

trình giáo dục cấp THPT Trong đó có quy định: “Giáo dục trung học phổ thông

phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở trung học cơ sở, hoàn thành nội dung giáo dục phổ thông; ngoài nội dung chủ yếu nhằm đảm bảo chuẩn kiến thức phổ thông, cơ bản, toàn diện và hướng nghiệp cho mọi HS còn có nội dung nâng cao một số môn học để phát triển năng lực, đáp ứng nguyện vọng của HS”.[30]

Như vậy, quá trình dạy học phải hướng đến việc đáp ứng nhu cầu đa dạng của người học, với những khác biệt về năng lực, sở thích, nguyện vọng và các điều kiện học tập Hiện nay, ở cấp THPT đang thực hiện nguyên tắc dạy học phân hoá, thực hiện bằng cách phân ban kết hợp với dạy học ngoại khóa để đáp ứng những nhu cầu đó cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho chương trình giáo dục của nhà trường được thực hiện một cách linh hoạt, gắn bó với thực tiễn địa phương, phục vụ yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực tham gia phát triển kinh tế - xã hội

Hoạt đô ̣ng ngoa ̣i khóa là mô ̣t hình thức tổ chức da ̣y ho ̣c mà hoa ̣t đô ̣ng của

HS được tiến hành ngoài giờ lên lớp chính thức, nhằm hỗ trợ cho dạy học nô ̣i khóa

Trang 13

Với điều kiện mở về thời gian, không gian, địa điểm, phương tiện HĐNK có tác dụng bổ trợ rất hiệu quả cho dạy học nội khóa, giúp HS củng cố, đào sâu, mở rộng các kiến thức đã học ở nội khoá, kích thích sự hứng thú, phát huy tính tích cực, sáng tạo, góp phần hoàn thiê ̣n, phát triển nhân cách và bồi dưỡng năng khiếu cho ho ̣c

HS Đây là những điều mà nội khoá làm chưa tốt do điều kiện thời gian, phương tiện dạy học hay do sức ép thi cử

Tuy nhiên, thực tiễn trong những năm gần đây, ở nhiều trường phổ thông, hoạt động ngoại khóa Vâ ̣t lí nói riêng và ngoại khóa các môn ho ̣c khác nói chung chưa được coi trọng đúng mức, nếu có thì việc tiến hành còn mang tính chất bắt buộc, chưa thường xuyên, còn mang nặng tính hình thức, vì vậy kết quả thu được còn thấp, ít được tổ chức, lãnh đa ̣o nhà trường và GV bô ̣ môn chưa có sự quan tâm, đầu tư đúng mức cho hoa ̣t động này

Qua quá trình dạy học chúng tôi nhận thấy kiến thức về phần Quang hình học Vật lí 11 rất thú vị và gần gũi với cuộc sống, có nhiều ứng dụng thiết thực trong đời sống và kỹ thuật Trong dạy học về phần này, do điều kiện thời gian, phương tiện dạy học và một số khó khăn khác, HS chưa có cơ hội được thực nghiệm nhiều, do

đó chưa phát huy hết được sự hứng thú, tích cực và sáng tạo trong học tập Ngoài

ra, phần này cũng có những thí nghiệm đơn giản, có thể tự chế tạo được hoặc khai thác từ những thiết bị đã có sẵn trong thực tế nhưng GV đã không tổ chức cho HS

tự thiết kế và làm thí nghiệm Do vậy, trong học nội khóa, HS không có cơ hội được rèn luyện các kĩ năng, các thao tác làm thí nghiệm, cũng như không được hình thành kiến thức một cách đúng đắn dễ dẫn đến sai lầm, hay không có sự hứng thú, tích cực trong học tập và không được rèn luyện tư duy sáng tạo

Với mong muốn góp phần vào việc nghiên cứu, nâng cao chất lượng, hiệu quả

dạy và học vật lí ở trường THPT chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: Tổ chức hoạt động

ngoại khóa về chế tạo và sử dụng một số thí nghiệm đơn giản chương "Quang hình" Vật lý 11 trung học phổ thông nhằm phát triển năng lực sáng tạo của học sinh"

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Qua quá trình tìm hiểu những thông tin khoa học có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài, tác giả nhận thấy: Đã có khá nhiều luận văn nghiên cứu về vấn đề phát huy tính tích cực nhận thức cho HS trong dạy học vật lí ở trường THPT Đặc biệt, một số luận

Trang 14

văn đã đề cập đến vấn đề phối hợp và sử dụng các phương pháp và PTDH theo hướng phát huy tính tích cực, sáng tạo của HS

Trong đó có: Ngô Thị Bình (2009), Nghiên cứu việc tổ chức hoạt động ngoại

khoá về Tĩnh học vật rắn ở lớp 10 THPT nhằm phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của HS, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục [6]; Trương Đức

Cường (2007), Nghiên cứu xây dựng và tổ chức một số chủ đề ngoại khóa phần điện

học lớp 12(THPT) nhằm góp phần giáo dục KTTH cho HS, Luận văn thạc sĩ khoa

học giáo dục [11]; Trần Hữu Phước (2007), Nghiên cứu việc tổ chức ngoại khóa về

cơ học chất lưu chuyển động nhằm phát triển tính tích cực, sáng tạo của HS THPT,

Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục [28]; Phạm Hữu Tòng (2004), Dạy học vật lí ở

trường phổ thông theo định hướng phát triển hoạt động tích cực tự chủ, sáng tạo và

tư duy khoa học, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội [33]; Phạm Hữu Tòng (2008), Tổ chức - định hướng hoạt động tích cực, Tài liệu dùng cho cao học k16 [34] nhưng

ở các phần khác nhau trong chương trình vật lí và chưa có đề tài nào nghiên cứu hoạt động ngoại khoá về “Quang hình” ở lớp 11 THPT vì vậy chúng tôi quyết định chọn hướng đề tài này

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Tổ chức hoạt động ngoại khóa về chế tạo và sử dụng một số thí nghiệm đơn giản chương "Quang hình" Vật lý 11 trung học phổ thông nhằm phát triển năng lực sáng tạo của học sinh

4 Giả thuyết khoa học của đề tài

Nếu nghiên cứu để thiết kế, chế tạo được một số thiết bị thí nghiệm về quang hình từ các vật liệu đơn giản, dễ kiếm và tổ chức được một số chủ đề hoạt động dạy học ngoại khoá vật lí về phần "quang hình học" thì có thể góp phần nâng cao tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Hệ thống các thiết bị thí nghiệm quang hình và quá trình dạy học các kiến thức

về khúc xạ ánh sáng, phản xạ toàn phần và thấu kính

6 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

- Nghiên cứu lí luận về tính tích cực, năng lực sáng tạo

- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc tổ chức dạy học ngoại khoá

Trang 15

- Nghiên cứu thiết kế, chế tạo một số thiết bị thí nghiệm về quang hình

- Xây dựng kế hoạch tổ chức một số hoạt động ngoại khoá về phần "Quang hình học" cho HS lớp 11 THPT

- Khảo sát thực trạng và đề xuất giải pháp việc tổ chức dạy học ngoại khoá

bộ môn vật lí tại một số trường THPT thuộc địa bàn tỉnh Quảng Ninh

- Soạn thảo tiến trình dạy học ngoại khoá cho một số đơn vị kiến thức về phần

"Quang hình học" trong chương trình vật lí 11

7 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu và tổ chức hoạt động ngoại khoá khi dạy một số kiến thức về phần

"Quang hình học" trong chương trình vật lí 11 (THPT), nhằm phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo cho HS

8 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu các tài liệu về tâm lí học, giáo dục học, lý luận dạy học vật lí, các tài liệu về tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Nghiên cứu thực tế dạy học ngoại khoá vật lí tại một số trường THPT

- Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm: Nghiên cứu thực nghiệm tại phòng thí nghiệm và nghiên cứu thực nghiệm sư phạm tại trường phổ thông

- Đề xuất được một số nội dung và hình thức dạy học ngoại khoá vật lí

- Có thể làm tài liệu tham khảo cho việc tổ chức hoạt động ngoại khoá vật lí ở các trường phổ thông

10 Cấu trúc của đề tài

Luận văn dự kiến được trình bày gồm 5 phần: Ngoài phần mở đầu, phần kết luận chung, phần tài liệu tham khảo Phần nội dung gồm có 3 chương:

Chương1: Cơ sở lí luận về hoạt động ngoại khóa ở trường phổ thông

Trang 16

Chương 2: Thiết kế, chế tạo một số thiết bị và sử dụng để tổ chức hoạt động

dạy học ngoại khoá về "Quang hình học" Vật lí lớp 11 (THPT) nhằm phát huy tính

tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của HS

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 17

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA

Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

1.1 Cơ sở lí luận về hoạt động ngoại khóa ở trường THPT

1.1.1 Vị trí, vai trò của hoạt động ngoại khóa trong hệ thống các hình thức tổ chức dạy học ở trường phổ thông

Hoạt động ngoại khóa là một trong ba hình thức dạy học chủ yếu ở trường phổ thông hiện nay Hoạt động ngoại khóa nói chung và hoạt động ngoại khóa Vật lí nói riêng có vai trò vô cùng quan trọng trong việc giáo dục HS trên tất cả các mặt, cụ thể là:

- Về nâng cao chất lượng kiến thức: Hoạt động ngoại khóa giúp HS củng cố, đào sâu, mở rộng những tri thức đã được học ở trên lớp, bổ sung những vấn đề chưa được đặt ra trong chương trình chính khóa, tăng cường tính thực tiễn, tính thời sự, tính xã hội cho nội dung bài học Bên cạnh đó nó còn giúp HS vận dụng kiến thức đã học vào thực tế, tạo điều kiện để học đi đôi với hành, nối liền kiến thức trên bục giảng với thực tiễn đời sống

- Về rèn luyện kỹ năng: Hoạt động ngoại khóa rèn luyện cho HS kĩ năng phân tích, kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng thực nghiệm, kĩ năng làm việc tập thể, kĩ năng sống, tổ chức, giao tiếp, định hướng nghề nghiệp…

- Về phát triển tư duy: Hoạt động ngoại khóa rèn luyện và phát triển các năng lực tư duy của HS như: Tư duy logic, tư duy trừu tượng, tư duy sáng tạo…

- Về giáo dục tinh thần thái độ:

+ Hoạt động ngoại khóa làm cho quá trình dạy bộ môn thêm phong phú, đa dạng làm cho việc học tập của HS thêm lôi cuốn, sinh động Vì vậy có tác dụng khơi dậy niềm say mê hứng thú học tập, thực hành, lòng ham hiểu biết yêu khoa học và phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của HS

+ Hoạt động ngoại khóa cũng góp phần giáo dục tổ chức, tính kế hoạch, tinh thần làm chủ và hợp tác trên cơ sở những hoạt động thực tế

Trang 18

+ Ngoài ra hoạt động ngoại khóa còn giúp HS có thể hiểu sâu hơn về những giá trị văn hóa, truyền thống của cha ông, của quê hương, đất nước, nâng cao nhận thức về các vấn đề xã hội

Như vậy hoạt động ngoại khóa đóng một vai trò rất quan trọng trong việc bổ sung các kiến thức, kĩ năng và kinh nghiệm sống cho HS, giúp HS hoàn thiện nhân cách và phát triển toàn diện, cân đối về trí tuệ, đạo đức, thể dục, thẩm mỹ, những điều

mà ở nội khóa còn yếu

1.1.2 Các đặc điểm của hoạt động ngoại khóa Vật lí

Hoạt động ngoại khóa Vật lí cũng như hoạt động ngoại khóa nói chung có những đặc điểm sau:

- Việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa phải được lập kế hoạch cụ thể về cả mục đích, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, lịch hoạt động cụ thể và thời gian thực hiện

- Được thực hiện ngoài giờ học chính khóa

- Có thể được tổ chức dưới nhiều dạng: Tập thể cả lớp, theo nhóm năng khiếu, học tập, vui chơi, thường kì, đột xuất, nhân dịp những kỉ niệm hay lễ hội…

- Nội dung của hoạt động ngoại khóa thường liên quan đến nội dung học tập trong chương trình nội khóa, phù hợp với trình độ và đặc điểm của đối tượng tham gia

- Hình thức ngoại khóa Vật lí rất đa dạng, bao gồm ngoại khóa làm bài tập, làm TN, tham gia công trình Vật lí, hội vui vật lí… nhằm giúp HS mở rộng đào sâu, làm phong phú thêm những kiến thức đã được học trong giờ nội khóa

- Cách đánh giá kết quả thông qua những biểu hiện trong quá trình tham gia hoạt động và sản phẩm của HS

- HS được giao lưu với nhau, có thể phát huy tính năng động, sáng tạo của mình mà không bị hạn chế bởi những căng thẳng như trong giờ học trên lớp

Như vậy hoạt động ngoại khóa không gò bó về thời gian, không gian cũng như trình tự nội dung như giờ học nội khóa, do đó GV có thể dễ dàng kết hợp hoạt động ngoại khóa với những phương pháp, hình thức dạy học khác

1.1.3 Nội dung của hoạt động ngoại khóa Vật lí

Trang 19

Nội dung ngoại khóa vật lí ở trường phổ thông rất đa dạng nhưng có thể chia thành hai nội dung chính: Lý thuyết và thực nghiệm Cụ thể đó là các nội dung như:

- Nghiên cứu những kiến thức lý thuyết về Vật lí và kỹ thuật

- Nghiên cứu, tìm hiểu những ứng dụng của Vật lí trong đời sống, kỹ thuật

- Thiết kế, chế tạo dụng cụ và làm TN Vật lí

Theo chúng tôi nội dung của hoạt động ngoại khóa Vật lí nên gắn với những kiến thức nằm trong phạm vi chương trình nội khóa, hoạt động ngoại khóa gắn với nội khóa nhằm mục đích giúp HS củng cố, đào sâu, mở rộng kiến thức, rèn luyện các

kỹ năng cơ bản, phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo Trong phạm vi

đề tài nghiên cứu, tôi tập trung nghiên cứu hoạt động ngoại khóa về thiết kế, chế tạo dụng cụ và làm TN Vật lí Trong các giờ nội khóa mặc dù cũng có những bộ TN phục

vụ cho tiết học nhưng hầu như các em chỉ quan sát GV thực hiện hoặc nếu có thực hiện thì chỉ một hoặc hai em được tiến hành, HS trong lớp chỉ được “xem TN” Chính

vì vậy ngoại khóa về thiết kế, chế tạo dụng cụ và làm TN sẽ giúp các em hiểu được bản chất của hiện tượng, HS tự tìm tòi chế tạo, tự tay thực hiện TN không những dẫn đến sự tin tưởng về các kiến thức được học mà còn phát huy được tính tích cực và khả năng sáng tạo của các em

Căn cứ vào các hướng có thể tổ chức hoạt động ngoại khóa về vật lí như trên

và thực tế dạy học vật lí ở trường phổ thông hiện nay, chúng tôi lựa chọn nội dung của

đề tài chủ yếu là hoạt động thực nghiệm: Thiết kế, chế tạo và sử dụng cụ TN vật lí đơn giản và chúng tôi chọn nội dung kiến thức của phần "Quang hình học" trong sách giáo khoa vật lí lớp 11 [15]

1.1.4 Các hình thức hoạt động ngoại khóa Vật lí

Việc phân chia các hình thức hoạt động ngoại khóa về vật lí chỉ mang tính chất tương đối, không phân biệt được rõ ràng Có thể phân ra các hình thức hoạt động ngoại khóa về vật lí theo lượng HS tham gia, cũng có thể theo nội dung ngoại khóa hoặc theo thời gian và địa điểm diễn ra hoạt động ngoại khóa… Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chúng tôi nhận thấy các hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa về vật lí thông thường nhất là: Hoạt động ngoại khóa mang tính chất cá nhân, hoạt động ngoại khóa theo các nhóm và hoạt động ngoại khóa có tính quần chúng rộng rãi Cụ thể:

Trang 20

- Tổ chức các hoạt động ngoại khóa ở lớp và ở nhà (HS đọc sách báo về vật lí và

kĩ thuật; tổ chức các buổi báo cáo và dạ hội về các vấn đề vật lí - kĩ thuật; HS ra báo tường hoặc tập san về vật lí - kĩ thuật; HS biểu diễn TN hoặc giới thiệu sản phẩm là TN vật lí chế tạo được…)

- HS tổ chức triển lãm giới thiệu những thành tích hoạt động ngoại khóa về vật lí

- Tổ chức cho HS thăm quan ngoại khóa về vật lí, kĩ thuật

- Tổ chức, hướng dẫn HS thiết kế, chế tạo và sử dụng các dụng cụ TN vật lí hoặc máy móc đơn giản

- Tổ chức ôn luyện cho HS tham dự thi HS giỏi hoặc các cuộc thi khác dành cho môn vật lí ở trường phổ thông Với các hình thức tổ chức ngoại khóa về vật lí như trên, HS có thể tham gia vào các hoạt động với tư cách cá nhân, nhóm hoặc tập thể

* Hoạt động ngoại khóa theo nhóm

Dựa trên tính chất đặc thù của bộ môn vật lí: Các kiến thức vật lí không khó nhưng biểu hiện khá phức tạp trong thực tế và các kiến thức được xây dựng chủ yếu bằng con đường thực nghiệm Cho nên tổ chức ngoại khóa về vật lí nên lựa chọn nhiều nội dung liên quan đến việc sử dụng TN Để hoạt động ngoại khóa về vật lí có liên quan nhiều đến TN thành công được thì hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa theo nhóm là ưu việt nhất Hình thức này vừa đảm bảo cho quá trình thiết kế, chế tạo và tiến hành TN diễn ra nhanh, có chất lượng vừa tạo điều kiện cho HS tự học hỏi lẫn nhau

và rèn luyện kĩ năng làm việc theo nhóm

- Các nguyên tắc đảm bảo tổ chức tốt nhóm ngoại khóa vật lí:

+ Khi tổ chức nhóm ngoại khóa trước hết phải dựa trên tinh thần tự nguyện, hứng thú của HS, HS phải được lựa chọn lĩnh vực kiến thức yêu thích để thiết kế, chế tạo TN Điều này tạo cho HS tinh thần làm việc thoải mải, từ đó họ thấy yêu thích công việc, nỗ lực hoàn thành công việc và phát triển được tài năng

+ Để nhóm ngoại khóa có thể tồn tại và hoạt động có hiệu quả thì nhất thiết phải phát hiện và xây dựng được hạt nhân của nhóm Hạt nhân của nhóm thường là nhóm trưởng HS được chọn là hạt nhân của nhóm phải thích thú và có sự nhiệt tình cao với

đề tài mà nhóm theo đuổi, đồng thời cũng phải có khả năng đoàn kết các thành viên trong nhóm học tập và lực học thuộc hạng khá vững vàng, tuy nhiên nhóm trưởng

Trang 21

không nhất thiết là thành viên giỏi nhất trong nhóm

+ Yếu tố mới và tính vừa sức của đề tài đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì và phát triển sự hứng thú và tích cực của nhóm Với nguyên tắc này, nội dung hoạt động ngoại khóa phải mới ít nhiều so với nội khóa, không đơn thuần là những TN kiểm nghiệm lại kiến thức hoặc áp dụng dưới dạng quá đơn giản các kiến thức đã học GV cần phải xác định được nội dung thích hợp, vừa sức với HS và khéo léo tổ chức sao cho từng bước HS thu được kết quả đều đặn, kể cả ở giai đoạn đầu để động viên kịp thời

Để đạt được điều đó, khi tổ chức nhóm ngoại khóa GV cần phải dự kiến được những khó khăn mà HS có thể gặp phải, lên phương án giúp đỡ và tạo điều kiện về thời gian, tài liệu, nguyên vật liệu…cho nhóm HS

+ Phải đảm bảo tính nghiêm túc, nhẹ nhàng, tránh nặng nề, nhưng cũng tránh tùy tiện trong quá trình nhóm hoạt động Để đảm bảo nguyên tắc này, nhóm ngoại khóa cần có lịch làm việc cụ thể về thời gian cũng như tiến độ công việc, tránh tình trạng “đầu voi, đuôi chuột” Kiên quyết không để kế hoạch bị phá sản chừng nào không bị những nguyên nhân khách quan chi phối Như vậy thì quá trình hoạt động mới có ý nghĩa và đảm bảo uy tín của GV

- Nội dung của nhóm ngoại khóa

Tùy theo nội dung hoạt động của nhóm ngoại khóa có thể phân loại thành: Nhóm “Vật lí lý thuyết”, nhóm “Chế tạo dụng cụ TN vật lí”, nhóm “Vật lí kĩ thuật”

+ Nhóm “Vật lí lý thuyết”

Nhóm này đi sâu vào tìm hiểu và sưu tầm các tài liệu xoay quanh vấn đề đang học hoặc các vấn đề đang được quan tâm nhằm giúp cho các thành viên trong lớp hiểu sâu hơn kiến thức được học Đồng thời nghiên cứu, giải thích các hiện tượng mà trong hoàn cảnh hạn chế của thời gian trên lớp mà GV không thể đi sâu được Khi tham gia nhóm ngoại khóa này, HS có thể sưu tầm những bài vật lí hay rồi tiến hành thảo luận

để tìm ra phương pháp giải hay, ngắn gọn; cũng có thể nhiệm vụ của nhóm là tìm hiểu lịch sử phát sinh và phát triển của một lĩnh vực của vật lí, kĩ thuật hoặc HS tìm hiểu tiểu sử của các nhà bác học vật lí v.v… Nhóm có thể phụ trách công việc ra báo tường hoặc tập san vật lí của trường, nội dung hoạt động của nhóm ngoại khóa này phải mới

so với nội khóa, không đơn thuần là sưu tập các thông tin đã có trong sách giáo khoa

Trang 22

hoặc sách bài tập

Trong quá trình thực hiện đề tài, GV cần lưu ý tới sự hứng thú của HS theo hướng tìm hiểu, nghiên cứu mà các em đã chọn để đảm bảo cho đề tài được thành công, đúng tiến độ và cung cấp được những sản phẩm có chất lượng

+ Nhóm “Chế tạo dụng cụ TN vật lí”

Do đặc thù của môn học cho nên hình thức nhóm ngoại khóa “Chế tạo dụng cụ

TN vật lí” là phổ biến nhất trong công tác ngoại khóa vật lí

Tại các trường phổ thông hiện nay đã được trang bị các dụng cụ TN phục vụ cho giờ học thực hành của HS Tuy nhiên, số lượng các TN còn hạn chế, đặc biệt là các TN

có liên quan đến các ứng dụng vật lí của kĩ thuật Để có thể phát huy tính tích cực của

HS và phát triển được năng lực sáng tạo của các em thì việc phải chế tạo thêm các dụng

cụ TN là rất cần thiết Do vậy công tác ngoại khóa tổ chức cho HS tham gia chế tạo các dụng cụ TN là rất phù hợp Tổ chức được tốt hình thức ngoại khóa với nội dung như vậy vừa giúp HS trực tiếp tham gia chế tạo dụng cụ có thể hiểu sâu hơn kiến thức được học, thấy được ứng dụng của kiến thức trong thực tế, đồng thời cũng khiến cho các em thấy hứng thú và tích cực hơn trong học tập, đồng thời vừa có thể bổ sung thêm các dụng

cụ TN còn thiếu cho nhà trường, giúp cho việc giảng dạy các khóa sau được thuận lợi Trong trường hợp như vậy, GV cũng cần phải góp ý để các em chế tạo được những dụng

cụ TN đẹp, bền và có thể sử dụng được lâu dài Tuy nhiên trong quá trình HS chế tạo dụng cụ, GV cũng cần làm cho các em hiểu rõ nguyên tắc cấu tạo cũng như hoạt động của các dụng cụ TN, chứ không phải các em chỉ cần chế tạo các dụng cụ theo mẫu có sẵn

mà không hiểu bản chất và ý nghĩa của các dụng cụ Như vậy thì công tác ngoại khóa mới có ý nghĩa giáo dục và thực tiễn mạnh mẽ

GV cũng cần lưu giữ các hình ảnh hoạt động và sản phẩm của nhóm trong phòng TN của nhà trường để giáo dục và làm gương cho các thế hệ sau Trong quá trình hoạt động ngoại khóa, GV cũng cần dạy cho các em biết cách sử dụng các công cụ, hiểu tính năng và cách gia công các liệu khác nhau như sắt, gỗ, bìa cứng, dung dịch hoá học, dây dẫn bằng kim loại,… GV cũng có thể nhờ phụ huynh hoặc chuyên gia đến hướng dẫn cho các em trong nhóm

+ Nhóm “Vật lí kĩ thuật”

Trang 23

Hình thức hoạt động ngoại khóa với nội dung liên quan đến các ứng dụng của vật lí trong kĩ thuật cũng được nhiều HS tham gia, dễ hứng thú, đồng thời có tác dụng giáo dục kĩ thuật khá trực tiếp do đó cần phải được đề cao và khuyến khích Nhóm ngoại khóa này có thể hoạt động theo nhiều hướng, với tên gọi phong phú và hấp dẫn Những nhóm ngoại khóa này mang nhiều tính chất thực hành chuyên môn hơn nhóm “Chế tạo dụng cụ TN vật lí” nhưng hoạt động của nhóm vẫn phải gắn liền với hai mặt lí thuyết và thực hành Do vậy GV cần phải bổ sung thêm cả kiến thức lý thuyết và thực hành cho HS Khi tổ chức hình thức ngoại khóa này, GV nên tổ chức những nhóm phục vụ yêu cầu của nền sản suất ở địa phương và nên phối hợp với những chuyên gia ở đó để có sự giúp đỡ về kĩ thuật cũng như kinh nghiệm Các nhóm ngoại khóa “Vật lí kĩ thuật” này nếu làm tốt vai trò của mình sẽ trở thành nòng cốt trong việc liên hệ bài học vật lí với thực tế kĩ thuật, nhóm này có vai trò tốt trong việc giúp cho các HS khác hiểu rõ hơn vai trò

và biểu hiện của các kiến thức vật lí trong đời sống

* Hoạt động ngoại khóa có tính chất quần chúng rộng rãi

Các hoạt động ngoại khóa vật lí thu hút nhiều người tham gia, như: Hội vui vật lí; triển lãm vật lí; báo tường về vật lí… Hoạt động ngoại khóa này thường là kết quả của quá trình hoạt động của nhóm vật lí Các hoạt động ngoại khóa này nếu được chuẩn bị chu đáo và tổ chức một cách hấp dẫn thì có tác dụng rất lớn trong việc nâng cao lòng yêu thích nghiên cứu và học hỏi của HS

+ Hội vui vật lí

Hội vui là một hình thức ngoại khóa dễ phổ biến, lôi cuốn được đông đảo HS tham gia, tạo ra được khí thế trong học tập và nghiên cứu Hội vui có thể tổ chức theo từng chuyên đề hoặc theo khối lớp Chẳng hạn: Hội vui cơ học; hội vui về nhiệt học; hội vui về điện học; hội vui về quang học; hội vui về từ trường…

Hội vui có nội dung chính là các trò chơi hoặc các câu hỏi rèn luyện trí tuệ, như: Trò chơi hái hoa dân chủ; thi khéo tay; thi giải đáp các câu hỏi trí tuệ Thời gian tổ chức hội vui không nên kéo dài để đảm bảo cho hội vui vừa truyền tải hết nội dung cần thiết vừa không gây ảnh hưởng đến sức khỏe và sự đi lại của HS

Để cho hội vui thành công, đáp ứng được yêu cầu đã đề ra của chủ hội thì cần

Trang 24

phải chuẩn bị nội dung sao cho hợp lí, phong phú, hấp dẫn và có phần thưởng khuyến khích cho người thắng cuộc khi tham gia trò chơi Đối với những trò chơi có liên quan đến máy móc thì cần phải kiểm tra kĩ lưỡng trước khi tổ chức hội vui và phải có dự trù thời gian và dụng cụ cho những trò chơi này

+ Báo tường về vật lí

Đây là một hình thức hoạt động ngoại khóa khá hấp dẫn, dễ tổ chức, lôi cuốn được đông đảo HS tham gia, không phân biệt trình độ HS nhiều Hình thức hoạt động ngoại khóa này có tác dụng tốt trong việc thúc đẩy HS sưu tầm, đọc các sách báo hoặc giải các bài toán hay về vật lí Báo tường về vật lí cũng là một hoạt động để GV hoặc các thành viên tích cực trong lớp công bố các bài toán hay mà không có điều kiện hoặc không cần thiết phải trình bày trên lớp

Trên cơ sở nghiên cứu về các nội dung, hình thức của hoạt động ngoại khóa về vật lí và mục đích của đề tài, tôi đã lựa chọn hướng nội dung hoạt động ngoại khóa là hoạt động thực nghiệm: Tổ chức và hướng dẫn HS thiết kế, chế tạo và sử dụng các dụng cụ TN về hiện tượng khúc xạ, phản xạ toàn phần, thấu kính từ những vật liệu rẻ tiền, dễ kiếm, đơn giản Với hướng nội dung đó, chúng tôi cũng lựa chọn hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa cơ bản là HS hoạt động theo nhóm Ngoài ra để hoạt động ngoại khóa của HS có ý nghĩa và tăng sự hứng thú của HS hơn, chúng tôi có tổ chức một buổi để cho các nhóm HS báo cáo sản phẩm và kết hợp với hội vui vật lí [15]

Trang 25

1.1.5 Phương pháp hướng dẫn hoạt động ngoại khóa Vật lí

Phương pháp dạy học hoạt động ngoại khóa Vật lí thường có tính mềm dẻo, không cứng nhắc, phụ thuộc vào nội dung của hoạt động ngoại khóa và trình độ của

GV cũng như HS Tuy nhiên, để có tác dụng tích cực đối với hoạt động nhận thức của

HS thì phương pháp dạy học ngoại khóa chủ yếu cũng phải là phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề Các nội dung dạy học được đưa ra dưới dạng những nhiệm vụ nhận thức, những vấn đề và đặt cho HS vào tình huống phải vận dụng kiến thức và tư duy sáng tạo để giải quyết Việc GV lựa chọn kiểu định hướng cho HS tùy thuộc vào khả năng và mức độ giải quyết vấn đề đặt ra của HS Các kiểu định hướng hành động học của người dạy và đặc điểm của nó là:

- Định hướng tìm tòi: GV không chỉ ra một cách tường minh các kiến thức, cách thức hoạt động mà chỉ gợi ý để HS có thể tìm tòi, huy động hoặc xây dựng những kiến thức và cách thức hoạt động thích hợp để giải quyết nhiệm vụ mà họ đảm nhận Nghĩa là đòi hỏi HS tự xác định những hành động trong tình huống không phải

là đã quen thuộc với họ

- Định hướng tái tạo: Người dạy hướng cho HS vào việc huy động, áp dụng những kiến thức, cách thức hoạt động HS đã nắm được hoặc đã được người dạy chỉ ra một cách tường minh, để HS có thể thực hiện được nhiệm vụ mà họ đảm nhận

- Định hướng khái quát chương trình hóa: Phối hợp đặc điểm của cả hai kiểu định hướng trên, trong đó trước hết GV cũng gợi ý cho HS tự tìm tòi nhưng chú ý giúp cho HS ý thức được đường lối khái quát của việc tìm tòi, giải quyết vấn đề và sự định hướng được chương trình hóa theo các bước hợp lí; từ tổng quát, tổng thể đến toàn bộ, riêng biệt, từ tìm tòi đến tái tạo [15]

1.1.6 Quy trình tổ chức hoạt động ngoại khóa Vật lí

Hoạt động ngoại khóa có thể thực hiện theo những bước sau:

Bước 1: Lựa chọn chủ đề ngoại khóa

Căn cứ vào nội dung chương trình, mục tiêu dạy học và tình hình thực tế của dạy học nội khóa bộ môn, đặc điểm của HS và điều kiện của GV cũng như của nhà trường để lựa chọn chủ đề của hoạt động ngoại khóa Việc lựa chọn này cần phải rõ ràng để có tác dụng định hướng tâm lý và kích thích sự tích cực, sự sẵn sàng của HS ngay từ đầu

Trang 26

Bước 2: Lập kế hoạch ngoại khóa

Khi lập kế hoạch ngoại khóa, GV cần:

- Xác định mục tiêu của hoạt động ngoại khóa gồm các mục tiêu: Về tri thức,

về rèn luyện kỹ năng, phát triển tư duy, về tình cảm, thái độ

- Xác định nội dung ngoại khóa

- Xác định đối tượng tham gia

- Dự kiến hình thức tổ chức ngoại khóa

- Dự kiến phương pháp dạy học, đặc biệt là dự kiến những khó khăn sai lầm của HS và hướng dẫn của GV để giúp đỡ HS vượt qua những khó khăn và khắc phục các sai lầm đó

- Dự kiến thời gian thực hiện các giai đoạn của hoạt động ngoại khóa

- Dự kiến những công việc cần sự giúp đỡ của các lực lượng giáo dục khác

Bước 3: Tiến hành ngoại khóa theo kế hoạch

Khi tiến hành hoạt động ngoại khóa theo kế hoạch, GV lưu ý những nội dung sau:

- Theo dõi HS thực hiện các nhiệm vụ để kịp thời giúp đỡ, động viên, khuyến khích các em, đồng thời phát hiện những vấn đề nảy sinh ngoài dự kiến để điều chỉnh sao cho phù hợp với kế hoạch đã đặt ra

- Đối với hoạt động có quy mô lớn như các hoạt động toàn lớp, toàn khối, GV phải đóng vai trò là người tổ chức, điều khiển hướng dẫn hoạt động Đặc biệt GV phải là người

tổ chức để HS thảo luận, tranh luận rộng rãi những nội dung ngoại khóa

- Đối với các hoạt động có quy mô nhỏ như tổ, nhóm HS thì cần để cho HS hoàn toàn tự chủ cả về việc tổ chức và thực hiện các nhiệm vụ được giao GV chỉ giúp đỡ khi HS gặp khó khăn, vướng mắc và không thể tự giải quyết được

- Mỗi giai đoạn của hoạt động ngoại khóa cần thúc đẩy để HS cố gắng và quyết tâm thực hiện đúng kế hoạch về thời gian và nội dung công việc cần hoàn tất

Bước 4: Tổ chức cho HS báo cáo kết quả, tham gia hội vui, rút kinh nghiệm, khen thưởng

Việc đánh giá kết quả của quá trình hoạt động ngoại khoá không giống như trong nội khoá, mà phải đánh giá thông qua cả quá trình hoạt động GV đánh giá hiệu quả thông qua sự tích cực, sự hứng thú, sự sáng tạo của HS và cả những kết quả mà HS

Trang 27

đạt được trong quá trình hoạt động Trong đó sản phẩm của quá trình hoạt động là một căn cứ quan trọng để đánh giá Do vậy, cần tổ chức cho HS giới thiệu, báo cáo sản phẩm đã tạo ra được trong qua trình hoạt động ngoại khoá Mặt khác, việc làm này còn

có tác dụng trong việc khích lệ, động viên tinh thần tích cực học tập của HS về sau

Quy trình tổ chức hoạt động ngoại khoá như trên có thể đem lại hiệu quả cao nếu GV biết vận dụng tốt các điều kiện và tổ chức hợp lí các hoạt động của HS Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện thì GV cần phải căn cứ vào tình hình thực tế của nhà trường, HS và các yêu cầu giáo dục của bộ môn mà vận dụng quy trình trên một cách mềm dẻo sao cho quá trình hoạt động ngoại khoá đạt hiệu quả cao nhất [15], [19]

1.2 Thiết kế, chế tạo và sử dụng các dụng cụ TN đơn giản trong dạy học Vật lí ở trường phổ thông

1.2.1 Các đặc điểm cơ bản của dụng cụ TN đơn giản

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Hưng [21], các đặc điểm cơ bản của dụng cụ TN đơn giản cũng chính là những yêu cầu đòi hỏi việc thiết kế, chế tạo chúng, cụ thể là:

- Việc chế tạo dụng cụ TN đòi hỏi ít vật liệu, vật liệu đơn giản, rẻ tiền, dễ kiếm

kể cả đối với các TN định lượng

- Dụng cụ TN phải dễ làm bằng các công cụ thông dụng như kìm, búa, cưa, giũa, máy hàn thiếc…

- Dễ lắp ráp, tháo rời các bộ phận của dụng cụ TN Vì vậy, với cùng một dụng

cụ TN đơn giản, trong nhiều trường hợp, ta chỉ cần thay thế các chi tiết phụ trợ là có thể làm được các TN khác

- Dễ bảo quản, vận chuyển và an toàn trong quá trình chế tạo cũng như tiến hành TN

- Việc bố trí và tiến hành TN với những dụng cụ TN này cũng đơn giản không tốn nhiều thời gian

- Hiện tượng diễn ra trong TN phải rõ ràng, dễ quan sát

Trong quá trình dạy học Vật lí ở trường phổ thông, GV có thể cho HS tự thiết

kế, chế tạo những dụng cụ TN đơn giản trong khả năng của các em Từ đó, HS sẽ hiểu rõ hơn về bản chất của các quá trình Vật lí, giúp các em tin tưởng vào kiến thức mình đã học từ đó yêu thích, hứng thú hơn với bộ môn Vật lí [21]

Trang 28

1.2.2 Sự cần thiết của việc sử dụng các dụng cụ TN đơn giản trong dạy học Vật lí

ở trường phổ thông

- Theo tác giả Nguyễn Ngọc Hưng [21], việc giao cho HS nhiệm vụ thiết kế, chế tạo và sử dụng các dụng cụ TN đơn giản có tác dụng trên nhiều mặt, góp phần nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức, phát triển năng lực hoạt động trí tuệ, thực tiễn độc lập và sáng tạo của HS

- Do được tự tay chế tạo và sử dụng các dụng cụ TN để tiến hành các TN, giải thích hoặc tiên đoán các kết quả TN, đòi hỏi HS phải huy động các kiến thức Vật lí

đã học Vì vậy các em nắm kiến thức chính xác, sâu sắc và bền vững hơn Kiến thức không chỉ được củng cố mà còn được mở rộng, đào sâu và hệ thống hóa

- Mặc dù đã có các thiết bị TN chế tạo sẵn được cung cấp cho phòng TN nhà trường, nhưng các thiết bị này đôi khi lại có một số nhược điểm như: Sự hiện đại của

nó che lấp mất bản chất Vật lí của hiện tượng xảy ra hoặc với sự hiện đại của nó, HS chỉ cần thực hiện những thao tác rất đơn giản, không đòi hỏi kỹ năng thực nghiệm và

sự sáng tạo để cải tiến dụng cụ, hơn nữa các thiết bị được cung cấp sẵn trong phòng

TN thường rất xa lạ đối với cuộc sống trong khi dụng cụ TN đơn giản tự thiết kế và chế tạo lại khắc phục được những nhược điểm đó

- Lịch sử phát triển của Vật lí đã cho thấy: Những phát minh cơ bản thường gắn với các dụng cụ TN rất đơn giản Việc chế tạo các dụng cụ TN đơn giản sẽ bồi dưỡng cho HS các phương pháp nhận thức Vật lí, đặc biệt là phương pháp thực nghiệm

- Nhiệm vụ thiết kế, chế tạo các dụng cụ TN đơn giản và tiến hành các TN với chúng làm tăng hứng thú học tập, kích thích tính tích cực và sáng tạo của hoc sinh

1.2.3 Các khả năng sử dụng các dụng cụ TN đơn giản trong dạy học Vật lí ở phổ thông

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Hưng [21], các dụng cụ TN đơn giản có thể được sử dụng ở tất cả các của quá trình dạy học như: Đặt vấn đề (tạo tình huống

có vấn đề), hình thành kiến thức mới (kiểm tra các giả thuyết đã nêu ra), củng cố

và vận dụng các kiến thức đã học (trong đó có việc đề cập các ứng dụng kĩ thuật của kiến thức trong sản xuất và đời sống) và cũng có thể dùng để kiểm tra đánh giá kiến thức, kỹ năng của HS

Trang 29

- Các dụng cụ TN đơn giản được sử dụng trước hết cho TN của HS, tiến hành trên lớp hoặc ở nhà Chúng cũng có thể được GV sử dụng trong giờ học để tiến hành các TN biểu diễn

- Việc chế tạo và sử dụng các dụng cụ TN đơn giản để tiến hành các TN có thể giao cho từng HS hoặc các nhóm HS làm ở nhà hay trong giờ ngoại khóa, không những để củng cố các kiến thức đã học mà có khi còn cung cấp các số liệu thực nghiệm chuẩn bị cho nội dung kiến thức ở các bài học sau

- Cùng một mục đích về mặt nội dung kiến thức, GV có thể tiến hành TN trên lớp với dụng cụ TN có sẵn trong phòng TN, còn HS được giao nhiệm vụ tiến hành các TN này nhưng với các dụng cụ TN đơn giản do mình chế tạo

- GV cũng có thể làm TN trên lớp với dụng cụ TN đơn giản, yêu cầu HS về nhà chế tạo lại hoặc chế tạo dụng cụ TN theo phương án khác (nếu có)

- Với dụng cụ TN đơn giản do mình chế tạo, HS tiến hành lại TN mà GV đã biểu diễn trên lớp nhưng nghiên cứu sâu hơn các mối liên hệ giữa các đại lượng được

đề cập trong nội dung TN

1.3 Tính tích cực trong học tập

1.3.1 Khái niệm về tính tích cực của HS trong học tập

Tính tích cực học tập thực chất là tính tích cực nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí lực và có nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức Tích cực trong học tập có nghĩa là hoàn thành một cách có chủ động, tự giác có nghị lực, có hướng đích rõ rệt, có sáng kiến và đầy hào hứng, những hành động trí óc và chân tay nhằm nắm vững kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, vận dụng chúng vào học tập và thực tiễn Như vậy tích cực là một đức tính quý báu rất cần thiết cho mọi quá trình nhận thức, là nhân tố rất quan trọng tạo nên hiệu quả học tập [23]

1.3.2 Các biểu hiện của tính tích cực trong học tập

Tính tích cực học tập ở HS biểu hiện ở những dấu hiệu như:

- Biểu hiện bên ngoài, qua thái độ, hành vi và hứng thú:

+ HS chú ý lắng nghe, quan sát, theo dõi thầy cô giáo

+ HS khao khát tự nguyện tham gia vào các hoạt động học tập

+ HS tham gia trả lời các câu hỏi của GV, bổ sung các câu trả lời của bạn, phát

Trang 30

biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra, nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ

+ HS sẵn sàng, hồ hởi đón nhận các nhiệm vụ, tự giác thực hiện các nhiệm vụ,

cố gắng hoàn thành công việc bằng mọi cách, hoàn thành công việc sớm hơn kế hoạch, xin nhận thêm nhiệm vụ để thực hiện

+ HS thường xuyên tranh luận, trao đổi với bạn bè về các vấn đề học tập, không nản chí khi gặp khó khăn

- Biểu hiện bên trong: những biểu hiện này khó phát hiện hơn, như có tư duy chuyển biến, có những sáng tạo trong học tập hơn trước, tập trung chú ý vào vấn đề đang học

- Biểu hiện qua kết quả học tập: HS chủ động vận dụng linh hoạt những kiến thức, kỹ năng đã học để nhận thức vấn đề mới, kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản lòng trước những tình huống khó khăn và đạt kết quả học tập tốt hơn

Khi tiến hành thực nghiệm, chúng tôi dựa vào những biểu hiện trên để đánh tính tích cực của HS trong quá trình ngoại khóa

- Tích cực sáng tạo (thể hiện khi chủ thể tìm tòi kiến thức mới) HS nghĩ ra cách thiết kế, chế tạo dụng cụ TN và các phương án TN mới

GV khi thiết kế nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phải chú ý phát huy tính cả tích cực tìm tòi và sáng tạo của HS [23]

1.3.4 Những yếu tố thúc đẩy tính tích cực của HS trong học tập

Tính tích cực của HS không phải tự có được mà GV phải có những phương pháp và nội dung phù hợp với từng đối tượng HS Những yếu tố tác động thúc đẩy

Trang 31

tính tích cực của HS như:

- Sự gần gũi với thực tế: xây dựng tình huống có vấn đề, tạo mâu thuẫn nhận thức, tạo động cơ, hứng thú tìm cái mới để kích thích hứng thú và tính tích cực học tập của HS với những nội dung có tính thực tiễn gần gũi với cuộc sống hàng ngày của các em, gắn với thực tế hoặc những vấn đề có tính mới mẻ nhưng không quá xa lạ với các em

- Sự phù hợp với mức độ phát triển: Cần có sự lựa chọn kĩ các vấn đề vừa sức

và xác định mức độ và HS có thể tham gia trong việc giải quyết từng vấn đề cụ thể Cần tính đến sự khác biệt về trình độ phát triển của từng đối tượng HS Các yêu cầu đưa ra phải rõ ràng, tránh mơ hồ, đa nghĩa

- Không khí và các mối quan hệ trong nhóm: Kích thích hứng thú học tập cho các em bằng những phương pháp dạy học tích cực, tạo ra một môi trường học tập thoải mái, tạo điều kiện để các em phải làm việc, động viên và giúp đỡ lớp học sao cho các em HS mạnh dạn tham gia thảo luận, đưa HS vào thế học tập chủ động

- Mức độ và sự đa dạng của hoạt động: Kết hợp xen kẽ nhiều hình thức tổ chức dạy học như làm việc cá nhân, hoạt động nhóm, tập thể, lớp Đảm bảo hỗ trợ đúng mức (các HS trong nhóm hỗ trợ nhau và hỗ trợ từ phía GV)

- Phạm vi tự do sáng tạo: HS được lựa chọn hoạt động, đánh giá hoạt động, quyết định quá trình thực hiện GV động viên, khuyến khích các em tự mình giải quyết vấn đề

- Ngoài ra, việc sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại một cách phù hợp

và đánh giá, khen thưởng phù hợp cũng là động lực quan trọng tác động trực tiếp đến hoạt động tích cực của HS

Quy trình hoạt động ngoại khóa mà chúng tôi dự kiến xây dựng, từ việc lựa chọn nội dung, xây dựng các nhiệm vụ nhận thức (thiết kế, chế tạo một số dụng cụ thí nghiệm

đơn giản để đo một số đại lượng quang học) , lựa chọn phương pháp dạy học (phương

pháp nêu và giải quyết vấn đề, HS tự lực giải quyết các nhiệm vụ được giao) đến việc lựa chọn hình thức tổ chức đều căn cứ vào những yếu tố để thúc đẩy tính tích cực của

HS trong học tập đã nêu ở trên [33], [6], [23]

1.4 Năng lực sáng tạo trong học tập

1.4.1 Khái niệm năng lực sáng tạo trong học tập

Năng lực sáng tạo là khả năng tạo ra những giá trị mới về vật chất hoặc tinh

Trang 32

thần, tìm ra cái mới, giải pháp mới, công cụ mới, vận dụng thành công những hiểu biết đã có vào hoàn cảnh mới Sản phẩm của sự sáng tạo không thể suy ra từ cái đã

biết bằng cách suy luận logic hay bắt chước, làm theo [6]

1.4.2 Các biểu hiện của năng lực sáng tạo của HS trong học tập

Trong học tập, năng lực sáng tạo của HS được biểu hiện qua các hành động cụ thể sau:

- HS phát hiện được vấn đề mới trong những tình huống quen thuộc

- HS đề xuất được các giả thiết và vận dụng linh hoạt kiến thức vào thực tế để

dự đoán diễn biến hiện tượng Vật lí

- HS đề xuất nhiều cách khác nhau để giải quyết cùng một nhiệm vụ

- HS đưa ra được các phương án thiết kế, chế tạo dụng cụ TN

Có những sáng kiến trong bố trí TN, trong chế tạo dụng cụ TN để TN dễ quan sát, dễ thực hiện, chính xác và bền đẹp hơn

- HS đưa ra được dự đoán kết quả TN, so sánh được các phương án TN, giải thích được kết quả TN

Trong thực nghiệm sư phạm ngoại khóa về thiết kế, chế tạo một số dụng cụ thí nghiệm đơn giản để đo một số đại lượng quang học, chúng tôi sẽ dựa vào những biểu hiện trên để đánh giá sự sáng tạo của HS

1.4.3 Các biện pháp phát huy năng lực sáng tạo của HS trong hoạt động ngoại khóa

Năng lực sáng tạo được phát huy hiệu quả nhất chỉ khi chủ thể trực tiếp tham gia vào hoạt động sáng tạo Như vậy, dạy học sáng tạo là quá trình tổ chức cho HS tham gia vào hoạt động, đặc biệt là hoạt động tìm tòi, sáng tạo Và chỉ có qua hoạt động đó, năng lực sáng tạo của HS mới được phát triển Nó là kết quả lâu dài của hoạt động tìm tòi, sáng tạo Trong quá trình học tập môn vật lí, để phát triển năng lực sáng tạo cho HS, GV cần cho HS thực hiện những công việc sau: dự đoán được diễn biến của các quá trình vật lí trong các điều kiện đã cho, giải thích các hiện tượng vật lí dựa trên các định luật hoặc các qui tắc đã biết, giải các bài tập sáng tạo (là các bài tập thí nghiệm, các bài tập mô hình, các bài tập kĩ thuật ), có sáng kiến nhằm cải tiến, hoàn thiện các thiết bị kĩ thuật, tự lập kế hoạch thực hiện các bài thực hành, thảo luận các phương án giải quyết các nhiệm vụ do GV đặt ra có liên quan đến vật lí, thiết kế mô

Trang 33

hình các hiện tượng vật lí, so sánh các hiện tượng vật lí có bản chất khác nhau… Ngoài

ra trong quá trình dạy học, cần loại bỏ những chướng ngại, những vật cản làm ngăn trở hoạt động sáng tạo của HS (sự sợ hãi, sự lười biếng, tính ỳ tâm lí…)

Các mức độ rèn luyện năng lực sáng tạo của HS trong quá trình dạy học vật lí:

* Mức độ 1: vận dụng cái đã biết, đã làm vào các tình huống tương tự

* Mức độ 2: vận dụng cái đã biết vào tình huống có một số yếu tố mới

* Mức độ 3: đề xuất vấn đề khác hẳn với cái đã biết, đã làm

Ba mức độ trên có mức độ sáng tạo tăng dần Trong đó, mức độ 1 là mức độ

cơ bản, tối thiểu cần thiết phải rèn luyện để HS có thể hoạt động sáng tạo, phù hợp cho tất cả mọi đối tượng HS, đặc biệt là những HS yếu kém Mức độ 3 là mức độ cao nhất của việc rèn luyện năng lực sáng tạo dành cho đối tượng HS khá giỏi Tùy theo nội dung bài học, trình độ của HS, điều kiện cơ sở vật chất mà giáo viên rèn luyện năng lực sáng tạo cho HS ở các mức độ khác nhau

Như vậy, khi tham gia HĐNK vật lí, HS biết vận dụng các kiến thức đã học vào trong hoạt động thực tiễn, như giải thích được các hiện tượng trong cuộc sống Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện HĐNK, HS sẽ phải gặp nhiều tình huống

có vấn đề, những tình huống này sẽ giúp cho HS giải quyết vấn đề, vì thế HS phải

tư duy, lập luận, phân tích, tổng hợp, chọn lọc thông tin… đây là những kĩ năng rất cần thiết cho mỗi con người khi bước vào cuộc sống sau này Trong mỗi lần giải quyết, HS sẽ bật ra những ý tưởng mới sáng tạo hơn, cùng nhau làm việc để thiết kế ra mô hình, các thiết bị ứng dụng kĩ thuật vật lí - đây chính là sự sáng tạo của một tập thể

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Thông qua việc nghiên cứu cơ sở lí luận về tổ chức hoạt động ngoại khoá vật lí

ở trường THPT trên địa bàn Quảng Ninh chúng tôi nhận thấy được rõ hơn vai trò, tác dụng của hoạt động ngoại khoá trong việc phát huy tính tích cực và phát triển năng lực

Trang 34

sáng tạo của HS cũng như cách chọn nội dung, hình thức tổ chức và phương pháp dạy học ngoại khoá sao cho đạt hiệu quả tốt nhất Chúng tôi căn cứ vào những cơ sở lí luận đã nghiên cứu ở trên để tìm ra phương hướng thực trạng dạy học vật lí ở các trường phổ thông của nước ta hiện nay là phương pháp dạy học thực nghiệm và hình thức tổ chức hoạt động học tập theo nhóm còn yếu nên việc tổ chức hoạt động ngoại khoá vật lí sẽ làm cho quá trình dạy học thêm phong phú, sâu sắc hơn, toàn diện hơn

và khắc phục được nhiều điểm yếu của dạy học nội khoá Nếu tổ chức tốt hoạt động ngoại khoá về vật lí đặc biệt là hoạt động chế tạo dụng cụ TN kết hợp với báo cáo các sản phẩm mà HS đã chế tạo được và các trò chơi vật lí, sẽ bổ sung rất tốt cho dạy học nội khoá Hoạt động ngoại khoá sẽ bổ sung tốt cho dạy học nội khoá trong việc rèn luyện kĩ thuật tổng hợp, phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo thông qua quá trình thiết kế phương án TN, lựa chọn phương án TN, thiết kế, chế tạo dụng cụ

TN, sử dụng dụng cụ TN chế tạo được để tiến hành TN và giải thích kết quả TN thu được Đồng thời, nó cũng giúp cho HS mạnh dạn hơn, tự tin hơn, rèn luyện kĩ năng phát biểu trước đám đông đặc biệt nó giúp cho cá em làm quen với nghiên cứu khoa học, tạo ra một tiền đề tốt trong quá trình học tập, nghiên cứu sau này

Tuy nhiên chúng ta đã biết không có một phương pháp dạy học nào là vạn năng, tối ưu Để đạt được hiệu quả dạy học GV có thể sử dụng phối hợp nhiều hình thức, phương pháp khác nhau để phát huy tối đa hiệu quả của các phương tiện dạy học Tất

cả những lí luận trong chương 1 sẽ được tôi vận dụng một cách triệt để khi thiết kế tiến trình tổ chức dạy học ngoại khóa về thiết kế, chế tạo một số dụng cụ thí nghiệm đơn

giản để đo một số đại lượng quang học trong phần "Quang hình học" trong nội dung

kiến thức chương trình Vật lí 11 THPT

Trang 35

Chương 2

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA VỀ CHẾ TẠO

VÀ SỬ DỤNG MỘT SỐ THÍ NGHIỆM ĐƠN GIẢN CHƯƠNG

"QUANG HÌNH" VẬT LÝ 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH

2.1 Mục tiêu dạy học của phần Quang hình học lớp 11

2.1.1 Mục tiêu kiến thức

- Phát biểu được định luật khúc xạ ánh sáng và viết được hệ thức của định luật

- Trình bày được các khái niệm chiết suất tỉ đối và chiết suất tuyệt đối

- Phát biểu được nguyên lý về tính thuận nghịch trong sự truyền ánh sáng và chỉ ra sự thể hiện tính chất này ở định luật khúc xạ ánh sáng

- Mô tả được hiện tượng phản xạ toàn phần và nêu được các điều kiện để xảy

ra hiện tượng phản xạ toàn phần

- Trình bày được cấu tạo và nêu được các ứng dụng của sợi quang

- Nêu được tính chất của lăng kính làm lệch tia sáng truyền qua nó

- Nêu được tiêu điểm chính, tiêu điểm phụ, tiêu diện, tiêu cự của thấu kính

- Phát biểu được định nghĩa độ tụ của thấu kính và nêu được đơn vị đo độ tụ

- Viết được công thức thấu kính

- Nêu được số phóng đại của ảnh tạo bởi thấu kính là gì

- Nêu được sự điều tiết của mắt khi nhìn vật ở điểm cực cận và ở điểm cực viễn

- Nêu được góc trông và năng suất phân li là gì

- Trình bày các đặc điểm của mắt cận, mắt viễn, mắt lão về mặt quang học và nêu tác dụng của kính cần đeo để khắc phục các tật này

- Nêu được sự lưu ảnh trên màng lưới là gì và nêu được ví dụ thực tế ứng dụng hiện tượng này

- Nêu được nguyên tắc cấu tạo và công dụng của kính lúp, kính hiển vi và kính thiên văn

- Trình bày được số bội giác của ảnh tạo bởi kính lúp, kính hiển vi, kính thiên văn là gì

Trang 36

2.1.2 Mục tiêu kĩ năng

- Vận dụng các kiến thức về khúc xạ ánh sáng để giải thích các hiện tượng Vật

lí liên quan trong thực tế

- Vận dụng định luật khúc xạ ánh sáng để giải các bài tập đơn giản

- Vẽ được đường truyền của tia sáng qua lăng kính

- Vận dụng được công thức tính góc giới hạn phản xạ toàn phần để giải các bài tập đơn giản

- Vẽ được đường truyền của một tia sáng bất kì qua một thấu kính hội tụ, phân

kì và hệ hai thấu kính đồng trục

- Phân biệt được thấu kính hội tụ, thấu kính phân kì

- Dựng được ảnh của một vật thật tạo bởi thấu kính

- Vận dụng công thức thấu kính để giải bài tập đơn giản

- Vẽ được ảnh của một vật thật tạo bởi kính lúp, kính hiển vi, kính thiên văn và giải thích tác dụng góc trông ảnh của mỗi loại kính

- Xác định được tiêu cự của thấu kính hội tụ và thấu kính phân kì bằng thí nghiệm

- Phân tích, tư duy logic để đưa ra giả thuyết, dự đoán

- Thiết kế và sử dụng dụng cụ thí nghiệm

- Làm thí nghiệm định tính, định lượng, thu thập và xử lý số liệu, rút ra kết luận, đánh giá kết quả

- Vận dụng kiến thức vào giải quyết các vấn đề thực tiễn

2.1.3 Mục tiêu phát triển tư duy và năng lực sáng tạo

- Học sinh nêu ra được các vấn đề dưới dạng câu hỏi, đưa ra được các dự đoán,

đề xuất được các giả thuyết

- Biết xây dựng phương án thí nghiệm và chế tạo dụng cụ, thiết kế phương án

và tiến hành thí nghiệm với các phương án đã đề xuất

- Biết quan sát hiện tượng và vận dụng kiến thức để giải thích hiện tượng trong các thí nghiệm và trong cuộc sống

- Biết thu thập, xử lý số liệu và rút ra các kết luận cần thiết trong các thí nghiệm định lượng về khúc xạ ánh sáng

- Biết chế tạo, tiến hành TN về thấu kính để khảo sát tính chất ảnh của một vật thật qua thấu kính, xác định tiêu cự thấu kính về mặt định lượng

Trang 37

- Biết xử lí một vấn đề trong các tình huống khác nhau

2.1.4 Mục tiêu về tình cảm, thái độ

- Học sinh có hứng thú, say mê trong học tập và yêu thích bộ môn Vật lí nói chung, các kiến thức về quang hình học nói riêng

- Có thái độ làm việc khách quan, trung thực, tỉ mỉ, cẩn thận, chính xác

- Tích cực liên hệ, vận dụng những kiến thức đã học với thực tiễn cuộc sống

- Học sinh nhiệt tình, trách nhiệm trong công việc được giao và có tinh thần cố gắng, hợp tác khi làm việc nhóm, làm việc tập thể

- Tăng cường sự đoàn kết, giúp đỡ nhau trong tập thể lớp, nâng cao phong trào học tập của học sinh

2.2 Điều tra tình hình dạy học các kiến thức về phần “Quang hình học” lớp 11 ở một số trường THPT thuộc tỉnh Quảng Ninh

2.2.1 Mục đích điều tra

Tìm hiểu thực tế dạy học về kiến thức về phần “Quang hình học” lớp 11 ở một

số trường THPT, tỉnh Quảng Ninh để thu được các thông tin về:

- Phương pháp dạy học mà GV đã sử dụng và những thuận lợi, khó khăn mà

GV gặp trong quá trình dạy học các kiến thức phần “Quang hình học” lớp 11 THPT

- Mức độ kiến thức và kỹ năng mà HS nắm được khi học một số kiến thức phần “Quang hình học” Những sai lầm về kiến thức thường gặp ở HS và những kỹ năng HS còn yếu

- Tính tích cực và năng lực sáng tạo của HS trong quá trình học phần

“Quang hình học”

- Vấn đề sử dụng thiết bị TN trong phần “Quang hình học”

- Tình hình tổ chức hoạt động ngoại khóa Vật lí trong nhà trường phổ thông

Từ những kết quả tìm hiểu, chúng tôi lấy làm một trong những cơ sở khi xây dựng nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa theo hướng phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của HS

2.2.2 Phương pháp điều tra

Chúng tôi đã sử dụng những phương pháp sau:

Trang 38

- Dùng phiếu trao đổi trực tiếp với GV và HS

- Sử dụng bài kiểm tra một số kiến thức phần “Quang hình học”

- Tham gia dự giờ, đặc biệt dự một số buổi TN hoạt động ngoại khóa, hội vui vật lí của lớp 11

- Tham qua phòng học bộ môn, phòng TN Vật lí để tìm hiểu về điều kiện cơ

sở vật chất và tình hình sử dụng các trang thiết bị TN

2.2.3 Đối tượng điều tra

- Các GV Vật lí và HS tại trường THPT Lương Thế Vinh, trường THPT Cẩm Phả, thành phố Cẩm Phả, Tỉnh Quảng Ninh

- Phòng TN Vật lí ở trường THPT Lương Thế Vinh, trường THPT Cẩm Phả, thành phố Cẩm Phả, Tỉnh Quảng Ninh

2.2.4 Kết quả điều tra

a Tình hình GV và phương pháp dạy

- Tình hình GV

Các GV vật lí của trường đều được đào tạo chính quy, giảng dạy đúng chuyên môn, có kinh nghiệm giảng dạy, trình độ chuyên môn vững vàng, giảng dạy nhiệt tình, tâm huyết

- Về phương pháp dạy học

Qua việc tổng hợp kết quả ở 15 phiếu tham khảo ý kiến GV, hỏi ý kiến trực tiếp, tham khảo giáo án của các GV vật lí của các trường THPT nói trên về tình hình dạy kiến thức phần “Quang hình học” lớp 11 (có mẫu ở phần phụ lục), chúng tôi nhận thấy:

+ Hầu hết các GV vẫn mang nặng phương pháp truyền thụ, thuyết trình, thông báo Các giáo án của GV chủ yếu là tóm tắt lại kiến thức sách giáo khoa, không hoạch định hoặc hoạch định không rõ ràng các hoạt động của GV và HS trong mỗi giờ học Vai trò tổ chức, định hướng của GV chưa được thể hiện rõ Quá trình thực hiện bài dạy, nhiều khi GV vẫn chủ yếu diễn đạt bằng lời: Mô tả, giải thích hiện tượng, giảng giải, nhấn mạnh cho HS những kiến thức cơ bản hay nội dung quan trọng Điều này sẽ khiến cho HS không hứng thú, không phát triển năng lực sáng tạo của mình

+ Trong quá trình giảng dạy, các GV cũng có đưa ra các câu hỏi hoặc các tình

Trang 39

huống có vấn đề cho HS, nhưng chúng tôi thấy các câu hỏi đó vẫn mang tính chất rời rạc, các tình huống không cụ thể, không khiến cho HS có được cái nhìn tổng quát về vấn

đề hay cách giải quyết toàn diện vấn đề, không có tác dụng phát triển tư duy cho HS

+ Phương pháp dạy học chưa phát huy được tính tích cực và chưa phát triển được tính sáng tạo của HS Trong các giờ học, có những hoạt động mà HS có thể thực hiện được, có thể giúp phát huy tính tích cực hoặc phát triển năng lực sáng tạo HS nhưng các GV vì nhiều lí do đã làm hộ HS

+ Nếu GV yêu cầu HS thiết kế, chế tạo dụng cụ TN và tiến hành thì có tác dụng rất lớn trong việc phát huy tính tích cực, tăng sự hứng thú trong học tập, giúp các em hiểu bài kĩ hơn, đặc biệt còn có tác dụng trong việc phát triển năng lực sáng tạo và khả năng tư duy của HS Tuy nhiên, rất ít GV thực hiện điều này vì lo thiếu thời gian trên lớp

và thời gian luyện tập để thi của HS

Hầu hết các GV được hỏi đều cho rằng:

+ Phần nội dung phần kiến thức này khá đa dạng, có nhiều ứng dụng trong thực tế và kĩ thuật nhưng số giờ dành cho học chính khóa lại rất hạn chế Điều này khiến cho HS rất khó khăn trong việc chiếm lĩnh kiến thức

+ Việc chuẩn bị thí nghiệm cho một tiết dạy rất khó khăn và mất nhiều thời gian nên

ít khi GV sử dụng TN trong khi nghiên cứu bài mới vì không đủ thời gian GV chỉ thực hiện các thí nghiệm theo yêu cầu của chương trình SGK với những thiết bị thí nghiệm được cung cấp, không sử dụng thêm thí nghiệm nào với dụng cụ do mình tự tìm kiếm, chế tạo và cũng không yêu cầu HS tìm kiếm, thiết kế, chế tạo dụng cụ và sử dụng chúng để thực hiện những thí nghiệm đơn giản

+ Hầu hết các GV không tổ chức hoạt động ngoại khóa về vật lí cho HS, do không biết tổ chức thế nào cho hiệu quả

+ Để dạy học phần kiến thức này có hiệu quả hơn thì ngoài việc sử dụng tốt

TN và các phương pháp dạy học tích cực khác trong dạy học nội khóa thì cần phải

tổ chức thêm các hoạt động ngoại khóa

b Tình hình HS và phương pháp học

* Đối tượng HS ở các trường THPT mà chúng tôi tiến hành điều tra đều có đặc

Trang 40

điểm riêng:

- Trường THPT Cẩm Phả thuộc trung tâm của thành phố Hầu hết HS ở trường này ngoan, có tính tự lực và tinh thần hiếu học cao, có điều kiện học tập cũng như đi lại khá thuận tiện

- Trường THPT Lương Thế Vinh: HS chủ yếu xuất thân từ gia đình công nhân lao động, có điều kiện học tập và đi lại khó khăn Hầu hết gia đình các em khó khăn

về kinh tế, gia đình chưa quan tâm tốt tới việc học của các em Nói chung, các em ngoan, chăm học và có ý chí phấn đấu học tập tốt nhưng so với HS ở trường trung tâm thành phố thì khả năng nhận thức và tính tự lực kém hơn nhiều

+ Kĩ năng vận dụng kiến thức vật lí đã học vào giải thích các hiện tượng vật lí trong đời sống và ứng dụng kĩ thuật còn kém

+ Hoạt động chủ yếu của HS là học thuộc lí thuyết và luyện giải bài tập HS chỉ được quan sát GV biểu diễn TN mà không được trực tiếp tiến hành các TN khi xây dựng bài mới

+ Chỉ một số ít HS được tham gia chế tạo thiết bị thí nghiệm (tập trung vào các

HS giỏi trong các dịp tổ chức sáng tạo khoa học) Hầu hết HS chưa từng được giao nhiệm vụ làm dụng cụ TN vật lí cũng như chưa bao giờ được tham gia các hoạt động mang tính chất vừa học vừa chơi về vật lí nên nhiều em thấy sợ học môn này, kiến thức

mà các em đạt được còn hời hợt, không chắc chắn và còn lúng túng, dập khuôn khi áp dụng kiến thức

+ HS ít có khả năng vận dụng kiến thức một cách sáng tạo vào thực tiễn mà chủ yếu chỉ vận dụng được vào những tình huống quen thuộc

+ Khả năng diễn đạt của HS về một vấn đề còn rất kém, thường lúng túng khi

Ngày đăng: 09/07/2021, 10:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dương Quốc Anh (1999), Bộ sách 10 vạn câu hỏi vì sao - Vật lí học, NXB Khoa học và kĩ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ sách 10 vạn câu hỏi vì sao - Vật lí học
Tác giả: Dương Quốc Anh
Nhà XB: NXB Khoa học và kĩ thuật
Năm: 1999
2. Nguyễn Ngoạc Bảo, Hà thị Đức (2001), Hoạt động dạy học ở trườngTHCS, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Ngoạc Bảo, Hà thị Đức (2001), "Hoạt động dạy học ở trườngTHCS
Tác giả: Nguyễn Ngoạc Bảo, Hà thị Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
4. Dương Thị Thanh Bình (2010), Nghiên cứu tổ chức hoạt động ngoại khóa về cách xác định tiêu cự của thấu kính ở lớp 11 THPT theo hướng phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của HS, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tổ chức hoạt động ngoại khóa về cách xác định tiêu cự của thấu kính ở lớp 11 THPT theo hướng phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của HS
Tác giả: Dương Thị Thanh Bình
Năm: 2010
5. Lương Duyên Bình, Nguyễn Xuân Chi, Bùi Quang Hân, Đoàn Duy Hinh, Vũ Quang (2007), Bài tập vật lí 11 cơ bản, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập vật lí 11 cơ bản
Tác giả: Lương Duyên Bình, Nguyễn Xuân Chi, Bùi Quang Hân, Đoàn Duy Hinh, Vũ Quang
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
6. Ngô Thị Bình (2009), Nghiên cứu việc tổ chức hoạt động ngoại khoá về Tĩnh học vật rắn ở lớp 10 THPT nhằm phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của HS, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngô Thị Bình (2009), "Nghiên cứu việc tổ chức hoạt động ngoại khoá về Tĩnh học vật rắn ở lớp 10 THPT nhằm phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của HS
Tác giả: Ngô Thị Bình
Năm: 2009
7. Bộ chính trị (1996), Tài liệu nghiên cứu văn kiện Đại hội VIII. Đảng cộng sản Việt Nam, NXB Xuân Hoà Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ chính trị (1996), "Tài liệu nghiên cứu văn kiện Đại hội VIII. Đảng cộng sản Việt Nam
Tác giả: Bộ chính trị
Nhà XB: NXB Xuân Hoà
Năm: 1996
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Tài liệu bồi dưỡng GV thực hiện chương trình, SGK lớp 11 THPT môn Vật lí, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng GV thực hiện chương trình, SGK lớp 11 THPT môn Vật lí
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
9. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THPT môn Vật lí, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THPT môn Vật lí
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
10. Phạm Đình Cương (2005), TN vật lí ở trường THPT, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: TN vật lí ở trường THPT
Tác giả: Phạm Đình Cương
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
11. Trương Đức Cường (2007), Nghiên cứu xây dựng và tổ chức một số chủ đề ngoại khóa phần điện học lớp 12 (THPT) nhằm góp phần giáo dục KTTH cho HS, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng và tổ chức một số chủ đề ngoại khóa phần điện học lớp 12 (THPT) nhằm góp phần giáo dục KTTH cho HS
Tác giả: Trương Đức Cường
Năm: 2007
12. Vũ Viết Cường (2011), Tổ chức dạy học theo trạm một số nội dung kiến thức chương "Cơ học chất lưu" Sách giáo khoa Vật lí 10 nâng cao nhằm phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của HS, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ học chất lưu
Tác giả: Vũ Viết Cường
Năm: 2011
13. Đảng cộng sản Việt Nam (1997), Nghị Quyết hội nghị lần 2 BCH trung ương Đảng khóa VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị Quyết hội nghị lần 2 BCH trung ương Đảng khóa VIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1997
14. Đảng cộng sản Việt Nam (2007), Nghị Quyết hội nghị lần 5 BCH trung ương Đảng khóa VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị Quyết hội nghị lần 5 BCH trung ương Đảng khóa VIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2007
15. Nguyễn Quang Đông (2006), Phương pháp tổ chức hoạt động ngoại khoá vật lí, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp tổ chức hoạt động ngoại khoá vật lí
Tác giả: Nguyễn Quang Đông
Năm: 2006
16. Nguyễn Văn Đồng (Chủ biên), An Văn Chiêu, Nguyễn Trọng Di, Lưu Văn Tạo (1980), Phương pháp dạy học vật lí ở trường THPT, tập I, II, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học vật lí ở trường THPT, tập I, II
Tác giả: Nguyễn Văn Đồng (Chủ biên), An Văn Chiêu, Nguyễn Trọng Di, Lưu Văn Tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1980
17. Nguyễn Sĩ Đức - Nguyễn Ngọc Hưng - Đặng Thị Oanh - Dương Tiến Sĩ (2009), Lắp đặt, sử dụng, bảo quản, bảo dưỡng các thiết bị dạy học ở trường THPT, quyển 4, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lắp đặt, sử dụng, bảo quản, bảo dưỡng các thiết bị dạy học ở trường THPT
Tác giả: Nguyễn Sĩ Đức - Nguyễn Ngọc Hưng - Đặng Thị Oanh - Dương Tiến Sĩ
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
18. Phùng thị Hằng (2007), Đề cương bài giảng tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm, ĐHSP Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phùng thị Hằng (2007), "Đề cương bài giảng tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm
Tác giả: Phùng thị Hằng
Năm: 2007
19. Đặng Vũ Hoạt (1997), Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở THCS, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở THCS
Tác giả: Đặng Vũ Hoạt
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
20. Nguyễn Ngọc Hưng (2011), "Một số hướng đổi mới phương pháp dạy học Vật lí ở trường phổ thông", Tạp chí giáo dục số đặc biệt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số hướng đổi mới phương pháp dạy học Vật lí ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hưng
Năm: 2011
21. Nguyễn Ngọc Hưng, Thiết kế chế tạo và sử dụng dụng cụ TN đơn giản trong dạy học Vật lí ở trường phổ thông, Đại học Sư phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế chế tạo và sử dụng dụng cụ TN đơn giản trong dạy học Vật lí ở trường phổ thông

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w