Quản lý vốn đầu tư xây dựng công trình thuỷ lợi từ nguồn trái phiếu chính phủ là quá trình các cơ quan quản lý của Nhà nước sử dụng các công cụ quản lý và phương pháp quản lý thích hợp đ
Cơ sở lý luận về quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ trái phiếu chính phủ
Những vấn đề lý luận chung về quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ trái phiếu chính phủ
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản
2.1.1.1 Khái niệm đầu tư xây dựng công trình thủy lợi
Thủy lợi là một thuật ngữ, tên gọi truyền thống của việc nghiên cứu khoa học công nghệ, đánh giá, khai thác sử dụng, bảo vệ nguồn tài nguyên nước và môi trường, phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai Thủy lợi được hiểu là những hoạt động liên quan đến ý thức con người trong quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên nước để phục vụ lợi ích của mình Những biện pháp khai thác nước bao gồm khai thác nước mặt và nước ngầm thông qua hệ thống bơm hoặc cung cấp nước tự chảy (Văn Chiến, 2016)
Như vậy, thủy lợi có thể hiều là một trong những công tác quan trọng phục vụ cho việc tưới tiêu trong nông nghiệp, ứng phó với biến đổi khí hậu Thủy lợi là một trong những cơ sở hạ tầng thiết yếu để ổn định và từng bước nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân Thiết lập những tiền đề cơ bản và tạo ra môi trường thuận lợi, thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước
* Khái niệm công trình thủy lợi
Công trình thủy lợi là công trình thuộc kết cấu hạ tầng nhằm khai thác mặt lợi của nước; phòng, chống tác hại do nước gây ra, bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái, bao gồm: hồ chứa nước, đập, cống, trạm bơm, giếng, đường ống dẫn nước, kênh, công trình trên kênh và bờ bao các loại
Hệ thống công trình thủy lợi bao gồm các công trình thủy lợi có liên quan trực tiếp với nhau về mặt khai thác và bảo vệ trong một khu vực nhất định (Ủy bản thường vụ Quốc hội, 2001) Đầu tư cho thủy lợi vừa để kích cầu vừa để phát triển kinh tế, kinh nghiệm cho thấy ở đâu có thủy lợi thì ở đó có sản xuất phát triển và đời sống nhân dân ổn định Thủy lợi thực hiện tổng hợp các biện pháp sử dụng các nguồn lực của nước trên mặt đất dưới mặt đất để phục vụ sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt nông thôn, đồng thời hạn chế tác hại của nước gây ra cho sản xuất và sinh hoạt của nông dân Như vậy, thủy lợi hóa là một quá trình lâu dài nhưng có ý nghĩa to lớn đối với việc phát triển nền nông nghiệp nước ta (Lê Mạnh Hùng, 2010)
Cho đến nay, Việt Nam cơ bản vẫn là một nước nông nghiệp Nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm trồng trọt, chăn nuôi, chế biến, lâm nghiệp, ngư nghiệp… tất cả các hoạt động này đều rất cần có nước Vì vậy nền kinh tế nước ta phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên, nếu như thời tiết khí hậu thuận lợi thì đó là môi trường thuận lợi để nông nghiệp phát triển nhưng khi gặp những thời kỳ mà thiên tai khắc nghiệt như hạn hán, bão lụt thì sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đối với đời sống của nhân dân đặc biệt đối với sự phát triển của ngành nông nghiệp nói chung và cây lúa nói riêng, bởi vì lúa là một trong những mặt hàng xuất khẩu quan trọng của nước ta Vì vậy mà hệ thống thuỷ lợi có vai trò tác động rất lớn đối với nền kinh tế của Việt Nam
* Đầu tư xây dựng công trình thủy lợi
Cho đến nay, có nhiều cách hiểu và định nghĩa về đầu tư trên các góc độ khác nhau Theo luật Đầu tư năm 2005 thì đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan (Quốc hội, 2005) Đầu tư nói chung là việc hi sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra nhằm đạt được kết quả đó Nguồn lực phải si sinh có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ (Nguyễn Bạch Nguyện,
Từ Quang Phương, 2007) Đầu tư phát triển là hình thức đầu tư có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tăng tiềm lực của nền kinh tế nói chung, tiềm lực sản xuất kinh doanh của từng cơ sở sản xuất kinh doanh nói riêng, là điều kiện chủ yếu để tạo công ăn việc làm và nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội Đầu tư XDCB là hoạt động đầu tư nhằm tạo ra các công trình xây dựng theo mục đích của người đầu tư, là lĩnh vực sản xuất vật chất tạo ra các tài sản cố định và tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội Đầu tư XDCB là một hoạt động kinh tế (Bùi Mạnh Cường, 2012) Đầu tư XDCB trong nền kinh tế quốc dân là một bộ phận của đầu tư phát triển Đây chính là quá trình bỏ vốn để tiến hành các hoạt động XDCB nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng ra các tài sản cố định trong nền kinh tế
Do vậy đầu tư XDCB là tiền đề quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nền kinh tế nói chung và của các cơ sở sản xuất kinh doanh nói riêng Đầu tư XDCB là hoạt động chủ yếu tạo ra tài sản cố định đưa vào hoạt động trong lĩnh vực kinh tế - xã hội , nhằm thu được lợi ích với nhiều hình thức khác nhau Đầu tư XDCB trong nền kinh tế quốc dân được thông qua nhiều hình thức xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, hiện đại hoá hay khôi phục tài sản cố định cho nền kinh tế Đầu tư xây dựng công trình thủy lợi là một trong các hoạt động của đầu tư XDCB Do đó ta đi đến khái niệm đầu tư xây dựng công trình thủy lợi là hoạt động đầu tư tạo ra các công trình thủy lợi nhằm khai thác mặt lợi của nước, phòng, chống tác hại do nước gây ra, bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái
Hoạt động đầu tư xây dựng công trình thủy lợi mang đầy đủ các đặc điểm của hoạt động đầu tư XDCB như:
- Đòi hỏi số lượng vốn lớn, ứ đọng trong thời gian dài Không giống như đầu tư vào tài sản lưu động, đầu tư XDCB là hoạt động đầu tư vào TSCĐ mang tính tích lũy, thường có quy mô lớn, thời gian thu hồi vốn lâu dài Vì vậy trong quá trình đầu tư chúng ta phải có kế hoạch huy động và sử dụng nguồn vốn một cách hợp lý đồng thời có kế hoạch phân bổ nguồn lao động, vật tư thiết bị phù hợp đảm bảo cho công trình hoàn thành trong thời gian ngắn chống lãng phí nguồn lực
- Thời gian dài, với nhiều biến động: Thời gian tiến hành một công cuộc đầu tư cho đến khi thành quả của nó phát huy tác dụng thường đòi hỏi nhiều năm tháng với nhiều biến động xảy ra
- Có giá trị sử dụng lâu dài: Các thành quả của thành quả đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi có giá trị sử dụng lâu dài do đặc điểm và yêu cầu trong sử dụng đối với các công trình thủy lợi
- Cố định: Các thành quả của hoạt động đầu tư xây dựng công trình thủy lợi là các công trình xây dựng sẽ hoạt động ở ngay nơi mà nó được tạo dựng cho nên các điều kiện về địa lý, địa hình có ảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiện đầu tư, cũng như việc phát huy kết quả đầu tư
- Liên quan đến nhiều ngành: Hoạt động đầu tư XDCB nói chung và đầu tư xây dựng công trình thủy lợi nói riêng rất phức tạp liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực Mức độ tác động của các công trình xây dựng không những ở phạm vi một địa phương mà còn nhiều địa phương với nhau Vì vậy khi tiến hành hoạt động này, cần phải có sự liên kết chặt chẽ giữa các ngành, các cấp trong quản lý quá trình đầu tư, bên cạnh đó phải qui định rõ phạm vi trách nhiệm của các chủ thể tham gia đầu tư, tuy nhiên vẫn phải đảm bảo được tính tập trung dân chủ trong quá trình thực hiện đầu tư (Đỗ Việt Hùng, 2012)
2.1.1.2 Ngồn vốn đâu tư xây dựng công trình thủy lợi Đầu tư xây dựng công trình thủy lợi là một hoạt động của đầu tư XDCB, do đó nguồn vốn đầu tư xây dựng công trình thủy lợi cũng thuộc các nguồn vốn đầu tư XDCB, bao gồm:
Thứ nhất là nguồn vốn của nhà nước Nguồn vốn này bao gồm:
+ Ngân sách nhà nước cấp phát
+ Vốn của các doanh nghiệp nhà nước có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, bao gồm vốn từ khấu hao cơ bản để lại, từ lợi nhuận sau thuế, từ đất đai, nhà xưởng còn chưa sử dụng đến, được huy động đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh; vốn góp của nhà nước trong liên doanh, liên kết với các thành phần kinh tế trong nước và nước ngoài
Cơ sở thực tiễn về quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ trái phiếu chính phủ
2.2.1 Thực trạng quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ Trái phiếu Chính phủ ở Việt Nam
Việc huy động và sử dụng vốn ngân sách Nhà nước, vốn TPCP đã có đóng góp quan trọng vào việc đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, tạo môi trường thuận lợi, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân Tuy nhiên, do phân cấp quá rộng lại thiếu các biện pháp quản lý đồng bộ dẫn tới tình trạng phê duyệt quá nhiều dự án vượt khả năng cân đối vốn ngân sách Nhà nước và vốn TPCP, thời gian thi công kéo dài, kế hoạch đầu tư bị cắt khúc ra từng năm, hiệu quả đầu tư kém, gây phân tán, lãng phí nguồn lực của Nhà nước, phát sinh nợ đọng XDCB, trong khi, vốn ngân sách Nhà nước hiện nay và trong thời gian tới rất hạn hẹp do dự báo tình hình thu ngân sách tiếp tục khó khăn; vốn TPCP không thể phát hành tăng thêm nhiều để thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, giảm dần bội chi ngân sách Nhà nước, bảo đảm an ninh tài chính quốc gia, dư nợ công ở mức cho phép… thực trạng này đã và đang ảnh hưởng xấu đến an toàn nợ công và tăng trưởng kinh tế bền vững (Thanh tra Chính phủ, 2015)
Giai đoạn 2006-2012 trong lĩnh vực giao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục, ký túc xá sinh viên, di dân tái định cư đã bố trí vốn TPCP thực hiện 2.682 dự án, với tổng mức đầu tư ban đầu trên 409.400 tỷ đồng Tính đến thời điểm giao kế hoạch năm 2012, các dự án trên đã điều chỉnh tổng mức đầu tư lên gần 684.800 tỷ đồng Đến hết năm 2012 đã hoàn thành được 2.029 dự án Các dự án, công trình hoàn thành đưa vào khai thác, sử dụng là những công trình quan trọng, góp phần hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội thiết yếu của quốc gia, đẩy mạnh xóa đói, giảm nghèo ở các tỉnh khó khăn (Thanh Hòa và Phúc Hằng, 2013)
Giai đoạn 2014-2016, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 65/2013/QH13 ngày 28 tháng 11 năm 2013 cho phép phát hành bổ sung giai đoạn 2014-2016 là 170.000 tỷ đồng (gồm cả 85,094 tỷ đồng Ủy ban thường vụ Quốc hội cho phép chuyển vào phần dự phòng TPCP giai đoạn 2012-2015 nêu trên) Thủ tướng Chính phủ đã báo cáo Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội phân bổ cho các ngành, lĩnh vực trong đó đối với đầu tư xây dựng công trình thủy lợi là 17.386,363 tỷ đồng (Chính phủ, 2015)
Việc điều chỉnh tăng tổng mức đầu tư quá lớn ở hầu hết các dự án dẫn đến mất cân đối về nguồn vốn Đặc biệt việc phân bổ vốn TPCP trong giai đoạn 2006-2012 còn dàn trải; nhiều dự án đang triển khai phải cắt, giảm, giãn, hoãn tiến độ, chuyển đổi hình thức đầu tư, gây lãng phí nguồn lực Cơ chế phân bổ vốn TPCP chưa hợp lý, không có tiêu chí phân bổ cụ thể dẫn tới chưa thực sự công bằng, dễ tạo ra cơ chế “xin-cho”… Việc thực hiện các biện pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong quản lý, sử dụng vốn TPCP được triển khai khá đồng bộ Trong đó, các cấp, các ngành, địa phương đã tập trung vào các biện pháp tiết kiệm trong khâu thẩm định dự toán, tổ chức đấu thầu, quyết toán công trình; không chỉ đem lại kết quả về hành tiết kiệm, chống lãng phí trong đầu tư xây dựng mà còn góp phần nâng cao kỷ luật tài chính trong quản lý, sử dụng vốn đầu tư của Nhà nước Một số địa phương đã chú trọng công tác giải phóng mặt bằng, tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ thi công nhiều dự án, góp phần tiết kiệm thời gian, sớm đưa công trình vào sử dụng đem lại hiệu quả cao Công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán được triển khai khá tích cực đã góp phần chống lãng phí…
Một số dự án đầu tư xây dựng công trình thủy lợi trước khi quyết định đầu tư chưa đảm bảo thực hiện đúng quy định phải xác định rõ nguồn vốn đầu tư, bảo đảm cân đối đủ nguồn vốn dẫn tới thiếu vốn nghiêm trọng, nợ đọng, dở dang, lãng phí Một số địa phương, bộ, ngành cho phép đầu tư điều chỉnh, bổ sung quy mô dự án hoặc phê duyệt lại quy mô dự án quá mức, làm tăng tổng mức đầu tư, tăng mức bố trí vốn Tình trạng các dự án dở dang, kéo dài, không bảo đảm tiến độ trong thực hiện, thi công, chậm đưa vào sử dụng Công tác quản lý, phân bổ, cấp phát, thanh toán và quyết toán vốn có lúc, có nơi còn buông lỏng, chưa tuân thủ quy định
2.2.2 Kinh nghiệm quản lý vốn trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ Trái phiếu Chính phủ ở một số địa phương trong nước
2.2.2.1 Kinh nghiệm tỉnh Hưng Yên
Kế hoạch vốn đầu tư phát triển năm 2016, tỉnh Hưng Yên được giao trên 1.680 tỷ đồng, vốn ngoài nước (ODA) trên 227 tỷ đồng Cho đến nay, Hưng Yên được đánh giá giải ngân với tỷ lệ khá cao so với mặt bằng chung của cả nước Đặc biệt trong công tác quyết toán vốn đầu tư, tỉnh Hưng Yên đã có các giải pháp rất sát sao, kiên quyết Do vậy, việc quản lý dự án đầu tư từ khâu giao kế hoạch, thực hiện kế hoạch, thanh toán và quyết toán đã dần đi vào nề nếp Đến hết tháng 5/2016, kế hoạch vốn đầu tư phát triển của tỉnh giải ngân được trên 573 tỷ đồng (không bao gồm nguồn vốn khác), đạt 34,12% kế hoạch, cao hơn tỷ lệ chung của cả nước là 21,85% Riêng về nguồn vốn TPCP, Hưng Yên có tỷ lệ giải ngân thấp hơn so với cả nước, khi kế hoạch được giao trên 612 tỷ đồng, nhưng đến hết tháng 5 mới giải ngân được trên 16 tỷ đồng, đạt 2,7% kế hoạch (tỷ lệ của cả nước là 14,1%)
Việc quản lý vốn NSNN trong đó có vốn TPCP đã được UBND tỉnh Hưng Yên thực hiện nghiêm túc theo đúng quy định Trên cơ sở chế độ quy định hiện hành của Nhà nước, UBND tỉnh Hưng Yên đã ban hành nhiều văn bản đôn đốc, chấn chỉnh và hướng dẫn việc quản lý nguồn vốn này Đồng thời, theo chức năng được giao, Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hưng Yên cũng đã tham mưu cho UBND ra nhiều văn bản đôn đốc, hướng dẫn công tác quyết toán vốn đầu tư Do vậy, việc quản lý dự án đầu tư từ khâu giao kế hoạch, thực hiện kế hoạch, thanh toán và quyết toán đã dần đi vào nề nếp Bên cạnh đó, trong quá trình điều hành, ngoài nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách trung ương, tỉnh Hưng Yên đã chủ động bố trí thêm các nguồn vốn khác của địa phương để đầu tư cho các dự án, đảm bảo tiến độ theo dự kiến
Tuy nhiên, trước thực trạng nguồn vốn đầu tư có tỷ lệ giải ngân thấp trong cả nước, UBND tỉnh Hưng Yên đã chỉ đạo các chủ đầu tư tập trung đẩy nhanh tiến độ thi công, khẩn trương nghiệm thu và hoàn thiện các thủ tục thanh toán, tránh dồn nhiều vào những tháng cuối năm Đồng thời, tỉnh cần tăng cường kiểm tra tình hình thực hiện, để tìm ra nguyên nhân giải ngân chậm ở từng dự án; rà soát và quyết định điều chuyển vốn theo thẩm quyền, báo cáo cấp thẩm quyền để điều chuyển vốn của những dự án không có khả năng thực hiện được cho các dự án hoàn thành, có khả năng thực hiện để phấn đấu giải ngân hết kế hoạch vốn được giao (Vân Hà, 2016)
2.2.2.2 Kinh nghiệm tỉnh Lào Cai
Lào Cai là tỉnh miền núi còn nhiều khó khăn nên nguồn vốn TPCP đóng một vai trò quan trọng trong nâng cấp hệ thống hạ tầng kỹ thuật thiết yếu, tác động tích cực tới sự phát triển kinh tế - xã hội Những năm qua, tỉnh Lào Cai đã được Trung ương quan tâm đầu tư nhiều nguồn vốn để phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có nguồn vốn TPCP (TPCP) để xây dựng các công trình, dự án cấp thiết về giao thông, thủy lợi, kiên cố hóa trường lớp học, xây dựng nhà công vụ cho giáo viên, nâng cấp bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến huyện
Dưới sự lãnh đạo của tỉnh, các công trình, dự án đầu tư rõ ràng và bám sát các chương trình, mục tiêu được Quốc hội, Chính phủ quyết định, bảo đảm tính khả thi, các công trình cơ bản phù hợp với quy hoạch xây dựng, quy hoạch của tỉnh; công tác giải ngân và quyết toán nguồn vốn TPCP hằng năm thực hiện đúng kế hoạch Việc cân đối ngân sách và huy động xã hội hóa đảm bảo đúng cơ cấu các nguồn vốn, trên cơ sở nhu cầu theo các quyết định đã phê duyệt cho các dự án theo giai đoạn thực hiện; cơ chế quản lý, nguyên tắc phân bổ vốn TPCP ngày càng được hoàn thiện Nguồn vốn TPCP đã góp phần quan trọng nâng cấp hệ thống hạ tầng kỹ thuật thiết yếu, tác động tích cực tới sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Từ năm 2006 - 2012, tỉnh được bố trí trên 2.619 tỷ đồng (trong đó: Vốn TPCP 2.591 tỷ đồng, vốn lồng ghép 28,579 tỷ đồng) đầu tư cho 4 lĩnh vực, gồm:
Dự án thuộc lĩnh vực giao thông; thuỷ lợi; kiên cố hoá trường học và nhà công vụ cho giáo viên; y tế Theo kết quả giám sát của Đoàn ĐBQH tỉnh, việc phân bổ nguồn vốn TPCP được thực hiện từ đầu năm kế hoạch, đúng danh mục được duyệt, tạo điều kiện để các chủ đầu tư, các nhà thầu sớm triển khai thực hiện, bảo đảm bố trí vốn không vượt quá tổng mức đã được thông báo giao chỉ tiêu theo ngành, lĩnh vực Đặc biệt, tỉnh đã ưu tiên bố trí vốn đối với các địa bàn khó khăn có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, vùng xa; tập trung vốn cho các công trình sớm hoàn thành đưa vào khai thác, các dự án chuyển tiếp, khối lượng còn lại không lớn đang triển khai nhanh và bảo đảm tiến độ; thực hiện điều chỉnh giảm vốn của các dự án không có khả năng thực hiện, tăng vốn cho các dự án có khả năng thực hiện vượt tiến độ Công tác đấu thầu luôn đảm bảo công khai, minh bạch, đúng quy định Công tác thanh toán, quyết toán vốn đầu tư phù hợp với tổng mức đầu tư được duyệt, các công trình quyết toán được bố trí 100% vốn so với tổng mức đầu tư; công trình hoàn thành, bàn giao chờ quyết toán được bố trí từ 75% - 85% vốn; công trình chuyển tiếp bố trí từ 60% - 75% vốn; công trình khởi công mới bố trí từ 30% - 40% vốn Các công trình được đầu tư bằng nguồn vốn TPCP đã phát huy hiệu quả thiết thực, góp phần hoàn thiện hạ tầng, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, đẩy nhanh công cuộc xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn
Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện, việc điều chuyển nguồn vốn trong cùng một lĩnh vực, giữa các dự án ở địa phương vẫn còn hạn chế, chưa linh hoạt Công tác giải phóng mặt bằng còn chậm; năng lực thiết kế, thẩm định dự án còn hạn chế, thiếu chặt chẽ, dẫn đến việc khảo sát, thiết kế, phê duyệt phải điều chỉnh nhiều lần, ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện và giải ngân công trình; năng lực thi công của một số nhà thầu còn yếu, kém, định mức XDCB chậm điều chỉnh Việc phân bổ vốn kế hoạch cho một số dự án chưa sát với thực tiễn, chưa tương ứng với khối lượng đã hoàn thành Để khắc phục các hạn chế trên, UBND Lào Cai đã chỉ đạo kiểm tra, rà soát lại toàn bộ các dự án, công trình đã triển khai để tiến hành tổng kết, đánh giá kết quả đầu tư công từ nguồn vốn TPCP trên địa bàn tỉnh, từ đó rút kinh nghiệm để thực hiện trong thời gian tới Chỉ đạo tích cực và quyết liệt hơn để đảm bảo các dự án, công trình thi công hoàn thành đúng tiến độ, chất lượng, phát huy hiệu quả sau đầu tư Đồng thời, tỉnh Lào Cai tiếp tục huy động, lồng ghép đảm bảo đủ vốn để hoàn thành các công trình theo kế hoạch; có hình thức xử lý các nhà thầu thi công chậm tiến độ; chỉ đạo giải quyết dứt điểm những vướng mắc để tạo điều kiện cho các nhà thầu thi công, như giải phóng mặt bằng, đền bù, tái định cư, quyết toán, thanh toán Ngoài ra, cần đẩy mạnh công tác xã hội hoá hoặc chuyển đổi loại hình đầu tư đối với những dự án có điều kiện thực hiện, mà nguồn vốn đầu tư của Nhà nước có hạn; có cơ chế, chính sách và nguồn vốn phù hợp cho công tác quản lý sau đầu tư, công tác duy tu, bảo dưỡng, bảo đảm tuổi thọ của công trình (Ngô Hữu Tường, 2016)
2.2.2.3 Kinh nghiệm tỉnh Bắc Giang
Trong giai đoạn 2006-2012, trên địa bàn tỉnh đã có 30 dự án được đầu tư từ nguồn vốn TPCP, trong đó có 09 dự án giao thông, 04 dự án thủy lợi, 16 dự án y tế, 01 dự án nhà ở sinh viên và kiên cố hóa trường, lớp học Tổng mức đầu tư ban đầu 2.261,815 tỷ đồng (không kể vốn ứng trước)
Tính đến hết năm 2013 trên địa bàn tỉnh Bắc Giang đã có có 21 dự án hoàn thành đưa vào sử dụng Các công trình, dự án thi công theo đúng thiết kế, đảm bảo chất lượng mang lại hiệu quả cao, góp phần cải thiện cơ sở vật chất, phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội, tăng năng lực sản xuất, giải quyết các vấn đề xã hội và đáp ứng nguyện vọng của nhân dân
Trong các công trình, dự án đã hoàn thành, mang lại hiệu quả cao phải kể đến công trình, dự án phát triển hạ tầng giao thông tại một số xã có điều kiện khó khăn như: Đường vào trung tâm xã Xa Lý, huyện Lục Ngạn; đường vào trung tâm xã Thạch Sơn, huyện Sơn Động; đường vào trung tâm xã Tân Lập - Đèo Gia