Thực trạng vận dụng kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng trong công tác quản lý tại công ty tnhh thương mại và dịch vụ nông nghiệp ANPO .... Công ty TNHH Thương mại và dịch vụ n
Cơ sở lý luận và thực tiễn của vận dụng kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng trong quản lý
Cơ sở lý luận
2.1.1 Tổng quan về bán hàng và xác định kết quả bán hàng
Khái niệm về bán hàng
Theo Thư viện Học liệu Mở Việt Nam (2017): “Bán hàng là khâu cuối cùng của quá trình hoạt động kinh doanh trong các doanh nghiệp thương mại Đây là quá trình chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá người mua và doanh nghiệp thu tiền về hoặc được quyền thu tiền”
Xét về góc độ kinh tế : Bán hàng là quá trình hàng hoá của doanh nghiẹp đựoc chuyển từ hình thái vật chất (hàng) sang hình thái tiền tệ (tiền) Quá trình bán hàng ở các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp thương mại nói riêng có những đặc điểm chính sau đây:
Có sự trao đổi thoả thuận giữa người mua và người bán, nguời bán đống ý bán, người mua đồng ý mua , họ trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền
Có sự thay đổi quyền sở hưu về hàng hoá: người bán mất quyền sở hữu, người mua có quyền sở hữu về hàng hoá đã mua bán Trong quá trình tiêu thụ hàng hóa, các doanh nghiệp cung cấp cho khách hàng một khối lượng hàng hoá và nhận lại của khách hàng một khoản gọi là doanh thu bán hàng Số doanh thu này là cơ sở để doanh nghiệp xác định kết quả kinh doanh của mình
Khái niệm về doanh thu, doanh thu thuần
Theo chuẩn mực kế toán số 14 “Doanh thu và thu nhập khác” trong hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam: “ Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm phát triển vốn chủ sở hữu ”
Doanh thu chỉ bao gồm tổng giá trị của các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được Các khoản thu hộ bên thứ ba không phải là nguồn lợi ích thu Các khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu làm tăng vốn chủ sở hữu nhưng không là doanh thu
Doanh thu được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc sẽ thu được Doanh thu phát sinh từ giao dịch được xác định bởi thỏa thuận giữa doanh nghiệp với bên mua hoặc bên sử dụng tài sản Nó được xác định bằng giá trị hợp lý của các khoản đã thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ (-) các khoản chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán, giảm giá hàng bán và giá trị hàng bán bị trả lại Đối với các khoản tiền hoặc tương đương tiền không được nhận ngay thì doanh thu được xác định bằng cách quy đổi giá trị danh nghĩa của các khoản sẽ thu được trong tương lai về giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu theo tỷ lệ lãi suất hiện hành Giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu có thể nhỏ hơn giá trị danh nghĩa sẽ thu được trong tương lai Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ tương tự về bản chất và giá trị thì việc trao đổi đó không được coi là một giao dịch tạo ra doanh thu
Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ khác không tương tự thì việc trao đổi đó được coi là một giao dịch tạo ra doanh thu Trường hợp này doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ nhận về, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu thêm Khi không xác định được giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ nhận về thì doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ đem trao đổi, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu thêm
Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời toản mãn tất cả các điều kiện sau: Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua; Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa; Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn; Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng; Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng
Doanh thu bán hàng được ghi nhận chỉ khi đảm bảo là doanh nghiệp nhận được lợi ích kinh tế từ giao dịch Trường hợp lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng còn phụ thuộc yếu tố không chắc chắn thì chỉ ghi nhận doanh thu khi yếu tố không chắc chắn này đã xử lý xong (ví dụ, khi doanh nghiệp không chắc chắn là Chính phủ nước sở tại có chấp nhận chuyển tiền bán hàng ở nước ngoài về hay không) Nếu doanh thu đã được ghi nhận trong trường hợp chưa thu được tiền thì khi xác định khoản tiền nợ phải thu này là không thu được thì phải hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ mà không được ghi giảm doanh thu Khi xác định khoản phải thu là không chắc chắn thu được (Nợ phải thu khó đòi) thì phải lập dự phòng nợ phải thu khó đòi mà không ghi giảm doanh thu Các khoản nợ phải thu khó đòi khi xác định thực sự là không đòi được thì được bù đắp bằng nguồn dự phòng nợ phải thu khó đòi
Doanh thu và chi phí liên quan tới cùng một giao dịch phải được ghi nhận đồng thời theo nguyên tắc phù hợp Các chi phí, bao gồm cả chi phí phát sinh sau ngày giao hàng (như chi phí bảo hành và chi phí khác), thường được xác định chắc chắn khi các điều kiện ghi nhận doanh thu được thỏa mãn
Khái niệm giá vốn hàng bán
Giá vốn hàng bán là trị giá vốn của hàng hóa đã tiêu thụ trong kỳ Trị giá vốn hàng bán bao gồm trị giá vốn của thành phẩm, hàng hóa, dịch vụ, bất động sản đầu tư bán ra trong kỳ; các chi phí liên quan đến các hoạt động kinh doanh, đầu tư bất động sản như: chi phí khấu hao, chi phí sửa chữa, chi phí nghiệp vụ cho thuê bất động sản đầu tư theo phương thức cho thuê hoạt động (trường hợp phát sinh không lớn); chi phí nhượng bán, thanh lý bất động sản đầu tư (Bộ Tài chính, 2014)
Sau khi xác định được trị giá vốn của hàng xuất kho để bán, doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, kế toán cần phải xác định kết quả để cung cấp thông tin trình bày báo cáo tài chính (Báo cáo kết quả kinh doanh) Tùy thuộc vào loại hình doanh nghiệp và sự vận động của sản phẩm, hàng hóa mà kế toán xác định giá vốn của hàng đã bán
Trị giá vốn của hàng đã bán = Trị giá vốn của hàng đã xuất bán + Chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp thương mại:
Giá vốn hàng hóa xuất bán
= Giá mua + Chi phí thu mua
+ Thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế bảo vệ môi trường
Giảm trừ hàng mua, chiết khấu thương mại Theo thông tư số 200 của Bộ Tài chính có 3 phương pháp xác định trị giá hàng xuất kho để tính vào giá vốn hàng bán trong kỳ:
- Phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO): theo phương pháp này, giả thiết số thành phẩm nào nhập trước và lấy giá thực tế của lần đó là giá hàng hóa xuất kho Do đó, vật tư tồn kho cuối kỳ, được tính theo đơn giá của những lần nhập kho sau cùng
Cơ sở thực tiễn
Tình hình vận dụng kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng trong quản lý doanh nghiệp thương mại:
Về mặt lý thuyết, bán hàng là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, là giai đoạn có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp thương mại nói riêng Bởi vì đây là quá trình chuyển hóa vốn của doanh nghiệp từ hình thái hiện vật sang hình thái giá trị, giúp doanh nghiệp thực hiện được giá trị sản phẩm, hàng hóa lao vụ, quay vòng được nguồn vốn để tiến hành tái sản xuất kinh doanh mở rộng, thu được lợi nhuận
Với các doanh nghiệp thương mại, hoạt động bán hàng chính là hoạt động cơ bản nhất, cốt lõi nhất tạo nên doanh thu và lợi nhuận, giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển Với nền kinh tế quốc dân, việc thực hiện tốt khâu bán hàng là điều kiện để kết hợp chặt chẽ giữa lưu thông hàng hóa và lưu chuyển tiền tệ; giúp cho quá trình chu chuyển tiền mặt, ổn định và củng cố giá trị đồng tiền; là điều kiện để ổn định và nâng cao đời sống của người lao động nói riêng và của toàn xã hội nói chung
Thực tế này đặt ra đòi hỏi phải hoàn thiện hệ thống kế toán nói chung, kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp thương mại nói riêng
Thực hiện tốt kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp thương mại có ý nghĩa tiên quyết và đặc biệt quan trọng, giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp đánh giá được kết quả họat động kinh doanh, từ đó có chiến lược kinh doanh hợp lý Nó cũng giúp Nhà nước nắm được tình hình kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp từ đó thực hiện chức năng quản lý kiểm soát vĩ mô nền kinh tế; Đồng thời, Nhà nước có thể kiểm tra việc chấp hành về kinh tế tài chính và thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước của doanh nghiệp
Hiện nay, kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại các công ty công ty đều được xây dựng một cách tương đối hoàn thiện, đảm bảo tuân thủ chuẩn mực kế toán quốc tế và chế độ hiện hành, yêu cầu quản lý nhà nước của các cơ quan chức năng cũng như đáp ứng được các yêu cầu điều hành giám sát của ban lãnh đạo công ty Với 1 kế toán trưởng và các kế toán viên được phân công từng phần hành tương đối rõ ràng, bộ máy kế toán của các công ty được tổ chức khoa học và hiệu quả Các nhân viên trong bộ phận Kế toán đều có sự phối hợp chặt chẽ với nhau, có sự kiểm tra đối chiếu số liệu, đảm bảo hạn chế thấp nhất việc xảy ra các sai sót Luôn cập nhật và thay đổi hệ thống tài khoản phù hợp với chế độ, thông tư kế toán, các doanh nghiệp đã xây dựng hệ thống tài khoản cấp hai chi tiết đảm bảo kịp thời cung cấp thông tin chi tiết cho ban lãnh đạo ra các quyết định điều hành kinh doanh Hầu hết đều đang áp dụng hình thức chứng từ ghi sổ, các báo cáo tài chính được lập theo đúng quy định, phục vụ các yêu cầu quản lý nhà nước cũng như cung cấp một cách khái quát các thông tin về tình hình tài chính, doanh thu, chi phí và lợi nhuận
Dưới góc độ kế toán, hiện nay, việc tổ chức hệ thống kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh vẫn chưa thực sự quan tâm đúng mức nên chưa cung cấp được các thông tin quản trị cần thiết và kịp thời phục vụ yêu cầu ra quyết định kinh doanh của ban lãnh đạo
Ban lãnh đạo công ty vẫn chưa có tiêu chí rõ ràng để phân loại chi phí thành biến phí, định phí; Ảnh hưởng đến công tác lập dự toán và việc hoạch định phối hợp các mức độ chi phí, khối lượng, doanh thu để đạt được lợi nhuận mong muốn tốt nhất
Việc thu thập thông tin để xây dựng dự toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh còn hạn chế, mang tính thống kê, lượng hóa số liệu Nhiều công ty chưa xây dựng một bộ phận quản trị chuyên trách phân tích, thu thập thông tin và đánh giá tình hình thị trường để dự toán doanh thu, chi phí được lập ra sát với thực tế, đáp ứng yêu cầu hoạch định chính sách phát triển của doanh nghiệp
Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp thương mại chưa xây dựng được các báo cáo trách nhiệm – tức là các báo cáo phản ánh kết quả hoạt động của các trung tâm trách nhiệm theo dự toán và theo thực tế thực hiện
Ngoài ra, việc phân tích tình hình kết quả kinh doanh tại công ty hiện vẫn chưa được chú trọng đúng mức, công ty chưa tiến hành phân tích, so sánh với kết quả hoạt động bán hàng cùng kỳ để tìm ra các nhân tố ảnh hưởng tích cực đến kết quả kinh doanh cũng như những vấn đề còn tồn tại để có giải pháp khắc phục kịp thời
Việc yêu cầu xây dựng hệ thống kế toán nói chung và kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh nói riêng tại công ty là vấn đề cấp thiết và quan trọng Cần áp dụng các tiêu chí cụ thể để phân loại các chi phí thành biến phí, định phí hoặc chi phí hỗn hợp, căn cứ vào đặc điểm tình hình sản xuất kinh doanh Với các khoản biến phí cần phải xây dựng định mức và kiểm soát tốt biến phí ở các mức độ hoạt động thông qua định mức
Kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại các doanh nghiệp thương mại cần triển khai cụ thể công tác dự toán cho phù hợp, cụ thể: dự toán mua hàng, dự toán tiền
Ngoài ra, kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại công ty phải tiến hành xây dựng báo cáo của từng bộ phận cụ thể để đánh giá việc hoàn thành trách nhiệm của các bộ phận Việc xây dựng các báo cáo quản trị này phải thực hiện thường xuyên theo tháng, quý phục vụ yêu cầu quản trị của doanh nghiệp Doanh nghiệp nên lập 1 số báo cáo quản trị như: báo cáo tình hình nợ theo thời hạn với khách hàng, báo cáo doanh thu bán hàng theo khách hàng, phân tích tình hình tài chính và kết quả kinh doanh
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh vô cùng khốc liệt như hiện nay, mọi doanh nghiệp cần không ngừng nỗ lực, đổi mới phương thức quản lý kinh doanh một cách có hiệu quả nhằm mục tiêu phát triển bền vững, lâu dài; Trong đó có yêu cầu hoàn thiện kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh.
Phương pháp nghiên cứu
Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty TNHH thương mại và dịch vụ nông nghiệp Anpo
Giới thiệu chung về công ty
- Tên công ty: Công ty TNHH thương mại và dịch vụ nông nghiệp Anpo
- Người đại diện: Nguyễn Hữu Phương
- Trụ sở chính: Thôn Thành Dền - Xã Đào Viên - Huyện Quế Võ - Bắc Ninh
- Ngân hàng giao dịch : Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
- Công ty TNHH thương mại và dịch vụ nông nghiệp Anpo là một doanh nghiệp trong nước, công ty có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng và hạch toán độc lập, tự chủ về tài chính
Công ty TNHH thương mại và dịch vụ nông nghiệp Anpo là doanh nghiệp trong nước chuyên sản xuất, buôn bán các mặt hàng nông nghiệp như thuốc trừ sâu, phân bón, giống cây trồng, máy móc phụ tùng phân phối chủ yếu ở các tỉnh, thành phố trong nước Nước ta là một nước nông nghiệp nên vai trò của các mặt hàng trên là không thể thiếu trong trồng trọt và chăn nuôi Trong những năm qua công ty luôn đảm bảo cung cấp ra thị trường mỗi năm 100.000 tấn phân bón, thuốc trừ sâu và 500.000.000 con giống và hàng nghìn hóa đơn dịch vụ, chăm sóc cây giống
Công ty được thành lập theo giấy phép kinh doanh số 010302027277 cấp ngày 15/2/2008 do Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh Bắc Ninh cấp
Hiện nay thị trường chính của công ty vẫn là thị trường nội địa, chủ yếu là các tỉnh phía Bắc Công ty đang phấn đấu tới 3 năm nữa có thể xuất khẩu các mặt hàng của mình ra thị trường Quốc tế
3.1.2 Cơ cấu tổ chức quản lý của công ty
Công ty có hệ thống quản lý gọn gàng và linh hoạt, tổng nhân lực trong công ty khoảng 139 người kể cả Ban giám đốc Bộ máy quản lý của doanh nghiệp theo hình thức tập trung, tất cả các đề nghị đều phải được sự xét duyệt của Giám đốc và Phó Giám đốc được ủy quyền
Sơ đồ bộ máy tổ chức quản lý được mô tả như sau:
Hình 3 1 Tổ chức bộ máy quản lý của Công ty TNHH thương mại và dịch vụ nông nghiệp Anpo
Nguồn: Phòng Tổ chức Chức năng, nhiệm vụ của từng phòng ban
- Giám đốc: Ông Nguyễn Hữu Phương
Là người điều hành quản lý cao nhất, phụ trách mọi vấn đề phát sinh trong hoạt động kinh doanh của công ty và chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của công ty
Lãnh đọa, kiểm tra, giám sát, đánh giá tình hình hoạt động của công ty
Giám đốc có quyền ký kết các hợp đồng kinh tế, quan hệ giao dịch với các cơ quan liên quan, quản lý và điều hành tất cả các phòng ban của công ty
Tham mưu giúp Ban Giám đốc trong công tác tuyển dụng, bổ nhiệm, điều động, quy hoạch, đào tạo, thôi việc người lao động
Giải quyết các chế độ, quyền lợi, chính sách cho người lao động theo quy định hiện hành của Nhà nước
Triển khai và giám sát việc tổ chức thực hiện các Chính sách Pháp luật hiện
PHÒNG TÀI CHÍNH – KẾ TOÁN PHÒNG TỔ CHỨC hành, nội quy cơ quan Bên cạnh đó, phòng còn có nhiệm vụ tư vấn về Pháp luật, xây dựng và kiểm tra việc tổ chức thực hiện nội quy, quy định của công ty
- Phòng Tài chính - Kế toán
Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của luật doanh nghiệp, điều lệ tổ chức và hoạt động của công ty, điều hành các hoạt động chung của công ty
Quản lý đề xuất các biện pháp nhằm phát huy sử dụng vốn, tài sản và các nguồn lực thúc đẩy hiệu quẩ kinh doanh
Quản lý hóa đơn, các biểu mẫu chứng từ kế toán công ty Tổ chức lưu trữ chứng từ, tài liệu kế toán, sổ sách và báo cáo kế toán, các tài liệu có liên quan
Phòng Kinh doanh là bộ phận tham mưu, giúp việc cho Tổng giám đốc về công tác bán các sản phẩm & dịch vụ của Công ty (cho vay, bảo lãnh, các hình thức cấp tín dụng khác, huy động vốn trên thị trường 1, dịch vụ tư vấn thanh toán quốc tế, dịch vụ tư vấn tài chính, đầu tư góp vốn, liên doanh liên kết, chào bán sản phẩm kinh doanh ngoại tệ trừ trên thị trường liên ngân hàng); công tác nghiên cứu & phát triển sản phẩm, phát triển thị trường; công tác xây dựng & phát triển mối quan hệ khách hàng Chịu trách nhiệm trước Giám đốc về các hoạt động đó trong nhiệm vụ, thẩm quyền được giao
Thực hiện xây dựng chiến lược, kế hoạch ngân sách hàng năm, kế hoạch công việc của Phòng từng tháng để trình Giám đốc phê duyệt
Tổ chức bộ máy nhân sự, phân công công việc trong Phòng để hoàn thành ngân sách năm, kế hoach công việc của phòng/ban đã được phê duyệt từng thời kỳ
Thực hiện các báo cáo nội bộ theo Quy định của Công ty và các báo cáo khác theo yêu cầu của Ban điều hành
Xây dựng các quy trình, quy định nghiệp vụ thuộc lĩnh vực của Phòng; đánh giá hiệu quả các quy trình, quy định này trong thực tế để liên tục cải tiến, giúp nâng cao hoạt động của Công ty
Thực hiện các nhiệm vụ khác theo chỉ đạo của Ban điều hành phân công Lĩnh vực Quan hệ khách hàng
Tham mưu xây dựng chính sách bán hàng, bao gồm chính sách về giá, khuyến mãi, chiết khấu & các chương trình quảng bá, tiếp cận đến khách hàng để trình Giám đốc phê duyệt Đề xuất chính sách cho khách hàng, nhóm khách hàng, trình Giám đốc và thực hiện theo chính sách được phê duyệt
Lập mục tiêu, kế hoạch bán hàng trình Giám đốc phê duyệt định kỳ và thực hiện tổ chức triển khai bán các sản phẩm & dịch vụ thuộc chức năng nhằm đạt mục tiêu đã được phê duyệt Tuân thủ các quy định của Công ty trong công tác đề xuất các chính sách cho khác hàng khi cung cấp các sản phẩm & dịch vụ thuộc chức năng nhiệm vụ
Tìm kiếm và phát triển khách hàng mới thuộc nhóm khách hàng mục tiêu của Công ty
Tìm kiếm, duy trì và phát triển mối quan hệ với khách hàng Chăm sóc khách hàng theo chính sách của Công ty
Thu thập và quản lý thông tin khách hàng và hồ sơ khách hàng theo quy định Đầu mối về việc thu nhập, quản lý thông tin khách hàng để phục vụ cho công tác đánh giá xếp hạng khách hàng, thẩm định và tái thẩm định các hồ sơ khách hàng Định kỳ thu thập và phân tích thông tin ngành, nhu cầu của thị trường nhằm tham mưu cho Ban điều hành định hướng, định vị thị trường, định vị sản phẩm thỏa mãn nhu cầu thị trường Định kỳ, đầu mối trong việc đánh giá hiệu quả của các sản phẩm & dịch vụ hiện tại, từ đó phân tích, nghiên cứu để thực hiện việc cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ Công ty
Thực hiện việc nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới
3.1.3 Tài chính của Công ty TNHH Anpo
Tình hình biến động tài sản
Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin
- Dữ liệu thứ cấp Đây là loại dữ liệu đã được sưu tập sẵn, đã công bố, có thể là các số liệu nội bộ của công ty Dữ liệu thứ cấp bên ngoài công ty gồm: sách, báo chí, các bản báo cáo và số liệu của cơ quan chức năng thuộc nhà nước, các thông tin trên internet…
Những dữ liệu thứ cấp được sử dụng trong luận văn này bao gồm số liệu thống kê phản ánh kết quả bán hàng, hệ thống Báo cáo tài chính hàng năm của công ty, gồm các Bảng cân đối kế toán, Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, Bản thuyết minh Báo cáo tài chính Sổ sách kế toán: Sổ Nhật ký chung, sổ cái, sổ chi tiết (Doanh thu bán hàng, Giá vốn hàng bán, Chi phí bán hàng ) Hệ thống khung pháp lý kế toán về doanh thu bán hàng và xác định kết quả bán hàng
Ngoài ra, tôi còn tham khảo các kết quả nghiên cứu đã công bố của các cơ quan nghiên cứu, các nhà khoa học,thu thập tài liệu: các chế độ kế toán của Việt Nam, các chuẩn mực kế toán, các bài báo của Tạp chí kế toán, giáo trình kế toán, các tài liệu trên web Từ đó rút ra bài học cho việc vận dụng kế toán bán hàng và xác định KQBH trong quản lý tại công ty TNHH thương mại và dịch vụ nông nghiệp Anpo Những số liệu này được thu thập bằng cách sao chép, đọc, trích dẫn như trích dẫn tài liệu tham khảo
- Đối với dữ liệu sơ cấp
Tác giả cũng sử dụng PP khảo sát, ghi chép để nghiên cứu đối với hệ thống sổ sách, cơ sở vật chất thực hiện công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả hoạt động bán hàng tại công ty
+ Nội dung thông tin thu thập: Để thu thập thông tin phục vụ cho nghiên cứu, tác giả sử dụng Bảng hỏi được chuẩn bị trước, nội dung chứa đựng lượng thông tin lớn liên quan đến công tác kế toán bán hàng và xác định KQBH để phỏng vấn Công ty TNHH thương mại và dịch vụ nông nghiệp Anpo
+ Chọn mẫu điều tra: tác giả sử dụng bảng hỏi để thực hiện phỏng vấn đối với Giám đóc, các trưởng bộ phận của Công ty TNHH thương mại và dịch vụ nông nghiệp Anpo để thu thập các dữ liệu liên quan đến kế toán bán hàng và xác định kết quả hoạt động bán hàng của công ty
Bảng 3.5 Số lƣợng mẫu điều tra Đơn vị tính: Người Đơn vị Đối tƣợng Tổng thể mẫu Số lƣợng mẫu
1 Ban Giám đốc Giám đốc, phó giám đốc 3 3
2 Phòng Tổ chức Trưởng phòng, phó phòng 2 2
Trưởng phòng, phó phòng và nhân viên
Trưởng phòng, phó phòng, quản lý
Nguồn: Tác giả tổng hợp
3.2.2 Phương pháp xử lý số liệ
Phương pháp tổng hợp, phân tích xử lý số liệu
Số liệu thu được từ điều tra, quan sát, phỏng vấn, ghi chép được tác giả tổng hợp lại, PP phân tổ thống kê sẽ được sử dụng để xử lý thông tin Trên cơ sở đó tác giả thực hiện đánh giá, phân tích thực trạng việc kế toán bán hàng và xác định KQBH trong quản lý tại công ty TNHH thương mại và dịch vụ nông nghiệp Anpo
Các dữ liệu thu thập được đều được kiểm tra lại và hiệu chỉnh theo 3 yêu cầu: Đầy đủ, chính xác và lôgíc
* Sau khi hiệu chỉnh, các dữ liệu này được nhập vào máy tính và tổng hợp theo các theo năm
* Công cụ sử dụng cho xử lý và tổng hợp là: Máy tính điện tử, phần mềm excel
3.2.3 Phương pháp phân tích số liệu
Phương pháp thống kê mô tả
Sau khi thu thập số liệu, tiến hành phân tổ thống kê và tổng hợp thống kê, tính toán các loại số tuyệt đối, tương đối, số bình quân, các chỉ số Sử dụng các chỉ tiêu số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân để so sánh và phân tích làm rõ mối quan hệ của các hoạt động… Từ đó, đánh giá được mức độ ảnh hưởng của các nhân tố bán hàng đến hoạt động của doanh nghiệp
Phương pháp thống kê so sánh
So sánh trong phân tích là đối chiếu các chỉ tiêu, các hiện tượng kinh tế đã được lượng hóa có cùng một nội dung, có tính chất tương tự để xác định xu hướng biến động của các chỉ tiêu (cụ thể so sánh các chỉ tiêu, số liệu của năm sau so với năm trước, kỳ sau so với kỳ trước…), từ đó giúp ta tổng hợp được những cái chung, tách ra được những nét riêng của chỉ tiêu được so sánh Trên cơ sở đó có thể đánh giá được một cách khách quan thực trạng các dự toán bán hàng, thực trạng công tác bán hàng và quá trình kiểm soát kế toán bán hàng tại doanh nghiệp;
3.2.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu a) Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu chung
- Nhân lực theo giới tính; theo trình độ; theo tính chất công việc
- Doanh thu bán hàng, giá vốn hàng bán, lợi nhuận trước và sau thuế
- Hệ thống các đại lý theo cấp và theo khu vực b) Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu về dự toán bán hàng
- Dự toán bán hàng theo sản phẩm qua các quý, năm
- Dự toán mua hàng theo sản phẩm qua các quý, năm: doanh số bán dự kiến; tồn kho đầu kì; tồn kho cuối kì; trị giá hàng mua dự kiến
- Dự toán giá vốn hàng bán theo quý, năm
- Dự toán chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp
- Dự toán kết quả bán hàng c) Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu về thực hiện bán hàng và xác định kết quả bán hàng
- Số lượng, đơn giá bán hàng theo sản phẩm
- Số lượng, đơn giá bán hàng theo kênh phân phối
- Số tiền thanh toán với người mua hàng
- Doanh thu bán hàng theo sản phẩm
- Chi phí quản lý kinh doanh d) Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu về kiểm soát bán hàng và xác định kết quả bán hàng
- Dự toán và thực hiện doanh thu tiêu thụ theo sản phẩm
- Dự toán và thực hiện giá vốn hàng bán theo sản phẩm
- Dự toán và thực hiện kết quả bán hàng theo năm
- Chênh lệch giữa thực hiện và dự toán kết quả bán hàng.