Đánh giá của người dân về ảnh hưởng của quá trình hợp tác giữa các đơn vị và người dân trong xây dựng hệ thống thủy lợi theo tiêu chí nông thôn mới .... Đối tượng nghiên cứu chính của l
Trang 1HOÀNG ANH TÚ
GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XÂY DỰNG HỆ THỐNG THỦY LỢI THEO TIÊU CHÍ NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Đỗ Kim Chung
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Hoàng Anh Tú
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc GS.TS Đỗ Kim Chung đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian
và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Kinh tế Nông nghiệp và Chính sách, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức Ủy ban nhân dân huyện Lộc Bình, Ủy ban nhân dân các xã Xuân Mãn, Yên Khoái và Xuân Dương đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Hoàng Anh Tú
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình ix
Trích yếu luận văn x
Thesis abstract xii
Phần 1 Đặt vấn đề 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Đóng góp của luận văn 3
Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng hệ thống thủy lợi theo tiêu chí nông thôn mới 5
2.1 Cơ sở lý luận 5
2.1.1 Một số vấn đề lý luận về xây dựng hệ thống thủy lợi theo tiêu chí nông thôn mới 5
2.1.2 Vai trò của hệ thống thủy lợi theo tiêu chí nông thôn mới 7
2.1.3 Đặc điểm đánh giá hệ thống thủy lợi trong xây dựng nông thôn mới 9
2.1.4 Nội dung nghiên cứu đẩy mạnh xây dựng hệ thống thủy lợi theo tiêu chí nông thôn mới 12
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến đẩy mạnh thực hiện xây dựng hệ thống thủy lợi theo tiêu chí NTM 17
2.2 Cơ sở thực tiễn về xây dựng hệ thống thủy lợi theo tiêu chí nông thôn mới 20
2.2.1 Xây dựng hệ thống thủy lợi nông thôn trên thế giới 20
Trang 52.2.2 Một số nghiên cứu và kinh nghiệm về xây dựng hệ thống thủy lợi phục vụ
nông thôn mới ở Việt Nam 25
Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 35
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 35
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 35
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 38
3.2 Phương pháp nghiên cứu 42
3.2.1 Phương pháp tiếp cận 42
3.2.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 43
3.2.3 Phương pháp thu thập số liệu 43
3.2.4 Phương pháp xử lý số liệu 45
3.2.5 Phương pháp phân tích số liệu 45
3.2.6 Chỉ tiêu nghiên cứu 46
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 48
4.1 Thực trạng xây dựng hệ thống thủy lợi theo tiêu chí nông thôn mới tại huyện Lộc Bình tỉnh Lạng Sơn 48
4.1.1 Nhu cầu hệ thống thủy lợi theo tiêu chí Nông thôn mới 48
4.1.2 Quy hoạch công trình thủy lợi trên địa bàn huyện 52
4.1.3 Vốn đầu tư thực hiện quy hoạch thủy lợi trên địa bàn huyện 57
4.1.4 Huy động nguồn lực cho xây dựng hệ hống thủy lợi theo tiêu chí NTM 60
4.1.5 Thực trạng tổ chức xây dựng các công trình 66
4.1.6 Tình hình quản lý các công trình thủy lợi 76
4.1.7 Tình hình đạt tiêu chí thủy lợi trong bộ tiêu chí Nông thôn mới 79
4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng tới quá trình xây dựng hệ thống thủy lợi ntm tại huyện Lộc Bình 89
4.2.1 Ảnh hưởng của chính sách đến quá trình xây dựng hệ thống thủy lợi NTM 89
4.2.2 Ảnh hưởng của nguồn lực cộng đồng tới xây dựng hệ thống thủy lợi 91
4.2.3 Hợp tác giữa các đơn vị, người dân 93
4.3 Giải pháp đẩy mạnh xây dựng hệ thống thủy lợi theo tiêu chí NTM tại huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn 94
4.3.1 Quan điểm phát triển 94
4.3.2 Giải pháp về quy hoạch 95
Trang 64.3.3 Giải pháp về huy động nguồn lực 97
4.3.4 Giải pháp về xây dựng công trình, đầu tư hạ tầng và duy tu bảo dưỡng các công trình thủy lợi 100
4.3.5 Giải pháp hoàn thiện mô hình quản lý thủy lợi 103
4.3.6 Giải pháp nâng cao năng lực cán bộ 107
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 108
5.1 Kết luận 108
5.2 Kiến nghị 109
Tài liệu tham khảo 111
Phụ lục 113
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Giá trị sản xuất nông lâm thủy sản qua các năm 39
Bảng 3.2 Giá trị sản xuất công nghiệp của huyện qua các năm 41
Bảng 3.3 Nguồn thu thập số liệu thứ cấp 43
Bảng 3.4 Nguồn số liệu sơ cấp 44
Bảng 3.5 Phương pháp phân tích số liệu 45
Bảng 4.1 Nhu cầu cung cấp nước huyện Lộc Bình tới năm 2015 49
Bảng 4.2 Số lượng công trình đáp ứng yêu cầu kỹ thuật theo tiêu chí NTM 51
Bảng 4.3 Quy hoạch một số hạng mục công trình thủy lợi đến năm 2020 52
Bảng 4.4 Các địa phương đã có quy hoạch thủy lợi chi tiết cho từng địa phương 54
Bảng 4.5 Một số tiểu dự án thủy lợi liên xã huyện Lộc Bình 55
Bảng 4.6 Đánh giá của cán bộ địa phương về khảo sát, đánh giá lập dự án cải tạo hệ thống công trình thủy lợi 56
Bảng 4.7 Đánh giá của người dân về quy hoạch thủy lợi của địa phương 57
Bảng 4.8 Cơ cấu nguồn vốn dành cho thủy lợi trong tổng đầu tư xây dựng NTM 59
Bảng 4.9 Sự tham gia của người dân trong xây dựng công trình 60
Bảng 4.10 Tham gia của người dân trong xây dựng công trình Thủy lợi 61
Bảng 4.11 Nguồn vốn cho xây dựng hệ thống thủy lợi trên địa bàn huyện giai đoạn 2011 - 2015 63
Bảng 4.12 Đánh giá của cán bộ vốn cho xây dựng thủy lợi theo tiêu chí NTM 64
Bảng 4.13 Đánh giá của người dân về sự tham gia của các tổ chức xã hội trong xây dựng thủy lợi theo tiêu chí NTM 65
Bảng 4.14 Một số công trình mới trong giai đoạn 2011 – 2015 68
Bảng 4.15 Đánh giá của cán bộ về tình hình tổ chức xây mới công trình 69
Bảng 4.16 Kết quả tổ chức xây dựng thủy lợi liên xã giai đoạn 2011 – 2015 70
Bảng 4.17 Đánh giá của cán bộ về tổ chức xây dựng các công trình liên xã 71
Bảng 4.18 Kết quả tổ chức tu bổ các công trình thủy lợi cấp xã 73
Bảng 4.19 Đánh giá của người dân về tổ chức tu sửa công trình thủy lợi cấp xã 74
Bảng 4.20 Kết quả tổ chức xây dựng các công trình cấp xóm trong năm 2015 75
Bảng 4.21 Chức năng nhiệm vụ của các đơn vị tham gia quản lý 77
Trang 9Bảng 4.22 Kết quả sửa chữa kênh mương trên địa bàn huyện trong năm
2012 – 2015 79 Bảng 4.23 Đánh giá hệ thống thủy lợi theo tiêu chí NTM thông qua một số chỉ tiêu 80 Bảng 4.24 Đánh giá hệ thống thủy lợi theo tiêu chí nông thôn mới (tiếp) 81 Bảng 4.25 Đánh giá hệ thống kênh mương theo tiêu chuẩn NTM 84 Bảng 4.26 Đánh giá chất lượng kênh kiên cố 85 Bảng 4.27 Đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống thủy lợi huyện Lộc Bình
theo tiêu chí Nông thôn mới 87 Bảng 4.28 Đánh giá của người dân về hiệu quả hoạt động của các mô hình
thủy thủy nông 88 Bảng 4.29 Đánh giá ảnh hưởng của chính sách hiện nay tới xây dựng HTTL 90 Bảng 4.30 Đánh giá ảnh hưởng của nguồn lực tới xây dựng hệ thống thủy lợi 93 Bảng 4.31 Đánh giá của người dân về ảnh hưởng của quá trình hợp tác giữa
các đơn vị và người dân trong xây dựng hệ thống thủy lợi theo tiêu chí nông thôn mới 94 Bảng 4.32 Cơ cấu tổ chức của Ban quản lý thủy nông cấp xã 105
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Mô hình quản lý thủy lợi ở Nhật Bản 21
Hình 3.1 Bản đồ huyện Lộc Bình - Tỉnh Lạng Sơn 35
Hình 4.2 Tổ chức xây dựng các công trình đầu mối 67
Hình 4.3 Tổ chức xây dựng, tu bổ các công trình thủy lợi liên xã 70
Hình 4.4 Một số khó khăn trong tổ chức xây dựng thủy lợi liên xã 71
Hình 4.5 Tổ chức tu bổ thủy lợi nội đồng cấp xã 73
Hình 4.6 Tổ chức giải quyết những vấn đề công trình xóm, làng 75
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên luận văn: Giải pháp đẩy mạnh xây dựng hệ thống thủy lợi theo tiêu chí
nông thôn mới tại huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Nghiên cứu nhằm mục đích hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng
hệ thống thủy lợi theo tiêu chí nông thôn mới Từ đó phân tích thực trạng xây dựng thủy lợi theo tiêu chí nông thôn mới tại huyện Lộc Bình tỉnh Lạng Sơn nhằm đưa ra các giải pháp đẩy mạnh xây dựng hệ thống thủy lợi trên địa bàn Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là quá trình xây dựng hệ thống thủy lợi theo tiêu chí nông thôn mới trên địa bàn huyện, tập trung vào các hạng mục công trình
Luận văn sử dụng phương pháp thu thập số liệu thứ cấp thông qua các báo cáo,
số liệu về thủy lợi được cung cấp bởi nhiều nguồn khác nhau trong đó UBND huyện Lộc Bình, các xã trên địa bàn, ban chỉ đạo xây dựng NTM huyện, doanh nghiệp thủy nông…Số liệu sơ cấp được tổng hợp thông qua phiếu điều tra khảo sát các đối tượng như người dân, cán bộ huyện, xã có trách nhiệm về thủy lợi…Mẫu được lựa chọn gồn
120 hộ sinh sống tại 3 xã là Xuân Mãn, Xuân Dương, Yên Khoái và một só tổ chức xã hội khác Các số liệu được xử lý chủ yếu bằng excel, sử dụng phương pháp thống kê mô
tả, so sánh để tìm ra những tốn tại trong quá trình xây dựng hệ thống thủy lợi theo tiêu chí nông thôn mới tại huyện Lộc Bình
Luận văn đã góp phần hệ thống hóa được những vấn đề lý luận cơ bản liên quan tới hệ thống thủy lợi theo tiêu chí nông thôn mới như khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung xây dựng, các tiêu chí, và các yếu tố ảnh hưởng Bên cạnh đó, luận văn cũng đã tổng kết các kinh nghiệm về xây dựng cơ sở hạ tầng thủy lợi của nhiều nước tiên tiến trong đó có Nhật Bản, Hàn Quốc, Israel, Ấn Độ
Trên cơ sở sử dụng các phương pháp nghiên cứu, luận văn đã phân tích thực trạng về xây dựng hệ thống thủy lợi theo tiêu chí nông thôn mới bằng bộ tiêu chí đánh giá trên nhiều khía cạnh khác nhau Kết quả nghiên cứu cho thấy hệ thống thủy lợi hiện chưa đáp ứng được nhu cầu về nước trên địa bàn huyện Tỷ lệ kiên cố hóa kênh mương hóa, nhiều công trình hồ chứa, đập nước không đạt tiêu chuẩn Công tác quy hoạch chi tiết cho từng xã cũng gặp phải nhiều khó khăn Việc lập kế hoạch thực hiện các dự án vẫn còn nhiều vấn đề chưa tính đến, năng lực thi công có hạn nên chất lượng công trình
Trang 12còn thấp Riêng đối với công tác huy động nguồn lực của nhân dân các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, các xã đã huy động được nguồn lực đáng kể bằng tiền và công lao động Tuy nhiên việc huy động ở các xã khó khăn còn nhiều hạn chế, nguồn vốn đầu tư thấp khiến khó triển khai công việc trên thực địa
Luận văn cũng đã chỉ ra cơ chế tổ chức, sửa chữa các công trình liên xã, cấp xã
và công trình mới Đồng thời, thông qua đánh giá bằng bộ chỉ số cho thấy, chỉ có 1/29
xã đạt được các nội dung cần thiết của tiêu chí thủy lợi Các công trình nhiều xã bị xuống cấp và không được kiểm tra, bảo dưỡng định kỳ Các hoạt động gây mất an toàn công trình còn diễn ra phổ biến và việc ghi chép nhật ký vận hành cũng như bảo dưỡng không được làm thường xuyên
Chính vì vậy, trong thời gian tới cần thực hiện nhóm giải pháp về huy dộng nguồn lực trong cộng đồng; giải pháp đẩy mạnh xây dựng các công trình và hoàn thiện
mô hình quản lý mới có thể thúc đẩy huyện sớm hoàn thành tiêu chí thủy lợi này
Trang 13THESIS ABSTRACT
Thesis title: The solution to promote the construction of irrigation
system following the new rural criteria in Loc Binh district, Lang Son province
Educational institution: Vietnam National University of Agriculture
The study aim to review the theoretical and practical foundation in constructing irrigation system following the new rural criteria From that, evaluate the real situation
of building irrigation system in Loc Binh and suggest some solutions to boost the construction of irrigation system in the locality The fundamental research object of the thesis is process of constructing irrigation system, especially work items
The thesis collects secondary data from reports, irrigation database which are provided by several sources, such as Loc Binh’s people committee, communes, new rural steering committee, irrigational company at Loc Binh district The primary data was assembled from questionnaires which was utilized to interview candidates including civilian, official who has responsibility in irrigation The sample size involves
120 household living in Xuan Man, Xuan Duong and Yen Khoai communes The data was summarized and analyzed by Excel and the study use descriptive statistic and comparative method to investigate the weakness and problems in process of building irrigation system according to the new rural criteria
The dissertation has proceeded to systematize theoretical and practical basis concerning the new rural irrigation system That include definition, characteristic, roles, evaluative content, criterias and influential factors Moreover, the thesis also summarizes the practical experiences of constructing irrigation infrastructures in several developed countries, such as Japan, South Korea, Israel, India etc
Base on utilizing research methods, the dissertation has analyzed current state of building irrigation system according to the new rural criteria The result show that the irrigation system does not meet the demands for water in Loc Binh district The proportion of concretization canal is low, many constructions of lake, diversion dam are not up to standard Irrigation planning for communes faces several difficulties There are problems which are not considered still existing in project of building irrigation construction, while the low ability of constructor would decrease construction quality
Trang 14In particular of mobilizing community resources, the results illustrate that the study communes has mobilized significant resouces in both finance and work day However, that is difficult in poor communes which has restriction in economic, culture, investment
The dissertation point out the mechanism in coporation for repairing construction between communes, inside commune and new construction Moreover,
by using set of indexes in evaluating construction quality, there is one of twenty nice communes reach the irrigation criteria A lot of construction in many communes are degraded and not inspected regularly Unsafe activities are commonplace, and routine operations are not routinely performed as well as maintenance logs
Therefore, In the future, it is necessary to implement solutions to mobilize resource community; promote construction works and improve the new management model which would help Loc Binh to complete this criteria soon
Trang 15PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Là một quốc gia có nền nông nghiệp giữ vai trò quan trọng và dân cư chủ yếu sinh sống ở khu vực nông thôn Có thể nói, nông thôn Việt Nam chứa đựng tất cả những giá trị vật chất và tinh thần của xã hội và là động lực phát triển, hình thành vùng hỗ trợ hiệu quả cho khu vực thành thị Từ khi xây dựng đất nước đến nay, khu vực nông thôn luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước với nhiều chính sách xây dựng, hỗ trợ để đưa các vùng nông thôn bắt kịp đà phát triển, công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Bộ mặt và người dân nông thôn đã có nhiều khởi sắc và đạt được nhiều thành tựu to lớn đặc biệt là trong nông nghiệp sau quá trình đổi mới thể chế và nền kinh tế Tuy nhiên, các thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế: nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, sức cạnh tranh thấp, chuyển giao khoa học - công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế Nông nghiệp, nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng như giao thông, thủy lợi, trường học, trạm y tế, cấp nước còn yếu kém, môi trường ngày càng ô nhiễm Đời sống vật chất, tinh thần của người nông dân còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị còn lớn
Để giải quyết những vấn đề còn tồn tại hiện nay, năm 2010 chính phủ đã phê duyệt chương trình quốc gia về xây dựng nông thôn mới Đây là một chủ trương đúng đắn và mang tính chiến lược, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của kinh tế - xã hội quốc gia Với mục tiêu thay đổi bộ mặt nông thôn trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế tới văn hóa xã hội, an ninh trật tự và cơ sở hạ tầng, quá trình nông thôn mới xây dựng một nông thôn phát triển dựa trên sức mạnh của cộng đồng và sự hỗ trợ tích cực từ chính phủ
Sự ra đời của chương trình quốc gia về xây dựng nông thôn mới đã thổi một luồng gió mới đến các vùng nông thôn, kết quả bước đầu sau 5 năm thực hiện là rất khả quan với hàng trăm ngàn km đường giao thông nông thôn được xây dựng, điện và nước sạch được cung cấp đến các hộ dân nông thôn, các mô hình kinh tế mới được xây dựng và thu nhập của người dân ở nhiều khu vực tăng lên đáng kể Mặc dù vậy, bên cạnh những thành công đó, quá trình xây dựng nông thôn mới vẫn tiềm ẩn nhiều hạn chế cần phải xử lý như: Việc thực hiện lồng ghép từ các Chương trình mục tiêu khác hiệu quả chưa cao, do đầu tư dàn trải, mang tính
Trang 16chấp vá đối với kết cấu hạ tầng ở khu vực nông thôn, nhất là các công trình giao thông nông thôn; Đặc biệt, thủy lợi là một trong những vấn đề được đánh giá là khó khăn nhất trong bộ tiêu chí, bởi nhu cầu kinh phí cho xây dựng và hoàn thiện
hệ thống thủy lợi là rất lớn Đồng thời yêu cầu sức người dành cho công tác xây dựng và sửa chữa cũng không hề nhỏ Hơn nữa, hệ thống thủy lợi ở nhiều địa phương được xây dựng từ rất lâu, không được sửa chữa bảo dưỡng định kì phù hợp, đã xuống cấp và hư hỏng, đồng thời dưới sự tác động của biến đổi khí hậu hiện nay càng khiến chất lượng của hệ thống thủy lợi xuống cấp trầm trọng Nguồn vốn yêu cầu lớn nhưng nguồn đầu tư từ nhà nước có hạn và các doanh nghiệp hầu như cũng tham gia rất ít vào xây dựng hệ thống thủy lợi
Chính vì vậy việc nghiên cứu và xây dựng các giải pháp đẩy mạnh thực hiện tiêu chí thủy lợi và giải quyết triệt để những vấn đề còn tồn tại đối với thủy lợi hiện nay là một trong những nhiệm vụ cấp bách hiện nay nếu muốn chương trình xây dựng nông thôn mới được hoàn thành một cách tốt nhất Huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn là một huyện điểm của tỉnh Lạng Sơn về xây dựng nông thôn mới Mặc
dù đã gặt hái được nhiều thành công trong thời gian vừa qua nhưng cũng như nhiều địa phương khác Công tác thủy lợi của huyện vẫn là một trong những tiêu chí hạn chế nhất Do đó, việc nghiên cứu thực trạng xây dựng hệ thống thủy lợi và đưa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy hoàn thiện hệ thống thủy lợi là việc làm hết sức cần thiết, không chỉ có ý nghĩa riêng cho huyện mà còn tạo cơ sở cho việc đưa
ra các giải pháp cần thiết ở các địa phương khác Vì lý do trên, tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu: “Giải pháp đẩy mạnh xây dựng hệ thống thủy lợi theo tiêu chí nông thôn mới tại huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng xây dựng hệ thống thủy lợi phục vụ xây dựng nông thôn mới ở huyện Lộc Bình Từ đó đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh xây dựng hệ thống thủy lợi trên địa bàn huyện Lộc Bình – Tỉnh Lạng Sơn 1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng hệ thống thủy lợi theo tiêu chí nông thôn mới
- Đánh giá thực trạng xây dựng hệ thống thủy lợi theo tiêu chí nông thôn mới hiện nay của huyện Lộc Bình Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới quá trình xây dựng hệ thống thủy lợi theo tiêu chí nông thôn mới
Trang 17- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu đẩy mạnh quá trình xây dựng hệ thống thủy lợi phục vụ xây dựng nông thôn trên địa bàn huyện Lộc Bình trong thời gian tới
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là quá trình xây dựng hệ thống thủy lợi theo tiêu chí của Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới với chủ thể tham gia xây dựng nông thôn mới là các hộ nông dân trên địa bàn các xã của huyện; Cán bộ các cấp, các tổ chức đoàn thể, doanh nghiệp trên địa bàn huyện Lộc Bình tỉnh Lạng Sơn
- Thời gian nghiên cứu từ tháng 10/2015 đến tháng 10/2016
- Số liệu nghiên cứu được thu thập từ năm 2011-2016
1.4 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
1.4.1 Đóng góp về lý luận
- Đề tài đã góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hệ thống thủy lợi và xây dựng hệ thống thủy lợi theo tiêu chí nông thôn mới Trong đó, nghiên cứu đã hệ thống lại các chỉ tiêu đánh giá hệ thống thủy lợi theo tiêu chí nông thôn mới và vai trò của hệ thống thủy lợi
- Đề tài cũng đã đưa ra các nội dung đánh giá hệ thống thủy lợi trong xây dựng nông thôn mới Các chỉ tiêu về đánh giá chất lượng các công trình đầu mối; chỉ tiêu đánh giá chất lượng hệ thống kênh nội đồng; tính bền vững của tổ chức quản lý hệ thống công trình thủy lợi
- Đề tài cũng tổng hợp và đưa ra cơ sở của các giải pháp đẩy mạnh xây dựng
hệ thống nông thôn mới Đồng thời làm rõ các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình xây dựng hệ thống thủy lợi theo tiêu chí nông thôn mới trên phương diện tổng thể
Trang 181.4.2 Đóng góp về nội dung
- Hiện nay chưa có đề tài nghiên cứu nào đánh giá sâu về hệ thống thủy lợi theo tiêu chí nông thôn mới do gặp nhiều khó khăn trong quá trình thu thập thông tin và tiêu chí đánh giá Luận văn đã áp dụng các phương pháp nghiên cứu
cụ thể và các chỉ tiêu đánh giá mới nhất để phân tích thực trạng hệ thống thủy lợi tại huyện Lộc Bình
- Luận văn cũng đã chỉ ra được thực trạng huy động nguồn lực cho xây dựng hệ thống thủy lợi thông qua nguồn lực nhân dân, phương pháp huy động tài chính cho xây dựng hệ thống thủy lợi và phân bổ nguồn tài chính cho các hoạt động tu bổ, sửa chữa hệ thống thủy lợi một cách cụ thể nhất
- Luận văn cũng đưa ra được sơ đồ tổ chức xây dựng, tu bổ các công trình ở các cấp khác nhau, từ liên xã, xã đến thôn xóm Qua đó cung cấp cái nhìn tổng quan về hoạt động xây dựng hệ thống thủy lợi theo tiêu chí nông thôn mới ở một địa phương cụ thể
- Luận văn đã đánh giá các công trình thủy lợi khác nhau theo cụ thể từng chỉ tiêu của từng công trình, từ đó rút ra được kết luận tổng thể về hệ thống thủy lợi của huyện Bên cạnh đó luận văn cũng đã chỉ ra những đánh giá về nhiều khía cạnh của hệ thống thủy lợi từ phía các cán bộ nhà nước và người dân
- Luận văn đã đưa ra 06 nhóm giải pháp cụ thể phù hợp với điều kiện của huyện Lộc Bình nhằm hoàn thiện hệ thống thủy lợi theo tiêu chí nông thôn mới của huyện Lộc Bình
Trang 19PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG THỦY LỢI THEO TIÊU CHÍ NÔNG THÔN MỚI
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Một số vấn đề lý luận về xây dựng hệ thống thủy lợi theo tiêu chí nông thôn mới
2.1.1.1 Khái niệm hệ thống thủy lợi
Thủy lợi là lĩnh vực kinh tế kỹ thuật rộng lớn gồm nhiều hoạt động đấu tranh với tự nhiên để khai thác mặt có lợi của nguồn nước trên và dưới mặt đất phục vụ sản xuất và đời sống, đồng thời hạn chế những tác hại của nguồn nước gây ra đối với sản xuất và đời sống (Nguyễn Bá Uân, 2006),
Công tác thủy lợi bao gồm tổng hợp các biện pháp như chiến lược, quy hoạch, xây dựng, quản lý và khai thác, sử dụng các công trình thủy lợi; thực hiện tưới tiêu một cách khoa học nhằm chủ động cho nguồn nước cho trồng trọt, chăn nuôi và tạo điều kiện mở rộng diện tích canh tác, tăng năng suất, đa dạng hóa cơ cấu cây trồng, vật nuôi và hạn chế các thiệt hại do nước gây ra như hạn hán, lũ lụt,… Bên cạnh đó công tác thủy lợi trong nông nghiệp cũng có ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội nông thôn như cung cấp nguồn nước trong sinh hoạt và các ngành nghề nông thôn, tạo cảnh quan môi trường sinh thái nông nghiệp nông thôn thuận lợi…(Nguyễn Bá Uân, 2006)
Hệ thống thủy lợi : Hệ thống thuỷ lợi được coi là công cụ cơ bản để con người thực hiện việc điều tiết nguồn nước theo nhu cầu của mình Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi nêu rõ: Công trình thủy lợi là công trình thuộc kết cấu hạ tầng nhằm khai thác mặt lợi của nước; phòng chống tác hại do nước gây ra, bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái, bao gồm: Hồ chứa nước, đập, cống, trạm bơm, giếng, đường ống dẫn nước, kênh, công trình trên kênh và
bờ ao các loại (Ủy ban thường vụ Quốc Hội, 2001)
2.1.1.2 Hệ thống Thủy lợi theo tiêu chí nông thôn mới
Việt Nam với nền sản xuất nông nghiệp truyền thống là trồng lúa nước nhưng cũng là quốc gia chịu tác động trực tiếp của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng, ẩm, điều kiện thiên nhiên vô cùng khắc nghiệt, tổng lượng mưa năm lớn nhưng phân bố không đều về thời gian và không gian Hạn hán, xâm nhập mặn
và cạn kiệt về mùa khô, nhưng mưa, bão gây ra lũ, ngập lụt nghiêm trọng vào
Trang 20mùa mưa, những cảnh báo về biến đổi khí hậu càng làm diễn biến thiên tai phức tạp hơn Mặt khác, chương trình xây dựng nông thôn mới là một chương trình mang tinh toàn diện, thay đổi hoàn toàn bộ mặt nông thôn và trong đó yêu cầu về nguồn nước tưới tiêu, phát triển sản xuất, phục vụ dân sinh và an toàn mùa lũ là rất lớn
Do đó xây dựng thủy lợi nông thôn mới là xây dựng, tu bổ và phát triển công trình hạ tầng thủy lợi, phục vụ sản xuất nông nghiệp, góp phần quan trọng làm tăng năng suất, sản lượng và chất lượng sản phẩm nông nghiệp, thuỷ sản, cấp nước cho dân sinh và các ngành kinh tế khác, tiêu nước, chống ngập lụt góp phần phòng, chống giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai gây ra góp phần phát triển bền vững kinh tế - xã hội
Tiêu chí thủy lợi trong xây dựng NTM được hiểu: “là việc xây dựng, sửa chữa, hoàn thiện các công trình thủy lợi và hệ thống thủy lợi đã bị xuống cấp hoặc không đáp ứng được nhu cầu dùng nước của địa phương Việc xây dựng và sửa chữa phải đạt được các tiêu chuẩn về kỹ thuật do tổng cục thủy lợi ban hành”
Theo Bộ Nông nghiệp và PTNT (2013) xã đạt được tiêu chí thủy lợi khi đáp ứng đủ 02 yêu cầu:
- Đạt tỷ lệ kiên cố hóa kênh mương theo quy định (trừ các vùng không
áp dụng kiên cố hoá);
- Có hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh
Cụ thể:
+ Kiên cố hoá là gia cố kênh mương bằng các vật liệu (đá xây, gạch xây,
bê tông, composite) để bảo đảm kênh mương hoạt động ổn định, bền vững Trường hợp tưới tiêu bằng đường ống cố định cũng được coi là kiên cố hoá + Tỷ lệ kênh mương do xã quản lý được kiên cố hoá được tính bằng tỷ lệ
% (phần trăm) giữa tổng số km kênh mương đã được kiên cố hoá so với tổng số
km kênh mương cần được kiên cố hoá theo quy hoạch
Hệ thống thủy lợi trong phạm vi xã, do xã quản lý cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh phải bảo đảm các yêu cầu sau:
- Có hệ thống công trình thủy lợi được xây dựng theo quy hoạch và thiết
kế được duyệt, được bảo dưỡng, sửa chữa thường xuyên bảo đảm phát huy trên 80% năng lực thiết kế;
Trang 21- Phục vụ sản xuất trồng trọt, nuôi trồng thủy sản; Tạo nguồn để cơ bản đáp ứng yêu cầu nước cho sinh hoạt, chăn nuôi gia súc, gia cầm và hoạt động sản xuất phi nông nghiệp trên địa bàn;
- Có tổ chức (Hợp tác xã hoặc Tổ hợp tác) quản lý khai thác và bảo vệ công trình, đảm bảo kênh mương, cống, kè, đập, bờ bao được vận hành có hiệu quả bền vững, phục vụ cho sản xuất, dân sinh, được đa số người dân hưởng lợi đồng thuận
Chỉ tiêu theo vùng TDMN
phía Bắc
Đồng bằng sông Hồng
Bắc Trung
bộ
Duyên hải Nam
TB
Tây Nguyên
Đông Nam
bộ ĐBSCL
2.1.2 Vai trò của hệ thống thủy lợi theo tiêu chí nông thôn mới
Theo Nguyễn Đình Ninh (2012), nền kinh tế của đất nước ta là nền kinh
tế nông nghiệp, độc canh lúa nước Vì vậy nền kinh tế nước ta phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên, nếu như thơi tiết khí hậu thuận lợi thì đó là môi trường thuận lợi để nông nghiệp phát triển nhưng khi gặp những thời kỳ mà thiên tai khắc nghiệt như hạn hán, bão lụt thì sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đối với đời sống của nhân dân ta đặc biệt đối với sự phát triển của cây lúa, bởi vì lúa là một trong những mặt hàng xuất khẩu quan trọng của nước ta Vì vậy mà hệ thống thuỷ lợi có vai trò tác động rất lớn đối với nền kinh tế của đất nước ta như:
- Tăng diện tích canh tác cũng như mở ra khả năng tăng vụ nhờ chủ động
về nước, góp phần tích cực cho công tác cải tạo đất Hiện nay, trong điều kiện biến đổi khí hậu, hàng ngàn ha đất trồng và hoa màu bị thiệt hại hàng năm do hạn hán hoặc mưa lớn Nhiều địa phương bắt đầu phải thu hẹp sản xuất trong khi nguồn nước tưới tiêu ở nhiều vùng ngày càng trở nên khó khăn, đất đai bị nhiễm
Trang 22mặn và do thiếu nước nên không thể đẩy mặn, rửa chua Do đó hệ thống thủy lợi không chỉ góp phần chủ động về nguồn nước mà còn đảm bảo sử dụng đất nông nghiệp một cách bền vững (Nguyễn Đình Ninh, 2012)
- Nhờ có hệ thống thuỷ lợi mà có thể cung cấp nước cho những khu vực
bị hạn chế về nước tưới tiêu cho nông nghiệp đồng thời khắc phục được tình trạng khi thiếu mưa kéo dài và gây ra hiện tượng mất mùa mà trước đây tình trạng này là phổ biến Mặt khác nhờ có hệ thống thuỷ lợi cung cấp đủ nước cho đồng ruộng từ đó tạo ra khả năng tăng vụ, vì hệ số quay vòng sử dụng đất tăng từ 1,3 lên đến 2-2,2 lần đặc biệt có nơi tăng lên đến 2,4-2,7 lần Nhờ có nước tưới chủ động nhiều vùng đã sản xuất được 4 vụ Trước đây do hệ thống thuỷ lợi ở nước ta chưa phát triển thì lúa chỉ có hai vụ trong một năm Do hệ thống thuỷ lợi phát triển hơn trước nên thu hoạch trên 1 ha đã đạt tới 60-80 triệu đồng, trong khi nếu trồng lúa 2 vụ chỉ đạt trên dưới 10 triệu đồng Hiện nay do có sự quan tâm đầu tư một cách thích đáng của Đảng và Nhà nước từ đó tạo cho ngành thuỷ lợi
có sự phát triển đáng kể và góp phần vào vấn đề xoá đói giảm nghèo, đồng thời cũng tạo ra một lượng lúa xuất khẩu lớn và hiện nay nước ta đang đứng hàng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo…Ngoài ra, nhờ có hệ thống thuỷ lợi cũng góp phần vào việc chống hiện tượng sa mạc hoá (Nguyễn Bá Uân, 2006)
- Tăng năng xuất cây trồng, tạo điều kiện thay đổi cơ cấu nông nghiệp, giống loài cây trồng, vật nuôi, làm tăng giá trị tổng sản lượng của khu vực
- Cải thiện chất lượng môi trường và điều kiện sống của nhân dân nhất là những vùng khó khăn về nguồn nước, tạo ra cảnh quan mới
- Thúc đẩy sự phát triển của các ngành khác như công nghiệp, thuỷ sản
- Tạo công ăn việc làm, góp phần nâng cao thu nhập cho nhân dân, giải quyết nhiều vấn đề xã hội, khu vực do thiếu việc làm, do thu nhập thấp Từ đó góp phần nâng cao đời sống của nhân dân cũng như góp phần ổn định về kinh tế
và chính trị trong cả nước
- Thuỷ lợi góp phần vào việc chống lũ lụt do xây dựng các công trình đê điều từ đó bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân và tạo điều kiện thuận lợi cho họ tăng gia sản xuất
Tóm lại thuỷ lợi có vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống của nhân dân nó góp phần vào việc ổn định kinh tế và chính trị tuy nó không mang lại lợi nhuận một cách trực tiếp nhưng nó cũng mang lại những nguồn lợi gián tiếp như
Trang 23việc phát triển ngành này thì kéo theo rất nhiều ngành khác phát triển theo Từ đó tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển và góp phần vào việc đẩy mạnh công cuộc CNH-HĐH đất nước
2.1.3 Đặc điểm đánh giá hệ thống thủy lợi trong xây dựng nông thôn mới
Nội dung đánh giá chất lượng hệ thống thủy lợi theo tiêu chí nông thôn mới được thực hiện theo thông tư 41/2014/TT-BNNPTNT ngày 04/10/2013 về hướng dẫn đánh giá chất lượng các công trình thủy lợi xây dựng theo tiêu chí của nông thôn mới theo đó, nội dung đánh giá dựa trên các dánh giá về chất lượng công trình đầu mối; chất lượng kênh nội đồng; hiệu quả bền vững của tổ chức dùng nước; đánh giá chất lượng thủy lợi
2.1.3.1 Đánh giá chất lượng các công trình đầu mối
Chất lượng các công trình đầu mối:
- Các công trình đầu mối được xây dựng theo quy hoạch và thiết kế được duyệt;
- Công trình hồ chứa bao gồm các hạng mục công trình lòng hồ, đập đất, đập tràn, cống lấy nước được xây dựng, vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa thường xuyên đáp ứng được các yêu cầu chất lượng công trình theo Tiêu chuẩn TCKT…
về công trình hồ chứa, đập dâng quy mô nhỏ;
- Công trình đập dâng bao gồm các hạng mục công trình đập xây, cống lấy nước, cống xả cát, thiết bị cơ khí, thiết bị điện được xây dựng, bảo dưỡng, sửa chữa thường xuyên đáp ứng được các yêu cầu chất lượng công trình theo TCKT…về công trình hồ chứa, đập dâng quy mô nhỏ;
- Công trình trạm bơm điện bao gồm các hạng mục công trình nhà trạm bơm, bể hút, bể xả, máy bơm, động cơ điện, thiết bị điện, đường dây dẫn điện được xây dựng, vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa thường xuyên đáp ứng được các yêu cầu chất lượng công trình theo TCKT…về công trình trạm bơm điện quy mô nhỏ;
- Công trình cống lấy nước qua đê bao gồm các hạng mục công trình cửa vào, thân cống, cửa ra, giàn van, cánh cống được xây dựng, vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa thường xuyên có chất lượng tốt theo năng lực thiết kế
Nội dung, phương pháp đánh giá chất lượng công trình đầu mối
- Nội dung, phương pháp tính điểm các chỉ tiêu đánh giá chất lượng các công trình đàu mối hồ chứa, đập dâng, trạm bơm điện, cống lấy nước qua đê trên địa bàn xã;
Trang 24- Trường hợp xã chỉ có 1 công trình đầu mối là hồ chứa, đập dâng, trạm bơm điện hay cống lấy nước qua đê thì điểm đánh giá chất lượng công trình đầu mối là điểm đánh giá chất lượng công trình đó;
- Trường hợp xã có nhiều công trình đầu mối là hồ chứa, đập dâng, trạm bơm điện hay cống lấy nước qua đê thì điểm đánh giá được tính trung bình cho các công trình đầu mối
2.1.3.2 Đánh giá chất lượng hệ thống kênh nội đồng
Tỷ lệ kiên cố hóa kênh mương
- Hệ thống kênh nội đồng được xây dựng theo quy hoạch và thiết kế được duyệt;
- Kiên cố hoá là gia cố kênh mương bằng các vật liệu (đá xây, gạch xây,
bê tông, composite…) để bảo đảm kênh mương hoạt động ổn định, bền vững Trường hợp tưới tiêu bằng đường ống cố định cũng được coi là kiên cố hóa;
- Tỷ lệ kênh mương do xã quản lý cần được kiên cố hoá theo Quyết định
số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới;
- Tỷ lệ kênh mương do xã quản lý được kiên cố hoá được tính bằng tỷ lệ
% (phần trăm) giữa tổng km kênh mương đã được kiên cố hoá so với tổng số km kênh mương cần được kiên cố hoá theo quy hoạch;
- Đối với các xã vùng Đồng bằng sông Cửu long hoặc những nơi chỉ cần xây dựng các cống bọng:
+ Tỷ lệ kiên cố hóa kênh mương được tính bằng tỷ lệ cống bọng được kiên cố hóa
+ Tỷ lệ cống bọng do xã quản lý được kiên cố hóa được tính bằng tỷ lệ
% (phần trăm) giữa tổng cống bọng đã được kiên cố hóa so với tổng số cống bọng cần được xây dựng theo quy hoạch
Chất lượng hệ thống kênh nội đồng
- Hệ thống kênh nội đồng bao gồm các tuyến kênh được kiên cố, kênh đất, công trình trên kênh được xây dựng, bảo dưỡng, sửa chữa thường xuyên đáp ứng được các yêu cầu về chất lượng theo TCKT…về Hệ thống kênh mương và công trình nội đồng;
- Đối với các xã vùng Đồng bằng sông Cửu Long hoặc những nơi có hệ
Trang 25thống thủy lợi nội đồng chủ yếu là hệ thống đê bao, bờ bao: Hệ thống đê bao, bờ bao gồm các tuyến đê bao, bờ bao, cống bọng được xây dựng, bảo dưỡng, sửa chữa thường xuyên đáp ứng được các yêu cầu chất lượng công trình theo TCKT…về Hệ thống kênh mương và công trình nội đồng;
- Nội dung, phương pháp đánh giá chất lượng hệ thống kênh nội đồng + Chất lượng hệ thống kênh nội đồng trên địa bàn xã được đánh giá qua kết quả xây dựng kiên cố hóa kênh mương , chất lượng kênh mương và các công trình trên kênh Nội dung, phương pháp tính điểm các chỉ tiêu đánh giá chất lượng hệ thống kênh nội đồng trên địa bàn xã Trường hợp xã có nhiều tuyến kênh, bao gồm cả kênh đất và kênh được kiên cố thì điểm đánh giá được tính theo phương pháp bình quân gia quyền cho các tuyến kênh
+ Đối với các xã vùng Đồng bằng sông Cửu Long hoặc những nơi có hệ thống thủy lợi nội đồng chủ yếu là hệ thống đê bao, bờ bao thì chất lượng hệ thống kênh nội đồng được đánh giá bằng chất lượng hệ thống đê bao, bờ bao Nội dung, phương pháp tính điểm các chỉ tiêu đánh giá chất lượng đê bao, bờ bao Trường hợp xã có nhiều tuyến đê bao, bờ bao thì điểm đánh giá được tính bình quân cho các tuyến đê bao, bờ bao
2.1.3.3 Đánh giá hiệu quả và tính bền vững của tổ chức quản lý hệ thống công trình thủy lợi
Tổ chức quản lý hệ thống công trình thủy lợi trong phạm vi xã hoạt động hiệu quả và bền vững đáp ứng TCKT…về Tổ chức dùng nước quản lý công trình thủy lợi về các yêu cầu sau:
1 Có hình thức tổ chức và cơ cấu tổ chức phù hợp;
2 Có đầy đủ tư cách pháp lý để thực hiện dịch vụ thủy lợi;
3 Có đủ năng lực để quản lý, vận hành công trình thủy lợi;
4 Duy trì các hoạt động thường xuyên để quản lý, khai thác công trình thủy lợi;
5 Quản lý tài chính, tài sản theo quy định;
6 Có khả năng tự chủ tài chính;
7 Thực hiện phân phối nước hiệu quả;
8 Người dùng nước hài lòng với chất lượng dịch vụ thủy lợi
Nội dung, phương pháp tính điểm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả và tính bền vững của tổ chức quản lý công trình thủy lợi Trường hợp trong xã có nhiều
Trang 26tổ chức quản lý thì điểm đánh giá tổ chức quản lý công trình thủy lợi hiệu quả, bền vững được tính bình quân cho các tổ chức quản lý
2.1.3.4 Đánh giá chất lượng dịch vụ thủy lợi
Chất lượng dịch vụ thủy lợi trên địa bàn xã đáp ứng TCKT…về Chất lượng dịch vụ thủy lợi cấp xã về các yêu cầu sau:
1 Đảm bảo cấp nước cho sản xuất nông nghiệp;
2 Đảm bảo tiêu úng và bảo vệ mùa màng;
3 Cấp đủ nguồn phục vụ nuôi trồng thủy sản;
4 Tạo nguồn để cơ bản đáp ứng yêu cầu nước cho sinh hoạt;
5 Tạo nguồn để đáp ứng yêu cầu nước cho hoạt động sản xuất phi nông nghiệp trên địa bàn xã
Nội dung, phương pháp tính điểm các chỉ tiêu đánh giá chất lượng dịch
vụ thủy lợi trên địa bàn xã xem ở Phụ lục 4
2.1.3.5 Phương pháp đánh giá đạt tiêu chí thủy lợi
Tiêu chí thủy lợi được đánh giá dựa trên kết quả tính điểm cho các chỉ tiêu đánh giá về chất lượng công trình đầu mối, chất lượng hệ thống kênh nội đồng, hiệu quả và tính bền vững của tổ chức quản lý công trình thủy lợi và chất lượng dịch vụ thủy lợi trên địa bàn xã, có xét đến trọng số của các chỉ tiêu đánh giá
2.1.4 Nội dung nghiên cứu đẩy mạnh xây dựng hệ thống thủy lợi theo tiêu chí nông thôn mới
2.1.4.1 Quá trình triển khai thực hiện xây dựng hệ thống thủy lợi phục vụ xây dựng nông thôn mới
a Xây dựng Kế hoạch thực hiện
Xây dựng mục đích và yêu cầu:
Mục đích
- Triển khai thực hiện đúng tiến độ và có hiệu quả theo tiến độ chung của chương trình xây dựng nông thôn mới ở địa phương trong năm 2012 và giai đoạn 2011-2020
- Huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội vào công tác xây dựng hệ thống thủy lợi nội đồng trên phạm vi toàn các xã huyện của tỉnh, khuyến khích đầu tư của các doanh nghiệp vào xây dựng và khai thác có hiệu quả các công trình thủy lợi
Trang 27- Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13 của Quốc hội khóa 13;
- Kết luận số 97-KL/TW của Bộ Chính trị ngày 15/5/2014 về một số chủ trương, giải pháp tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 Khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;
- Chỉ thị số 23/CT-TTg, ngày 05/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ về lập
kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm 2016 - 2020, trong đó xác định giai đoạn 2016-2020 còn 02 chương trình MTQG;
- Chỉ thị 18/CT-TTg ngày 15/7/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường chỉ đạo thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới;
- Kết quả thực hiện Chương trình giai đoạn 2010-2014
b Tuyên tuyền, vận động nhân dân
- Tuyên truyền sâu rộng mục đích, ý nghĩa, mục tiêu, kế hoạch thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới; những nội dung cơ bản của Chương trình xây dựng nông thôn mới; các tiêu chí nông thôn mới và các văn bản của Trung ương, của tỉnh có liên quan
- Tuyên truyền đậm nét những kết quả đạt được, những cách làm sáng tạo, những kinh nghiệm của các địa phương; những mô hình, điển hình tiên tiến; những tập thể, cá nhân có nhiều đóng góp cho Chương trình xây dựng nông thôn
- Tuyên truyền các địa phương, đơn vị phát huy tốt vai trò chủ thể của người dân, huy động tốt các nguồn lực, các nguồn vốn ngoài ngân sách để thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới; các địa phương có những phương pháp, cách làm sáng tạo, thiết thực, hiệu quả, thực hiện vượt mục tiêu, kế hoạch
đề ra Đặc biệt là các địa phương phát động phong trào xây dựng nông thôn mới
Trang 28có sự tham gia, đóng góp tích cực của người dân, thể hiện rõ chủ thể trong xây dựng nông thôn mới là người dân và cộng đồng dân cư
- Kịp thời phản ánh, phân tích những khó khăn, vướng mắc, những biểu hiện tiêu cực trong quá trình thực hiện Chương trình
- Phản ánh tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị, đề xuất của nhân dân trong quá trình thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới
c Thu hút nguồn lực đầu tư
* Nguồn lực tài chính
Huy động tài chính là chức năng tạo lập các nguồn tài chính, thể hiện khả năng tổ chức khai thác các nguồn tài chính nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế Việc huy động vốn phải tuân thủ cơ chế thị trường, quan hệ cung cầu
và giá cả của vốn.Trong thực hiện xây dựng hệ thống thủy lợi theo tiêu chí nông thôn mới, việc huy động nguồn lực tài chính được thể hiện sau:
- Nguồn vốn thực hiện: Nguồn vốn xây dựng hệ thống thủy lợi theo tiêu chí nông thôn mới của các xã dựa vào các nguồn từ Trung ương đến địa phương + Vốn ngân sách (Trung ương và địa phương), bao gồm: Vốn từ các chương trình mục tiêu quốc gia và chương trình, dự án, hỗ trợ có mục tiêu đang triển khai và sẽ tiếp tục triển khai trong những năm tiếp theo trên địa bàn; vốn trực tiếp cho chương trình xây dựng nông thôn mới để thực hiện nội dung kiên cố hóa kênh mương nội đồng; vốn sự nghiệp thủy lợi
+ Vốn tín dụng (bao gồm tín dụng đầu tư phát triển và tín dụng thương mại)
+ Vốn từ các doanh nghiệp, hợp tác xã và các loại hình kinh tế khác
+ Huy động đóng góp của cộng đồng dân cư
- Cơ chế huy động
Thực hiện lồng ghép các nguồn vốn của các chương trình mục tiêu quốc gia; các chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu trên địa bàn (vốn từ các chương trình mục tiêu quốc gia và chương trình, dự án, hỗ trợ có mục tiêu đang triển khai trên địa bàn nông thôn; vốn ngân sách hỗ trợ trực tiếp từ các chương trình) Huy động tối đa nguồn lực của địa phương (tỉnh, huyện, xã) để tổ chức triển khai thực hiện chương trình Huy động vốn đầu tư của các doanh nghiệp đối với các công trình có khả năng thu hồi vốn trực tiếp; doanh nghiệp được vay vốn tín dụng đầu
Trang 29tư phát triển của Nhà nước hoặc tỉnh, được ngân sách nhà nước hỗ trợ sau đầu tư
và được hưởng ưu đãi theo quy định của pháp luật Các khoản đóng góp của nhân dân trong xã cho từng dự án cụ thể, do Hội đồng nhân dân xã thông qua Các khoản viện trợ không hoàn lại của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho các dự án đầu tư Ngoài ra còn sử dụng có hiệu quả nguồn vốn tín dụng hoặc huy động các nguồn tài chính hợp pháp khác
Nâng cao hiệu quả khai thác các hệ thống thuỷ lợi hiện có
- Đảm bảo các công trình đầu mối an toàn làm việc đủ công suất thiết kế
- Tổ chức tốt công tác quản lý và phân phối nước trên toàn hệ thống thuỷ lợi lợi
- Nâng cao hiệu quả khai thác các hệ thống thuỷ lợi hiện có phục vụ đa mục tiêu là giải pháp nhanh và kinh tế nhất phục vụ chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn
Tiếp tục đầu tư xây dựng mới các hệ thống công trình thuỷ lợi đặc biệt là các hệ thống tưới cho cây trồng cạn, hệ thống thuỷ lợi phục vụ nuôi trồng thuỷ sản, làm muối
- Tập trung đầu tư công trình tạo nguồn nước, hệ thống tưới và công nghệ phù hợp cho những vùng cây trồng cạn tập trung có hiệu quả kinh tế cao, vùng nguyên liệu của các cơ sở công nghiệp chế biến, vùng cây đặc sản có ưu thế cạnh tranh trên thị trường trong nước và thế giới
- Đối với việc xây dựng hệ thống thuỷ lợi phục vụ nuôi trồng thuỷ sản, làm muối cần xem xét kỹ qui hoạch sản xuất và tiến độ chuyển đổi cơ cấu sản xuất trên cơ sở đó xây dựng qui hoạch hệ thống thuỷ lợi
Trang 30 Củng cố các doanh nghiệp nhà nước khai thác công trình thủy lợi
Dù thực hiện xã hội hoá công tác quản lý khai thác công trình thuỷ lợi, nhưng chắc chắn các doanh nghiệp nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo trong lĩnh vực này Vì thế, việc củng cố các doanh nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi là một trọng tâm nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn
2.1.4.3 Tổ chức quản lý các công trình thủy lợi
a.Các tổ chức tham gia quản lý các công trình thủy lợi
Các tổ chức tham gia quản lý các công trình thủy lợi theo quy định hiện hành hiện nay gồm có:
- Doanh nghiệp: gồm Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (TNHHMTV) nhà nước sở hữu 100% vốn; các công ty khác tham gia hoặc được giao nhiệm vụ quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi
- Tổ chức hợp tác dùng nước hoạt động theo quy định của Luật Hợp tác
xã hoặc Bộ Luật Dân sự và các hướng dẫn hiện hành, không phân biệt tên gọi của tổ chức đó
- Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi (theo hình thức đấu thầu hoặc giao khoán thí điểm)
- Đối với các địa phương chưa có doanh nghiệp chuyên trách thực hiện nhiệm vụ quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi, có thể tạm thời giao cho doanh nghiệp khác (hoặc đơn vị sự nghiệp) trên địa bàn thực hiện Đơn vị được giao phải tổ chức một bộ phận chuyên trách về quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi, sau đó củng cố, kiện toàn, hoàn thiện tổ chức theo khoản 1 điều này Không thành lập mới các đơn vị sự nghiệp để thay thế các doanh nghiệp đang thực hiện nhiệm vụ quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi Tuỳ điều kiện cụ thể của từng địa phương để thành lập mô hình tổ chức quản lý, khai thác công trình thủy lợi cho phù hợp theo các quy định của pháp luật, đảm bảo tinh gọn, hiệu quả
Trang 31- Tổ chức hợp tác dùng nước: Tập thể người hưởng lợi tự quyết định mô hình tổ chức, hoạt động của Tổ chức hợp tác dùng nước, báo cáo các cơ quan có thẩm quyền xem xét, công nhận theo các quy định hiện hành
Phương thức hoạt động của tổ chức quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi
- Tổ chức quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi hoạt động tuân theo các quy định hiện hành về sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích Áp dụng hình thức đặt hàng đối với tất cả các loại hình tổ chức quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi (chỉ áp dụng hình thức giao kế hoạch đối với những trường hợp đặc thù)
- Các tổ chức quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi thuộc tất cả các loại hình được khuyến khích áp dụng thí điểm hình thức đấu thầu, giao khoán đối với việc quản lý, bảo vệ và duy tu, bảo dưỡng của các hạng mục công trình, kênh mương thuộc phạm vi đơn vị quản lý, trên cơ sở định mức kinh tế kỹ thuật và nội dung, dự toán kinh phí được phê duyệt
- Doanh nghiệp, Tổ chức hợp tác dùng nước khi được các cơ quan có thẩm quyền đặt hàng hoặc giao kế hoạch quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi được tự chủ trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ, sắp xếp lại tổ chức, đổi mới cơ chế quản lý nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của đơn vị Thực hiện cơ chế khoán, gắn quyền lợi và trách nhiệm của người lao động với kết quả sản xuất
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến đẩy mạnh thực hiện xây dựng hệ thống thủy lợi theo tiêu chí NTM
2.1.5.1 Chính sách và pháp luật Nhà Nước
Theo Bộ Nông nghiệp và PTNT (2014), Chính sách có vai trò cực kỳ quan trọng tác động đến quá trình thực hiện chương trình NTM nói chung và tiêu chí thủy lợi nói riêng Đặc biệt là đối với thủy lợi khi yêu cầu thực hiện tiêu chí này được xem là khó nhất do yêu cầu nguồn vốn lớn và cần phải có đóng góp của sức mạnh cộng đồng
Các chính sách của nhà nước về khuyến khích phát triển hệ thống thủy lợi nhỏ, thuỷ lợi nội đồng và tưới tiên tiến, tiết kiệm nước nhằm đáp ứng yêu cầu tái cơ cấu nông nghiệp và sẽ góp phần thúc đẩy xây dựng nông thôn mới
Các chính sách khuyến khích phát triển thủy lợi trong đó có các nội dung khuyên khích doanh nghiệp, Hợp tác xã, Tổ hợp tác, hộ gia đình (tổ chức, cá
Trang 32nhân) hoạt động có liên quan trong đầu tư xây dựng, quản lý khai thác hệ thống công trình thuỷ lợi nhỏ, thuỷ lợi nội đồng, tưới tiên tiến, tiết kiệm nước sẽ được thúc thúc đẩy Đây là điều kiện quan trọng để phát triển hệ thống thủy lợi dựa vào nguồn lực cộng đồng
Bên cạnh đó, các đề xuất chính sách hỗ trợ kiên cố, hoàn thiện hệ thống kênh mương, cống, kết hợp giao thông nội đồng cũng góp phần củng cố và phát triển hệ thống thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp và đảm bảo cuộc sống dân
cư nông thôn hiện nay (Bộ Nông Nghiệp và PTNT, 2014)
2.1.5.2 Trình độ phát triển kinh tế xã hội
Trình độ phát triển của kinh tế xã hội có ảnh hưởng trực tiếp tới tích lũy
và khả năng huy động vốn của địa phương Kinh tế xã hội có phát triển, càng có nhiều nguồn lực hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng, đặc biệt là các cơ sở hạ tầng đòi hỏi nguôn vốn lớn như các công trình thủy lợi Đồng thời trình độ phát triển kinh
tế xã hội sẽ kéo theo những nhu cầu ngày càng cao và khắt khe về nước sản xuất
và nước sinh hoạt Đặc biệt, công tác thủy lợi gắn liền với tiêu chí nước sạch nông thôn trong chương trình NTM Do đó, đây là yếu tố có sự tác động không nhỏ tới quá trình thực hiện tiêu chí này
Tốc độ phát triển kinh tế xã hội khiến ngân sách nhà nước đặc biệt là ngân sách địa phương có thêm nguồn lực để chia sẻ cho ngành thủy lợi Đặc biệt với đặc thù có mức đầu tư ban đầu rất cao, khai thác thủy lợi hầu hết được dành cho các doanh nghiệp có vốn nhà nước hoặc nhà nước bao tiêu hỗ trợ Do đó chịu sự tác động mạnh của tình hình ngân sách nhà nước trong kỳ Hơn thế nữa,
sự phát triển kinh tế xã hội đặt ra yêu cầu phải hoàn thiện tốt hơn nữa cơ sở hạ tầng về thủy lợi, đảm bảo nhu cầu nước không chỉ cho sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt mà còn hỗ trợ cung cấp nước cho các cụm kinh tế, công nghiệp Vì vậy, đầu
tư phát triển thủy lợi là điều tất yếu trong sự phát triển kinh tế xã hội chung của mỗi địa phương
2.1.5.3 Trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật
Theo Phạm Hồng Giang (2008), Không như các ngành, lĩnh vực khác, thủy lợi là một lĩnh vực có khoa học kỹ thuật đặc thù Bao gồm rất nhiều nội dung từ xây lắp cho đến vận hành quản lý và sử dụng phần mềm Do đó, trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả và hiệu quả xây dựng các công trình thủy lợi Đặc biệt hơn, ở một số địa phương có điều kiện kinh tế khó khăn Việc lựa chọn kỹ thuật thủy lợi như thế nào là điều hết sức
Trang 33quan trọng Nhằm hạn chế được các rủi ro do thủy văn đồng thời giảm chi phí, tiết kiệm nguồn tài chính cho địa phương Đồng thời hệ thống thủy lợi phù hợp cũng sẽ được vận hành và bảo trì một cách hợp lý, kéo dài thời gian sử dụng cho người dân
2.1.5.4 Tập quán sản xuất và nhu cầu về nước
Theo Trần Chí Trung (2013), Các công trình thủy lợi gắn liền với sản xuất nông nghiệp và nhu cầu nước sạch nông thôn Do đó, tập quán sản xuất và nhu cầu về nước ở địa phương có ảnh hưởng rất lớn tới việc xây dựng hệ thống thủy lợi Với những yêu cầu khắt khe về đảm bảo nguồn nước tưới, nguồn nước nuôi trồng thủy sản, chống úng, chống mưa lũ, chống hạn hán…Hệ thống thủy lợi muốn xây dựng thành công tất yếu phải phân tích tập quán sản xuất và nhu cầu về nước ở địa phương Bởi lẽ đó là căn cứ để xây dựng hệ thống thủy lợi có thể đáp ứng tất cả các tiêu chí nêu trên đống thời đảm bảo nguồn nước luôn sẵn
có cho sản xuất và tiêu dùng
2.1.5.5 Sự phối hợp của các tổ chức đoàn thể, doanh nghiệp
Sự phối kết hợp thể hiện: Thứ nhất, quán triệt và thống nhất trong tổ chức về ý nghĩa và nhiệm vụ trong công tác xây dựng hệ thống thủy lợi nông thôn mới; Thứ hai, là cầu nối hiệu quả giữa chính quyền và người dân; Thứ ba, tuyên truyền, vận động và tổ chức các phong trào thi đua nhằm huy động nhân lực, vật lực giải quyết các công việc cụ thể, Thứ tư, gương mẫu, trách nhiệm và
đi đầu trong việc triển khai, thực hiện và duy trì sử dụng các công trình, thành quả của công tác xây dựng nông thôn mới
2.1.5.6 Thu hút đầu tư vào nông thôn
Các doanh nghiệp ít quan tâm đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn vì đây là ngành sản xuất có nhiều rủi ro, đầu tư lớn mà hiệu quả thấp và mâu thuẫn giữa thị trường lớn trong khi sản xuất nhỏ Nếu không giải quyết được các mâu thuẫn này thì việc thu hút đầu tư nguồn lực vào nông nghiệp, nông thôn sẽ không mang lại hiệu quả Trong khi đó, quá trình quản lý thủy lợi hiện nay gặp nhiều khó khăn do các doanh nghiệp nhà nươc làm ăn không có hiệu quả Sử dụng các công trình không phù hợp, không đúng mục đích gây ra lãng phí cho ngân sách của nhà nước
Theo Bộ NN&PTNT (2013), hiện nay, trên 90% doanh nghiệp khai thác các công trình thủy lợi trên cả nước lại đang hoạt động theo phương thức giao kế hoạch Nhiều chuyên gia kinh tế am tường về lĩnh vực thủy lợi cho
Trang 34rằng, cơ chế này một mặt thiếu công cụ giám sát cho cơ quan quản lý chuyên ngành, mặt khác làm hạn chế quyền tự chủ của doanh nghiệp Đây là nguyên nhân dẫn tới chất lượng quản trị của doanh nghiệp yếu kém, bộ máy cồng kềnh, năng suất lao động thấp, số lượng cán bộ, công nhân viên có xu hướng ngày càng tăng Hệ lụy dẫn tới là các hệ thống công trình thủy lợi bị xuống cấp nhanh, chất lượng cung cấp dịch vụ thấp Cơ chế này không phát huy tiềm năng, lợi thế về đất đai, nước, cơ sở hạ tầng và các nguồn lực khác của tổ chức quản lý khai thác để tăng nguồn thu
Vì vậy, khuyên khích các doanh nghiệp tư nhân, các tổ chức đầu tư vào nông nghiệp nông thôn, trong đó đầu tư vào hệ thống thủy lợi là yếu tố quan trọng tác động đến tái cơ cấu ngành thủy lợi hiện nay, nhằm giảm gánh nặng cho ngân sách quốc gia, sử dụng nguồn vốn và các công trình thủy lợi hiệu quả hơn 2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG THỦY LỢI THEO TIÊU CHÍ NÔNG THÔN MỚI
2.2.1 Xây dựng hệ thống thủy lợi nông thôn trên thế giới
2.2.1.1 Nhật Bản
Theo hội đập lớn và Phát triển nguồn nước Việt Nam (2013), Từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ II, các dự án cải tạ đất và tưới nước được đòi hỏi phải triển khai rộng khắp trên toàn quốc nhằm bảo đảm cung cấp đủ lương thực và xây dựng lại đất nước Trong hoàn cảnh đó, Luật Cải Tạo Đất (LID) được ban hành vào năm 1949 để hỗ trợ cho các dự án này, cùng với việc cải cách ruộng đất do nhiều nông dân đưa ra Luật này cho phép thành lập hội cải tạo đất để triển khai các dự án nói trên và quản lý các công trình thủy lợi đã được xây dựng Ở đây, Hội Cải Tạo Đất được thành lập để thay thế cho các hợp tác xã trước đó làm nhiệm vụ hợp nhất hóa việc quản lý đất đai và quản lý thủy lợi
Các hoạt động quản lý thủy lợi của mô hình LID Hệ thống kênh tưới tiêu được xây dựng quanh các vùng nông thôn, qua một thời gian dài sử dụng đến nay đã được mở rộng với tổng chiều dài lên đến 400.000km, trong đó có khoảng 40.000km là kênh chính Hệ thống quan trọng này làm chủ cho môi trường nông thôn và sản xuất nông nghiệp cua Nhật Bản, tạo điều kiện thuận lợi
và ổn định cuộc sống đô thị trong khi vẫn duy trì các điều kiện cần thiết cho sản xuất nông nghiệp
1) Hợp tác với chính quyền các cấp Để quản lý hiệu quả các công trình thủy lợi, LID tổ chức hợp tác với chính quyền các cấp Có ba cách thức trong hệ
Trang 35thống để vận hành và bảo dưỡng không chỉ các hệ thống kênh mà còn có các hồ chưa, đập, trạm bơm và các công trình khác để cấp nước cho nông nghiệp Chúng bao gồm do bộ nông nghiệp và thực phẩm; do chính quyền dịa phương và do LDII quản lý
Sau khi kết thúc quy trình vận hành các LID do chính quyền địa phương/ trung ương quản lý; ví dụ như MAFF chỉ vận hành và bảo dưỡng một số trang thiết bị của hệ thống dựa trên một số điều kiện đặc biệt như sự phức tạp về mặt
kỹ thuật trong vận hành và bảo dưỡng trong khi trách nhiệm vận hành và duy tu các trang thiết bị khác của hệ thống được MAFF chuyển giao cho chính quyền địa phương và LID Do vậy, LID đảm trách vận hành và bảo dưỡng 80% của hệ thống kênh chính với chiều dài tổng cộng là 40.000km do chính quyền địa phương hoặc trung ương xây dựng
2) Hợp tác tập thể của nông dân Đối với mô hình quản lý thủy lợi ở Nhật Bản, nông dân có vai trò rất quan trọng, đặc iệt ở cấp nội đồng được vận hành và bảo dưỡng bỏi các LID, các chi nhánh của LID Những người nông dân hợp tác với nhau thành một tập thể nông dân truyền thống Tập thể nông dân truyền thống tên gọi “Mura” luôn có chức năng xã hội và sản xuất, được thành lập để thực hiện vận hành và bảo dưỡng các hệ thống tưới và tiêu tập thể phục vụ các cánh đồng lúa của nhiều nông dân Mura hoạt động như một tổ cức hỗ trợ trong mối liên hệ qua lại của những người dân với chính quyền cơ sở Thêm vào đó, nó vận hành và bảo dưỡng các thiết bị phục vụ không chỉ cho tưới tiêu mà còn phục
vụ cho giao thông và thông tin liên lạc
Nguồn: Hội đập lớn Việt Nam (2013)
Hình 2.1 Mô hình quản lý thủy lợi ở Nhật Bản
Kế hoạch điều hành quản lý thủy lợi ở Nhật bản dựa trên kế hoạch phân phối nước của các LID, các quy tắc vận hành và duy tu các trang thiết bị
Trang 36phục vụ tưới tiêu hàng năm được ra quyết định sau khi thảo luận và trao đổi với các đơn vị cấp dưới của họ, với các hộ nông dân, và các tổ chức có liên quan như đã kể ra ở trên Sau đó, các LID cùng với các tổ chức có liên quan giữa chính quyền và các tổ chức đoàn thể địa phương triển khau các kế hoạch
đó Khi thải hoặc lấy nước từ nguồn, các LID sẽ chuẩn bị kế hoạch sử dụng nước theo đúng quyền được cấp riêng trên cơ sở Luật Sông và dưới sự quản lý của bộ Đất đai, Hạ Tầng và Giao Thông Các hoạt động xây dựng và quản lý
hệ thống được thực hiện như sau:
a.Vận hành bà bảo dưỡng: Công tác vận hành và bảo dưỡng các trang thiết bị của hệ thống do các LID đảm nhiệm, với mối quan tâm đặc biệt vào những sự cố, hỏng hóng và thiệt hại do thiên tai dựa trên kế hoạch được duyệt và các quy định về quản lý hoặc những hướng dẫn được chính quyền phê duyệt Các LID sẽ theo dõi, giám sát, kiểm tra thực trạng của hệ thống cùng với các cá bộ vận hành và các hộ nông dân để đảm bảo công tác duy tu, bảo dưỡng được thực hiện đúng và có hiệu quả
b.Phân phối nước: Ban lãnh đạo LID chuẩn bị và thông báo đến các hộ nông dân thành viên về kế hoạch cấp nước trước mỗi vụ Trong mùa tưới, các LID vận hành hệ thống theo kế hoạch và kiểm tra việc phân phối nước, giám sát
và đo lường dòng chảy Khi phát hiện vấn đề sẽ chỉ đạo việc khắc phục
2.2.1.2 Xây dựng hệ thống thủy lại tại một số nước Đông Nam Á
Theo Đoàn Thế Lợi (2000), Công tác đầu tư cho phát triển thủy lợi ở mỗi quốc gia khác nhau và phụ thuộc vào các yếu tố như: Điều kiện tự nhiên, tập quán sản xuất và cơ cấu cây trồng, sự phát triển khoa học kỹ thuật và sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia Các yếu tố này có mối quan hệ hỗ trợ lẫn nhau, nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi, tập quán canh tác và cơ cấu cây trồng hợp
lý sẽ giúp cho công tác thủy lợi phát triển hơn, cơ cấu cây trồng phù hợp, giống tốt, hệ thống thủy lợi phát triển sẽ làm tiền đề cho sản xuất nông nghiệp phát triển Do đặc điểm ngành thủy lợi đòi hỏi có sự chi phí ban đầu lớn, doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích, lợi ích mang lại là lợi ích xã hội nên sự phát triển hệ thống các công trình thủy lợi phải có sự can thiệp của nhà nước Ở Malaysia, Chính phủ đã đầu tư xây dựng toàn bộ các công trình thủy lợi phục vụ tưới tiêu mà không thu thủy lợi phí, đây là một biện pháp can thiệp của Nhà nước nhằm hỗ trợ đầu tư khuyến khích phát triển nông nghiệp (Đoàn Thế Lợi, 2000)
Trang 37Ở Philipines được phân chia thành: Hệ thống thủy lợi quốc gia là do Nhà nước đầu tư và quản lý, hệ thống thủy lợi cấp xã do các hiệp hội tưới nước của các hộ nông dân đầu tư xây dựng và quản lý Các hiệp hội này phải đăng ký xây dựng, quản lý với Nhà nước và phải có giấy phép hoạt động, hệ thống thủy lợi tư nhân do cá nhân xây dựng và quản lý để tới cho ruộng của nhà mình và cho những người lân cận, mức thu thủy lợi phí cũng tùy thuộc vào từng loại công trình Với những hệ thống thủy lợi Nhà nước thì những người được hưởng lợi phải chi trả thủy lợi phí là 100 kg/ha/vụ (lúa mùa) và 150kg/ha/vụ (lúa xuân) Riêng ở các hệ thống thủy lợi tập thể hoặc tư nhân thì mức thủy lợi phí tùy thuộc vào sự thỏa thuận của hai bên (Đoàn Thế Lợi, 2000)
Ở Thái Lan, Chính phủ đầu tư cho thủy lợi phí ở mức cao đảm bảo cho nông nghiệp phát triển ổn định từ 3-4% một năm, Thái Lan không thu thủy lợi phí nhưng để có thêm kinh phí Chính phủ còn có một loại thuế đánh vào gạo xuất khẩu Tuy nhiên khoản thu này không lớn không đảm bảo trong công tác duy tu, vận hành và quản lý công trình
Ở Trung Quốc hệ thống quản lý thủy lợi được hình thành trên nguyên tắc
ai là người đầu tư xây dựng công trình thì người đó làm chủ và chịu trách nhiệm quản lý công trình Những thay đổi có tính chất quyết định nhất là việc chuyển đổi hình thức tổ chức quản lý từ các đội thủy lợi mà các thành viên của nó chỉ gồm các thành viên ủy ban làng, xã thành các nhóm thủy nông làng xã bao gồm các thành viên là những người nông dân hoạt động tương đối độc lập với các ủy ban làng xã Việc chuyển đổi hình thức tổ chức quản lí thủy nông ở Trung Quốc bắt đầu từ cải cách kinh tế 1978 và hiện nay Nhà nước Trung Quốc đang quan tâm xác định quyền sở hữu, sử dụng hệ thống công trình thủy lợi theo hình thức
cổ phần hóa (Hoàng Hùng, 2002)
Ở Inđonesia năm 1987 Chính phủ công bố chính sách chuyển giao toàn
bộ các công trình thủy lợi có diện tích dưới 500ha cho các hội người sử dụng nước, trước khi thực hiện chuyển giao Hội những người sử dụng nước của nông dân được thành lập và tham gia vào các quá trình nâng cấp các công trình này Cùng với sự tham gia của nông dân vào các công trình thủy lợi nhỏ, thủy lợi phí cũng được sử dụng như là một yếu tố của quá trình tham gia quản lý công trình thủy lợi Đến năm 1989 Chính phủ Inđonesia mới áp dụng chế độ thu thủy lợi phí đối với người sử dụng nước trong khuôn khổ các chính sách mới lúc bấy giờ về việc vận hành và bảo dưỡng các công trình thủy lợi trên phạm vi toàn quốc (Hoàng Hùng, 2002)
Trang 382.2.1.3 Israel
Theo Bộ Công Thương (2006), khác với các quốc gia có điều kiện tự nhiên phù hợp cho phát triển ngành nông nghiệp, khí hậu ở Israel với đặc trưng vùng trung đông, diện tích sa mạc lớn khiến việc cung cấp nước cho sản xuất nông nhiệp và tiêu dùng gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên, không giống các quốc gia đầu tư xây dựng hệ thống kênh mương, Israel lựa chọn sử dụng công nghệ cao trong tưới tiêu để đảm bảo tiết kiệm tối đa nguồn nước nhưng vẫn mang lại hiệu quả cao
Việc mất cân bằng trong phân bổ lượng mưa đã buộc Israel phát triển
hệ thống nước hiệu quả nhằm đưa nước từ vùng đất phía Nam màu mỡ và trù phú đến vùng đất sa khô cằn phía Bắc Giải pháp này đã tạo nên một dự án lớn nhất Israel đó là đường ống dẫn nước quốc gia Dự án này đã cách mạng hóa khái niệm vận chuyển nước, lần đầu tiên giải quyết vấn đề nước bằng hệ thống quản lí nước đồng bộ ở quy mô quốc gia Hệ thống này, điểm nổi bật nhất của quá trình tiếp tục phát triển nguồn nước của Israel, đã trở thành một mạng lưới duy nhất nối liền hầu hết các dự án nước tại địa phương trên toàn quốc Hệ thống sử dụng toàn bộ nguồn nước của Israel- khoảng 2 triệu mét khối một năm
để uống, tưới và sản xuất điện Nhờ có đường ống dẫn nước Quốc gia, phía nam
sa mạc phát triển bền vững và vùng đất của họ được sử dụng rỗng rãi cho phát triển nông nghiệp
Israel đã thành công với công nghệ tưới nhỏ giọt rất có giá trị trong tiêu dùng nước nông nghiệp mặc dù năng suất nông nghiệp vẫn tăng hàng năm, bằng việc phát triển các phương pháp tưới tiên tiến và tăng hiệu quả nước Mặc dù việc cung cấp nước ít, nhưng quốc gia này vẫn đáp ứng phần lớn nhu cầu lương thực của mình Thành tựu nổi tiếng nhất của Israel trong lĩnh vực tưới là việc phát triển hệ thống tưới nhỏ giọt phương pháp tưới hiệu quả nhất được biết tới cho đến nay
Israel được coi như quốc gia hàng đầu trong công nghệ tưới nhỏ giọt từ đầu những năm 1960, khi các nhà nghiên cứu và các nông trang viên của Israel sáng tạo nên tưới nhỏ giọt để vượt qua các điều kiện khắc nhiệt sa mạc Sự đổi mới này đáp ứng được nhu cầu trên thế giới về kỹ thuật tưới tiết kiệm nước, có hiệu quả, từ đó tạo nên thị trường tưới nhỏ giọt toàn cầu Tưới nhỏ giọt dựa trên quan niệm thực tiễn là tối ưu hóa hiệu quả sử dụng số lượng nước hạn hẹp bằng cách nhỏ giọt vào vị trí của cây trồng chiến lược
Trang 39Không chỉ dừng lại ở đó, suốt những năm qua Israel vẫn luôn đạt được tiến bộ trong công nghệ tưới nhỏ giọt, tạo điệu kiện tối ưu hóa chất lượng và số lượng nước đối với nhiều loại đất màu và cây trồng bao gồm: Tưới thấp hơn bề mặt giúp đưa nước trực tiếp đến rễ cây, giảm thiểu việc bốc hơi nước đến 20% Tưới bón Việc bón phân qua hệ thông tưới nhỏ giọt đảm bảo các chất như photpho, được tưới trực tiếp vào rễ cây Tính đặc thù để ngăn ngừa muối tích tụ ở
rễ cây Ống tưới bù áp tạo khả năng cung cấp nước và các chất dinh dưỡng ổn đinh cho các cánh đồng trồng hoa màu công nghiệp ví dụ như mía Thế hệ mới của ống nhỏ giọt đối với trồng cây trong nước - Sự phát triển của cây trồng trong nhà kính không cần đất màu
Quá trình quản lý nguồn nước tưới cho nông nghiệp được thực hiện theo
mô hình Mô hình nghiên cứu và phát triển (R&D) duy nhất Mô hình này cho phép trao đổi nguồn thông tin hai chiều giữa các nghiên cứu và nông trang viên Những vấn đề phát sinh trên cánh đồng được nhà nghiên cứu tìm hiểu trực tiếp
và đưa ra các giải pháp cụ thể Kết quả của các giải pháp này được kiểm nghiệm ngay trên cánh đồng
2.2.2 Một số nghiên cứu và kinh nghiệm về xây dựng hệ thống thủy lợi phục
vụ nông thôn mới ở Việt Nam
2.2.2.1 Đề tài hiện đại hóa thủy lợi vùng ĐBSH phục vụ nông thôn mới
Tác giả Nguyễn Tuấn Anh (2012) đã nghiên cứu xây dựng hiện đại hóa
hệ thủy lợi vùng Đồng bằng sông Hồng phục vụ nông thôn mới Theo tác giả, hiện nay cơ sở hạ tầng NTM tiếp tục được đầu tư, nhiều công trình thủy lợi được xây mới và đưa vào sử dụng Tuy nhiên, vẫn tồn tại các vấn đề cần tiếp tục phải giải quyết đó là: (i) Việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp ở nhiều nơi còn mang tính tự phát, thiếu quy hoạch, nên kém hiệu quả và chưa bền vững (ii) Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn vẫn chưa đáp ứng kịp yêu cầu chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn Hệ thống thủy lợi (HTTL) một số nơi còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu chuyển dịch
cơ cấu sản xuất và dân sinh, nhất là trong điều kiện hạn hán, lũ lụt và biến đổi khí hậu Nhiều công trình đầu tư không đồng bộ, quản lý kém, xuống cấp nhanh, phát huy hiệu quả kém (iii) Tình trạng ô nhiễm môi trường nông thôn có xu hướng gia tăng (iv) Việc phát triển các khu công nghiệp, các làng nghề và khu đô thị đã tạo sức ép rất lớn về cấp nước, tiêu thoát nước, môi trường nước, phá vỡ nhiệm vụ thiết kế ban đầu của các hệ thống công trình thủy lợi Những hạn chế
Trang 40này tồn tại trên hầu hết các hệ thống thủy lợi của nước ta Trong đó có vùng Đồng Bằng Sông Hồng, là vựa lúa lớn thứ hai của cả nước
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra thực trạng hệ thống thủy lợi theo tiêu chí nông thôn mới ở vùng Đồng Bằng Sông Hồng còn có những vấn đề như sau:
(1) Thiếu sự gắn kết giữa quy hoạch HTTL với hệ thống cơ sở hạ tầng
kỹ thuật nông thôn:
Quy hoạch HTTL liên quan trực tiếp với quy hoạch giao thông, quy hoạch cấp, thoát nước, quy hoạch cấp điện và tạo cảnh quan môi trường Thực tế, công tác quy hoạch hiện nay như sau:
- Quy hoạch HTTL chủ yếu đáp ứng nhu cầu tưới, tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp chưa theo kịp quy hoạch phát triển kinh tế xã hội
- Quy hoạch hạ tầng kinh tế kỹ thuật chưa coi HTTL là một hạ tầng kỹ thuật thiết yếu, do đó thiếu sự đồng bộ Nước thải các khu công nghiệp, làng nghề, dân cư gây ô nhiễm nguồn nước tưới trong các HTTL Phát triển đường giao thông, quy hoạch các dân cư mới chia cắt hệ thống kênh mương Điều đó dẫn đến các công trình thủy lợi xuống cấp nhanh, hiệu quả khai thác kém
(2) Hệ thống thủy lợi nội đồng xuống cấp:
- Đầu tư không đồng bộ: Trong thời gian qua do nguồn kinh phí xây dựng, cải tạo các HTTL còn hạn chế nên ngân sách nhà nước mới chú trọng đầu
tư cho các công trình đầu mối mà chưa quan tâm đúng mức đến HTTL nội đồng Hầu hết các dự án xây mới hoặc nâng cấp công trình thủy lợi, phần vốn xây dựng, cải tạo thủy lợi nội đồng là vốn đối ứng của địa phương nên thường bị đầu
tư nhỏ giọt, không đồng bộ hoặc không được thực hiện, dẫn đến hiệu quả của các công trình đã được cải tạo nâng cấp không như mong muốn
- Điều tiết nước mặt ruộng tràn lan: Theo quy hoạch trước đây, ở mỗi lô ruộng phía đầu ruộng cao bố trí một kênh tưới, phía thấp bố trí một kênh tiêu Hệ thống kênh tưới và tiêu mặt ruộng riêng biệt Giữa hai kênh tưới và tiêu là đường giao thông nội đồng Cứ 3-4 thửa ruộng thì chung một bờ vùng Các bờ vùng cách nhau khoảng 100m Tuy nhiên, hiện nay hầu hết hệ thống thủy lợi nội đồng (chủ yếu là các hệ thống chưa được kiên cố hóa) đã không được điều tiết nước mặt ruộng theo như quy hoạch ban đầu, các kênh tưới và tiêu trở thành “tưới tiêu kết hợp” gây tổn thất nước trên kênh rất lớn