Phạm vi về nội dung Luận văn tập trung làm rõ cơ sở lý luận, nghiên cứu thực trạng về ĐSVH của CNLĐ trong các KCN tỉnh Bắc Ninh, cụ thể là hoàn thiện các chính sách nâng cao đời sống vậ
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, luận văn “Giải pháp nâng cao đời sống văn hóa của công nhân lao động các khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Tất
cả các nguồn số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa hề được dùng
để bảo vệ một học vị khoa học nào Các thông tin trích dẫn trong trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 08 tháng 06 năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Vân Hà
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình và sự đóng góp quý báu của nhiều tập thể và cá nhân đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc PGS.TS Lê Hữu Ảnh- là thầy giáo trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của tập thể giáo viên Bộ môn Tài chính, Khoa Quản trị kinh doanh đã giúp tôi hoàn thành quá trình học tập và thực hiện luận văn
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn:
- Lãnh đạo các Ban của Tổng LĐLĐ Việt Nam, lãnh đạo và cán bộ cơ quan LĐLĐ tỉnh Bắc Ninh
- Lãnh đạo Tỉnh ủy, UBND và các sở, ban, ngành trong tỉnh
- Ban lãnh đạo, Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở và anh chị em công nhân lao động ở các doanh nghiệp đã lựa chọn khảo sát trong luận văn này tại tỉnh Bắc Ninh
- Các bạn bè, đồng nghiệp
Đã giúp tôi thu thập số liệu, đóng góp những ý kiến bổ ích cho sự thành công của luận văn
Hà Nội, ngày 08 tháng 06 năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Vân Hà
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Phạm vi về nội dung 3
1.4.2 Phạm vi về không gian 4
1.4.3 Phạm vi về thời gian 4
Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về đời sống văn hóa của công nhân lao động trong các khu công nghiệp 5
2.1 Cơ sở lý luận 5
2.1.1 Các khái niệm 5
2.1.2 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về xây dựng đời sống văn hóa 10
2.1.3 Cơ sở pháp lý quy định vai trò của Công đoàn trong việc chăm lo đời sống văn hóa của công nhân lao động 12
2.1.4 Nội dung nâng cao đời sống văn hóa của công nhân lao động 14
2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến đời sống văn hóa của công nhân lao động 24
2.2.1 Quản lý nhà nước 24
2.2.2 Người sử dụng lao động 25
2.2.3 Người lao động 25
2.3 Cơ sở thực tiễn 26
Trang 52.3.1 Đời sống văn hóa của công nhân lao động một số nước trên thế giới 26
2.3.2 Đời sống văn hóa của công nhân lao động ở một số tỉnh, thành phố trong nước 31
2.4 Bài học kinh nghiệm cho nâng cao đời sống văn hóa của công nhân lao động các khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh 35
phần 3: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 37
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 37
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 37
3.1.2 Tình hình kinh tế- xã hội 38
3.1.3 Đặc điểm các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh 40
3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43
3.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu 43
3.2.2 Phương pháp phân tích số liệu 44
3.2.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu chủ yếu 45
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận 46
4.1 Thực trạng chung các khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh 46
4.1.1 Khái quát thực trạng của các doanh nghiệp trong các Khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh 46
4.1.2 Khái quát thực trạng công nhân lao động trong các khu công nghiệp 47
4.2 Thực trạng đời sống văn hóa của công nhân lao động trong các khu công nghiệp Bắc Ninh 48
4.2.1 Thực trạng đời sống vật chất của công nhân lao động 48
4.2.2 Thực trạng nhà trẻ, mẫu giáo, trường học của con công nhân lao động các khu công nghiệp 59
4.2.3 Thực trạng nâng cao trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp cho người lao động trong các khu công nghiệp 61
4.2.4 Thực trạng quan hệ lao động các doanh nghiệp trong các Khu công nghiệp Bắc Ninh 64
4.2.5 Thực trạng hoạt động của Công đoàn trong việc nâng cao đời sống văn hóa của công nhân lao động 66
4.2.6 Thực trạng sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao của công nhân lao động 69
Trang 64.2.7 Đánh giá chung 70
4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến đời sống văn hóa của công nhân lao động 72
4.3.1 Quản lý Nhà nước 72
4.3.2 Người sử dụng lao động 73
4.3.3 Người lao động 75
4.4 Giải pháp nâng cao đời sống văn hóa của công nhân lao động trong các khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh 76
4.4.1 Căn cứ đề xuất giải pháp 76
4.4.2 Các giải pháp cụ thể 78
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 96
5.1 Kết luận 96
5.2 Kiến nghị 98
Tài liệu tham khảo 101
Phụ lục 104
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
ATVSLĐ An toàn vệ sinh lao động BHTN Bảo hiểm thất nghiệp
BHXH Bảo hiểm xã hội
BHYT Bảo hiểm Y tế
CĐCS Công đoàn cơ sở
CNH- HĐH Công nghiệp hóa- hiện đại hóa CNLĐ Công nhân lao động
ĐSVH Đời sống văn hóa
GCCN Giai cấp công nhân
KCN Khu công nghiệp
QHLĐ Quan hệ lao động
Trang 8
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Các đối tượng tiến hành khảo sát 44
Bảng 4.1 Số lượng doanh nghiệp và công nhân lao động trong các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh 46
Bảng 4.2 Cơ cấu doanh nghiệp phân theo Quốc gia và vùng lãnh thổ năm 2017 47
Bảng 4.3 Số lượng và cơ cấu lao động chia theo khu vực 47
Bảng 4.4 Số lượng và cơ cấu lao động theo giới tính, trong tỉnh và nhập cư 48
Bảng 4.5 Quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động từ năm 2013- 2017 49
Bảng 4.6 Tiền lương bình quân của các doanh nghiệp (bao gồm cả phụ cấp) 50
Bảng 4.7 Mức chênh lệch về tiền lương của các nhóm lao động trong doanh nghiệp 52
Bảng 4.8 Mức độ hài lòng của người lao động về tiền lương 52
Bảng 4.9 Thực trạng nhà ở và chất lượng nhà trọ của công nhân lao động các khu công nghiệp 54
Bảng 4.10 Công nhân lao động được tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp 56
Bảng 4.11 Công nhân lao động được tư vấn pháp luật 57
Bảng 4.12 Số vụ tai nạn lao động trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh từ năm 2013 đến 6 tháng năm 2017 58
Bảng 4.13 Đánh giá về chất lượng nhà trẻ, mẫu giáo của con công nhân lao động các khu công nghiệp 59
Bảng 4.14 Dân số và lực lượng lao động tỉnh Bắc Ninh 61
Bảng 4.15 Tổng hợp ý kiến khảo sát về nâng cao trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp 63
Bảng 4.16 Tình hình đình công ở Bắc Ninh phân theo loại hình doanh nghiệp từ năm 2013 đến năm 2017 65
Bảng 4.17 Hoạt động tuyên truyền của Công đoàn các khu công nghiệp 66
Bảng 4.18 Công đoàn cơ sở và công nhân lao động tham gia các hội thi văn nghệ - thể thao 66
Trang 9Bảng 4.19 Ý kiến về vai trò của tổ chức Công đoàn trong việc xây dựng đời sống
văn hóa của công nhân lao động 68 Bảng 4.20 Ý kiến của người lao động và người sử dụng lao động về một số nội
dung liên quan 74 Bảng 4.21 Ý kiến của người lao động về nội dung liên quan đến quan hệ lao
động ( n = 300) 75
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Nguyễn Thị Vân Hà
Tên luận văn: Giải pháp nâng cao đời sống văn hóa của công nhân lao động các khu
công nghiệp tỉnh Bắc Ninh
Ngành: Quản trị kinh doanh Mã số: 8340101
Tên cơ sở đào tạo: Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng về ĐSVH của CNLĐ trong các KCN tỉnh Bắc Ninh những năm gần đây để đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao ĐSVH cho CNLĐ trong các KCN tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu trong luận văn chủ yếu là phương pháp nghiên cứu kinh tế gồm thu thập thông tin thứ cấp, sơ cấp, tổng hợp và phân tích thông tin, xây dựng chỉ tiêu nghiên cứu phù hợp với mục tiêu và nội dung nghiên cứu của đề tài Các thông tin được xử lý bằng phần mềm vi tính hỗ trợ, đảm bảo mức độ tin cậy của các kết quả nghiên cứu ĐSVH của CNLĐ các KCN tỉnh Bắc Ninh
Kết quả chính và kết luận
Đề tài đã góp phần hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về ĐSVH của CNLĐ; đồng thời đánh giá thực trạng ĐSVH của CNLĐ trong các KCN tỉnh Bắc Ninh những năm gần đây; mặt khác đề tài đã đề cập và phân tích rất rõ các yếu tố ảnh hưởng đến ĐSVH của CNLĐ trong các KCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Trên cơ sở đánh giá thực trạng ĐSVH của CNLĐ các KCN tỉnh Bắc Ninh, tác giả
đã đưa ra một số kiến nghị, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao ĐSVH của CNLĐ tại các KCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ hội nhập Thời gian từ năm 2013 đến năm 2017, lực lượng CNLĐ trong các KCN tỉnh Bắc Ninh tăng nhanh mạnh mẽ, tuy nhiên điều kiện sống và làm việc của CNLĐ còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, tiền lương của CNLĐ không đủ sống, hơn 70% CNLĐ là người nhập cư đến từ các địa phương khác trong cả nước, họ phải sống xa gia đình, đã làm phát sinh nhiều khoản chi phí như thuê nhà ở, phương tiện đi lại, thông tin liên lạc nên hầu hết NLĐ trong các KCN không có tích lũy
CNLĐ tăng ca mỗi ngày từ 02 đến 04 giờ nên họ không còn thời gian nghỉ ngơi, học tập nâng cao trình độ, cập nhật các thông tin văn hóa, thời sự, không có thời gian tham gia các hoạt động giải trí, không được tiếp cận với các phương tiện thông tin truyền thông dẫn đến ĐSVH của CNLĐ còn nghèo nàn
Trang 11Lực lượng CNLĐ đông đảo, với trình độ, năng lực và các sản phẩm được tạo ra từ bàn tay và khối óc của NLĐ đã góp phần xây dựng tỉnh Bắc Ninh ngày càng phát triển, hiện đại, đưa tỉnh Bắc Ninh nằm trong nhóm những tỉnh phát triển kinh tế nhất trong khu vực phía bắc; tuy nhiên mức độ quan tâm, đầu tư đến ĐSVH của CNLĐ nói chung
và CNLĐ trong các KCN tỉnh Bắc Ninh nói riêng còn nhiều hạn chế
Trang 12THESIS ABSTRACT
Author: Nguyen Thi Van Ha
Title: The solutionstoenhancecultural life of workers in industrial zones- A case study
2 Research methodology
- Data collection: Primary data and secondary data
- Data analysis: statistical descriptiveanalysis and comparative analysis
3 Main results and conclusions
This thesis has contributed to the basic theoretical and practical issues on workers’ cultural life as well as estimated the situation of workers in industrial zones; the thesis also has found out the factors affecting the quality of workers’ cultural life in industrial zones in BacNinh province
Based on the assessment of the real situation of workers’ cultural life; the research has made some suggestions to improve quality of workers’ cultural lifein industrial zones in BacNinh province in term of international integration
From 2013 to 2017, the worker force in industrial zones in BacNinh province has increased sharply; however, living and working conditions of workers faced with number of difficulties More than 70% of workers are immigrants from other regions in the country, they have to live far away from their families, causing many expenses such
as renting house, transportation, communication and so on Most of workers in the industrial zones cannot save money for future
Workers take overtime work from 2-4 hours/day so they do not have enough time for leisure, improving their knowledge as well as update social-economic information They do not have time for joining social activities; thus, they lack of ability to make up their cultural life
Trang 13The worker force with their qualifications and capacities have contributed to the development of BacNinh province However the local government’s attention of caring and investment on worker force as well as worker force in industrial zone is limited
Trang 14PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Cùng với quá trình phát triển của nền kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế là sự xuất hiện ngày càng nhiều các doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước và nước ngoài tại Việt Nam, dẫn đến sự ra đời của các Khu công nghiệp (KCN) Sự phát triển mạnh mẽ của các KCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh đã thể hiện rõ vai trò, hiệu quả của mô hình sản xuất công nghiệp mang tính đột phá trong thu hút đầu tư, tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH- HĐH)
Bên cạnh sự phát triển của các KCN trên địa bàn tỉnh, là sự tăng nhanh của đội ngũ công nhân lao động (CNLĐ) CNLĐ ngày càng đa dạng về cơ cấu, chất lượng ngày càng được nâng lên Năm 2010 số CNLĐ làm việc trong các KCN tỉnh Bắc Ninh là 51.176 người, trong đó CNLĐ ngoại tỉnh là 28.645 người Đến cuối năm 2017 số CNLĐ trong các KCN tỉnh Bắc Ninh lên đến 284.470 CNLĐ, trong đó CNLĐ ngoại tỉnh 209.552 người, chiếm 73,7%, CNLĐ là nữ 186.112
người, chiếm 65,4% (Ban quản lý các KCN Bắc Ninh, 2017)
Trong các KCN, điều kiện sống và làm việc của CNLĐ còn nhiều khó khăn, thiếu thốn; mặc dù mức lương tối thiểu vùng được Chính phủ điều chỉnh tăng hàng năm, song do giá cả thị trường thiếu ổn định, đa số CNLĐ phải sống xa gia đình, đã làm phát sinh nhiều khoản chi phí như: thuê nhà ở, phương tiện đi lại, thông tin liên
lạc với mức thu nhập bình quân từ 5.700.000 đồng/người/tháng (Ban quản lý các KCN Bắc Ninh, 2017) thì tiền lương của NLĐ (NLĐ) mới đáp ứng được 72% nhu cầu mức sống tối thiểu (Viện Công nhân và Công đoàn Việt Nam, 2016)
Do thu nhập thấp, đời sống của CNLĐ còn gặp nhiều khó khăn, đa số CNLĐ trong các KCN thường xuyên làm tăng ca, làm thêm giờ để tăng thu nhập trang trải cuộc sống hàng ngày Thời gian làm việc của CNLĐ mỗi ngày lên đến
từ 10 đến 12 tiếng, họ không còn thời gian nghỉ ngơi, học tập nâng cao trình độ, cập nhật các thông tin văn hóa, thời sự, không có thời gian tham gia các hoạt động giải trí, không được tiếp cận với các phương tiện thông tin truyền thông dẫn đến đời sống văn hóa (ĐSVH) của CNLĐ còn nghèo nàn
ĐSVH là một bộ phận quan trọng trong cơ cấu hoạt động sống của mỗi
cá nhân, góp phần tạo nên diện mạo văn hoá cá nhân và là một trong những
Trang 15thước đo lối sống của con người Nếu ĐSVH không được đáp ứng thoả đáng, lối sống của con người có nguy cơ bị tụt hậu Do đó nâng cao ĐSVH của CNLĐ các KCN trở thành một vấn đề cấp thiết cần được nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn
Hiện nay, ĐSVH của CNLĐ trong các KCN còn hạn chế, chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu về ĐSVH của CNLĐ các KCN tỉnh Bắc Ninh Trong khi đó, CNLĐ là lực lượng quan trọng đóng góp vào phát triển kinh tế- xã hội của đất nước; bên cạnh đó đa phần tuổi của CNLĐ trong các KCN còn trẻ, là đối tượng có nhu cầu tham gia vào các hoạt động văn hóa cao, trong khi các khu thiết chế văn hoá mang tính cộng đồng phục vụ CNLĐ ở KCN hầu như chưa có; khả năng đáp ứng các nhu cầu trong ĐSVH của CNLĐ thấp Nếu không kịp thời
có những định hướng đúng đắn về ĐSVH cho CNLĐ sẽ xuất hiện những lối văn hóa lệch chuẩn, thiếu lành mạnh, làm tổn hại đến sự ổn định xã hội, ảnh hưởng xấu đến hình ảnh CNLĐ Việt Nam trên trường quốc tế
Chính vì vậy, nâng cao ĐSVH cho CNLĐ là nhiệm vụ vừa cấp bách vừa lâu dài, là trách nhiệm của Đảng, của cả hệ thống chính trị, của tổ chức Công đoàn, doanh nghiệp và CNLĐ Báo cáo chính trị trình Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ 18 tiếp tục khẳng định: “…Xây dựng mô hình Khu công nghiệp thân thiện với môi trường trong đó nhiều doanh nghiệp đạt chuẩn ISO 14000, công nghệ hiện đại, cảnh quan xanh, sạch đẹp, đồng bộ với quy hoạch đô thị, khu dân cư, dịch vụ; hình thành và kết nối đô thị công nghiệp, khu đào tạo, nghiên cứu, xây dựng thương hiệu các Khu công nghiệp…”; Đồng thời, với định hướng trở thành đô thị loại I vào năm 2020 và phấn đấu xây dựng Bắc Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương vào năm 2022, vị thế và vai trò của Bắc Ninh
sẽ có nhiều thay đổi, trở thành trung tâm kinh tế với nền tảng là kinh tế đô thị và sản xuất công nghiệp gắn kết chặt chẽ với không gian phát triển của Thủ đô Hà Nội Một trong những giải pháp quan trọng, có tính chất quyết định để đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH tỉnh Bắc Ninh, đó là xây dựng và phát triển bền vững các KCN Bắc Ninh
Thực trạng ĐSVH của CNLĐ các KCN tỉnh Bắc Ninh ra sao? Giải pháp nào để nâng cao ĐSVH cho CNLĐ các KCN tỉnh Bắc Ninh? Đây là vấn đề thực tiễn cấp bách cần được quan tâm và có giải pháp cụ thể nhằm góp phần xây dựng GCCN Việt Nam ngày càng lớn mạnh, để dù ở thời điểm lịch sử nào, GCCN vẫn
là giai cấp tiên phong, giai cấp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, xuất phát từ thực
Trang 16tiễn đó tác giả đã chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao đời sống văn hóa của công nhân lao động trong các khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng về ĐSVH của CNLĐ trong các KCN tỉnh Bắc Ninh những năm gần đây để đề xuất một số giải pháp chủ yếu nâng cao ĐSVH cho CNLĐ trong các KCN tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nâng cao ĐSVH của CNLĐ tại các KCN tỉnh Bắc Ninh
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Phạm vi về nội dung
Luận văn tập trung làm rõ cơ sở lý luận, nghiên cứu thực trạng về ĐSVH của CNLĐ trong các KCN tỉnh Bắc Ninh, cụ thể là hoàn thiện các chính sách nâng cao đời sống vật chất cho công nhân lao động và tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước; Xây dựng và hoàn thiện chính sách về nhà ở, nhà trẻ, mẫu giáo cho con công nhân lao động; Coi trọng công tác giáo dục và đào tạo nâng cao trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp; Xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định trong doanh nghiệp; Nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức Công đoàn; Nâng cao số lượng và chất lượng các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao cho NLĐ
Trang 171.4.2 Phạm vi về không gian
Luận văn tập trung phân tích ĐSVH của CNLĐ trong các KCN tỉnh Bắc Ninh (chủ yếu là KCN Quế Võ; KCN Tiên Sơn, KCN Đại Đồng- Hoàn Sơn và KCN VSIP)
1.4.3 Phạm vi về thời gian
Luận văn nghiên cứu về ĐSVH CNLĐ các KCN tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2013- 2017 Các giải pháp đề xuất đến 2025
Trang 18PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA CÔNG NHÂN LAO ĐỘNG TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Các khái niệm
2.1.1.1 Đời sống văn hoá
Theo quan điểm của các học giả Trung Quốc, điển hình là hai nhà nghiên cứu Triệu Văn Trường và Dương Lập Hoa (2009) trong công trình nghiên cứu “Văn hóa công nhân Trung Quốc đương đại và thúc đẩy tối đa hóa lợi ích của công nhân” thì ĐSVH của công nhân Trung Quốc ngày nay được biểu hiện bằng những hoạt động nhằm hiện thực hóa "niềm tin cơ bản, tiêu chuẩn giá trị và
quy phạm hành vi theo hướng tự lập, tự cường và tự bảo vệ quyền lợi" (gọi tắt là
"tam tự")
Tại Việt Nam, thuật ngữ “đời sống văn hóa” đã có từ lâu và được sử dụng khá phổ biến trong nghiên cứu khoa học cũng như trong các văn kiện của Đảng, trên các phương tiện truyền thông Nhưng hiện nay nghiên cứu về ĐSVH ở nước
ta thường được dựa trên một số quan điểm của một số tác giả sau:
Trước tiên phải nhắc đến tư tưởng của Hồ Chí Minh- Người đã đúc kết quan điểm của mình về văn hoá cũng như ĐSVH; Năm 1947, với bút danh Tân Sinh, Hồ Chí Minh đã viết trong cuốn Đời sống mới: “Làm thế nào cho đời sống của dân ta vật chất được đầy đủ hơn, tinh thần được vui mạnh hơn Đó là mục
đích đời sống mới” (Trường Cán bộ Quản lý văn hóa, thể thao và du lịch, 2015)
Hồ Chí Minh luôn coi ĐSVH gồm hai lĩnh vực vật chất và tinh thần và dù nói, viết hay khi hành động, Người đều coi trọng cả hai lĩnh vực này, coi đây là mục đích cuối cùng của việc xây dựng đời sống mới làm cho dân ta vật chất được đầy
đủ hơn, tinh thần được vui tươi, lành mạnh hơn
Từ những nghiên cứu, đúc kết của bản thân tác giả N.H.T cho rằng: "Đời sống văn hóa được hiểu một cách khái quát là hiện thực sinh động của các hoạt động của con người trong môi trường sống để duy trì, đồng thời tái tạo sản phẩm văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần theo những giá trị và chuẩn mực xã hội nhất định nhằm không ngừng tác động biến đổi tự nhiên, xã hội và đáp ứng nhu cầu
đổi mới nâng cao chất lượng sống của chính con người” (Trường Cán bộ Quản lý văn hóa, thể thao và du lịch, 2015)
Trang 19Năm 2007, cuốn “Lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng” tác giả
đã đưa khái niệm: “Đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm tổng thể những yếu tố hoạt động văn hóa vật chất và tinh thần, những tác động qua lại lẫn nhau trong đời sống xã hội để tạo ra những quan hệ có văn hóa
trong cộng đồng, trực tiếp hình thành nhân cách và lối sống của con người” (Đỗ Đình Hãng, 2007)
Như vậy, có thể thấy ĐSVH tồn tại trong mọi hoạt động sống của con người ĐSVH bao trùm để chỉ giá trị của đời sống vật chất và đời sống tinh thần của con người; thiếu đi ý nghĩa văn hóa đời sống của con người chỉ là một chuỗi các hoạt động hướng tới những nhu cầu bản năng
Trong công trình nghiên cứu trọng điểm cấp Nhà nước về “Xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế” của Nguyễn Văn Nhật (2010) tác giả đưa ra khái niệm ĐSVH theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp
Theo nghĩa rộng: “Đời sống văn hóa là toàn bộ những hoạt động sinh sống
có ý thức của con người với tư cách cá nhân và cộng đồng xã hội từ nhỏ đến lớn Trong quá trình hấp thu và sáng tạo các giá trị vật chất và giá trị tinh thần theo hướng chân, thiện, mỹ nhằm thích ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của xã hội,
mà trung tâm là sự tồn tại và phát triển của chính con người”
Theo nghĩa hẹp: ĐSVH thường được dùng để chỉ đời sống tinh thần của con người, phân biệt với đời sống vật chất Song trên thực tế, đời sống tinh thần
và đời sống vật chất luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau Không có một đời sống tinh thần nào mà lại thiếu những cơ sở vật chất nhất định
Cũng theo Nguyễn Văn Nhật (2010), với nghĩa rộng của khái niệm ĐSVH thì ĐSVH của CNLĐ bao gồm một phức thể những hoạt động cơ bản sau:
Thứ nhất là: Sản xuất và tái sản xuất ra bản thân đời sống vật chất của
người công nhân, thể hiện ở việc làm, thu nhập, tiền lương, điều kiện làm việc, nhà ở và các nhu yếu phẩm khác (hay còn gọi là đời sống vật chất);
Thứ hai là: Nhà trẻ, mẫu giáo, trường học của con CNLĐ
Thứ ba là: Nâng cao trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp;
Thứ tư là: Thực hiện định hướng giá trị đạo đức và chuẩn mực hành vi
trong lao động sản xuất và quan hệ con người tại nhà máy, xí nghiệp (hay còn gọi là QHLĐ giữa NLĐ và NSDLĐ trong doanh nghiệp)
Trang 20Thứ năm là: Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong các sinh hoạt chính trị-
xã hội của cộng đồng; (trong doanh nghiệp, Công đoàn là tổ chức đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ)
Thứ sáu là: Các sinh hoạt thể thao, du lịch, văn hóa- nghệ thuật…
Như vậy, có rất nhiều những quan niệm của các nhà nghiên cứu khác về ĐSVH, nhưng nhìn chung đều thống nhất ở điểm ĐSVH bao gồm đời sống vật chất và đời sống tinh thần của con người
Từ nghiên cứu về lý luận và những khái niệm khác nhau về ĐSVH, tác giả đồng nhất quan điểm ĐSVH của CNLĐ trong các KCN theo khái niệm ĐSVH theo nghĩa rộng của Nguyễn Văn Nhật, khái niệm đó phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của đề tài và phù hợp với điều kiện thực tiễn về sự phát triển của giai cấp công nhân hiện nay Có nghĩa là ĐSVH của CNLĐ trong các KCN bao gồm
6 nội dung, cụ thể: Đời sống vật chất của CNLĐ (bao gồm các yếu tố để đảm bảo NLĐ tồn tại và đảm bảo cuộc sống tối thiểu của CNLĐ); đảm bảo nhà trẻ, mẫu giáo, trường học của con CNLĐ; vấn đề nâng cao trình độ học vẫn và kỹ năng nghề nghiệp; quan hệ lao động; vai trò của tổ chức Công đoàn trong việc đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng và các hoạt động thể thao, du lịch, văn hóa, nghệ thuật
Trong các KCN hiện nay, đời sống vật chất và đời sống tinh thần của CNLĐ còn rất nhiều khó khăn, thiếu thốn và chưa có chính sách đầy đủ để đảm bảo đời sống cho họ; trong khi đó công nhân lại là giai cấp tiên tiến, là lực lượng chủ lực để xây dựng đất nước trong thời kỳ CNH-HĐH Nếu chỉ nghiên cứu đời sống vật chất mà bỏ qua đời sống tinh thần của CNLĐ hoặc ngược lại thì chưa đầy đủ, chưa thực sự đánh giá đầy đủ thực trạng ĐSVH của CNLĐ Nghiên cứu ĐSVH của CNLĐ trong các KCN sẽ góp phần quan trọng trong việc hệ thống hóa lý luận và thực tiễn cơ bản từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nâng cao ĐSVH của CNLĐ trong thời gian tới
2.1.1.3 Công nhân lao động
Trên thế giới, khái niệm CNLĐ được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, thông qua các tiêu chí khác nhau về trình độ học vấn, văn hóa, mức thu nhập, phong cách sống…
Ở Anh, CNLĐ thường được xác định theo nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, giá trị văn hóa, thói quen sinh hoạt theo kiểu đẳng cấp xã hội truyền thống chứ không theo tiêu chí nghề nghiệp hay trình độ học thức
Trang 21Ở Mỹ, có xu hướng hiểu CNLĐ theo nghĩa tạo dựng qua thu nhập và tài sản
có được trong cơ chế thị trường
Ở Trung Quốc, khái niệm CNLĐ phổ biến là: “Là toàn thể NLĐ lấy thu nhập bằng lương làm nguồn sống chủ yếu, bao gồm công nhân trong công xưởng, cán bộ khoa học kỹ thuật (trong đó có cả giáo viên), nhân viên trong các ngành nghề dịch vụ, cán bộ công chức trong các cơ quan Đảng, Chính phủ cũng
như nông dân vào thành phố làm thêm” (Lý Văn Khôn, Hoàng Tăng Tiến, Hề Ái Bân, 2003)
Tại Việt Nam, khái niệm CNLĐ được nêu tại “Giai cấp công nhân Việt Nam- mấy vấn đề lý luận và thực tiễn” như sau: “… Là một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển cùng với cách mạng công nghiệp, với nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuất hiện đại có tính chất xã hội hóa ngày càng cao; là lực lượng sản xuất cơ bản, tiên tiến trong các quy trình công nghệ, dịch vụ công nghiệp, trực tiếp hoặc tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất ra của cải vật chất vào cải tạo các quan hệ xã hội, động lực chính của tiến trình lịch sử từ chủ
nghĩa tư bản lên chủ nghía xã hội” (Bùi Đình Bôn, 1999)
Tại Hội nghị Trung ương Sáu, khóa X Đảng ta xác định: “Giai cấp công nhân Việt Nam là một lực lượng xã hội to lớn, đang phát triển, bao gồm những NLĐ chân tay và trí óc, làm công hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất
công nghiệp” (Đảng cộng sản Việt Nam, 2008)
Từ những khái niệm đã nêu có thể thấy, CNLĐ Việt Nam là lực lượng rất đông đảo, bao gồm đủ các tầng lớp, từ những người làm thuê đến những người làm việc trong các doanh nghiệp trong và ngoài nhà nước
Tại khoản 1, Điều 3, Bộ Luật Lao động, 2012: “NLĐ là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương
và chịu sự quản lý, điều hành của NSDLĐ”
Từ góc độ kinh tế học, CNLĐ là người trực tiếp cung cấp sức lao động- một yếu tố đầu vào của sản xuất, có vai trò quyết đi ̣nh nhất trong viê ̣c ta ̣o ra giá trị hàng hóa và di ̣ch vụ, cũng là loa ̣i hàng hóa đă ̣c biê ̣t có khả năng ta ̣o ra giá tri ̣ mới lớn hơn giá tri ̣ của bản thân nó
2.1.1.4 Khu công nghiệp
Tại Nghị định số 29/2008/NĐ- CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ quy định:
Trang 22KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện,
trình tự và thủ tục quy định của pháp luật (Chính phủ, 2008)
Các tiêu chí để hình thành một KCN bao gồm:
Thứ nhất, KCN là nơi tập trung các doanh nghiệp có đủ cơ sở pháp lý,
chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp
Thứ hai, KCN là khu vực có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh
sống, xây dựng theo quy hoạch tổng thể đã được Chính phủ phê duyệt
Thứ ba, KCN phải do Chính phủ quyết định thành lập Khi muốn hình
thành KCN đã có trong quy hoạch tổng thể thì UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo việc lập báo cáo nghiên cứu khả thi thành lập KCN và trình Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định thành lập
Như vậy, có thể hiểu KCN là một quần thể liên hoàn các nhà máy, xí nghiệp xây dựng trên một vùng có điều kiện thuận lợi về các yếu tố tự nhiên, về kết cấu hạ tầng xã hội… để thu hút vốn đầu tư (chủ yếu là đầu tư nước ngoài) và hoạt động theo một cơ cấu hợp lí các doanh nghiệp công nghiệp và các doanh nghiệp dịch vụ nhằm đạt kết quả cao trong sản xuất công nghiệp và kinh doanh
2.1.1.5 Công đoàn
Theo Điều 1, Luật Công đoàn năm 2012: Công đoàn là tổ chức chính trị- xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của NLĐ, được thành lập trên cơ sở tự nguyện, là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đại diện cho cán bộ, công chức, viên chức,
công nhân và những NLĐ khác (sau đây gọi chung là NLĐ), cùng với cơ quan
nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế- xã hội, tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp; tuyên truyền, vận động NLĐ học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa
Tổ chức Công đoàn là một sự liên kết các thành viên, cho dù liên kết tạm thời hay lâu dài, được hình thành chủ yếu xuất phát từ mục đích điều chỉnh các mối quan hệ giữa tập thể NLĐ và NSDLĐ hoặc giữa NLĐ và NSDLĐ
Trang 23Tính đại diện NLĐ của tổ chức Công đoàn biểu hiện như sau:
Công đoàn Việt Nam là thành viên của tổ chức Liên hiệp Công đoàn Thế giới, được thành lập theo nguyên tắc tự nguyện gia nhập của NLĐ, hoạt động theo quy định của Pháp luật, có Điều lệ của tổ chức Công đoàn và phù hợp với Công ước quốc tế
Công đoàn luôn có mối liên hệ, quan hệ tốt, chặt chẽ, thường xuyên với NLĐ; được tập thể NLĐ trao quyền hoặc uỷ quyền trong QHLĐ; có trách nhiệm lắng nghe, tập hợp và phản ánh tâm tư, nguyện vọng của NLĐ, đoàn viên đến với Đảng, Nhà nước; đại diện NLĐ đối thoại, thương lượng, thoả thuận, giám sát NSDLĐ, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ
Trong QHLĐ tại doanh nghiệp, tổ chức Công đoàn với NSDLĐ là mối quan hệ của hai đại diện; trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, vừa hợp tác, vừa đấu tranh, làm cho QHLĐ hài hoà, ổn định, tiến bộ, góp phần để doanh nghiệp phát triển; quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ được bảo đảm Công đoàn vận động NLĐ tích cực sản xuất, công tác với năng suất cao, chất lượng và hiệu quả, làm cho doanh nghiệp ngày càng phát triển
Đối với Công đoàn của tỉnh Bắc Ninh bao gồm: Liên đòan Lao động (LĐLĐ) tỉnh; LĐLĐ huyện, thị xã, thành phố, Công đoàn ngành địa phương (gọi chung là Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở); các Công đoàn cơ sở trực thuộc LĐLĐ tỉnh; các Công đoàn cơ sở trực thuộc Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở
2.1.2 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về xây dựng đời sống văn hóa
Sau 30 năm đất nước đổi mới, GCCN Việt Nam có bước phát triển vượt bậc
cả về số lượng và chất lượng, làm việc trong tất cả các ngành nghề, các thành phần kinh tế, sử dụng và vận hành những công cụ, phương tiện sản xuất hiện đại nhất, quyết định phương hướng phát triển của nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên, trong quá trình CNH- HĐH và hội nhập quốc tế hiện nay, đội ngũ CNLÐ nước ta đang đứng trước những khó khăn, thách thức mới, đó là: Trình độ học vấn, chuyên môn, khả năng nghề nghiệp nhìn chung còn thấp so với yêu cầu; thiếu lao động có trình độ chuyên môn cao, thiếu các chuyên gia kỹ thuật, cán bộ quản lý giỏi, công nhân lành nghề; ý thức học tập nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn, nghề nghiệp nhìn chung không cao; ý thức tổ chức, kỷ luật, tác phong công nghiệp, vai trò làm chủ còn hạn chế… Bên cạnh đó, những vấn đề bức xúc về nhà ở, việc làm, đời sống vật chất, tinh thần còn khó khăn Đây là
Trang 24những thách thức lớn đối với GCCN nói riêng và đối với đất nước ta nói chung
Để xứng đáng là lực lượng lãnh đạo, lực lượng cơ bản chủ yếu đi đầu trong
sự nghiệp CNH- HĐH đất nước thì việc xây dựng đội ngũ CNLĐ phát triển về số lượng, giác ngộ về giai cấp, vững vàng về chính trị tư tưởng, có trình độ học vấn cao, chuyên môn nghiệp vụ giỏi, ý thức tuân thủ pháp luật nghiêm, được nâng cao ĐSVH là yêu cầu khách quan, là đòi hỏi cấp bách trong giai đoạn hiện nay Trong quá trình đẩy mạnh CNH- HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế, CNLĐ ngày càng chiếm vị trí đặc biệt quan trọng Xây dựng và phát huy vai trò của GCCN trong thời kỳ hiện nay là một trong những nhiệm vụ trọng yếu của Đảng
và Nhà nước ta, trong đó xây dựng ĐSVH cho CNLĐ là một nhiệm vụ hết sức quan trọng và là vấn đề cấp thiết, bởi vì nó đã trở thành một nhu cầu sinh hoạt không thể thiếu được đối với con người
Từ Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII đến Cương lĩnh bổ sung phát triển năm 2011, các Nghị quyết Trung ương Sáu, Tám, Chín khóa XI và Hiến pháp năm 2013 đều xác định: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực, là nguồn lực nội sinh quan trọng của phát triển bền vững Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) đã khẳng định: “Phải đưa văn hoá thâm nhập vào cuộc sống hàng ngày của nhân dân, đặc biệt chú trọng xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở, bảo đảm mỗi nhà máy, công trường, mỗi cơ quan,
trường học, bệnh viện đều có đời sống văn hoá” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1998),
“ đã chỉ rõ nhiệm vụ xây dựng ĐSVH lành mạnh, đáp ứng những nhu cầu văn hoá đa dạng và không ngừng tăng lên của các tầng lớp cư dân
Đảng ta thường xuyên nhấn mạnh vai trò của cả hai động lực: kinh tế và tinh thần đồng thời chỉ ra yêu cầu phải biết "kết hợp động lực kinh tế với động lực tinh thần”, vì cả sự tăng trưởng kinh tế và sự phát triển văn hóa- xã hội là động lực của sự phát triển Văn hóa còn thể hiện ở khả năng điều tiết, điều chỉnh các khuynh hướng, chiều hướng phát triển của xã hội và con người, hướng sự vận động tới cái tích cực, tiến bộ, nhân văn và hạn chế những biểu hiện tiêu cực thoái hóa, biến chất, đen tối… dẫn tới kìm hãm và thậm chí tàn phá, xuống cấp của một xã hội, đặc biệt trong những điều kiện mới của nền kinh tế vận hành theo
cơ chế thị trường
Trước sự tác động thường xuyên, phức tạp của cơ chế thị trường, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế đến ĐSVH và con người Việt Nam, Đảng ta đã nhấn mạnh
Trang 25yêu cầu xây dựng môi trường văn hóa đồng bộ, lành mạnh phù hợp với bối cảnh, điều kiện mới, trong đó đặc biệt chú trọng xây dựng môi trường văn hóa trong hệ thống chính trị, văn hóa trong cộng đồng, trong gia đình, đơn vị, doanh nghiệp nhằm nuôi dưỡng, hoàn thiện con người Việt Nam Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ Chín, khóa XI của Đảng đã nêu quan điểm: “Phát triển văn hóa vì
sự hoàn thiện nhân cách con người, xây dựng con người để thúc đẩy phát triển văn hóa Con người là chủ thể, là trung tâm của chiến lược phát triển Xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp là trọng tâm, cốt lõi của phát triển văn hóa, mọi hoạt động văn hóa đều phải hướng tới xây dựng, phát triển con người”
(Đảng Cộng sản Việt Nam, 2014)
2.1.3 Cơ sở pháp lý quy định vai trò của Công đoàn trong việc chăm lo đời sống văn hóa của công nhân lao động
Điều 10, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định:
“Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị- xã hội của giai cấp công nhân và của NLĐ được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho NLĐ, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ; tham gia quản lý nhà nước, quản
lý kinh tế- xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của NLĐ; tuyên truyền, vận động NLĐ học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
Về cơ chế thực hiện vai trò đại diện trực tiếp cho CNLĐ của Công đoàn theo quy định tại Điều 188 của Bộ luật Lao động năm 2012: Công đoàn cơ sở thực hiện vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên Công đoàn, NLĐ; tham gia, thương lượng, ký kết và giám sát việc thực hiện Thỏa ước lao động tập thể, thang lương, bảng lương, định mức lao động, quy chế trả lương, quy chế thưởng, nội quy lao động, Quy chế dân chủ ở doanh nghiệp,
cơ quan, tổ chức; tham gia, hỗ trợ giải quyết tranh chấp lao động; đối thoại, hợp tác với NSDLĐ xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định, tiến bộ tại doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức
Về vai trò đại diện NLĐ của Công đoàn trong QHLĐ, Điều 7 của Bộ luật Lao động năm 2012 quy định: Công đoàn, tổ chức đại diện NLĐ tham gia cùng với cơ quan nhà nước hỗ trợ xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định và tiến bộ; giám sát việc thi hành các quy định của pháp luật về lao động; bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của NLĐ, NSDLĐ
Trang 26Về quyền của cán bộ Công đoàn cơ sở trong quan hệ lao động, Điều 191 của Bộ luật Lao động năm 2012 quy định:
1 Gặp NSDLĐ để đối thoại, trao đổi, thương lượng về những vấn đề lao động và sử dụng lao động
2 Đến các nơi làm việc để gặp gỡ NLĐ trong phạm vi trách nhiệm mà mình đại diện
3 Những nơi chưa thành lập tổ chức Công đoàn cơ sở, cán bộ Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở được thực hiện các quyền hạn quy định tại Điều này
Về trách nhiệm của NSDLĐ đối với tổ chức Công đoàn, Điều 192 của Bộ luật Lao động năm 2012 quy định:
1 Tạo điều kiện thuận lợi cho NLĐ thành lập, gia nhập và hoạt động Công đoàn
2 Phối hợp và tạo điều kiện thuận lợi cho Công đoàn cấp trên cơ sở tuyên truyền, vận động phát triển NLĐ, thành lập Công đoàn cơ sở, bố trí cán bộ Công đoàn chuyên trách tại doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức
3 Bảo đảm các điều kiện để Công đoàn cơ sở hoạt động theo quy định tại Điều 193 của Bộ luật này
4 Phối hợp với Công đoàn cơ sở xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ, quy chế phối hợp hoạt động phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của mỗi bên
5 Tham khảo ý kiến Ban chấp hành Công đoàn cơ sở trước khi ban hành các quy định có liên quan đến quyền, nghĩa vụ, chế độ chính sách đối với NLĐ
Về cơ chế thực hiện vai trò đại diện trực tiếp cho NLĐ của Công đoàn theo quy định tại Điều 188 của Bộ luật Lao động năm 2012 như sau:
1 Công đoàn cơ sở thực hiện vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ; tham gia, thương lượng, ký kết và giám sát việc thực hiện Thỏa ước lao động tập thể, thang lương, bảng lương, định mức lao động, Quy chế trả lương, Quy chế thưởng, Nội quy lao động, Quy chế dân chủ ở doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức; tham gia, hỗ trợ giải quyết tranh chấp lao động; đối thoại, hợp tác với NSDLĐ xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định, tiến bộ tại doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức
2 Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở có trách nhiệm hỗ trợ Công đoàn cơ
sở thực hiện các chức năng, nhiệm vụ theo quy định tại khoản 1 Điều này; tuyên
Trang 27truyền giáo dục, nâng cao hiểu biết về pháp luật lao động, pháp luật về Công đoàn cho NLĐ
3 Ở những nơi chưa thành lập tổ chức Công đoàn cơ sở, Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở thực hiện trách nhiệm như quy định tại khoản 1 Điều này
4 Tổ chức Công đoàn các cấp tham gia với cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp và tổ chức đại diện NSDLĐ để trao đổi, giải quyết các vấn đề về lao động
Về vai trò đại diện NLĐ của Công đoàn trong đối thoại tại nơi làm việc, Điều 63 của Bộ luật Lao động năm 2012 quy định: Đối thoại tại nơi làm việc được thực hiện thông qua việc trao đổi trực tiếp giữa NLĐ và NSDLĐ hoặc giữa đại diện tập thể lao động với NSDLĐ, bảo đảm việc thực hiện Quy chế dân chủ ở
cơ sở
2.1.4 Nội dung nâng cao đời sống văn hóa của công nhân lao động
ĐSVH của CNLĐ bao gồm các yếu tố của đời sống vật chất và các yếu tố đời sống tinh thần của CNLĐ
Đời sống vật chất của CNLĐ bao gồm các yếu tố liên quan đến thu nhập
của NLĐ như tiền lương, các khoản trợ cấp, ăn giữa ca, bồi dưỡng độc hại cho CNLĐ ; nhà ở của CNLĐ; nhà trẻ, mẫu giáo, trường học của con CNLĐ; điều kiện làm việc của CNLĐ như thời gian làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, các chế độ BHXH, BHYT, BHTN, An toàn lao động, vệ sinh lao động
Đời sống tinh thần của CNLĐ bao gồm: QHLĐ giữa NLĐ với NSDLĐ
(thái độ, sự tôn trọng, những thỏa thuận giữa hai bên trong QHLĐ thông qua Thỏa ước lao động tập thể); chăm lo của tổ chức đại diện NLĐ (Công đoàn) trong các vấn đề về thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, các nội dung tuyên truyền, giáo dục, các hoạt động chăm lo của Công đoàn đối với NLĐ như thăm quan, nghỉ mát, các hội thi ; các hoạt động văn nghệ, thể dục, thể thao
2.1.4.1 Nâng cao đời sống vật chất của công nhân lao động
- Tiền lương, thu nhập của CNLĐ trong các KCN
Điều 90, Bộ Luật Lao động năm 2012 quy định:
Tiền lương là khoản tiền mà NSDLĐ trả cho NLĐ để thực hiện công việc theo thỏa thuận
Tiền lương bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản phụ cấp khác
Trang 28Mức lương của NLĐ không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định
Tiền lương trả cho NLĐ căn cứ vào năng suất lao động và chất lượng công việc
NSDLĐ phải đảm bảo trả lương bình đẳng, không phân biệt giới tính đối với NLĐ làm công việc có giá trị ngang nhau
Tiền lương của công nhân lao động thời gian qua đã được điều chỉnh nhiều lần, bình quân thu nhập của NLĐ đã có chiều hướng tăng lên so với những năm trước do tăng trưởng của nền kinh tế và chính sách của Chính phủ
Khoản 1, Điều 91, Bộ Luật Lao động năm 2012 quy định: Mức lương tối thiểu là mức lương thấp nhất trả cho NLĐ làm công việc đơn giản nhất, trong điều kiện lao động bình thường và phải đảm bảo nhu cầu sống tối thiểu của NLĐ
và các giải pháp cải cách" của Quốc hội diễn ra ngày 17/5/2015 tại Hà Nội, bà Trương Thị Mai, Chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc Hội phát biểu:
“Tiền lương phải được xem là giá cả của sức lao động hình thành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước Mục tiêu của cải cách tiền lương là phải đảm bảo cho NLĐ có thể đạt được mức sống tốt hơn, sống được bằng tiền lương tối thiểu Đây cũng là một trong những nguyên tắc xây dựng mức tiền lương tối thiểu mà tổ chức lao động quốc tế ILO khuyến nghị Quá trình cải cách chính sách tiền lương cũng phải phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế- xã hội của
Việt nam trong từng giai đoạn” (Trương Thị Mai, 2015)
Các chuyên gia quản lý Việt Nam đều cho rằng, mức lương tối thiểu trên thực tế chưa bảo đảm được mức sống, đó là “tối thiểu” như đúng nghĩa của nó Mức lương tối thiểu của Việt Nam còn quá thấp, không bảo đảm đủ sống, trong khi giá cả của một số mặt hàng thiết yếu phục vụ đời sống của CNLĐ như lương thực, thực phẩm, điện, nước sinh hoạt… ngày càng tăng và một số mặt hàng được tính, so sánh với giá cả quốc tế tác động không nhỏ đến đời sống của NLĐ
Trang 29(Đại học CĐ Việt Nam, 2014) “Thu nhập của CNLĐ chưa tương xứng với cường độ lao động và thời gian làm việc” (Vũ Quang Thọ, 2016)
- Nhà ở của CNLĐ trong các KCN
Hiện nay, các doanh nghiệp trong các KCN tăng nhanh, CNLĐ di cư từ địa phương này sang địa phương khác, thậm chí CNLĐ di cư từ miền Bắc vào miền Nam, từ miền núi xuống miền xuôi đã và đang diễn ra thường xuyên, số lượng CNLĐ tăng nhanh, đặc biệt tại một số tỉnh có công nghiệp phát triển như Bắc Ninh Bên cạnh đó việc tổ chức thực hiện các cơ chế, chính sách về nhà ở còn nhiều bất cập, công tác quy hoạch, xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng nhà ở cho CNLĐ chưa được quan tâm đúng mức đã tạo nên tình trạng thiếu nghiêm trọng nhà ở cho CNLĐ
Vấn đề nhà ở cho CNLĐ hiện đang được quan tâm giải quyết nhưng còn chậm Theo số liệu của Bộ Xây dựng, cả nước có 33 dự án nhà ở cho người thu nhập thấp đã được khởi công với tổng số vốn đầu tư 2.500 tỷ đồng, với diện tích sàn là 665.000 m², giải quyết chỗ ở cho khoảng 55.000 người; nhà ở cho CNLĐ
ở các KCN có 24 dự án đã được khởi công với tổng số vốn đầu tư là 2.600 tỷ đồng giải quyết chỗ ở cho khoảng 125.000 CNLĐ Các khu nhà ở tập trung được xây dựng từ nguồn ngân sách nhà nước và doanh nghiệp mới chỉ đáp ứng 05 đến
07% về nhu cầu nhà ở cho CNLĐ (Viện Công nhân và Công đoàn Việt Nam, 2016) Do KCN, Khu chế xuất phát triển mạnh mẽ trong thời gian qua, trong khi
công tác quy hoạch, xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng nhà ở cho CNLĐ chưa được quan tâm đã làm cho tình trạng nhà ở của CNLĐ thiếu trầm trọng
Theo điều tra tại các KCN, khu chế xuất có khoảng 93% CNLĐ phải tự
thuê chỗ ở (Tổng LĐLĐ Việt Nam, 2013) Do thu nhập thấp nên phần lớn công
nhân phải thuê nhà ở tạm bợ, rất chật hẹp, nóng bức, diện tích mỗi phòng chỉ từ
10 đến 20m2 cho 03- 04 người; nhà vệ sinh, nhà tắm phải dùng chung không đảm bảo an ninh, vệ sinh, ảnh hưởng xấu đến đời sống, sức khỏe và sức làm việc của CNLĐ
- Điều kiện làm việc cho CNLĐ trong các KCN
Vấn đề bảo đảm an toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ) trong các doanh nghiệp được Nhà nước và chính các doanh nghiệp quan tâm, đầu tư cải thiện điều kiện làm việc cho CNLĐ Do vậy, bước đầu công tác ATVSLĐ bước đầu có chuyển biến Chính sách, pháp luật về ATVSLĐ tiếp tục được cải thiện, nhất là
Trang 30chính sách mới về bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, bổ sung các hình thức và nâng mức xử phạt các hành vi vi phạm pháp luật về ATVSLĐ; Sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương và tổ chức Công đoàn về ATVSLĐ được thường xuyên và chặt chẽ hơn Tuy nhiên, do trình độ phát triển khoa học công nghệ nước ta còn thấp, phần lớn doanh nghiệp trong nước có quy
mô vừa và nhỏ, tiềm lực tài chính chưa mạnh, nên đầu tư cho đổi mới công nghệ, cải thiện điều kiện lao động và môi trường lao động chưa được nhiều Điều kiện làm việc của CNLĐ trực tiếp sản xuất nhìn chung ít được cải thiện, nhất là trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ; Tình trạng công nghệ thiết bị lạc hậu, lao động thủ công, nặng nhọc và độc hại, môi trường bị ô nhiễm, không đảm bảo các điều kiện
về ATVSLĐ Còn ở tại các doanh nghiệp, CNLĐ đa phần phải làm việc trong môi trường ô nhiễm như nóng, bụi, tiếng ồn, độ rung vượt tiêu chuẩn quy định Điều kiện làm việc không bảo đảm đã tác động xấu đến sức khỏe CNLĐ, hậu quả
là bệnh nghề nghiệp gia tăng và diễn biến phức tạp
Mức bữa ăn ca của CNLĐ thấp, chất lượng và thực phẩm sử dụng trong bữa
ăn không đảm bảo, đã có nhiều trường hợp CNLĐ bị ngộ độc thực phẩm với số lượng hàng trăm người Vấn đề vi phạm chính sách, pháp luật đối với CNLĐ, nhất là chính sách BHXH, BHYT và những quy định của Bộ luật lao động về tiền lương, thời gian làm việc còn diễn ra ở mức khá phổ biến (Vũ Quang Thọ, 2016) Nhiều doanh nghiệp chỉ đóng BHXH cho nhân viên quản lý, hoặc có đóng cho CNLĐ nhưng ở mức thấp hơn nhiều so với thu nhập thực tế Một số doanh nghiệp cố tình chiếm dụng, gây nợ đọng BHXH, BHTN, vừa vi phạm chính sách pháp luật lao động, vừa gây thiệt thòi cho CNLĐ
- Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
Theo quy định tại khoản 1, Điều 104 Bộ Luật Lao động năm 2012: “Thời giờ làm việc bình thường không quá 08 giờ trong 01 ngày và 48 giờ trong 01 tuần” Tuy nhiên, cường độ và thời gian làm việc của CNLĐ trong các KCN hiện nay vẫn rất cao Nguyên nhân là do nhiều doanh nghiệp làm hàng gia công cho nước ngoài, công nhân phải làm tăng ca, thêm giờ để hoàn thành đúng tiến độ Mặt khác, do các doanh nghiệp áp dụng cơ chế trả lương theo sản phẩm, với định mức lao động quá cao, CNLĐ phải tăng cường độ lao động, kéo dài thời gian làm việc thêm từ 01 đến trên 02 giờ mới hoàn thành định mức lao động Bên cạnh đó, nhiều CNLĐ muốn tăng ca để tăng thu nhập trang trải cuộc sống Nếu tính cả
Trang 31năm, nhiều công nhân phải làm thêm tới 500- 600 giờ, trong khi đó Bộ luật Lao động quy định không được làm thêm quá 200 giờ/năm, trường hợp đặc biệt không quá 300 giờ Nhà nước luôn khuyến khích doanh nghiệp thực thi pháp luật trên tinh thần tạo những điều có lợi hơn cho CNLĐ, tuy nhiên các doanh nghiệp đều muốn tranh thủ tối đa thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của CNLĐ nhằm mục đích tăng năng suất lao động và tối đa hóa lợi nhuận
Tình trạng cường độ lao động và thời gian làm việc rất cao đã ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe, đời sống, chất lượng sống của CNLĐ
- Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp
Khoản 1, Điều 186, Bộ Luật Lao động năm 2012 quy định: NSDLĐ, NLĐ phải tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc, Bảo hiểm y tế bắt buộc, Bảo hiểm thất nghiệp và được hưởng các chế độ theo quy định của pháp luật về Bảo hiểm xã hội và pháp luật về Bảo hiểm y tế
Tuy nhiên, trong thực tế tình trạng doanh nghiệp trốn đóng Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp (BHXH, BHYT, BHTN) cho CNLĐ vẫn diễn ra với số tiền nợ BHXH trên 5.500 tỷ đồng (Ủy ban các Vấn đề xã hội của Quốc hội, 2015) Một số nơi đã tiến hành xử lý doanh nghiệp nợ tiền BHXH
để bảo vệ CNLĐ, tuy nhiên việc khởi kiện vẫn còn gặp nhiều khó khăn Nhiều cơ quan BHXH không thu được nợ cũ của doanh nghiệp nên để nợ đọng kéo dài, dẫn đến CNLĐ hàng tháng vẫn phải trích tiền để trả nợ và đóng BHXH nhưng không được hưởng BHXH Có nhiều trường hợp nữ CNLĐ khi nghỉ thai sản hoặc CNLĐ ốm đau nhưng không được hưởng chế độ bảo hiểm vì doanh nghiệp chiếm dụng tiền đóng BHXH hàng tháng của CNLĐ, do doanh nghiệp nợ BHXH nên CNLĐ không được thanh toán chế độ nghỉ thai sản, ốm đau… Đây là một trong những bức xúc của CNLĐ đòi hỏi cần phải được giải quyết triệt để nhằm bảo đảm chính sách an sinh xã hội cho CNLĐ
2.1.4.2 Bảo đảm nhà trẻ, mẫu giáo, trường học của con công nhân lao động
Tại Hội thảo “Thực trạng nhà trẻ, mẫu giáo ở các KCN và vai trò của Công đoàn” tổ chức ngày 28/5/2015 tại Hà Nội, đồng chí Nguyễn Thị Thu Hồng,
Phó Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam đã phát biểu: Việt Nam đã xây dựng được khung pháp lý tương đối hoàn chỉnh về chăm sóc giáo dục và bảo vệ trẻ em Công tác này luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm và được thể hiện rõ ràng trong các văn bản pháp luật, chính sách của Đảng, Nhà nước với một hệ thống
Trang 32khung pháp lý gồm các Hiến pháp, Công ước Quốc tế, Luật và các văn bản quy phạm pháp luật về chăm sóc trẻ em, nhà trẻ, mẫu giáo, tạo ra cơ hội bình đẳng cho mọi trẻ em trong xã hội Tuy nhiên, các văn bản pháp lý hiện hành chưa có một ưu tiên cụ thể nào hướng đến đối tượng trẻ em trong độ tuổi nhà trẻ, mẫu giáo là con CNLĐ đang làm việc trong các KCN
Đến nay, trên phạm vi cả nước có hơn 10 triệu CNLĐ đang làm việc trong doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, với trên 02 triệu công nhân làm việc tại KCN, trong đó gần 70% là lao động nữ Lao động chủ yếu từ 18- 40 tuổi, nhu cầu gửi trẻ trong độ tuổi mẫu giáo là rất lớn, trong khi đó hệ thống nhà trẻ mẫu giáo tại KCN chưa được quan tâm đúng mức
Thực tế, việc gửi con ở các nhà trẻ Công lập tương đối khó khăn do công nhân KCN chủ yếu là lao động nhập cư, thu nhập không cao, cơ sở vật chất của nhà trẻ Công lập cũng có hạn nên không có khả năng nhận hết các cháu Vì vậy, CNLĐ trong KCN chủ yếu phải gửi con ở các nhà trẻ tư nhân hoặc nhóm trẻ, cơ
sở mầm non tư thục, tận dụng nhà dân làm phòng giữ trẻ không đảm bảo diện tích cho trẻ sinh hoạt CNLĐ tại các KCN do thời gian làm việc liên tục, kéo dài, tăng ca nên không thể dành nhiều thời gian cho việc chăm sóc con nhỏ Đã có nhiều trường hợp đáng tiếc xảy ra như đánh đập tàn nhẫn, đối xử thô bạo, làm tổn thương, thậm chí có trường hợp làm trẻ tử vong
Với các chính sách hiện hành như hiện nay và với mức tiền lương, thu nhập của CNLĐ trong các KCN, CNLĐ không gửi con vào được các trường học Công lập của địa phương, cũng có rất nhiều CNLĐ không có điều kiện gửi con tại các trường học tư thục có chất lượng cao, nên tình trạng con CNLĐ trong các KCN phải gửi tại các nhóm trẻ gia đình chưa được cấp phép, chất lượng chưa đảm bảo
có chiều hướng gia tăng; nhiều CNLĐ phải đón ông bà ở quê lên chăm cháu, hoặc phải gửi con về quê cho ông bà chăm sóc, đây là một hệ lụy cho quản lý xã hội và phát triển thể chất, giáo dục của trẻ em Thậm chí nhiều nữ CNLĐ khi sinh con, khi hết thời gian nghỉ theo chế độ, phải nghỉ việc để ở nhà chăm con, dẫn đến biến động lao động trong doanh nghiệp, ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và chính chất lượng cuộc sống của CNLĐ
2.1.4.3 Nâng cao trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp
Những năm gần đây trung bình hàng năm có khoảng 1,2- 1,3 triệu thanh niên bước vào tuổi lao động Theo báo cáo của Tổng cục Dạy nghề số lượng
Trang 33người qua đào tạo không ngừng tăng lên, nhưng chủ yếu là lao động được đào tạo ngắn hạn, nên rất thiếu lao động có trình độ tay nghề giỏi, công nhân kỹ thuật bậc cao do số người theo học tại các cơ sở dạy nghề rất ít, chất lượng đào tạo không tốt, nhiều ngành nghề không đáp ứng yêu cầu xã hội đang gây ra sự lãng phí về sự đầu tư của người dân và xã hội Tỷ lệ lao động phổ thông không có chuyên môn kỹ thuật trong toàn xã hội chiếm 81,6% tổng số lao động, thiếu các
kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề; yếu kém về tin học, ngoại ngữ; thiếu hiểu biết về pháp luật, đạo đức nghề nghiệp; thiếu tinh thần
và ý thức trách nhiệm trong công việc, tự do, tùy tiện, chậm thích nghi với môi trường làm việc mới… Năng lực đổi mới và sáng tạo khoa học và công nghệ của lực lượng lao động có trình độ cao còn nhiều yếu kém Đây là vấn đề rất đáng báo động về chất lượng nguồn nhân lực trong thời kỳ hội nhập và phát triển Mặc dù các KCN luôn thiếu lao động có chuyên môn kỹ thuật, nhưng vẫn
có khoảng 80% cử nhân mới ra trường không làm đúng nghề đào tạo, hàng trăm nghìn cử nhân phải xin làm công việc phổ thông do ngành nghề được đào tạo không phù hợp với nhu cầu tuyển dụng
Chất lượng nguồn nhân lực của nước ta tụt hậu so với nhiều nước trong khu vực, mất cân đối nghiêm trọng về trình độ đào tạo, cơ cấu và giới; tình trạng thất nghiệp của lao động có bằng cấp cao ngày càng nhiều Dự báo trong những năm tới, nước ta hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nhiều hợp tác song phương và
đa phương sẽ được ký kết, sự di chuyển lao động giữa các quốc gia sẽ diễn ra mạnh mẽ, sự cạnh tranh trong thị trường lao động càng trở lên gay gắt, trong khi nhân lực của nước ta đang mất dần sức cạnh tranh trên thị trường lao động trong khu vực và quốc tế, đây là thách thức lớn đối với nước ta
Điều 60, Bộ Luật Lao động năm 2012 quy định về trách nhiệm của NSDLĐ
về đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề: NSDLĐ xây dựng kế hoạch hằng năm và dành kinh phí cho việc đào tạo và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, kỹ năng nghề cho NLĐ đang làm việc cho mình; đào tạo NLĐ trước khi chuyển làm nghề khác cho mình
Việc đào tạo và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, kỹ năng nghề cho NLĐ ở các doanh nghiệp trong KCN chỉ diễn ra các hoạt động đào tạo giản đơn, đặc biệt là trong các doanh nghiệp điện tử, hoạt động đào tạo hầu như là lắp ghép trên các bản mạch điện tử, chỉ cần đào tạo cho CNLĐ từ 01 đến 03 ngày là
có thể làm việc tại các truyền sản xuất
Trang 342.1.4.4 Cải thiện quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động trong doanh nghiệp
Quan hệ lao động là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa NLĐ và NSDLĐ (Bộ Luật Lao động, 2012)
Quan hệ lao động còn gọi là quan hệ chủ- thợ Trong đó NLĐ phải thực hiện hoạt động lao động nào đó, còn bên NSDLĐ (ông chủ) phải trả công, hoặc trả lương và đảm bảo những điều kiện lao động cần thiết khác cho NLĐ
Hợp đồng lao động là hình thức pháp lý chủ yếu và phổ biến nhất của quan
hệ lao động Theo pháp luật lao động Việt Nam thì quan hệ lao động còn được điều chỉnh bởi Nội quy lao động, Thỏa ước lao động tập thể và Quy chế phối hợp hoạt động của Ban chấp hành Công đoàn cơ sở (nếu có) với chủ doanh nghiệp Trong Nội quy lao động và Thỏa ước lao động tập thể cũng có các điều khoản thỏa thuận cụ thể giữa NLĐ hoặc tập thể NLĐ (ở những doanh nghiệp đã thành lập tổ chức Công đoàn thì Ban chấp hành Công đoàn cơ sở là đại diện) với NSDLĐ về việc làm, tiền lương, tiền thưởng, quyền lợi được hưởng và nghĩa vụ mỗi bên trong quá trình lao động, bảo đảm điều kiện, môi trường làm việc an toàn, hiệu quả
Quan hệ giữa NSDLĐ và NLĐ là một quan hệ không cân sức NLĐ bị lép
vế, phải chấp nhận những điều kiện do NSDLĐ đưa ra Vì thế, cần sự can thiệp của Nhà nước, đặc biệt dưới dạng ban hành các văn bản quy phạm pháp luật; đồng thời NLĐ cần tổ chức bảo vệ mình đó chính là tổ chức Công đoàn, Công đoàn đại diện cho CNLĐ để thương lượng, đối thoại với NSDLĐ nhằm cải thiện tiền lương và điều kiện lao động
2.1.4.5 Bảo đảm sự đại diện của tổ chức Công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi cho người lao động
Công đoàn tham gia xây dựng và thực hiện chính sách cải cách tiền lương
Công đoàn luôn nắm vững và tham gia có trách nhiệm, hiệu quả vào quá trình cải cách chính sách tiền lương như tham gia ban chỉ đạo cải cách chính sách tiền lương, ban soạn thảo Đề án cải cách tiền lương Tổng LĐLĐ Việt Nam thành lập ban soạn thảo và ban biên tập Đề án cải cách tiền lương, tổ chức hội thảo lấy ý kiến các ngành, địa phương, cơ sở vào dự thảo Đề án cải cách tiền lương, tập trung vào các vấn đề cơ bản như lương tối thiểu, hệ thống thang, bảng lương, phụ cấp lương
Trang 35Công đoàn tham gia xây dựng và thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp
Công đoàn tham gia xây dựng, ban hành và quản lý các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp Công đoàn tập hợp ý kiến của đông đảo NLĐ tham gia với Chính phủ khi soạn thảo các văn bản pháp luật, ban hành kịp thời các văn bản hướng dẫn thực hiện các nội dung quy định trong Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế, luật Bảo hiểm thất nghiệp, các Nghị định, các Thông tư hướng dẫn thực hiện, đồng thời tham gia xây dựng các phương án
tổ chức thực hiện thu, chi, quản lý, sử dụng có hiệu quả các loại quỹ
Công đoàn tham gia xây dựng và thực hiện chính sách nhà ở cho NLĐ
Tạo điều kiện có chỗ ở cho công nhân, viên chức, lao động là đảm bảo quyền lợi cơ bản cho NLĐ, tạo điều kiện ổn định cuộc sống, thúc đẩy sản xuất phát triển Từ quan điểm trên, các cấp Công đoàn có trách nhiệm tham gia tích cực với Nhà nước để công nhân, viên chức, lao động thu nhập thấp và ở khu công nghiệp, khu chế xuất có chỗ ở
Công đoàn tham gia các hoạt động xã hội
Công đoàn cần vận động NLĐ tham gia hưởng ứng các phong trào như:
“Mái ấm Công đoàn”, “Quỹ vì CNVCLĐ nghèo”, “Quỹ tấm lòng vàng”; phong trào uống nước, nhớ nguồn, phụng dưỡng chăm sóc mẹ Việt Nam anh hùng; phong trào ủng hộ đồng bào lũ lụt, đồng bào ở các vùng bị thiên tai, phong trào xoá đói, giảm nghèo; phong trào phòng, chống HIV-AIDS; phong trào phụ nữ giỏi việc nước, đảm việc nhà; phong trào đảm bảo an toàn giao thông; phong trào
an toàn, vệ sinh lao động, xanh- sạch- đẹp, bảo đảm vệ sinh môi trường
Công đoàn tham gia xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở
Các cấp Công đoàn phối hợp chặt chẽ với Chính quyền, chuyên môn đồng cấp tiến hành tập huấn những nội dung thực hiện dân chủ ở cơ sở, nhất là về tính cấp bách và sự cần thiết thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, quyền và trách nhiệm của Công đoàn trong việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở Các cấp Công đoàn tiến hành các đợt tổng kết, qua đó đánh giá những mặt được, những mặt còn tồn tại cần khắc phục, đồng thời tập hợp các kiến nghị từ thực tiễn, tổ chức nghiên cứu và đề xuất với Đảng, Nhà nước xem xét, điều chỉnh và quy định mới các chính sách về Quy chế dân chủ ở cơ sở
Công đoàn tham gia công tác tuyên truyền, giáo dục và tổ chức các hoạt động
Trang 36văn hoá, thể thao, vui chơi giải trí cho NLĐ
Công đoàn thực hiện công tác tuyên truyền, giáo dục về pháp luật, chế độ, chính sách, quyền và nghĩa vụ của NLĐ Giáo dục NLĐ hiểu biết về pháp luật là nhiệm vụ quan trọng của Công đoàn, giúp NLĐ nâng cao hiểu biết về pháp luật, chế độ, chính sách liên quan đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của mình để chấp hành đúng, giám sát, kiểm tra việc thực hiện và có khả năng tự bảo vệ mình khi
bị xâm phạm Đồng thời, tùy điều kiện của cơ sở, Công đoàn tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể thao, du lịch, tham quan, nghỉ mát cho công nhân, viên chức, lao động
2.1.4.6 Nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao
Trong những năm qua Đảng, Nhà nước luôn quan tâm đến đời sống văn hóa tinh thần của CNLĐ, cụ thể đã có nhiều Nghị quyết, Chỉ thị, chương trình kế hoạch về xây dựng ĐSVH tinh thần cho NLĐ Điển hình như năm 2011 Chính phủ đã ban hành “Đề án xây dựng đời sống văn hóa công nhân ở các khu công nghiệp đến năm 2015, định hướng đến năm 2020” ban hành kèm theo Quyết định
số 1780/QĐ-TTg ngày 12/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ Trong đó nhấn mạnh việc xây dựng ĐSVH của CNLĐ ở các KCN gắn với xây dựng các thiết chế văn hóa, hoạt động văn nghệ- thể thao thường xuyên, chất lượng, hiệu quả; xây dựng đội ngũ CNLĐ có nếp sống lành mạnh, có tác phong làm việc công nghiệp, năng suất, chất lượng và hiệu quả; từng bước cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của công nhân, góp phần xây dựng các doanh nghiệp phát triển ổn định và bền vững
Đẩy mạnh phát triển phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao trong CNLĐ là góp phần nâng cao mức hưởng thụ về văn hóa tinh thần của công nhân
ở các KCN Cùng với việc xây dựng, phát triển phong trào văn nghệ quần chúng; định kỳ tổ chức các cuộc liên hoan, hội diễn văn nghệ quần chúng; thi đấu các môn thể thao trong công nhân Xây dựng, phát triển các loại hình câu lạc bộ sở thích, phù hợp với nhu cầu, đặc điểm của các đối tượng CNLĐ;
Ngày 9/7/2016, tại buổi làm việc giữa Chính phủ với Tổng LĐLĐ Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã thấu hiểu tình hình thực tế của CNLĐ còn quá nhiều khó khăn trong đời sống và những vướng mắc, bất cập
về tình trạng CNLĐ trong các KCN chưa có chỗ sinh hoạt văn hóa tinh thần Thủ tướng đã đồng ý với kiến nghị của Tổng LĐLĐ Việt Nam về việc hỗ trợ triển
Trang 37khai đề án xây dựng các thiết chế phục vụ nhu cầu của CNLĐ tại các KCN, gồm: nhà ở, siêu thị Công đoàn, nhà trẻ, nhà văn hóa, phòng khám, trung tâm trợ giúp pháp lý, trụ sở làm việc của Công đoàn khu công nghiệp
Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý chủ trương xây dựng thiết chế văn hóa thể thao ở 15 địa phương trọng điểm, đây sẽ là “một bước đột phá” về xây dựng ĐSVH cho CNLĐ tại các KCN trong đó có tỉnh Bắc Ninh
Các hoạt động, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao là một món
ăn tinh thần không thể thiếu đối với mỗi NLĐ, vì vậy việc thường xuyên chăm
lo, tổ chức các sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao là thực sự cần thiết đối với mỗi doanh nghiệp nhằm đoàn kết, tập hợp quần chúng, từng bước nâng cao ĐSVH của CNLĐ Đồng thời, tạo khí thế thi đua sôi nổi, gắn bó lâu dài giữa NLĐ với doanh nghiệp, xây dựng doanh nghiệp phát triển toàn diện, bền vững
2.2 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA CÔNG NHÂN LAO ĐỘNG
2.2.1 Quản lý nhà nước
Nhà nước có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến ĐSVH của CNLĐ Bởi Nhà nước ban hành chính sách pháp luật lao động, tổ chức triển khai, giám sát, kiểm tra, thanh tra việc thực thi pháp luật; tổ chức các thiết chế để đảm bảo
và hỗ trợ quan hệ lao động, điều hòa lợi ích của các bên trong QHLĐ
Theo quy định của pháp luật lao động, quản lý Nhà nước khái quát thành 03 nội dung cơ bản:
Thứ nhất, các hoạt động nghiên cứu, ban hành văn bản pháp luật, chính
sách về lao động Đây là hoạt động đóng vai trò quan trọng, có tính chất nền tảng thể hiện quyền lực Nhà nước, bởi chỉ khi ban hành được hệ thống các văn bản phù hợp và khả thi thì mới đảm bảo việc thực hiện tốt pháp luật lao động
Thứ hai, tổ chức thực hiện chính sách pháp luật về lao động Nội dung này
bao gồm nhiều hoạt động, trong đó việc thông tin, tuyên truyền, phổ biến và tư vấn pháp luật lao động
Thứ ba, hoạt động thanh tra, kiểm tra việc thi hành chính sách, pháp luật về
lao động nhằm đảm bảo quyền lực Nhà nước trong việc thực thi pháp luật và tăng cường pháp chế Thông qua đó sẽ phát hiện các sai phạm, kịp thời xử lý theo đúng pháp luật, hạn chế tranh chấp lao động phát sinh trong thực tiễn
Trang 38Chức năng quản lý Nhà nước về QHLĐ của Bộ Lao động hiện nay còn thiếu, nội dung quản lý còn tản mạn, chưa thành hệ thống, thậm chí bị nhầm lẫn giữa quản lý pháp luật về lao động và QHLĐ
Chế tài xử phạt vi phạm trong lĩnh vực lao động chưa đủ răn đe, chưa bao quát hết các hành vi vi phạm; thiếu các thiết chế và dịch vụ hỗ trợ để thực hiện những chức năng cần thiết trong QHLĐ như thương lượng, trung gian, hòa giải Mặc dù cơ quan quản lý nhà nước về lao động là Bộ Lao động và các Sở, phòng và là một trong ba bên của QHLĐ nhưng trên thực tế mối quan hệ này lại được điều chỉnh bởi nhiều ngành Luật như Dân sự, Doanh nghiệp, Đầu tư, Hành chính thuộc chức năng quản lý của nhiều bộ, ngành, cơ quan khác nhau Do đó,
để thực hiện quản lý Nhà nước có hiệu quả, đòi hỏi phải có sự phối hợp liên ngành, đồng bộ và thống nhất
Một trong những hoạt động thể hiện vai trò quản lý của Nhà nước trong QHLĐ là tổ chức thanh tra, kiểm tra việc thi hành pháp luật lao động tại các doanh nghiệp Tuy nhiên có một thực tế, Nhà nước và các cơ quan Nhà nước tuy
đã quan tâm đến công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát song đã bị chi phối nhiều vào việc giải quyết các sự vụ, chưa có cơ chế giải quyết các vấn đề có hệ thống
2.2.2 Người sử dụng lao động
Là tác nhân quan trọng quyết định ĐSVH của CNLĐ Trước tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu, không ít doanh nghiệp phải tiết giảm hoạt động đầu tư, thậm chí phải tạm ngừng hoạt động do sản xuất kinh doanh thua lỗ Hệ quả là CNLĐ không có việc làm ổn định, nghỉ việc luân phiên hoặc phải chấm dứt hợp đồng lao động, chậm trả lương, nợ đọng BHXH, đời sống vật chất và tinh thần của CNLĐ không được NSDLĐ quan tâm, đầu tư đúng mức
Đối với hầu hết NSDLĐ, lợi nhuận là mục tiêu quan trọng nhất, để đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận NSDLĐ luôn tìm mọi cách khai thác triệt để sức lao động của CNLĐ, tìm cách trốn các nghĩa vụ phải thực hiện với CNLĐ theo quy định của pháp luật để tiết kiệm các chi phí đầu tư, hoặc nếu có thực hiện thì chỉ ở mức độ quy định tối thiểu của pháp luật lao động nhằm đối phó với cơ quan quản lý Nhà nước hoặc các đoàn giám sát, thanh tra, kiểm tra
2.2.3 Người lao động
Mỗi năm ở nước ta, trung bình có khoảng hơn 01 triệu thanh niên bước vào tuổi lao động NLĐ là đối tượng chính trong nghiên cứu; là một bên trong QHLĐ
Trang 39nhưng là bên yếu thế NLĐ hưởng lương của doanh nghiệp, do doanh nghiệp bố trí, sắp xếp vị trí việc làm Mong muốn của NLĐ thường đối lập với NSDLĐ NLĐ mong muốn có việc làm nhẹ nhàng, hưởng mức lương cao, trong điều kiện làm việc thật tốt, mong muốn NSDLĐ quan tâm đến con cái, nhà ở, đời sống, các nhu cầu được đáp ứng ; còn NSDLĐ muốn NLĐ làm việc đạt năng suất lao động cao, chỉ phải chi trả mức lương thấp, tiết kiệm các chi phí về cải thiện môi trường làm việc, các chi phí liên quan đến cuộc sống của NLĐ Chính vì vậy mà NLĐ và NSDLĐ ít tìm thấy tiếng nói chung trong quan hệ lao động, đối lập nhau trong mục tiêu xây dựng ĐSVH của CNLĐ nên NSDLĐ và NLĐ có nhiều mâu thuẫn trong QHLĐ, từ đó rất cần sự điều tiết của Nhà nước và tổ chức đại diện cho NLĐ- tổ chức Công đoàn
2.3 CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.3.1 Đời sống văn hóa của công nhân lao động một số nước trên thế giới
2.3.1.1 Đời sống văn hóa công nhân ở một số nước phương Tây
Từ thập niên 70 của thế kỷ XX, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ trên thế giới đã làm biến đổi sâu sắc và toàn diện nền kinh tế thế giới Từ đó, dẫn đến những thay đổi về cấu trúc xã hội trong đó có GCCN Đối với GCCN, tính linh hoạt, sáng tạo trong công việc là một phẩm chất cần phải có Những yếu tố bắt buộc là trình độ giáo dục chung vững chắc, được đào tạo nghề nghiệp một cách cơ bản và trình độ văn hóa- kỹ thuật cao, có kỹ năng đổi mới và khả năng
bổ sung tri thức nhanh chóng trong mọi lĩnh vực hoạt động Những yêu cầu này dẫn đến tình trạng thiếu nguồn nhân lực có trình độ cao trên thế giới Ngay quốc gia vốn có công nghệ đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao như Mỹ cũng không là ngoại lệ Hiện trên thế giới đang tồn tại xu thế chuyển dịch nguồn nhân lực: Dòng nhân lực có trình độ chuyên môn cao của các nước đang phát triển dịch chuyển đến các nước công nghiệp Các công ty đa quốc gia cắt giảm việc làm trong nước để chuyển sang các công ty vệ tinh tại các nước
Trong Toàn cầu hoá với giai cấp công nhân, đăng trên Tạp chí Cộng sản,
Số 10/1999 của tác giả La Côn: So với tổng số lao động xã hội trong 30 năm qua,
ở những nước công nghiệp phát triển, lượng công nhân tăng và chiếm tỷ lệ trên 70% Cụ thể một số nước: Pháp 91%, Anh 92,6%, Nhật Bản 76% Một số nước như Mỹ, Thụy Điển, công nhân chiếm 92% lao động cả nước ( La Côn, 1999) Lượng CNLĐ dịch vụ chiếm tỷ lệ cao trong các nước phát triển, CNLĐ làm
Trang 40công việc lao động trực tiếp với máy móc, lao động nặng nhọc có xu hướng giảm
về chất lượng Ở Anh, công nhân mỏ- khai khoáng, năng lượng không còn nhiều
Mỹ chỉ còn 100.000 công nhân khai mỏ Trong khối EU, năm 1954 có 239 triệu công nhân mỏ, song đến năm 1994 chỉ còn 49.240 người Ở Mỹ, trong ngành chế tạo máy, công nhân năm 1950 chiếm 35%, năm 1960 là 30%, năm 1980 là 20%
và hiện nay là 15% CNLĐ có trình độ cao, làm việc trong ngành công nghệ thông tin, nhà giáo, nhà khoa học… chiếm tỷ lệ ngày càng cao (ở Mỹ khoảng 70%, ở các nước G8 khác khoảng 40- 60%) Trình độ chuyên môn và văn hóa của CNLĐ cũng ngày càng cao 40% CNLĐ châu Âu học vấn có trình độ đại học, cao đẳng Từ năm 1970 đến năm 1990, ở Mỹ có 90% việc làm mới được tạo
ra trong các dịch vụ tri thức và xử lý thông tin
Tìm hiểu các khía cạnh khác nhau của văn hóa CNLĐ hiện nay, cần thấy rõ công nhân trong các nước phát triển (phương Tây, Nhật Bản…), là sản phẩm của quá trình giáo dục- đào tạo có hệ thống và được đầu tư lớn của nhà nước tư bản
và các doanh nghiệp Nhà nước gần như ứng trước chi phí đào tạo cho việc học tập và đào tạo nghề nghiệp và sau đó thu lại bằng thuế thu nhập, thẻ lao động… Thực tế cho thấy, xây dựng ĐSVH trong CNLĐ là một nội dung quan trọng
ở cả các nước đã phát triển và các nước đang phát triển, không phân biệt chế độ chính trị Mục tiêu của nhiệm vụ này là nhằm tạo nên nguồn nhân lực có chất lượng cao cho sự phát triển của mỗi quốc gia
2.3.1.2 Đời sống văn hóa công nhân ở một số quốc gia Châu Á
- Tại Hàn Quốc
Những năm 60 của thế kỷ XX, Hàn Quốc vẫn còn là một nước kém phát triển, là một quốc gia không được thiên nhiên ưu đãi về tài nguyên, khoáng sản… đến cuối những năm 80 đầu những năm 90, quốc gia này đã trở thành một trong bốn con rồng châu Á
Cùng với sự phát triển của đất nước theo hướng CNH- HĐH, đội ngũ CNLĐ ở Hàn Quốc ngày càng đông đảo Chỉ trong vòng 20 năm, khoảng từ năm
1960 đến năm 1980, số CNLĐ trong các ngành chế tạo tăng khoảng 06 lần, từ 480.000 lên tới 2.970.000 người Tỷ trọng lao động thuộc ngành chế tạo trong tổng số những người làm công ăn lương tăng từ 07% tới 22% và trong số đó có khoảng 9.900.000 nông dân ra thành thị Sự phát triển của đội ngũ công nhân và những mâu thuẫn về lợi ích của họ với giới chủ tạo điều kiện cho phong trào