Phương pháp nghiên cứu Phương pháp chọn bò mang thai hộ; Phương pháp khám cơ quan sinh dục; Phương pháp chẩn đoán bệnh viêm tử cung; Phương pháp đánh giá điểm thể trạng; Phương pháp
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
TRẦN VĂN VŨ
GÂY RỤNG TRỨNG TẠO THỂ VÀNG ĐỒNG PHA
ĐỂ CẤY PHÔI BÒ BBB THUẨN TẠI VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: TS Sử Thanh Long
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm
ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Trần Văn Vũ
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn ban giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Ban chủ nhiệm khoa Thú y đã tạo điều kiện để tôi có thể học tập và thực hiện nghiên cứu này
Tôi xin chân thành cảm ơn Thầy Cô trong khoa Thú y đã giảng dạy, chia sẻ những kinh nghiệm quý báu cho tôi Đặc biệt, tôi xin cảm ơn TS Sử Thanh Long trưởng bộ môn Ngoại-Sản đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và tạo điều kiện cho tôi để tôi có thể thực hiện nghiên cứu này đạt được kết quả tốt nhất
Tôi xin chân thành cám ơn toàn thể ban lãnh đạo, cán bộ công nhân viên tại công
ty cổ phần giống gia súc Hà Nội đã giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất để tôi có thể thực hiện nghiên cứu này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Trần Văn Vũ
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục bảng v
Danh mục biểu đồ vi
Danh mục viết tắt vii
Trích yếu luận văn viii
Thesis abstract x
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1
1.3 Ý nghĩa đề tài 1
Phần 2 Tổng quan tài liệu 2
2.1 Lược sử phát triển chăn nuôi bò thịt tại việt nam 2
2.2 Bò bbb và những ưu điểm vượt trội 2
2.3 Công nghệ cấy truyền phôi bò 5
2.4 Phương pháp gây đồng pha trên bò nhận phôi 6
2.5 Đặc điểm sinh lý sinh sản của bò cái 8
2.6 Vai trò của hormone trong sinh sản 16
Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 21
3.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 21
3.2 Nội dung nghiên cứu 21
3.3 Phương pháp nghiên cứu 21
3.4 Xử lý số liệu 25
Phần 4 Kết quả và thảo luận 26
4.1 Thông tin trước khi chọn bò thí nghiệm 26
4.2 Kết quả gây rụng trứng đồng pha 29
4.3 Kết quả định lượng nồng độ progesterone huyết thanh ngày thứ 6 sau động dục 32
4.4 Kết quả mang thai của bò đủ tiêu chuẩn cấy phôi 35
Trang 54.5 Kết quả mổ đẻ trên bò sữa mang thai hộ 37
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 41
5.1 Kết luận 41
5.2 Kiến nghị 41
Tài liệu tham khảo 42
Phụ lục 55
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 So sánh chỉ tiêu khối lượng giữa bò Vàng, bò lai Sind và bò lai BBB 3
Bảng 2.2 So sánh khối lượng của bê F1 (BBB x lai Sind) với bê lai F1 của một số giống bò khác 4
Bảng 2.3 So sánh khả năng sản xuất thịt của một số bê lai 4
Bảng 3.1 Kết quả chẩn đoán bệnh buồng trứng sau hai lần kiểm tra 22
Bảng 4.1 Thông tin về đàn bò sữa Phù Đổng 26
Bảng 4.2 Kết quả gây động dục đồng pha 29
Bảng 4.4 Tổng hợp kết quả cấy phôi bò BBB tại xí nghiệp bò Phù Đổng 35
Bảng 4.5 Tổng hợp kết quả mổ đẻ bò tại xí nghiệp bò Phù Đổng 38
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 3.1 Sử dụng hormone để gây rụng trứng tạo thể vàng cho bò 23
Sơ đồ 3.2 Cách tác động với bò động dục tự nhiên 23
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
CIDR Controlled Internal Drug Release
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Trần Văn Vũ
Tên Luận văn: “Gây rụng trứng tạo thể vàng đồng pha để cấy phôi bò BBB thuần tại Việt Nam”
Nội dung nghiên cứu
Chọn bò đủ tiêu chuẩn làm bò mẹ nhận phôi;
Gây rụng trứng tạo thể vàng đồng pha;
Định lượng progesterone trong máu;
Cấy truyền phôi và khám thai bò;
Phương pháp mổ đẻ
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chọn bò mang thai hộ;
Phương pháp khám cơ quan sinh dục;
Phương pháp chẩn đoán bệnh viêm tử cung;
Phương pháp đánh giá điểm thể trạng;
Phương pháp gây rụng trứng tạo thể vàng đồng pha;
Phương pháp phát hiện bò động dục;
Biểu hiện bò động dục;
Phương pháp định lượng progesterone;
Phương pháp cấy phôi bò;
Phương pháp chẩn đoán có thai ở 60 ngày tuổi;
Phương pháp mổ đẻ
Kết quả chính và kết luận
Bằng phương pháp gây rụng trứng tạo thể vàng có 84,21% bò có biểu hiện động dục
Trang 10Định lượng progesterone trong máu ở ngày thứ 6 sau khi bò có biểu hiện động dục số bò có hàm lượng P4 ≥3 ng/ml chiếm 46,81% Như vậy, bằng phương pháp này tiết kiệm được chi phí kỹ thuật
Tỷ lệ bò có chửa khi cấy phôi bò BBB ở Phù Đổng đạt 36,36%
Ba bê BBB thuần chủng đầu tiên ra đời bằng công nghệ cấy truyền phôi tại Việt Nam
Trang 11THESIS ABSTRACT
Master candidate: Tran Van Vu
Thesis title: Induction of ovulation synchronization for pured BBB embryo transfer in Viet Nam
Major: Veterinary Medicine Code: 60.64.01.01
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
Research Objectives
Induce ovulation synchronization to transfer pured BBB embryo in Viet Nam Research contents
Choose experimental cows which meet the criteria for implanting embryo
Synchronize ovulation in experimental cows
Determine plasma progesterone concentration at day 6 after detecting estrus Implant pured BBB embryo and diagnose pregnancy
Caesarean section
Materials and Methods
Method of choosing the recipient cows;
Method of rectal palpation;
Method of reproductive disorders diagnosis;
Method of assessing body condition score;
Method of induction ovulation synchronization;
Method of detecting estrus;
Method of determining progesterone plasma concentration;
Method of embryo transfer;
Method of pregnancy diagnosis;
Method of caesarean section
Main findings and conclusions
By applying the ovulation synchronization method, there are 84.21% of cows in estrus Determine plasma progesterone concentrion on day 6 after detecting estrus, 46.81% experimental cows which were selected to be receiving embryo got the threshold of plasma progesterone concentraion (>3ng/ml)
Conception rate reached 36.36%
Trang 12PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay, ngoài nhu cầu cần thịt của người dân ngày một tăng trong đó có
cả nhu cầu cần thịt bò Do vậy, việc cải tạo đàn bò theo hướng tăng nhanh đàn
và tăng năng suất sản xuất thịt trên một đầu bò là cần thiết Việc du nhập tinh
bò hướng thịt chất lượng cao đã và đang du nhập vào Việt Nam, trong đó phải
kể đến sự thành công của tinh bò thịt BBB của Bỉ đã cải tạo nhanh đàn bò trên địa bàn Hà Nội Với những ưu điển vượt trội như dễ nuôi, lớn nhanh, chất lượng thịt mềm, thơm ngon, tỷ lệ thịt xẻ cao hơn khoảng 15-20% so với giống
bò khác, bò BBB đang trở thành một hướng đi mới không chỉ giúp người chăn nuôi nâng cao thu nhập mà còn làm tăng sản lượng thịt bò trên thị trường hiện nay, dần dần chủ động nguồn cung thịt bò trong nước, hạn chế nhập khẩu Dự
án “Nghiên cứu lai tạo giống bò BBB trên nền đàn bò thịt lai Sind thành đàn bò
F1 hướng thịt trên địa bàn Hà Nội” tuy nhiên dự án sẽ kết thúc trong vòng vài năm tới, khi đó sẽ không có tinh BBB thuần để cung cấp cho dân cũng như nâng cao năng suất sản xuất tinh bò tại Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung Chính vì vậy UBND thành phố Hà Nội tiếp tục cho mở rộng dự án để nhập phôi bò BBB thuần chủng với hi vong tạo được bê đực thuần chủng tại Việt Nam chính là chủ động nguồn tinh bò BBB cho xã hội
Trong khuôn khổ dự án của Công ty Cổ phần Giống gia súc Hà Nội, áp dụng khoa học kỹ thuật từ Nhật bản, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Gây rụng trứng tạo thể vàng đồng pha để cấy phôi bò BBB thuần tại Việt Nam”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Tạo được bò BBB thuần để sản xuất tinh BBB tại Việt Nam
Trang 13PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 LƯỢC SỬ PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI BÒ THỊT TẠI VIỆT NAM Xét ở góc độ con giống, phương thức và mục đích chăn nuôi, thị trường sản phẩm, cho đến nay Việt Nam vẫn chưa có một ngành chăn nuôi bò thịt đúng nghĩa (Đinh Văn Cải, 2007) Việt Nam đã có gần 100 năm nghiên cứu lai tạo bò thịt, bắt đầu từ đàn bò Sind đỏ (Red Sindhi) được nuôi tại các đồn điền của người Pháp, phát tán ra các vùng xung quanh hình thành con bò lai Sind Bò có màu sắc đẹp, vóc dáng lớn hơn, thích nghi với điều kiện khí hậu nóng ẩm và chịu kham khổ tốt Năm 1960 - 1970, kế hoạch Sind hoá đàn bò được khởi xướng Năm
1980, chúng ta chủ động nhập bò Red Sindhi và Sahiwal để tạo bò lai Đến năm
2003, bò lai Zebu chiếm tới 30% tổng đàn bò, cung cấp nguồn gene quý cho những nghiên cứu lai kinh tế bò địa phương với giống bò thịt chuyên dụng Từ những năm 1975, tinh các giống bò thịt ôn đới nổi tiếng như Brahman, Droughmaster, Charolais… đã được phối cho đàn bò lai Sind, cho ra đời các thế
hệ F1 thể hiện khả năng sinh trưởng tốt trong điều kiện chăn nuôi còn khó khăn tại Việt Nam
Tuy nhiên, đàn bò lai F1 vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng thịt bò ngày càng gia tăng của người dân Trong 7 tháng đầu năm 2013, Việt Nam nhập khẩu khoảng 120.000 bò Úc, tăng hơn 50% so với cả năm 2012 Với tốc
độ nhập khẩu cao như vậy, bò Úc nhanh chóng đánh bật bò bản địa ra khỏi thị trường Do vậy, việc chọn lựa giống bò thịt chuyên dụng phù hợp để cải tạo đàn bò theo hướng tăng nhanh số lượng và tăng năng suất sản xuất thịt trên một đầu bò là cần thiết
Để góp phần giải quyết yêu cầu này, tinh dịch (gọi tắt là tinh) bò hướng thịt chất lượng cao của bò thịt Blanc Bleu Belge (BBB) đã cải tạo nhanh đàn bò trên địa bàn Hà Nội từ năm 2008 đến nay
2.2 BÒ BBB VÀ NHỮNG ƯU ĐIỂM VƯỢT TRỘI
Ngay sau thành công rất đáng ghi nhận của công trình Sind hoá đàn bò nội, chất lượng đàn bò cỏ của chúng ta đã được nâng lên rõ rệt Từ đó, đã có nhiều đề tài nghiên cứu dùng tinh bò đực các giống bò cao sản như Brahman, Droughmaster, Charolais, Simental, Limousine, Santa… lai với bò lai Sind để nhanh chóng nâng cao chất lượng đàn bò thịt nước ta, đặc biệt tại Hà Nội, tất cả
Trang 14các công thức lai đã được tiến hành một cách mạnh mẽ và hào hứng Tuy nhiên, thực tế đã xác nhận công thức lai BBB x lai Sind là vượt trội hơn cả Từ đó, Hà Nội đã có chủ trương táo bạo nhập phôi bò BBB để sản xuất đàn bò BBB thuần chủ động cải tạo mạnh mẽ đàn bò thịt của Hà Nội Đây là một chủ trương tích cực, rất đáng khích lệ
Bò BBB (Blanc Bleu Belge) là giống bò chuyên dụng thịt, chiếm tới 50% tổng đàn bò ở Bỉ với 1.083.408 bò cái Bò có màu lông trắng, xanh lốm đốm hoặc trắng lốm đốm và cơ bắp rất phát triển Bê sơ sinh có khối lượng bình quân 45,5kg Bê 6 - 12 tháng tăng trọng bình quân 1.300 gram/ngày Khi
1 năm tuổi, bê đực nặng 470 - 490kg; bê cái nặng 370 - 380kg Trưởng thành
bò đực nặng 1.100 - 1.200kg, bò cái nặng 710 - 720kg (Nguyễn Tấn Anh, 2015) Ở tuổi giết thịt, bê đực 14 - 16 tháng tuổi có tỷ lệ thịt xẻ 66% Nhiều quốc gia có ngành chăn nuôi bò phát triển như Pháp, Hà Lan, Mỹ, Australia…
đã áp dụng chương trình lai giữa bò bản địa và bò BBB để tận dụng chất lượng thịt đặc biệt của giống bò này Tại Việt Nam, khi lai bò BBB với bò cái lai Sind đã cho kết quả tốt: tăng trọng nhanh, tỷ lệ thịt xẻ và thịt tinh cao, chất lượng thịt tốt, thịt thơm ngon, dinh dưỡng cao, đặc biệt là không có hiện tượng đẻ khó, không phải can thiệp khi bò mẹ sinh con và đem lại hiệu quả kinh tế tốt cho người chăn nuôi
Bảng 2.1 So sánh chỉ tiêu khối lượng giữa bò Vàng, bò lai Sind
Nguồn: Viện chăn nuôi, Công ty Giống gia súc Hà Nội
So sánh khối lượng bê F1 (BBB x lai Sind) với bê F1 của một số giống bò khác, khi lai với bò lai Sind, chúng tôi có kết quả tại bảng 2.2:
Trang 15Bảng 2.2 So sánh khối lượng của bê F1 (BBB x lai Sind) với bê lai F1
So sánh khả năng cho thịt, khi giết mổ vào thời điểm 15 tháng tuổi, của bê
F1(BBB x lai Sind) với bê F1 của một số giống bò khác khi lai với bò lai Sind cũng cho kết quả là con lai F1 (BBB x lai Sind) tốt hơn
Bảng 2.3 So sánh khả năng sản xuất thịt của một số bê lai
Chỉ tiêu F 1 BBB F 1 Charolais F1Santa
Getrudis
F 1 Hà Việt Lai Sind
Qua kết quả so sánh ở bảng 2.2 và 2.3 cho thấy bê lai F1 (BBB x lai Sind)
có khả năng tăng trọng và khả năng cho thịt tốt nhất nên có thể mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất
Với những ưu điểm vượt trội như dễ nuôi, lớn nhanh, chất lượng thịt thơm ngon, tỷ lệ thịt xẻ cao hơn khoảng 15-20% so với giống bò khác, bò BBB đang trở thành một hướng đi mới không chỉ giúp người chăn nuôi nâng cao thu nhập
mà còn làm tăng sản lượng thịt bò trên thị trường hiện nay, dần dần tự chủ nguồn cung thịt bò trong nước, hạn chế nhập khẩu Dự án “Nghiên cứu lai tạo giống bò BBB trên nền đàn bò thịt lai Sind thành đàn bò F1 hướng thịt trên địa bàn Hà Nội” được triển khai từ năm 2008, đã phối giống được 13.712 liều tinh BBB (bằng 22,85% dự án), bình quân 1,62 liều tinh/1 bò cái có chửa; có 2.505 bê F1
đã ra đời (bằng 8,5% dự án) Bò cái nền đẻ thường, không phải can thiệp Bê sơ sinh có khối lượng 28 - 32kg, thích nghi tốt với điều kiện khí hậu cũng như điều kiện chăn nuôi tại Việt Nam, tăng trọng nhanh: 25-30 kg/tháng Khi 6 tháng tuổi
bê đạt khối lượng 210 - 240kg Ở thời điểm tương ứng, so với bê lai Sind 18kg; 100-120kg); bê lai Brahman (23-25kg; 140-160kg); bê lai Droughtmaster
Trang 16(17-2.3 CÔNG NGHỆ CẤY TRUYỀN PHÔI BÒ
Trường hợp cấy truyền phôi bò đầu tiên được báo cáo vào năm 1949, và cá thể bê đầu tiên ra đời bằng phương pháp cấy truyền phôi vào năm 1951 (Willett
et al., 1951) Vào những năm 1970, việc ứng dụng phương pháp cấy truyền phôi vào chăn nuôi bò công nghiệp được khởi xướng khi các giống bò kiêm dụng Châu Âu trở nên phổ biến tại Bắc Mỹ, Úc và New Zealand Từ đó tới nay, công nghệ phôi đã đem lại một bước nhảy vọt trong công tác chọn giống, nhân giống
bò Công nghệ cấy truyền phôi bò dựa trên quá trình phát triển của phôi thai bò Sau khi trứng được thụ tinh ở 1/3 phía trên của ống dẫn trứng, trứng di chuyển về gốc sừng tử cung và làm tổ Bào thai bò phát triển qua 3 thời kỳ Thời kỳ đầu bắt đầu từ khi thụ tinh đến khi hình thành túi phôi, kéo dài trung bình 7 - 10 ngày Đây là giai đoạn hợp tử, hợp tử nằm tự do trong khoang tử cung Người ta có thể thu được hợp tử khi chúng chưa làm tổ và cấy truyền vào tử cung của bò khác cùng thời điểm sinh lý của chu kỳ động dục (đồng pha) Công nghệ trên gọi tắt là cấy truyền phôi Phôi được tạo từ tinh trùng của bò đực tốt và trứng lấy từ bò cái tốt được chọn lọc về năng suất, chất lượng sản phẩm và những đặc tính di truyền quý theo mong muốn, gọi là con cho Bò cái được cấy phôi (con nhận) là những
bò có khả năng sinh sản và sức khỏe tốt
Công nghệ phôi mang lại hiệu quả cao: rút giảm khoảng cách di truyền giống, rút ngắn được thời gian nhân đàn giống tốt ra sản xuất trên cơ sở khai thác triệt để tiềm năng di truyền của những cá thể có tính trạng vượt trội thông qua việc lấy - bảo quản phôi và cấy truyền phôi của chúng Công nghệ phôi nâng cao cường độ chọn lọc, đẩy mạnh công tác giống trên cơ sở tăng nhanh tiến độ di truyền hàng năm Ngoài ra, còn hạn chế mức tối thiểu số lượng gia súc làm giống, từ đó giảm các chi phí khác như chuồng trại, thức ăn, nhân lực, hạn chế dịch bệnh, giảm thải chất thải chăn nuôi từ đó giảm chi phí, thuận lợi trong việc xuất, nhập giống bằng con đường nhập phôi thay nhập gia súc sống Hạn chế một
số dịch bệnh và nâng cao khả năng chống chịu bệnh, khả năng thích nghi cho con vật ở môi trường mới, từ giai đoạn phôi thai
Ở Việt Nam, công nghệ cấy truyền phôi đã được thực hiện tại Viện khoa học Việt Nam từ năm 1978 và ở Viện chăn nuôi từ năm 1989 (Nguyễn Đức Thạc
và cs., 1992) Đến năm 1990, ca cấy phôi đầu tiên đã thành công bằng phương pháp cấy truyền phôi tươi in- vivo tại xí nghiệp bò Phù Đổng (Hoàng Kim Giao
và cs., 2004) Tuy nhiên, các tác giả trước đây sử dụng phương pháp gây động
Trang 17dục đồng pha trên bò nhận phôi trước khi cấy truyền, kết hợp với khám lâm sàng qua trực tràng để đánh giá sự hình thành thể vàng, do rất nhiều bò nhận phôi có biểu hiện động dục nhưng không xảy ra hiện tượng rụng trứng, dẫn tới không hình thành thể vàng để tiết progesterone (hormone an thai), nên tỷ lệ cấy truyền phôi thành công còn thấp
2.4 PHƯƠNG PHÁP GÂY ĐỒNG PHA TRÊN BÒ NHẬN PHÔI
Bò cái nhận phôi có chửa ngay sau lần cấy đầu tiên sẽ giúp tiết kiệm rất nhiều chi phí về thức ăn hàng ngày, chi phí phôi và cấy truyền phôi, do đó công tác gây đồng pha trên bò cái nhận phôi đóng vai trò quan trọng, tác động trực tiếp tới hiệu quả cấy truyền phôi (Looney et al., 2006)
Prostaglandin F2 (PGF 2alpha) là hormone phổ biến nhất được sử dụng nhằm mục đích gây động dục đồng pha ở bò nhận phôi (Odde, 1990), nhưng hiệu quả phát hiện động dục thấp, khoảng cách giữa thời điểm sử dụng và thời điểm động dục, rụng trứng không ổn định đem lại hiệu quả thấp tại nhiều trang trại, với chỉ 50% bò sau điều trị nhận đủ điều kiện nhận phôi 7 ngày sau động dục (Bó
et al., 2002) Tỷ lệ này chỉ đạt 30%, khi bò nhận phôi có đặc tính di truyền từ giống Bos indicus (Bó et al., 2004)
Các quy trình gây rụng trứng đồng pha dựa trên hormone sinh dục GnRH được sử dụng rộng rãi ở bò nhận phôi in- vivo (Hinshaws 1999; Baruselli et al., 2000) hay in- vitro (Ambrose et al., 1999) Tỷ lệ rụng trứng sau lần đầu sử dụng GnRH trên bò sữa đạt 44 - 54% (Bello et al., 2006; Colazo et al., 2009), 56% trên bò thịt cái tơ (Martinez et al., 1999) và 60% trên bò sữa cái tơ (Small et al., 2009)
Một số nghiên cứu cho thấy nang sóng đầu tiên trên bò nhận phôi chỉ xuất hiện khi quy trình gây đồng pha đạt hiệu quả, có nghĩa là bò có hiện tượng rụng trứng (Martinez et al., 1999) Nếu như sau khi tiêm mũi GnRH đầu tiên không xuất hiện nang sóng, tỷ lệ hiện tượng rụng trứng đồng pha diễn ra sau tiêm mũi GnRH thứ hai rất thấp (Martinez et al., 1999) và bò nhận phôi lệch pha so với giai đoạn phát triển của phôi được cấy Việc sử dụng vòng tẩm progesterone kết hợp với quy trình sử dụng GnRH nhằm ngăn chặn hiện tượng rụng trứng sớm nâng cao tỷ lệ có chửa trên
bò cái tơ (Martinez et al., 2002) và bò sữa (Lamb et al., 2001)
Vòng tẩm progesterone và estradiol được ứng dụng phổ biến tại Nam Mỹ nhằm gây rụng trứng đồng pha trên bò sữa và bò thịt nhận phôi (Baruselli et
Trang 18al., 2011) Quy trình kết hợp sử dụng vòng tẩm progesterone, tiêm estradiol benzoate (Kenyon) tại ngày 0 (gây rụng trứng đồng pha) và tiêm PGF2α 5 ngày sau hoặc vào ngày rút vòng tẩm progesterone (để triệt tiêu thể vàng) Thông thường, vòng tẩm progesterone được rút vào ngày 8 và quá trình gây rụng trứng được kích thích bằng việc bổ sung 0,5 đến 1 mg estradiol cypionate (ECP) tại thời điểm rút vòng tẩm hoặc bổ sung 1 mg EB 24 giờ sau khi rút vòng (Bó et al., 2002; Baruselli et al., 2011)
Một vài nghiên cứu gần đây đã chứng minh mối quan hệ giữa nồng độ progesterone huyết thanh trên bò nhận phôi và tỷ lệ có chửa khi cấy phôi (Baruselli et al., 2009) Một cách tổng quát, tỷ lệ bò nhận phôi có chửa thuộc giống Bos indicus so với giống Bos taurus bị ảnh hưởng nhiều hơn bới kích cỡ
và số lượng thể vàng tại thời điểm cấy phôi (Baruselli et al., 2009) Trên bò nhận phôi Bos indicus, bổ sung 1500IU hCG (human Chorionic Gonadotropin) vào ngày thứ 7 sau động dục làm gia tăng nồng độ progesterone huyết thanh (Marques et al., 2002) và điều trị với GnRH, hCG
và pLH hay vòng tẩm progesterone trong quy trình cấy phôi làm gia tăng tỷ lệ
có chửa (Marques et al., 2003)
Để chủ động nguồn tinh bò BBB có thể việc nhập bò BBB trưởng thành về
để tiếp tục nuôi dưỡng và khai thác tinh tại Việt Nam là không khả thi, do bò BBB thuộc giống bò ôn đới, rất khó thích nghi được với điều kiện khí hậu nóng
ẩm tại Việt Nam Mà công tác đấu thầu nhập tinh bò BBB từ Bỉ còn gặp nhiều khó khăn do giá thành cao, thời gian nhập khẩu kéo dài, nên dự án không chủ động được nguồn tinh để tiếp tục lai tạo đàn bò bản địa
Các nghiên cứu trước đây cũng chỉ ra tác động tiêu cực của điều kiện khí hậu nóng ẩm tới khả năng sinh sản của bò (Johnston and Braton, 1953; Thatcher, 1974; Johnson and Vanjonack, 1976; Fuquay, 1981; Collier et al., 1982) Do đó, cấy truyền phôi là phương pháp tối ưu nhất để Việt Nam sở hữu bò BBB thuần Chính vì vậy, dự án mở rộng “Ứng dụng kết quả nghiên cứu lai tạo giống
bò BBB trên nền đàn bò thịt lai Sind thành đàn bò lai F1 hướng thịt trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2014 - 2018” đã được UBND thành phố Hà Nội phê duyệt vào giao cho Công ty cổ phần giống gia súc Hà Nội nhập phôi bò thuần chủng BBB để hy vọng tạo ra bò đực giống Khi đó, chúng ta sẽ có nguồn tinh bò thịt chất lượng dùng để cải tạo đàn bò thịt bản địa, góp phần tái cơ cấu chăn nuôi
bò thịt Hà Nội nói riêng, và cả nước nói chung theo hướng hiệu quả, bền vững
Trang 19Việc cấy phôi bò BBB là giống bò lớn, cơ bắp nhân đôi do vậy bê sinh ra sẽ có trọng lượng lớn do đó nên cấy bò BBB qua bò sữa để có kích thước bò mẹ đủ lớn khi mang thai Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài “Gây rụng trứng tạo thể vàng đồng pha để cấy phôi bò BBB thuần tại Việt Nam” trên nền bò sữa, nhằm mục đích sản xuất ra bò BBB thuần qua con đường cấy truyền phôi
2.5 ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ SINH SẢN CỦA BÒ CÁI
Sự thành thục về tính và tuổi phối giống lần đầu
Khi cơ quan sinh dục của gia súc cái phát triển đến mức độ hoàn thiện, buồng trứng có noãn bào chín, có trứng rụng và trứng có khả năng thụ tinh, đồng thời tử cung cũng biến đổi để đủ điều kiện cho phôi thai phát triển trong tử cung Những dấu hiệu động dục xuất hiện đối với gia súc ở tuổi như vậy báo hiệu sự thành thục về tính Trong thực tế, thành thục về tính thường đến sớm hơn thành thục về thể vóc và thời điểm đó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giống, môi trường sống và mức độ nuôi dưỡng Trong điều kiện nuôi dưỡng tốt, sự sinh trưởng được thúc đẩy và thành thục về tính sẽ đến sớm hơn Bò sữa thành thục tính dục khi thể trọng đạt 30-40% so với lúc trưởng thành, còn bò thịt đạt 45-50% (Nguyễn Kim Ninh, 1992)
Bò cái nếu được nuôi dưỡng tốt có thể thành thục tính dục lúc 12 tháng tuổi, nhưng thành thục về thể vóc phải từ 18 tháng tuổi trở lên Đối với bò lang trắng đen Hà Lan, cho ăn đầy đủ, chăm sóc tốt, thành thục tính dục lúc 10-12 tháng tuổi; chăm sóc kém có thể kéo dài tới 16-18 tháng tuổi Theo Mirnop (1980) (dẫn theo (Nguyễn Kim Ninh, 1992), phối giống lần đầu tốt nhất vào lúc 15-18 tháng tuổi
Ở nước ta, do ảnh hưởng của khí hậu và chế độ dinh dưỡng chưa phù hợp nên tuổi đẻ lứa đầu của bò thường cao Bò vàng Việt Nam đẻ lứa đầu lúc 33-48 tháng tuổi (Nguyễn Văn Thưởng và Trần Doãn Hối, 1992), bò sữa Hà-Ấn F2
(75% máu bò Hà Lan) từ 46-48 tháng tuổi (Nguyễn Kim Ninh, 1992)
Trang 20kỳ nên động dục cũng có chu kỳ Chu kỳ động dục thông thường của bò là 21 ngày (dao động 18-24 ngày) Quá trình trứng phát triển đến chín và rụng đều chịu
sự điều hoà chặt chẽ của hormone, do đó, nhiều nhà nghiên cứu đã phân chia chu
và siêu âm cho thấy ở bò trong một chu kỳ thường có 2-3 đợt sóng nang (một số
ít có 4 đợt) Đợt 1 bắt đầu diễn ra sau khi rụng trứng, vào ngày thứ 3-9 của chu
kỳ Đợt 2 vào ngày 11-17 và đợt 3 vào ngày 18-0 (ngày 0 là ngày bắt đầu động dục) Mỗi đợt sóng nang có thể phát triển (huy động) tới 15 nang kích thước từ 5-7mm Một số nang phát triển mạnh hơn gọi là nang trội (nang khống chế), kích thước của nang khống chế ở đợt 1; 2; 3 có thể đạt tới 12-15mm vào các ngày 6; 13; 21 (Sato and Mori, 1992) Trong mỗi sóng có một nang trứng phát triển nhanh hơn các nang trứng khác và trở thành nang trội, mặc dù nang trội của mỗi đợt sóng nang có khả năng phát triển đến rụng trứng nhưng do bị progesterone của thể vàng ức chế nên không phát triển đến giai đoạn rụng trứng mà bị thoái hóa, chỉ có một nang trội của đợt sóng nang cuối cùng phát triển đến giai đoạn rụng trứng do lúc này thể vàng thoái hóa và hàm lượng progesterone bị giảm Sự
có mặt của progesterone ở pha thể vàng làm cho các nang trứng trội bị thoái hóa
và đợt sóng nang mới lại xuất hiện
Khi sử dụng progesterone ngoại sinh đã kéo dài chu kỳ động dục và tạo ra sự luân chuyển của nang trội Nồng độ progesterone trong máu tăng lên ức chế sự liên tục của sóng LH (Luteinizing Hormone - hormone hoàng thể hóa do tuyến yên tiết ra) có tác dụng kích thích rụng trứng và phát triển thể vàng ở con cái, làm cho nang trội có thời gian sống ngắn hơn Progesterone ức chế sự ảnh hưởng lên sự phát triển của pha nang trội, do vậy các mức độ progesterone của thể vàng bình thường thúc đẩy sự thoái hóa của các nang trội và tạo ra sóng nang mới Tăng tính liên tục của nhịp LH kéo dài sự phát triển của nang trội và tạo ra các cơ chất để tổng hợp estradiol, tăng nồng độ estradiol trong máu từ nang trội Nồng độ estradiol trong máu cao ức chế các sóng FSH và làm cho các nang trứng 5mm hay
Trang 21lớn hơn không xuất hiện và hình thành các nang trội mới Ở chu kỳ động dục có 2 đợt sóng nang, các nang trứng rụng phát triển trong trạng thái progesterone cao trong 7 ngày, dài hơn so với chu kỳ có 3 đợt sóng nang Thêm vào đó, sự phát triển nang trứng rụng ở chu kỳ động dục có 2 đợt sóng nang chiếm thời gian lâu hơn chu kỳ động dục có 3 đợt sóng nang (11 ngày so với 7 ngày), do vậy nang trứng rụng ở chu kỳ động dục có 2 đợt sóng nang có kích thước to hơn, 17mm so với 14mm Do thời gian phát triển của nang trứng ở chu kỳ động dục có 2 đợt sóng nang dài hơn chu kỳ động dục có 3 đợt sóng nang, các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu và so sánh tỷ lệ có chửa và một số tác giả cho rằng ở chu kỳ có 2 đợt sóng nang tỷ lệ có chửa thấp hơn, song một số tác giả khác lại cho thấy không có sự khác nhau (dẫn theo Tăng Xuân Lưu, 2015)
Theo Siphilop (1967) (dẫn theo Tăng Xuân Lưu, 2015), chu kỳ động dục của
bò biến động từ 18-28 ngày (trung bình 21 ngày), thời gian động dục từ 6-36 giờ (phần lớn kéo dài từ 25-36 giờ) Chu kỳ động dục ở gia súc mang tính đặc trưng theo loài và được chia làm 4 giai đoạn (4 pha) riêng biệt nhưng liên tiếp nhau:
- Giai đoạn trước động dục: tính từ thời kỳ thoái hoá thể vàng của chu kỳ ước cho đến giai đoạn động dục kỳ sau
tr Giai đoạn động dục: kéo dài 8tr 30 giờ, là giai đoạn bò chấp nhận sự phối giống Tế bào trứng và nang trứng đạt đến độ chín tối đa
- Giai đoạn sau động dục: đầu giai đoạn sau động dục xảy ra hiện tượng nang trứng rách ra và vách của nang trứng rách phát triển thành thể vàng trong vòng 3 ngày
- Giai đoạn cân bằng sinh học: giai đoạn này kéo dài từ 12-15 ngày và thể vàng sản sinh mạnh progesterone (Sato and Mori, 1992)
Chu kỳ động dục được điều hòa bởi các hormone được tiết ra từ vùng dưới đồi (hypothalamus) và buồng trứng
Hypothalamus tiết GnRH (Gonadotropin Releasing Hormone) vào hệ thống động mạch vùng dưới đồi - tuyến yên làm thùy trước tuyến yên tăng tiết FSH và LH, kích thích sự phát triển nang trứng Trong hàng loạt các nang phát triển, xuất hiện nang trứng phát triển nhanh hơn và trở thành nang trội Estradiol và Inhibin được tổng hợp từ các tế bào hạt của nang trội Hàm lượng estradiol tăng cao, tác động ngược dương tính vào hypothalamus, kích thích sản xuất LH tăng cao làm nang trội giải phóng tế bào trứng Inhibin tác động
Trang 22ngược âm tính làm giảm hàm lượng FSH dưới ngưỡng cần thiết đối với sự tồn tại của các nang còn lại, làm thoái hóa các nang trứng còn lại Tuy nhiên, ở hàm lượng FSH thấp nang trội vẫn có khả năng phát triển và rụng trứng do nang trội có sự mẫn cảm với FSH nhờ sự có mặt của IGF-1 (Inhibin-like Growth Factor-1: yếu tố sinh trưởng giống Inhibin) trong tế bào với hàm lượng cao hơn và nang trội có thụ thể tiếp nhận LH của các tế bào hạt sớm hơn các nang khác và do vậy nang trội phát triển đến giai đoạn rụng trứng mà không bị thoái hóa trong điều kiện FSH thấp (dẫn theo Tăng Xuân Lưu, 2015) Vai trò của FSH
Kích noãn tố gọi tắt là FSH, là một glycoprotein được tìm thấy ở người và các động vật khác nhau, được tổng hợp và tiết ra bởi các tế bào nội tiết của thùy trước tuyến yên FSH có chức năng điều hòa quá trình sinh trưởng, phát triển, thành thục về tính và các quá trình sinh sản của cơ thể FSH hoạt động thông qua sự liên kết vào các thụ thể (receptor) đặc trưng, được định vị vào một nơi riêng biệt trên tế bào hạt của nang trứng và các tế bào hạt trên buồng trứng, là
vị trí đích để FSH hoạt động Các nghiên cứu gần đây cho thấy FSH rất cần thiết cho tất cả các giai đoạn phát triển của nang trứng như: chuyển hóa tiền các
tế bào hạt dẹt thành các tế bào hình lập phương, phát triển các nang trứng thứ cấp và chuyển hóa nang trứng từ nang trứng thứ cấp thành nang trứng phát triển
do FSH ảnh hưởng trực tiếp lên sự hình thành nang (Adams et al., 1992) Vai trò của FSH trong sự điều khiển phát triển các nang trứng nhỏ hơn 1mm được rất nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và đến nay vẫn có nhiều quan điểm trái ngược nhau Một số tác giả cho rằng FSH không có chức năng đối với các nang trứng ở trước giai đoạn nang trứng thứ cấp ở bò cũng như các loài động vật có vú khác Song một số tác giả gần đây nghiên cứu cho thấy, FSH đóng vai trò trong sự phát triển của nang trứng giai đoạn đầu, thiếu lượng FSH tối thiểu có thể làm giảm tỷ lệ phát triển của nang trứng nhỏ do kéo dài thời gian cần thiết để các tế bào hạt phát triển, FSH là yếu tố đầu tiên điều khiển quá trình phát triển của nang trứng ở tất cả các giai đoạn khác nhau Khi nghiên cứu mối quan hệ giữa sự xuất hiện của nang trứng trong giai đoạn đầu của thời kỳ mang thai và hàm lượng FSH trong huyết thanh của bào thai cái, Tanaka et al (2001) thấy rằng trong thời kỳ bào thai cũng như ở bò trưởng thành, số lượng của các nang trứng và các giai đoạn phát triển của nang trứng được đánh giá thông qua sự thay đổi nồng độ FSH Ở bò, ngay sau khi các nang trứng nguyên
Trang 23thủy được hoạt hóa, thụ thể FSH được thể hiện lên các màng tế bào hạt Nghiên cứu ở loài gặm nhấm cho thấy FSH cần thiết cho quá trình thành thục của tiền các tế bào hạt dẹt thành các tế bào hạt hình lập phương Các tế bào hình lập phương này đánh dấu cho sự chuyển đổi của quá trình hoạt hóa nang trứng nguyên thủy thành nang trứng sơ cấp Ức chế FSH là hạn chế quá trình hoạt hóa nang trứng nguyên thủy thành nang trứng sơ cấp Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng FSH cần thiết cho tất cả các giai đoạn phát triển của nang trứng như chuyển hóa các tế bào hạt thành các tế bào hạt hình lập phương, phát triển các nang trứng giai đoạn thứ cấp, chuyển hóa nang trứng từ giai đoạn thứ cấp thành nang trứng phát triển và phát triển đến khi rụng trứng, qua đó ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành các xoang của nang trứng
Theo Adams et al (1992), sự phát triển của các nang trứng ở giai đoạn phát triển, có kích thước nhỏ hơn 1mm phụ thuộc vào nồng độ FSH trong hệ thống tuần hoàn Trước khi rụng trứng, nồng độ FSH của nang trứng (có kích thước 4-5mm) lặp đi lặp lại giống như sóng và hàm lượng FSH bắt đầu giảm sau khi nang trứng lớn hơn 5mm Estradiol và inhibin từ nang trứng 4-5mm dần tăng tiết tạo ra sự phản hồi âm tính cho FSH ở trục dưới đồi tuyến yên Sự suy giảm FSH dẫn đến hàm lượng estrogene giảm đó là cơ sở xảy ra đồng thời với sự ưu tiên một nang trội
kẽ (tế bào Leydig) của dịch hoàn sản xuất testosteron (Xuxoep, 1985)
Quá trình mang thai
Sự phát triển của thai là hiện tượng sinh lý đặc biệt của cơ thể, nó được bắt đầu từ khi trứng được thụ tinh cho đến khi đẻ xong Trong thực tế, sự có thai của bò được tính ngay từ ngày phối giống cuối cùng cho đến ngày đẻ Thời gian mang thai phụ thuộc nhiều vào các yếu tố như tuổi của bò mẹ, điều kiện nuôi dưỡng, chế độ khai thác và sử dụng, số lượng thai, đôi khi còn phụ thuộc
Trang 24vào lứa đẻ hoặc tính biệt của thai Thời gian mang thai của bò dao động trong khoảng 278-290 ngày
Đối với đàn bò Holstein Friesian tại Trung tâm giống bò sữa Hà Lan Sao
Đỏ, thời gian có chửa là 279,87 ngày Thời gian chửa của bò Sind đỏ Philipin là
280 ngày (252-299), của bò Pakistan là 285 ngày (257-328)
Theo Rubenkop (1975) (dẫn theo Nguyễn Thị Thành, 2012), thời gian chửa
ở bò lang trắng đen (LTĐ), F2 3/4 (LTĐ), F3 7/8 LTĐ tương ứng là: 276,5; 275,5; 276,0 ngày; các nhóm bò lai 3/4 và 5/8 máu HF của Nông trường Ba Vì tương ứng là 278,3 và 280,1 ngày
Khoảng cách giữa hai lứa đẻ
Khoảng cách lứa đẻ là thước đo khả năng sinh sản của gia súc Khoảng cách lứa đẻ phụ thuộc vào chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, đặc điểm sinh vật của giống, thời gian động dục lại sau đẻ, kỹ thuật phối giống, vắt sữa và cạn sữa Ở
bò, 1 năm 1 lứa là khoảng cách lý tưởng; khoảng cách lứa đẻ dài ảnh hưởng đến toàn bộ thời gian cho sản phẩm, tới tổng sản lượng sữa và số bê con được sinh
ra trong 1 đời bò mẹ, dẫn đến hạn chế việc nâng cao tiến bộ di truyền Gia súc càng mắn đẻ, hệ số tái sản xuất càng cao Lauhiuna (Liên Xô cũ) đã đưa ra công thức tính hệ số tái sản xuất của bò (K1) (dẫn theo Nguyễn Kim Ninh, 1994) như sau:
Trong đó: T là số bê do bò cái đẻ ra;
V là tuổi bò cái (năm);
K1 càng cao, hiệu quả kinh tế càng lớn
Sadal đã đưa ra chỉ tiêu đánh giá năng suất bò cái bằng khoảng cách lứa đẻ
Bò có khoảng cách lứa đẻ 410 ngày là bò rất tốt, 411-460 ngày là tốt, 461 ngày trở lên là bò không tốt (Nguyễn Kim Ninh, 1994)
Ở Việt Nam, trong điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng chưa đầy đủ, khoảng cách giữa 2 lứa đẻ là 18-20 tháng, bò Lai Sind là 417 ngày, bò lai F1 (Holstein Friensian x lai Sind) là 398,6 ngày (378 ngày nuôi dưỡng tốt và 424 ngày nuôi d-ưỡng kém) (Nguyễn Văn Thưởng và Trần Doãn Hối, 1992); 540 ngày (Nguyễn Kim Ninh, 1992) 473 ngày (Trần Trọng Thêm, 1986)
2
1V T
K
Trang 25Sự hồi phục sau khi đẻ
- Thời gian hồi phục tử cung sau đẻ:
Sau quá trình co bóp để đẩy thai ra ngoài, tử cung dần dần co lại (hầu như trở lại kích thước ban đầu), quá trình đó gọi là hồi phục tử cung sau khi đẻ, là giai đoạn sinh lý có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng phân tiết prostaglandin ở thân sừng tử cung, ảnh hưởng tới khả năng động dục trở lại sau khi đẻ
Trước đây người ta cho rằng thời gian để bộ máy sinh dục của bò cái hồi phục hoàn toàn sau khi đẻ chỉ là 3 tuần Những kết quả nghiên cứu sau này chứng minh rằng thời gian này dài hơn Đối với bò đẻ lứa đầu là 42 ngày, bò đã
đẻ nhiều lần là 50 ngày Kích thước tử cung của bò sau khi đẻ được hồi phục trở lại gần như bình thường vào khoảng ngày thứ 30 nhưng cần thêm 15 ngày nữa thì trương lực cơ tử cung mới được hồi phục hoàn toàn (Sato and Mori, 1992) Phương pháp khám qua trực tràng cho biết, 4 ngày sau khi đẻ thể tích tử cung giảm còn 1/2 và tử cung hồi phục gần như hoàn toàn khoảng ngày thứ 18 sau khi đẻ Trong thời gian sau khi đẻ, sự phá hoại của mô nội mạc tử cung kèm theo sự có mặt của số lượng lớn bạch cầu và việc giảm thấp lòng mạch nội mạc
tử cung, các tế bào cổ tử cung giảm về số lượng và kích thước Những biến đổi nhanh chóng và không cân đối có thể là một nguyên nhân làm cho tỷ lệ thụ thai sau khi đẻ bị giảm thấp Các mô máu bị tróc và rụng khỏi dạ con 12 ngày sau khi đẻ Sự tái sinh của bề mặt biểu mô ở các núm xuất hiện bằng cách lớn lên từ
mô bao bọc xung quanh và được hoàn tất sau khi đẻ 30 ngày (Nguyễn Tấn Anh, 2015) Theo (Sato and Mori, 1992), quá trình hồi phục tử cung bò sau khi đẻ (nếu không biến chứng) là 45 ngày và để nội mạc tử cung trở lại trạng thái mô bào học bình thường thì cần 15 ngày tiếp theo nữa (Nguyễn Tấn Anh và cs., 1995) Ở dê cừu sau khi đẻ 15-20 ngày, tử cung co lại bình thường Theo (Nguyễn Trọng Tiến và cs., 1991), sau khi đẻ 60 ngày, 75% số bò cái có cơ quan sinh dục được hồi phục, sau 75 ngày có 87% Đối với bò đẻ khó, sót nhau, thời gian này là 4 tháng Tác giả cũng cho biết ở đàn bò cái sự hồi phục tử cung phía không mang thai là 11,4 ngày Sự co dạ con còn phụ thuộc vào cơ thể, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, quá trình đẻ và sự hộ lý chăm sóc sau khi đẻ
- Rụng trứng và động dục lại sau khi đẻ
Sau khi sinh, nhiều cá thể bò sẽ động dục lại và rụng trứng trong vòng
20-30 ngày Tuy nhiên, hiện tượng “động dục ngầm” hay là rụng trứng “thầm lặng”
Trang 26thường chiếm tỷ lệ cao và những con bò này rụng trứng trở lại vào lúc 45-50 ngày Phần lớn chúng có biểu hiện động dục và những bò như vậy thường ít có vấn đề về sinh sản so với những bò có thời kỳ động dục kéo dài sau đẻ (Nguyễn Tấn Anh và cs., 1995)
Vấn đề động dục trở lại sau khi đẻ còn phụ thuộc rất nhiều vào chế độ chăm sóc nuôi dưỡng (dinh dưỡng) trong thời gian trước và sau khi đẻ Vấn đề dinh dưỡng và nuôi con, tiết sữa sẽ kéo dài thời gian động dục trở lại sau 100 ngày Một số nguyên nhân khác cũng làm cho thời gian động dục lại kéo dài sau đẻ là nhiễm bệnh (viêm nhiễm ở tử cung), rối loạn trao đổi chất, môi trường sống kém Sự điều hòa hoạt động sinh dục của tuyến nội tiết
Hoạt động sinh dục chịu sự điều tiết của hệ thần kinh - thể dịch, hệ thần kinh tác động thông qua các thụ quan nhạy cảm, nơi tiếp nhận tất cả các xung động của ngoại cảnh vào cơ thể Đầu tiên là đại não và vỏ não mà trực tiếp là Hypothalamus tiết ra các chất kích thích (yếu tố giải phóng) GH-RF kích thích thùy trước tuyến yên tiết FSH, LH và các hormone đó theo máu tác động tới buồng trứng làm nang trứng phát triển đến mức độ chín và tiết ra estrogen
Ở quá trình sinh lý bình thường, trong gia súc đến tuổi trưởng thành, buồng trứng đã có nang trứng phát triển ở các giai đoạn khác nhau, trong cơ thể con vật đã có sẵn một lượng nhất định về estrogen, chính estrogen tác động lên trung khu vỏ đại não và ảnh hưởng đến hypothalamus, tạo điều kiện cho sự xuất hiện và lan truyền các xung động thần kinh gây tiết GnRH chu kỳ (Gonadotropin Releasing Hormone hay là hormone giải phóng FRH và LRH) (Trần Tiến Dũng và cs., 2002)
Hormone giải phóng FRH (Follitropin-Releasing Hormone) và LRH (Luteinizing Releasing Hormone) được gọi chung là GnRH
Hormone FRH kích thích thùy trước tuyến yên tiết FSH, kích tố này kích thích
sự phát triển noãn nang của buồng trứng, cũng đồng nghĩa với việc lượng estrogen tiết ra nhiều hơn Estrogen tác động vào các bộ phận sinh dục thứ cấp đồng thời tác động lên trung tâm hypothalamus, vỏ đại não, gây nên hiện tượng động dục
Thùy trước tuyến yên tiết ra hormone LH và LRH dưới sự kích thích của LRH LH tác động vào buồng trứng, làm trứng chín; kết hợp với FSH làm nang trứng vỡ ra và gây nên hiện tượng thải trứng, hình thành thể vàng LRH kích thích thuỳ trước tuyến yên phân tiết LTH (Luteino Trofic Hormone) LTH tác
Trang 27động vào buồng trứng duy trì sự tồn tại của thể vàng, kích thích thể vàng phân tiết progesterone Progesterone tác động ngược lên tuyến yên ức chế phân tiết FSH, LH và quá trình động dục chấm dứt
Progesterone tác động vào tử cung làm cho tử cung dày lên, tạo cơ sở tốt cho việc làm tổ của hợp tử - phôi lúc ban đầu (tạo sữa tử cung) Ở con vật có chửa, thể vàng tồn tại suốt thời gian mang thai, có nghĩa là lượng progesterone được duy trì với nồng độ cao trong máu Nếu không có chửa, thể vàng tồn tại đến ngày thứ 15-17 của chu kỳ, sau đó teo dần, đồng thời hàm lượng progesterone cũng giảm dần, giảm đến một mức độ nhất định nó lại cùng với một số nhân tố khác kích thích vỏ đại não, hypothalamus, tuyến yên, lúc này tuyến yên ngừng phân tiết LTH, tăng cường phân tiết FSH, LH, chu kỳ sinh dục mới lại hình thành
Sự liên hệ giữa hypothalamus, tuyến yên và tuyến sinh dục để điều hòa hoạt động sinh dục của gia súc cái không chỉ theo chiều thuận mà còn theo cơ chế điều hoà ngược Cơ chế điều hoà ngược đóng vai trò quan trọng trong việc giữ vững “cân bằng nội tiết”
Lợi dụng cơ chế điều hòa ngược, người ta sử dụng một lượng progesterone đưa vào để điều khiển chu kỳ tính ở gia súc cái
Khi đưa một lượng progesterone vào cơ thể làm cho hàm lượng progesterone trong máu tăng lên, theo cơ chế điều hòa ngược trung khu điều khiển sinh dục ở hypothalamus bị ức chế, kìm hãm sự tiết các kích tố của tuyến yên, làm cho các bao noãn tạm thời ngừng phát triển, do đó làm cho chu kỳ động dục tạm thời ngừ-
ng lại Sau khi kết thúc sử dụng progesterone, hàm lượng này trong máu sẽ giảm xuống đột ngột, sự kìm hãm được giải tỏa, trung khu điều khiển sinh dục được kích thích, kích tố FSH lại được bài tiết đã kích thích sự phát triển của noãn nang làm cho chu kỳ động dục của bò cái (được xử lý) trở lại hoạt động cùng một lúc Hiệu quả tác động sẽ cao hơn nếu có sự kết hợp của một số loại hormone khác như huyết thanh ngựa chửa (HTNC), estradiol benzoat, LH (Xuxoep, 1985)
2.6 VAI TRÒ CỦA HORMONE TRONG SINH SẢN
Hormone tuyến yên và vai trò của chúng trong sinh sản
Theo (Xuxoep, 1985), trước đây người ta quan niệm rằng hormone là những chất của các tuyến nội tiết tiết ra đi thẳng vào máu hay bạch huyết có tác dụng sinh học cao, điều hòa hoạt động chức năng của cơ quan thích ứng
Trang 28Ngày nay quan niệm về hormone đã được mở rộng hơn, nó bao gồm cả những chất có tác dụng sinh học không do tuyến nội tiết chế tiết, mà còn do các
tế bào, các tổ chức tiết ra tuần hoàn theo máu
Từ quan niệm mở rộng trên, hormone có thể được định nghĩa tóm tắt là những chất truyền tin hóa học tuần hoàn theo máu đi từ cơ quan sản sinh ra chúng đến cơ quan tiếp nhận (cơ quan đích) để điều khiển nhịp độ các quá trình sinh hoá học của cơ thể thông qua sự tăng tiết hay giảm tiết nồng độ
Theo định nghĩa trên, hormone sinh dục là những hormone tham gia điều khiển hoạt động sinh dục ở trong cơ thể động vật nói chung và ở gia súc nói riêng Hormone thùy trước tuyến yên tiết ra bao gồm FSH và LH
Tác dụng chính của FSH là kích thích nang trứng phát triển mà không gây rụng trứng Muốn gây được trứng rụng phải có LH Hầu hết các nhà sinh học đều thống nhất rằng, để trứng rụng được thì lượng LH phải lớn hơn lượng FSH, thường với tỷ lệ (Lê Văn Thọ và Lê Xuân Cương, 1979)
Hiện nay, cùng với việc thu được những chế phẩm FSH và LH tinh khiết, quan niệm về kích dục tố của tuyến yên cũng thay đổi
Hormone giải phóng FSH và LH (GnRH) là một polypeptid gồm có 10 axit amin: pGlu-His-Trp-Ser-Tyr-Gly-Leu-Arg-Pro-Gly-NH2 Nguồn gốc của GnRH là từ các tận cùng thần kinh nằm ở vùng lồi giữa, thân của những nơron khu trú ở nhân (arcuate nucleus) của vùng dưới đồi Hormone được bài tiết theo nhịp, cứ 1-3 giờ một lần, thời gian mỗi lần kéo dài trong vài phút Tác dụng của GnRH là kích thích tế bào thùy trước tuyến yên bài tiết FSH và LH (Sato and Mori, 1992) Tuy nhiên, nhịp tiết LH liên quan chặt chẽ với nhịp tiết của GnRH hơn là FSH Có lẽ chính vì lí do này, nhiều khi người ta gọi GnRH là LRH Vắng mặt GnRH hoặc nếu đưa GnRH liên tục vào máu đến tuyến yên thì cả FSH và LH đều không được bài tiết Ngày nay, người ta đã sản xuất ra GnRH
để điều khiển sự hoạt động của buồng trứng nhằm khắc phục một số chứng vô sinh hoặc sinh sản kém ở gia súc
Hormone của buồng trứng, nhau thai và prostaglandin trong sinh sản Estrogen
Hormone của buồng trứng được tạo ra bởi toàn bộ tế bào nang trứng và tổ chức kẽ Ở động vật khi có chửa, estrogen được tổng hợp bởi nhau thai (hoặc
1
3
FSH LH
Trang 29bởi vỏ tuyến trên thận với một lượng nhỏ), vì thế vẫn thấy estrogen được tiết ra không ngừng Estrogen gồm 3 loại: estradiol, estron và estriol Trong đó, estradiol là estrogen được bài tiết nhiều nhất và có tác dụng sinh học mạnh nhất, nó tồn tại dưới hai dạng đồng phân và , trong đó 17-estradiol có hoạt tính sinh học mạnh hơn cả (lớn hơn 17-estradiol tới 40 lần và hơn estron 10 lần) Còn estriol là estrogen yếu nhất, nó là dạng chuyển hóa của 17β-estradiol
và estrone Cả ba loại đều có bản chất hóa học là steroid được tổng hợp
từ cholesterol (Nguyễn Xuân Tịnh và cs., 1996)
Trong quá trình sinh tổng hợp estrone người ta thấy có sự chuyển hóa qua lại của chúng Ví dụ: esterone 17 dễ dàng chuyển thành estron, estron bị phân giải thành những sản phẩm steroid
Công dụng của estrogen là kích thích cơ quan sinh dục cái phát triển, làm
cơ quan sinh dục tăng sinh và tiết dịch, giúp gia súc cái có những biểu hiện động dục Bằng thực nghiệm đã chứng minh rằng khi cho estrogen vào cơ thể con cái làm tăng khối lượng của dạ con và buồng trứng, là kết quả của sự tăng tổng hợp protein và axit nucleic (Nguyễn Xuân Tịnh và cs., 1996)
Prostaglandin (PG)
Tác dụng sinh học chủ yếu của PG trong chăn nuôi là điều khiển chức năng sinh sản Progesterone của thể vàng ức chế tiết kích dục tố của hệ thống hypothalamus và tuyến yên Trong khi PG tăng lên trong dạ con vào cuối chu
kỳ sinh dục đã gây ra sự tiêu biến thể vàng Chính vì thế, người ta đã áp dụng tiêm PGF2để gây thoái hoá thể vàng vào bất kỳ giai đoạn nào của chu kỳ sinh dục, và qua cơ chế điều khiển ngược, tuyến yên sẽ thúc đẩy sự phát triển noãn bao ở buồng trứng và gây ra động dục và rụng trứng (Nguyễn Xuân Tịnh và cs., 1996)
Điều này tạo ra khả năng gây động dục đồng loạt để tiến hành phối giống cho gia súc bằng thụ tinh nhân tạo trong cùng một thời gian Ngày nay, PGF2 và các chất đồng dạng của nó đã được dùng rộng rãi và phổ biến
để gây động dục đồng loạt và kế hoạch hóa trong phối giống gia súc (Henricks et al., 1986; Louis et al., 1972) đã đề cập đến việc sử dụng PGF2
để điều chỉnh sinh sản Cách sử dụng PGF2 phụ thuộc vào bản chất hoá học của nó, trạng thái sinh dục của con cái, giai đoạn của chu kỳ động dục, giống gia súc và mục đích sử dụng của người kỹ thuật
Trang 30Đặc tính sinh học của hormone sinh sản
Cũng giống như các hormone khác, hormone sinh dục có các đặc tính cơ bản như sau:
Tác dụng của hormone không mang tính đặc trưng cho loài Người ta có thể lấy hormone từ loài động vật này gây kích thích cho nhiều loài động vật khác (Xuxoep, 1985) Ví dụ: dùng huyết thanh ngựa chửa có thể gây động dục cho nhiều loài gia súc khác như lợn, bò, dê, cừu…
Mỗi hormone chỉ có một cơ quan đích nhất định tức là nó chỉ có tác dụng đối với một cơ quan, một chức năng xác định Ví dụ LH chỉ tác động tới buồng trứng gây rách vách nang để trứng rụng và hình thành thể vàng
Hormone là những hoạt chất sinh học có hoạt tính cao, mặc dù ở liều lượng nhỏ nhưng tác động của nó rất lớn Ví dụ để gây động dục cho bò người ta sử dụng huyết thanh ngựa chửa với liều 500-1.500 UI/1 bò hoặc từ 10-12 đơn vị chuột/1kg thể trọng (Nguyễn Xuân Tịnh và cs., 1996)
Vai trò của một số hormone đối với gia súc cái
Inhibin
Inhibin được sinh ra từ các tế bào lớp hạt của buồng trứng và các tế bào Sertoli của dịch hoàn và sự sản sinh được thúc đẩy nhờ hormone sinh dục như FSH và gonadotropin màng đệm nhau thai người (hCG) Inhibin ức chế hoạt động chế tiết FSH từ tuyến yên của gia súc, làm giảm nhanh nồng độ FSH trong máu Giai đoạn đầu, khi các nang trứng có kích thước nhỏ, nồng độ inhibin thấp và FSH được tiết từ tuyến yên, kích thích sự tăng trưởng của nang trứng Khi nang trứng chín, sự chế tiết inhibin từ nang trứng tăng nhanh, dẫn đến ức chế sự chế tiết FSH Sau đó nang trứng chín này được phóng thích (rụng trứng) và lúc đó nguồn sản sinh inhibin cũng không còn, điều này gây ra
sự giảm nhanh nồng độ inhibin trong máu dẫn đến hiện tượng chế tiết ồ ạt FSH từ tuyến yên (Sato and Mori, 1992)
Estrogen
Estrogen là hormone do buồng trứng tiết ra, ngoài ra còn được tổng hợp từ nhau thai và một lượng ít trong vỏ tuyến trên thận (còn gọi là thượng thận) Estrogen tồn tại dưới hai đồng phân (α và β), chúng khác nhau về tính chất hoá học và sinh học (Xuxoep, 1985)
Trang 31Estrogen quy định đặc tính sinh dục thứ cấp của gia súc cái, trong thời
kỳ gia súc cái thành thục về tính, estrogen kích thích sự phát triển của tuyến
vú Khi gia súc cái đã thành thục, sự tiết của estrogen gây nên phản xạ động dục Mặt khác, estrogen tăng tiết sẽ kích thích tuyến yên giảm tiết FSH làm ngừng quá trình động dục
Oxytocin
Oxytoxin được coi là hormone thần kinh được chế tiết từ thùy sau tuyến yên Tuy nhiên, gần đây người ta đã phát hiện ra oxytocin được chế tiết từ thể vàng và đóng vai trò quan trọng trong việc biểu hiện các chức năng sinh sản Oxytocin từ buồng trứng tăng nhanh do tiêm PGF2 và có cơ chế điều hòa ngược dương tính được xem là đã gây nên tiêu biến thể vàng (Sato and Mori, 1992) Oxytocin tăng lên có ảnh hưởng đến nội mạc tử cung, làm tăng tiết PGF2
do đó làm tăng hơn nữa sự chế tiết oxytoxin từ thể vàng
Oxytoxin có tác d từăng hơn nữa sự chế tiếtn nội mạc tử cung, làm tăng tiết <RecNum>64</RecNum><DisplayText>(Sato 1992)</DisplayText><re (Xuxoep, 1985) Oxytocin có tác dEF_72" \o "Xuxoep, 1985 #68" thor><Year>1985</Year><RecNum>68</RecNum><DisplayText>(Xuxoep 1985)</Display
Prolactin (PRL)
Hormone prolactin được tiết ra từ thùy trước tuyến yên, thúc đẩy tiết sữa, kích thích sự hoạt động của thể vàng và tiết progesterone, thúc đẩy bản năng làm
mẹ của gia súc cái (Sato and Mori, 1992)
Hormone này kích thích tuy\o "Sato, 1992 #64" thor><Year>1992</Year><RecNum>64</RecNum><DisplayText>(Sato
1992)</DisplayText><record><rec-number>64</rec-number><foreign-keys><ke(Xuxoep, 1985) Prolactin v\l "_ENREF_72" \o "Xuxoep, 1985 #68" thor><Year>1985</Year><RecNum>68</RecNum><DisplayTe dục (hypothalamus) phân tiết GnRH (Sato and Mori, 1992), vì vri, \l
"_ENREF_58" \o "Satcho sữa cao sẽ chậm động dục trở lại hơn so với những gia súc có s "_ENREF_58" \o "S
Trang 32PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Đối tượng
Phôi bò BBB thuần chủng nhập khẩu từ Bỉ;
Bò lai HF (75% HF)
Địa điểm
Xí nghiệp bò Phù Đổng, Công ty Giống gia súc Hà Nội;
Bộ môn Ngoại - Sản, khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam;
Viện nghiên cứu Bảo tồn đa dạng sinh học và bệnh nhiệt đới;
Bệnh viện đa khoa MEDLATEC
Thời gian
Tháng 7 năm 2015 đến nay (hiện vẫn đang tiếp tục thực hiện nghiên cứu sản xuất bò BBB)
3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chọn bò đủ tiêu chuẩn làm bò mẹ nhận phôi;
Gây rụng trứng tạo thể vàng đồng pha;
Định lượng progesterone trong máu;
Cấy truyển phôi
Khám thai bò;
Phương pháp mổ đẻ
3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp chọn bò mang thai hộ
Bò khỏe mạnh, không bị bệnh truyền nhiễm, ký sinh trùng, nội, ngoại khoa, đặc biệt không mắc các bệnh về cơ quan sinh dục, có điểm thể trạng (Body condition score - BCS) từ 2,75 đến 4,0
Phương pháp khám cơ quan sinh dục
Phương pháp khám buồng trứng
Sờ khám qua trực tràng là một phương pháp hữu ích để xác định bệnh ở các
cơ quan sinh sản ở bò trong đó có bệnh ở buồng trứng Tuy nhiên, vẫn có một
Trang 33điểm bất lợi là phương pháp này phụ thuộc nhiều kỹ năng của người kỹ thuật viên khi thăm khám Do đó, phương pháp này đòi hỏi người khám phải có kinh nghiệm và kiến thức Tuy nhiên, kết quả chẩn đoán bệnh buồng trứng qua khám lâm sàng do đội ngũ bác sỹ Thú y chuyên nghiệp có tay nghề cao đã được chuyên gia Nhật đào tạo tại Ba Vì theo chương trình JICA Thú y
Bảng 3.1 Kết quả chẩn đoán bệnh buồng trứng sau hai lần kiểm tra
Kiểm tra buồng
trứng
Lần 1 Ngày thứ nhất
Lần 2 7-10 ngày sau Kết luận buồng trứng Thể vàng
+
- +
+ +
-
Thể vàng tồn lưu Sinh lý bình thường Sinh lý bình thường Nang trứng
+
- +
+ +
-
U nang buồng trứng Sinh lý bình thường Sinh lý bình thường
Phương pháp chẩn đoán bệnh viêm tử cung
Quan sát bên ngoài thấy âm hộ luôn sưng đỏ, thường qua đêm vào lúc buổi sáng thấy có dịch màu trắng đục như nước vo gạo, sữa có thể như dịch mũi chảy
ra ở âm môn và quyết sang hai bên mông, con vật gầy, khó chịu, ngứa ngáy thường chịn, cọ vào con khác hay bờ tường Kiểm tra qua trực tràng thấy thành
tử cung dày lên, cứng, dùng tay vuốt vào tử cung thấy có dịch đục chảy ra ngoài qua âm môn Nếu viêm nặng thì tử cung to, cứng, vỗ vào tử cung cảm giác thấy bình bịch khác với khi có thai là có sóng động của nước ối
Phương pháp đánh giá điểm thể trạng
Điểm thể trạng được đánh giá dựa vào cảm nhận độ tích lũy mỡ ở 3 điểm gồm mỏm ngang xương cánh hông, mỏm ngang xương sườn cuối và xung quanh gốc đuôi Thang điểm đánh giá từ 1 đến 5 (1: rất gầy, 5: rất béo), hai mức điểm liên tiếp cách nhau 0,25 Các bò có BCS = 2,75 - 4,0 được lựa chọn làm bò mẹ nhận phôi Phương pháp gây rụng trứng tạo thể vàng đồng pha
Đối với bò không động dục tự nhiên
Sau khi khám, lựa chọn được bò đạt tiêu chuẩn cấy phôi, chúng tôi làm sạch
âm đạo bò bằng dung dịch cồn Iodua 2%, rồi đặt vòng CIDR, kết hợp tiêm GnRH (Sơ đồ 1)
Trang 34Sơ đồ 1 Sử dụng hormone để gây rụng trứng tạo thể vàng cho bò
Bảy ngày sau, vòng CIDR được rút ra, đồng thời tiêm PGF2α giúp phá hủy thể vàng, phá vỡ màng noãn bao để gây rụng trứng Sau một ngày, tiêm GnRH lần 2 nhằm kích hoạt và tăng cường sự rụng trứng Tính từ ngày bò bắt đầu có biểu hiện động dục đến ngày thứ 6, tiến hành lấy máu định lượng progesterone trong máu bò Chúng tôi cấy phôi bò BBB (7 ngày tuổi) trên các
bò có hàm lượng progesterone huyết thanh ≥3 ng/ml Theo dõi bò nhận phôi tới ngày 53 (ứng với tuổi phôi là 60 ngày), tiến hành khám thai bò để xác định
bò có thai hay không
Quan sát để phát hiện động dục ba lần một ngày (sáng, trưa, tối), tốt nhất là quan sát vào sáng sớm và chiều tối Thời gian quan sát phụ thuộc vào số lượng gia súc trong đàn, thông thường mỗi lần từ 15 đến 30 phút
Trang 35Biểu hiện bò động dục
Bò ít ăn, giảm sữa, hay nhớn nhác nhìn ngó, kêu rống, thích gần hít ngửi âm
hộ và nhảy lên lưng con khác hoặc để con khác nhảy (nếu con ở dưới đứng yên thì bản thân con đó đang động dục, nếu con ở dưới chạy thì con nhảy lại là con động dục trừ trường hợp cả hai con đều động dục)
Âm hộ sưng đỏ, chảy nước nhờn trong, lỏng sau đặc dần, kiểm tra bên trong thấy tử cung cứng hơn bình thường
Phương pháp định lượng progesterone
Tiến hành lấy máu tĩnh mạch đuôi và kiểm tra hàm lượng progesterone bằng phương pháp enzyme miễn dịch ELISA (phương pháp này được thực hiện tại bệnh viện đa khoa MEDLATEC)
Phương pháp cấy phôi bò
Kỹ thuật cấy phôi do bác sỹ Thú y có nhiều năm kinh nghiệm thực hiện Cấy phôi được tiến hành bằng phương pháp không phẫu thuật theo Seidel and Seidel (1991) Yêu cầu các thao tác cấy phôi được thực hiện một cách nhẹ nhàng, trong thời gian càng nhanh càng tốt, đồng thời phải đưa được phôi vào đúng vị trí trong sừng tử cung bò nhận phôi, tránh làm trầy xước niêm mạc tử cung, tránh hiện tượng bò nhận phôi bị kích thích tử cung dẫn đến đào thải phôi
Phương pháp chẩn đoán có thai ở 60 ngày tuổi
Chẩn đoán có thai trên bò mẹ mang thai 60 ngày bằng phương pháp khám qua trực tràng, được thực hiện bởi Bác sỹ thú y có nhiều năm kinh nghiệm.Đầu tiên, phải xác định được cổ tử cung, độ rộng của thân tử cung, kích thước thay đổi và độ lệch của sừng tử cung, khi ta vỗ nhẹ vào sừng tử cung có sóng sánh nước ối Kích thước buồng trứng thay đổi to dần và có thể vàng xuất hiện trên bề mặt buồng trứng, đưa tay sang bên cạnh mỏm xương chậu kiểm tra động mạch tử cung thì thấy động mạch hoạt động mạnh lên
Phương pháp mổ đẻ
Phẫu thuật mổ đẻ được thực hiện theo Huỳnh Văn Kháng (2003), có thay đổi
Bò mẹ được cố định đầu bằng dây dù vào dóng, vùng hõm hông bên trái được cạo sạch lông và sát trùng bằng cồn Iod 5% Dùng Novocain 3% gây tê dẫn truyền vào mỗi vị trí 10ml gồm: vị trí (1) xoang ngoài màng cứng giữa đốt sống hông cuối cùng và đốt sống khum đầu tiên, vị trí (2) vùng gian sườn bên trái 12,
Trang 3613 và vị trí (3) dưới da xung quanh vị trí mổ hõm hông bên trái Đồng thời tiến hành gây tê thấm Novocain 0,25% với liều lượng từ 200 - 500ml tại cơ vách bụng (cơ chéo trong, cơ chéo ngoài và cơ thẳng bụng)
Mổ một đường thẳng dài 25 - 30cm cách xương sườn cuối 5 - 7cm, mỏm ngang xương sống sống hông từ 10 - 15cm Sau khi đứt lớp da, lần lượt mổ các thành cơ, rồi nhẹ nhàng luồn ngón tay để mở rộng phúc mạc, rồi cho tay vào xoang bụng Chọn nơi không có núm nhau và ít mạch máu, đưa kéo cách vách sừng tử cung, chiều dài vết cắt đủ để dễ dàng lấy thai ra Tìm đầu bê đưa ra ngoài xoang bụng trước tiên, ngay lập tức loại bỏ dịch trong xoang miệng để bê dễ dàng hô hấp Sau khi lấy thai ra khỏi tử cung, kẹp dây rốn, bóc hết nhau thai, rửa sạch tử cung bằng dung dịch thuốc tím 0,1% Cho thuốc kháng sinh vào xoang tử cung, rồi khâu vết phẫu thuật trên bò mẹ lại
Bê sau khi được đưa ra khỏi xoang bụng, nhanh chóng lau khô dịch bằng khăn bông Bê BBB có trọng lượng sơ sinh lớn, nên nhu cầu hô hấp để nuôi dưỡng mô bào cao hơn so với bê thường, do đó cần hỗ trợ hô hấp bằng máy thở Oxi
3.4 XỬ LÝ SỐ LIỆU
Dữ liệu thống kê được thu thập và xử lý qua Excel để đánh giá tỷ lệ động dục và tỷ lệ có chửa
Trang 37PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 THÔNG TIN TRƯỚC KHI CHỌN BÒ THÍ NGHIỆM
Trước khi tiến hành thí nghiệm, chúng tôi kiểm tra thu thập thông tin về đàn bò nghiên cứu Kết quả được thể hiện ở bảng 4.1
Bảng 4.1 Thông tin về đàn bò sữa Phù Đổng
Khoảng cách giữa hai lứa đẻ 15,2 tháng
Qua thông tin khảo sát và trực tiếp theo dõi đàn bò, chúng tôi thấy bò nuôi tại xí nghiệp bò Phù Đổng có khoảng cách giữa 2 lứa đẻ là 15,2 tháng, sản lượng sữa trung bình là 15 lít/con/ngày, tỉ lệ mỡ sữa là 3,8% Đồng thời bò được tiêm phòng đầy đủ 2 loại vaccine là Lở Mồm Long Móng và Tụ Huyết Trùng, định kỳ mỗi năm 2 lần vào tháng 3 và tháng 8 hàng năm Các bệnh về ký sinh trùng được tẩy định kỳ 2 lần 1 năm Điều này chứng tỏ đàn bò mà trước khi chúng tôi chọn đưa vào thí nghiệm là đảm bảo an toàn về dịch bệnh
Trước khi tiến hành thí nghiệm chúng tôi khám lâm sàng chọn lọc và lựa chọn bò tại xí nghiệp bò Phù Đổng bao gồm như: tính điểm thể trạng BCS, kiểm tra phân, kiểm tra bệnh chân móng, quan sát độ nhanh nhạy của bò đặc biệt là khám cơ quan sinh dục xem có bị viêm nhiễm hay tích nước tiểu trong âm đạo hay không
Tất cả bò được chọn đưa vào thí nghiệm đều đảm bảo buồng trứng hoạt động bình thường đảm bảo tiêu chuẩn mang thai Bò khai thác tại xí nghiệp bò Phù Đổng đều được tiến hành vắt bằng máy đảm bảo các chỉ tiêu vệ sinh
Trang 38Công nhân đang vắt sữa bằng máy tại Xí nghiệp Bò Phù Đổng
Qua 4 đợt lựa chọn dựa vào sổ sách ghi chép của xí nghiệp bò Phù Đổng và khám lâm sàng chúng tôi chọn ra được 38 bò đủ tiêu chuẩn để thực hiện phương pháp gây rụng trứng tạo thể vàng đồng pha
Đàn bò sữa (75% máu bò HF) có trọng lượng trung bình 450 - 500kg, kích
cỡ khung xương chậu phù hợp, nên được chọn lựa làm bò mẹ nhận phôi để có thể mang được thai BBB trọng lượng lớn
Ngoài ra, sử dụng bò sữa làm bò mẹ nhận phôi còn có ý nghĩa khẳng định tính trung thực kết quả của đề tài, nếu sử dụng phương pháp thụ tinh BBB thuần cho đàn bò HF lai, thì thế hệ F1 (BBB x HF) sẽ có đặc điểm ngoại hình của cả bò sữa và bò thịt
Mapletoft et al (1986), thấy rằng chỉ số thể trạng có ảnh hưởng tới tỷ lệ có chửa trong cả hai trường hợp cấy phôi phẫu thuật và cấy phôi không phẫu thuật
Trang 39Bò có điểm thể trạng thấp hơn 2,25 có năng suất sinh sản rất thấp (Patton et al., 2007), trong khi đó bó có điểm thể trạng BCS > 4,0 có thời gian động dục trở lại sau đẻ, thời gian phối giống trở lại dài và tỷ lệ có chửa thấp (Berry et al., 2003), đặc biệt tăng nguy cơ đẻ khó và xót nhau khi chửa đẻ
Các kết quả trong nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với nhận định của Ruegg et al (1995), khi sản lượng sữa đạt đỉnh và nhu cầu năng lượng vượt quá lượng thức ăn thu nhận, bò rơi vào trạng thái cân bằng năng lượng âm (NEB), do huy động quá ngưỡng sinh lý nguồn chất béo dự trữ, khiến con vật giảm thể trọng (BW) và giảm điểm thể trạng BCS (Aeberhard et al., 2001a)
Do đó, BCS và BW được đánh giá là những công cụ quản lý và dự đoán khả năng thích nghi với sự thay đổi cân bằng năng lượng âm (Coffey et al., 2001)
Bò cao sản có thiên hướng huy động chất béo dữ trự nhiều hơn để đáp ứng nhu cầu sản xuất sữa (Pryce et al., 2002) Những bò này có điểm thể trạng BCS thấp hơn trong thời kỳ cho sữa và sự thay đổi BCS sau đẻ diễn ra mạnh hơn so với bò có sản lượng sữa trung bình (Horan et al., 2005)
Bò có ngưỡng BCS cao hơn trước thời điểm chửa đẻ, tại thời điểm chửa
đẻ và trong giai đoạn cho sữa sớm cho thấy cường độ động dục mạnh hơn và tỷ
lệ động dục cao hơn trước khi phối, cũng như tỷ lệ có chửa sau lần phối đầu tiên cao hơn
Qua điều tra ban đầu, chúng tôi nhận thấy chế độ dinh dưỡng cho bò tại Phù Đổng còn đơn điệu, còn phụ thuộc vào mùa vụ, chưa có bộ phận cán bộ chuyên trách về dinh dưỡng để lên khẩu phần ăn hoàn chỉnh Đặc biệt, trong khẩu phần
ăn của bò cung cấp không đủ lượng vitamin A và vitamin E, chính vì thế khi khám lâm sàng cơ quan sinh dục bò thấy cơ quan sinh dục bé, xơ xác, khiến cho
tỷ lệ cấy truyền phôi thành công từ trước tới nay rất thấp Sau khi bổ sung vitamin A và vitamin E vào khẩu phần ăn của bò dưới dạng bột trộn thức ăn trong vòng 20 ngày hoặc tiêm A.D.E, kiểm tra lại thấy cơ quan sinh dục phát triển tốt, mềm mại, đủ tiêu chuẩn để thực hiện thí nghiệm Kết quả này cũng phù hợp với nhiều nghiên cứu trước đây chỉ ra vai trò quan trọng của vitamin A và E đối với khả năng sinh sản của bò Chế độ dinh dưỡng có bổ sung β-carotene và vitamin A làm tăng kích cỡ thể vàng và nồng độ progesterone huyết thanh so với nhóm đối chứng (không bổ sung) Tương tự với nghiên cứu của Graves – Hoagland et al (1988), mối tương quan tỷ lệ thuận giữa nồng độ progesterone
Trang 40huyết thanh và nồng độ β-carotene được ghi nhận trong thời điểm rụng trứng và pha thể vàng sau đó Trong nghiên cứu của Snježana Trojačanec et al (2012) sau khi bổ sung β-carotene và vitamin A, giúp tăng kích thước các tế bào thể vàng và tăng quá trình tổng hợp các hormone sinh sản dạng sterioid
Điều này làm ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình chọn lọc bò đủ tiêu chuẩn đưa vào nghiên cứu của chúng tôi, ảnh hưởng đến khả năng và tỉ lệ mang thai Đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến khoảng cách giữa hai lứa đẻ trung bình còn cao (15,2 tháng)
Công tác ủ chua dự trữ thức ăn cho bò tại Xí nghiệp bò Phù Đổng 4.2 KẾT QUẢ GÂY RỤNG TRỨNG ĐỒNG PHA
Ứng dụng phương pháp gây rụng trứng tạo thể vàng bằng tổ hợp hormone sinh dục được thể hiện trên 38 bò đã được kiểm tra đủ tiêu chuẩn, kết quả động dục được thể hiện trong bảng 4.2
Bảng 4.2 Kết quả gây động dục đồng pha
(con)
Tỷ lệ (%)