1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện ân thi tỉnh hưng yên

121 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 3,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, d

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

PHẠM HUY HOÀNG

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN QUY HOẠCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN

HUYỆN ÂN THI - TỈNH HƯNG YÊN

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu của tôi trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi cũng cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc và mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn

Hà Nội, Ngày 27 tháng 6 năm 2017

Tác giả luận văn

Phạm Huy Hoàng

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và nghiên cứu đề tài, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình và những lời chỉ bảo chân tình của các thầy cô giáo trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam, từ các đơn vị và cá nhân cả trong và ngoài ngành nông nghiệp Tôi xin ghi nhận và bày tỏ lòng biết ơn tới những tập thể, cá nhân đã dành cho tôi sự giúp đỡ quý báu đó

Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng sự giúp đỡ nhiệt tình của PGS.TS Nguyễn Quang Học là người trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi về mọi mặt để hoàn thành đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy, cô trong Khoa Quản lý đất đai

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của UBND huyện Ân Thi, phòng Tài nguyên & Môi trường, phòng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Chi cục Thống kê huyện Ân Thi và Uỷ ban nhân dân các xã đã tạo điều kiện về thời gian và cung cấp số liệu cho đề tài này

Tôi xin chân thành cảm ơn các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này

Hà Nội, Ngày 27 tháng 6 năm 2017

Tác giả luận văn

Phạm Huy Hoàng

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN ix

THESIS ABSTRACT xi

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2

1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 2

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY HOẠCH NÔNG THÔN MỚI 4

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản 4

2.1.2 Quy hoạch nông thôn mới 8

2.1.3 Mối liên hệ giữa phát triển nông thôn, xây dựng nông thôn mới 13

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 14

2.2.1 Thực trạng về xây dựng nông thôn mới ở một số nước trên thế giới 14

2.2.2 Thực trạng xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam 20

2.2.3 Thực trạng xây dựng nông thôn mới tỉnh Hưng Yên 22

PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 23

3.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 23

3.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 23

3.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 23

3.4.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Ân Thi 23

Trang 5

3.4.2 Đánh giá tình hình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Ân Thi 23

3.4.3 Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới xã Hạ Lễ và xã Đa Lộc 24

3.4.4 Đề xuất giải pháp thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Ân Thi 24

3.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

3.5.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 24

3.5.2 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu, tài liệu 24

3.5.3 Phương pháp đánh giá 25

3.5.4 Phương pháp so sánh 25

3.5.5 Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu 26

PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27

4.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và cảnh quan môi trường 27

4.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 31

4.1.3 Thực trạng phát triển nông thôn huyện Ân Thi 34

4.1.4 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội trên địa bàn huyện 39

4.2 ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ÂN THI 40

4.2.1 Tình hình tổ chức thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện 40

4.2.2 Kết quả thực hiện bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện 45

4.2.3 Những tồn tại trong thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Ân Thi 54

4.3 ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN QUY HOẠCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI XÃ HẠ LỄ VÀ XÃ ĐA LỘC 57

4.3.1 Tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới xã Hạ Lễ 57

4.3.2 Tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới xã Đa Lộc 70

4.3.3 Đánh giá chung 82

4.4 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP THỰC HIỆN QUY HOẠCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ÂN THI 86

4.4.1 Về thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia 86

Trang 6

4.4.2 Về thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới cấp xã 88

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91

5.1 KẾT LUẬN 91

5.2 KIẾN NGHỊ 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

PHỤ LỤC 95

Trang 7

NN&PTNT : Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của huyện Ân Thi giai đoạn 2010 -

2016 31

Bảng 4.2 Cơ cấu kinh tế các ngành của huyện Ân Thi giai đoạn 2010 - 2016 32

Bảng 4.3 Dân số huyện Ân Thi giai đoạn 2010 - 2016 34

Bảng 4.4 Tình hình thực hiện nhóm tiêu chí Hạ tầng kinh tế xã hội huyện Ân Thi đến năm 2016 46

Bảng 4.5 Tình hình thực hiện nhóm tiêu chí Kinh tế và tổ chức sản xuất huyện Ân Thi đến năm 2016 49

Bảng 4.6 Tình hình thực hiện nhóm tiêu chí Văn hóa - xã hội - môi trường huyện Ân Thi đến năm 2016 52

Bảng 4.7 Tình hình thực hiện nhóm tiêu chí Hệ thống chính trị huyện Ân Thi đến năm 2016 53

Bảng 4.8 Tổng hợp các tiêu chí đạt và chưa đạt năm 2011 và năm 2016 của huyện Ân Thi 55

Bảng 4.9 Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất xã Hạ Lễ 59

Bảng 4.10 Kết quả thực hiện quy hoạch sản xuất nông nghiệp xã Hạ Lễ 61

Bảng 4.11 Kết quả thực hiện quy hoạch hệ thống giao thông 64

Bảng 4.12 Kết quả thực hiện tiêu chí NTM xã Hạ Lễ 69

Bảng 4.13 Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất xã Đa Lộc 72

Bảng 4.14 Kết quả thực hiện quy hoạch sản xuất nông nghiệp xã Đa Lộc 74

Bảng 4.15 Kết quả thực hiện quy hoạch hệ thống giao thông 77

Bảng 4.16 Kết quả thực hiện tiêu chí NTM xã Đa Lộc 81

Bảng 4.17 Sự hiểu biết và trao đổi thông tin về xây dựng nông thôn mới 84

Bảng 4.18 Sự tham gia đóng góp của người dân vào xây dựng nông thôn mới 85

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 4.1 Cơ cấu nguồn vốn huy động xây dựng nông thôn mới huyện Ân Thi 45 Biểu đồ 4.2 Cơ cấu nguồn vốn huy đông xây dựng nông thôn mới xã Hạ Lễ giai

đoạn 2011 - 2016 68 Biểu đồ 4.3 Cơ cấu nguồn vốn huy đông xây dựng nông thôn mới xã Đa Lộc giai

đoạn 2011 - 2016 80

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Phạm Huy Hoàng

Tên luận văn: Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Ân Thi - tỉnh Hưng Yên.

Tên cơ sở đào tạo: Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam

Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện

Ân Thi, tỉnh Hưng Yên

- Đề xuất giải pháp để thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Phương pháp nghiên cứu

- Số liệu thứ cấp được thu thập tại các phòng ban trong huyện Ân Thi

- Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra 100 hộ tại 02 xã Hạ Lễ và Đa Lộc thuộc huyện Ân Thi

- Sử dụng phần mềm Excel để tổng hợp và phân tích số liệu điều tra Từ đó đánh thực trạng phát triển kinh tế xã hội sau 6 năm xây dựng Nông thôn mới

- So sánh tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới của các xã điều tra theo các giai đoạn thời gian khác nhau (trước và sau khi có quy hoạch xây dựng NTM) Từ

đó thấy được sự khác biệt khi thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới

Kết quả chính và kết luận

- Huyện Ân Thi nằm về phía Đông của tỉnh trên trục Quốc Lộ 38 và Tỉnh lộ 200 Huyện có những điều kiện thuận lợi phát triển kinh yế xã hội và hoàn thiện cơ sở hạ tầng Trong những năm qua, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra vẫn chậm Đời sống nhân dân được nâng lên về mọi mặt và cơ sở hạ tầng dần được hoàn thiện Đây là những tiền đề giúp huyện Ân Thi có những bước phát triển mạnh mẽ hơn nữa trong tương lai

- Sau 6 năm triển khai thực hiện chương trình xây dựng nông thôn trên địa bàn huyện

Ân Thi đã đạt được những kết quả nhất định: Tổng số tiêu chí các loại đạt 328 tiêu chí, tăng 193 tiêu chí so với năm 2011 (trước khi bước vào xây dựng NTM), đạt trung bình 16,40 tiêu chí/ xã; có 07 xã đạt 19 tiêu chí (xã Hồng Quang, Vân Du, Phù Ủng, Tân Phúc, Hoa Thám, Nguyễn Trãi, Hạ Lễ); 01 xã đạt 16 tiêu chí (xã Tiền Phong); 11 xã đạt 15 tiêu chí; 01 xã đạt 14 tiêu chí

Trang 11

- Kết quả thực hiện xây dựng nông thôn mới xã Hạ Lễ và xã Đa Lộc như sau:

+ Xã Hạ Lễ sau 6 năm thực hiện đến nay xã đã đạt 19/19 tiêu chí hoàn thành mục tiêu xây dựng nông thôn mới theo đúng kế hoạch đề ra

+ Xã Đa Lộc trước khi thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới xã Đa Lộc chỉ đạt 5/19 tiêu chí Sau 6 năm thực hiện đến nay xã đã đạt 15/19 tiêu chí

+ Về quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng, quy hoạch sản xuất cả 2 xã Hạ Lễ, Đa Lộc đều đạt được những thành quả, bước tiến nhất định trong quá trình thực hiện xây dựng NTM Xã Hạ Lễ là xã đạt đạt chuẩn NTM nên các yếu tố quy hoạch trên đã hoàn thành hơn nhiều so với xã Đa Lộc

- Trên cơ sở đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng NTM trên địa bàn huyện Ân Thi đề ra 3 giải pháp cho thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia, 4 giải pháp

để thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới cấp xã

Kết luận

Sau 6 năm thực hiện xây dựng nông thôn mới Đến nay diện mạo nông thôn huyện

Ân Thi nói chung và nông thôn các xã nói riêng đã có nhiều thay đổi tích cực Cơ sở hạ tầng dần được hoàn thiện, đời sống nhân dân được nâng lên Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu quốc gia về nông thôn mới theo kế hoạch đề ra cần sự quan tâm nhiều hơn nữa từ các cấp Chính quyền đặc biệt trong công tác tuyên truyền, tăng cường sự hiểu biết của người dân về xây dựng nông thôn mới Từ đó huy động được sức mạnh toàn dân cùng chung tay xây dựng nông thôn mới Đó là yếu tố then chốt giúp quá trình xây dựng nông thôn mới được thành công

Trang 12

THESIS ABSTRACT

Master candidate: Pham Huy Hoang

Name of thesis: Evaluate the situation of implementing the new rural construction planning at An Thi District, Hung Yen Province

Major: Land Management Code: 60 85 01 03

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture

Objectives of the study

- Evaluate the situation of implementing the new rural construction planning at An Thi District, Hung Yen Province

- Propose solutions to implement the new rural construction planning in the district Research Methods

- Secondary data was collected in the departments of An Thi district

- Primary data was collected through surveys100 households in Ha Le commune and Da Loc commune of An Thi district

- Use Excel to sum up and analyze the figures of survey Based on this, the reality of social economic development of New Rural Construction after 6 years was revised

- Compare the implementation of new rural construction of communes in the different times (before and after constructing new rural plan) From then, see the differences when implementing national target program in constructing new rural

Main results and conclusions

- An Thi District is located to the East of the Province on Highway 38 and Provincial Highway 200 The District has favorable conditions for developing Socio- economic and improving infrastructure Over the years, the restructure of economic structure has taken place slowly The local people’s living standards have increased as well infrastructure has been gradually improved All above are the preconditions to support An Thi district to develop stronger in the future

- After 6 years of implementing the rural construction program in locality, An Thi district has achieved certain results: The total number of all kinds of criterion reaches 328 criterions that is an increase of 193 criterions compared to 2011 (Before implementation of new rural) It reaches an average of 16.40 criterions per commune; in which there are 7 communes with 19 criterions (Namely: Hong Quang, Van Du, Phu Ung, Tan Phuc, Hoa

Trang 13

Tham, Nguyen Trai, Ha Le); 1 commue with 16 criterions (Tien Phong Commune); 11 communes with 15 criterions and 1 commune with 14 criterions

- The results of the new rural construction planning in Ha Le Commune and Da Loc Commune are listed as follows:

+ After 6 progressing years, Ha Le Commune has reached 19/19 criterions and absolutely completed new rural construction goal as planned

+ After 6 progressing years, Da Loc Commune has reached 15/19 criterions compared to only 5/19 criterions before implementing the new rural construction planning + Regarding land-use planning, infrastructure construction planning, production planning; both Ha Le and Da Loc Commune have achieved certain results and steps Ha Le Commune has reached new rural standards; therefore, its planning factors are much more fulfilled than Da Loc Commune

- Based on evaluation of the new rural construction planning implementation situation, An Thi District proposed three solutions for the implementation of the national target program as well 4 solutions for implementing the new commune-level rural construction planning

Conclusions

After 6-year new rural construction progress, nowadays the rural appearance of An Thi District in general and Communes in particular have many positive changes Infrastructure is gradually improved and local people’s living standards are raised However, in order to achieve national target of new rural as planned, it is necessary for Government and authorities to pay more attention to propagandize and enhance people's understanding of new rural construction Since the strength of the whole people together to build new rural will be mobilized This is the key factor leading to the success of the new rural construction progress

Trang 14

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Nông nghiệp, nông thôn có vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Việt Nam là nước nông nghiệp, dân số sống ở khu vực nông thôn chiếm gần 70% dân số cả nước Vì vậy, phát triển nông nghiệp, nông thôn có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, Đảng và Nhà nước ta

đã rất quan tâm đến phát triển nông nghiệp nông thôn

Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển nhanh chóng nền kinh tế của đất nước, kinh tế khu vực nông thôn đã có nhiều khởi sắc rõ rệt Tuy nhiên, do trình

độ sản xuất còn thấp nên tốc độ tăng trưởng kinh tế, đóng góp cho GDP của khu vực nông thôn còn chậm Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn còn yếu kém, lạc hậu và không đồng bộ Kết cấu hạ tầng chưa đảm bảo yêu cầu phát triển kinh tế;

Cơ cấu hạ tầng kết nối giữa các khu vực còn yếu kém Trước tình hình đó, để thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững và giải quyết những bất cập mà khu vực nông thôn đang gặp, Đảng và Nhà nước đã đưa ra nhiều chủ trương, chính sách về đầu tư phát triển cho khu vực nông thôn Để vấn đề đầu tư được hiệu quả cao thì công tác quy hoạch cho khu vực nông thôn phải đi trước một bước

Xây dựng nông thôn mới là chương trình mục tiêu Quốc gia chiếm vị trí hết sức quan trọng Thực hiện Quyết định số 193/QĐ-TTg ngày 02/02/2010 và Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/06/2010 của Thủ tướng Chính Phủ Bộ Tài nguyên

và Môi trường, Bộ Xây dựng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có văn bản hướng dẫn các địa phương triển khai công tác lập quy hoạch xây dựng nông thôn mới Theo đó, quy hoạch xây dựng nông thôn mới phải gắn với đặc trưng vùng miền và các lợi thế của từng địa phương là nhằm đáp ứng sự phát triển theo các tiêu chí nông thôn mới do Chính phủ ban hành tại Quyết định số 491/QĐ - TTg ngày 16/04/2009

Huyện Ân Thi là huyện phía Đông của tỉnh Hưng Yên, có 1 thị trấn và 20 xã Trong những năm qua, huyện Ân Thi đã có bước chuyển biến tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội, nhất là việc xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn như: Điện, đường, trường, trạm, Vấn đề chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nông thôn của huyện đang tạo ra một bộ mặt mới theo hướng rất tích cực Tuy nhiên, Ân Thi vẫn

là một huyện còn nhiều khó khăn như: Đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn,

Trang 15

cơ sở hạ tầng kém phát triển, trình độ sản xuất chưa cao, giá trị tăng thêm bình quân đầu người đạt thấp, thu ngân sách trên địa bàn không đủ chi

Vì vậy, công tác xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện là rất cần thiết, là chìa khóa cho sự liên kết giữa không gian sống, không gian sinh hoạt và không gian sản xuất thêm chặt chẽ

Xuất phát từ nhu cầu thực tế trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Ân Thi - tỉnh Hưng Yên”

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên

- Đề xuất giải pháp để thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện

1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Thời gian nghiên cứu:

+ Nông thôn mới các xã trong huyện Ân Thi được điều tra từ trước khi có đề

án quy hoạch xây dựng nông thôn mới (năm 2011)

+ Số liệu hiện trạng về đất đai, kinh tế xã hội lấy đến 31/12/2016

+ Tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới được điều tra đến tháng 12/2016

- Không gian nghiên cứu:

+ Nghiên cứu trên địa bàn huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên

+ Tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại 2 xã Hạ Lễ và xã

Đa Lộc, huyện Ân Thi, tỉnh Phú Thọ

1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

Trang 16

- Từ kết quả nghiên cứu đề tài góp phần làm cơ sở lý luận để đưa ra những đánh giá khách quan về thực trạng và tổ chức thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn vừa qua

* Ý nghĩa thực tiễn

- Quá trình nghiên cứu đề tài góp phần giúp người dân và cán bộ trên địa bàn huyện Ân Thi hiểu rõ hơn về vai trò và trách nhiệm của mình trong việc thực hiện xây dựng nông thôn mới

- Việc đánh giá thực trạng và tổ chức thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới sẽ giúp cho học viên hiểu rõ hơn về Chương trình xây dựng nông thôn mới tại địa phương, từ đó đề xuất giải pháp thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện trong những năm tới

Trang 17

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY HOẠCH NÔNG THÔN MỚI

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản

2.1.1.1 Khái niệm về nông thôn

Nông thôn là khái niệm dùng để chỉ phần lãnh thổ của một nước hay của một đơn vị hành chính mà ở đó sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, dân cư chủ yếu làm nông nghiệp (Chu Văn Cấp và cs., 2006)

Có quan điểm cho rằng, Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã (Bộ NN&PTNT, 2009)

Lại có quan điểm cho rằng, nông thôn là phần lãnh được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã (Bộ NN&PTNT, 2013)

Theo Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn: Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã Nông thôn Việt Nam hiện nay có khoảng 70% dân số sinh sống (Chính phủ, 2010)

Như vậy, có thể thấy rằng, khái niệm về nông thôn chỉ mang tính chất tương đối, thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia trên thế giới Khái niệm nông thôn bao gồm nhiều mặt có quan hệ chặt chẽ với nhau

Có thể hiểu: “Nông thôn là vùng khác với vùng đô thị là ở đó có một cộng đồng chủ yếu là nông dân làm nghề chính là nông nghiệp, có mật độ dân cư thấp hơn, có cơ cấu hạ tầng kém phát triển hơn, có mức độ phúc lợi xã hội thua kém hơn,

có trình độ dân trí, trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hoá thấp hơn ” (Vũ Thị Bình và cs., 2006)

2.1.1.2 Khái niệm về phát triển nông thôn

Phát triển nông thôn là một quá trình thay đổi bền vững có chủ ý về xã hội, kinh tế, văn hóa và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người dân địa phương (Vũ Thị Bình và cs., 2006)

Trang 18

Phát triển nông thôn là vấn đề được nhiều nước cũng như cả thế giới quan tâm

Do yêu cầu phát triển không giống nhau mà mỗi nước có quan niệm về phát triển nông thôn tương đối khác nhau:

- Quan điểm của Châu Phi: Phát triển nông thôn được định nghĩa là sự cải thiện mức sống của số lớn dân chúng có thu nhập thấp đang cư trú ở các vùng nông thôn và tự lực thực hiện quá trình phát triển của họ

- Quan điểm của Ấn Độ: Phát triển nông thôn không thể là một hoạt động cục

bộ, rời rạc và thiếu quan tâm Nó phải là hoạt động tổng thể, liên tục diễn ra trong vùng nông thôn của cả quốc gia

- Ngân hàng thế giới đã đưa ra khái niệm PTNT (1975) như sau: PTNT là một chiến lược nhằm cải thiện đời sống kinh tế và xã hội của những người ở nông thôn, nhất là những người nghèo Nó đòi hỏi phải mở rộng các lợi ích của sự phát triển đến với những người nghèo nhất trong số những người đang tìm kế sinh nhai ở các vùng nông thôn

Các khái niệm trên đều có sự chung nhau về ý tưởng, đó là PTNT là một hoạt động nhằm tăng mức sống của những người dân nông thôn có đời sống khó khăn, đây không phải là những hoạt động đơn lẻ cục bộ mà là những hoạt động liên tục và diễn ra trong phạm vi toàn quốc Trong những quan điểm trên, quan điểm của ngân hàng thế giới được nhiều người chấp nhận nhất và được coi như một khái niệm chung về PTNT

Như vậy, từ quan điểm trên cho ta thấy PTNT là sự phát triển tổng hợp liên ngành kinh tế - xã hội trên một nước hoặc một vùng lãnh thổ trong thời gian và không gian nhất định

PTNT không chỉ đơn thuần là phát triển về mặt kinh tế mà gồm cả phát triển

về mặt xã hội nông thôn Nói cách khác là vừa nâng cao đời sống vật chất vừa nâng cao đời sống tinh thần cho người nông dân

PTNT không chỉ là phát triển sản xuất nông nghiệp mà phải kết hợp với phát triển sản xuất công nghiệp và dịch vụ nông thôn, tạo thành cơ cấu kinh tế nông thôn hợp lý Trong PTNT phải chú trọng tới cả phát triển lâm nghiệp và thủy sản, (Nguyễn Ngọc Nông và cs., 2004)

2.1.1.3 Khái niệm và vai trò của mô hình nông thôn mới

Khái niệm nông thôn mới là nông thôn mà trong đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa

Trang 19

nông thôn và thành thị Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới

Nông thôn mới có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng được xây dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị Nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ Sức mạnh của hệ thống chính trị được nâng cao, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội

Mô hình nông thôn mới mang đặc trưng của mỗi vùng nông thôn khác nhau

Mô hình nông thôn mới là mô hình cấp xã, thôn được phát triển toàn diện theo định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa và văn minh hóa Sự hình dung chung của các nhà nghiên cứu về mô hình nông thôn mới là những kiểu mẫu cộng đồng theo tiêu chí mới, tiếp thu những bài học khoa học - kỹ thuật hiện đại, song vẫn giữ được nét đặc trưng, tính cách Việt Nam trong cuộc sống văn hóa, tinh thần Mô hình nông thôn mới được quy định bởi các tính chất: đáp ứng yêu cầu phát triển; có

sự đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường; đạt hiệu quả cao nhất trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; tiến bộ hơn so với mô hình cũ; chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ biến và vận dụng trên tất cả các nước

Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ);

có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao

Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của

cả hệ thống chính trị Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội, mà là vấn

đề kinh tế - chính trị tổng hợp

Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh

Mục tiêu xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại;

cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; nâng cao sức mạnh của hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng ở nông thôn; xây dựng giai cấp

Trang 20

nông dân, củng cố liên minh công nông và đội ngũ tri thức, tạo nền tảng kinh tế - xã hội và chính trị vững chắc, đảm bảo thực hiện thành công CNH - HĐH đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Hiểu một cách chung nhất của mục đích xây dựng mô hình nông thôn mới là hướng đến một nông thôn năng động, có nền sản xuất nông nghiệp hiện đại, có kết cấu hạ tầng gần giống đô thị Nông thôn mới được hiểu là: Xây dựng nông thôn mới

có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân - nông dân - trí thức vững mạnh, tạo nền tảng kinh tế - xã hội và chính trị vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2008)

Trong phát triển kinh tế xã hội, mô hình nông thôn mới đóng vai trò hết sức quan trọng:

* Về kinh tế: Nông thôn có nền sản xuất hàng hóa mở, hướng đến thị trường

và giao lưu, hội nhập Để đạt được điều đó, kết cấu hạ tầng của nông thôn phải hiện đại, tạo điều kiện cho mở rộng sản xuất giao lưu buôn bán Thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển nhanh, khuyến khích mọi người tham gia thị trường, hạn chế rủi ro cho nông dân, điều chỉnh, giảm bớt sự phân hóa giàu nghèo, chênh lệch về mức sống giữa các vùng, giữa nông thôn và thành thị Hình thức sở hữu đa dạng, trong đó chú ý xây dựng mới các hợp tác xã theo mô hình kinh doanh đa ngành Hỗ trợ các hợp tác xã ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ phù hợp với các phương án sản xuất kinh doanh, phát triển ngành nghề ở nông thôn Sản xuất hàng hóa có chất lượng cao, mang nét độc đáo, đặc sắc của từng vùng, địa phương Tập trung đầu tư vào những trang thiết bị, công nghệ sản xuất, chế biến bảo quản, chế biến nông sản sau thu hoạch

* Về chính trị: Phát huy dân chủ với tinh thần thượng tôn pháp luật, gắn lệ làng, hương ước với pháp luật để điều chỉnh hành vi con người, đảm bảo tính pháp

lý, tôn trọng kỷ cương phép nước, phát huy tính tự chủ của làng xã Phát huy tối đa quy chế dân chủ ở cơ sở, tôn trọng trong hoạt động của các đoàn thể, các tổ chức hiệp hội vì lợi ích cộng đồng, nhằm huy động tổng lực vào xây dựng nông thôn mới

Trang 21

* Về văn hóa xã hội: Xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, giúp nhau xóa đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng

* Về con người: Xây dựng hình mẫu người nông dân sản xuất hàng hóa khá giả, giàu có, kết tinh các tư cách: công dân, thế nhân, dân của làng, người con của các dòng họ, gia đình

* Về môi trường: Xây dựng, củng cố, bảo vệ môi trường, sinh thái Bảo vệ rừng đầu nguồn, chống ô nhiễm nguồn nước, môi trường không khí và chất thải từ các khu công nghiệp để nông thôn phát triển bền vững Các nội dung trên trong cấu trúc mô hình nông thôn mới có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Nhà nước đóng vai trò chủ đạo, tổ chức điều hành quá trình hoạch định và thực thi chính sách, xây dựng đề án, cơ chế, tạo hành lang pháp lý, hỗ trợ vốn, kỹ thuật, nguồn lực, tạo điều kiện, động viên tinh thần Nhân dân tự nguyện tham gia, chủ động trong thực thi chính sách Trên tinh thần đó, các chính sách kinh tế - xã hội sẽ tạo hiệu ứng tổng thể nhằm xây dựng mô hình nông thôn mới

2.1.2 Quy hoạch nông thôn mới

2.1.2.1 Các khái niệm cơ bản

- Khái niệm nông thôn mới: Là nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, xã hội dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, đời sống vật chất, tinh thần được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ, an ninh trật tự được giữ vững

- Khái niệm về xây dựng nông thôn mới: Là xây dựng nông thôn đạt 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về Nông thôn mới

- Khái niệm quy hoạch nông thôn mới: Là bố trí, sắp xếp các khu chức năng, sản xuất, dịch vụ, hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường trên địa bàn, theo tiêu chuẩn nông thôn mới, gắn với đặc thù, tiềm năng, lợi thế của từng địa phương; được mọi người dân của xã trong mỗi làng, mỗi gia đình ý thức đầy đủ, sâu sắc và quyết tâm thực hiện

2.1.2.2 Các đặc trưng của nông thôn mới

Nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 gồm các đặc trưng: Kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn được nâng cao; Nông thôn mới phát triển theo quy hoạch, cơ cấu hạ tầng, kinh tế - xã hội hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ; Dân trí được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn

Trang 22

và phát huy; Chất lượng hệ thống chính trị được nâng cao; An ninh tốt, dân chủ được phát huy

Việc xây dựng nông thôn mới nhằm phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế của đất nước trong thời kỳ đổi mới Sau 25 năm thực hiện đường lối đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông nghiệp, nông thôn, nông dân, nước ta đã đạt được thành tựu to lớn và khá toàn diện; tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và chưa đồng đều giữa các vùng; nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm dần, sức cạnh tranh thấp; việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cách thức sản xuất trong nông nghiệp còn chậm; năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng nhiều mặt hàng thấp, chưa thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở nông thôn; đời sông vật chất và tinh thần của người dân nông thôn còn thấp; chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn với thành thị, giữa các vùng miền còn lớn, phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc…

Vì vậy, xây dựng nông thôn mới là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân ở nông thôn

2.1.2.3 Chức năng của nông thôn mới

- Chức năng sản xuất nông nghiệp hiện đại

+ Nông thôn là nơi diễn ra phần lớn các hoạt động sản xuất nông nghiệp của các quốc gia Có thể nói nông nghiệp là chức năng tự nhiên của nông thôn Chức năng cơ bản của nông thôn là sản xuất dồi dào các sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao Khác với nông thôn truyền thống, sản xuất nông nghiệp của nông thôn mới bao gồm cơ cấu các nghành nghề mới, các điều kiện sản xuất nông nghiệp hiện đại hoá, ứng dụng phổ biến khoa học kỹ thuật tiên tiến và xây dựng các tổ chức nông nghiệp hiện đại (Cù Ngọc Hưởng, 2006)

+ Chính vì vậy, xây dựng nông thôn mới không có nghĩa là biến nông thôn trở thành thành thị Hướng tư duy áp dụng mô hình phát triển của thành thị vào xây dựng nông thôn phần nào đã phủ nhận những giá trị tự có của nông thôn và khả năng phát triển trên cơ sở giữ vững bản sắc riêng nông thôn (Cù Ngọc Hưởng, 2006)

- Chức năng giữ gìn văn hóa truyền thống

Để đảm bảo giữ gìn được văn hóa truyền thống tốt đẹp của nông thôn nên việc xây dựng nông thôn mới nếu như phá vỡ đi các cảnh quan làng xã mang tính khu vực

Trang 23

đã được hình thành trong lịch sử thì cũng chính là phá vỡ đi sự hài hoà vốn có của nông thôn, làm mất đi bản sắc làng quê nông thôn Điều này không những hạn chế tác dụng của chức năng nông thôn mà còn có tác dụng tiêu cực đến giữ gìn sinh thái cảnh quan nông thôn và cảnh quan văn hoá truyền thống (Cù Ngọc Hưởng, 2006)

- Chức năng sinh thái

Quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá khiến con người ngày càng xa rời tự nhiên, dẫn đến những ô nhiễm trong môi trường nước và không khí Nếu so sánh với hệ thống sinh thái đô thị, thì hệ thống sinh thái nông nghiệp một mặt có thể đáp ứng nhu cầu cung cấp các sản phẩm lương thực hoa quả cho con người, mặt khác cũng đáp ứng được các yêu cầu về môi trường tự nhiên Thuộc tính sản xuất nông nghiệp đã quyết định hệ thống sinh thái nông nghiệp mang chức năng phục vụ hệ thống sinh thái Đất đai canh tác nông nghiệp, hệ thống thuỷ lợi, các khu rừng, thảo nguyên, phát huy các tác dụng sinh thái như điều hoà khí hậu, giảm ô nhiễm tiếng

ồn, cải thiện nguồn nước, phòng chống xâm thực đất đai, làm sạch đất, (Cù Ngọc Hưởng, 2006)

Chức năng này chính là một trong những tiêu chí quan trọng phân biệt giữa thành thị với nông thôn Thông qua sự tuần hoàn của tự nhiên và năng lượng, cuối cùng, thành thị cũng là nơi thu được lợi ích từ chức năng sinh thái của nông thôn 2.1.2.4 Mục tiêu xây dựng nông thôn mới

Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa (Thủ tướng Chính phủ, 2010)

2.1.2.5 Nội dung xây dựng nông thôn mới

Theo Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ thì xây dựng nông thôn mới gồm 11 nội dung về: Quy hoạch xây dựng nông thôn mới; Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội; Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập; Giảm nghèo và an sinh xã hội; Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn; Phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn;

Trang 24

Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe dân cư nông thôn; Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn; Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn; Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn (Thủ tướng Chính phủ, 2010)

2.1.2.6 Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới

Tại Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC ngày 13/4/2011 của Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính chương trình xây dựng nông thôn mới gồm 6 nguyên tắc như sau:

Nguyên tắc 1: Các nội dung, hoạt động của Chương trình phải hướng tới mục tiêu thực hiện 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới ban hành tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ

Nguyên tắc 2: Phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các chính sách, cơ chế hỗ trợ, đào tạo cán bộ và hướng dẫn thực hiện; các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở nông thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện Nguyên tắc 3: Kế thừa và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai trên địa bàn nông thôn

Nguyên tắc 4: Quá trình thực hiện Chương trình phải gắn kết với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, có quy hoạch và cơ chế đảm bảo thực hiện đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt

Nguyên tắc 5: Công khai, minh bạch về quản lý, sử dụng các nguồn lực; tăng cường tính chủ động trong quá trình tổ chức thực hiện cho cấp xã; phát huy vai trò làm chủ của người dân và cộng đồng, thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở trong việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát, đánh giá

Nguyên tắc 6: Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị

và toàn xã hội; cấp ủy Đảng, chính quyền đóng vai trò chủ đạo, điều hành; Mặt trận

tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong xây dựng nông thôn mới

2.1.2.7 Vị trí và phạm vi xây dựng nông thôn mới

Xây dựng nông thôn mới có thể tạm coi là một bộ phận, hợp phần của tổng thể phát triển nông thôn Nếu căn cứ vào diễn giải ngôn từ, nông thôn mới sẽ khác biệt

Trang 25

với nông thôn hiện nay hoặc với nông thôn trước kia Sự khác biệt đó hàm ý sự thay đổi theo hướng tích cực của vùng nông thôn Các thay đổi có thể về bộ mặt nông thôn thể hiện ra bên ngoài nói chung, nhưng cũng có thể là các thay đổi về chất lượng, về tinh thần tạo ra động lực thúc đẩy phát triển nông thôn tại vùng phạm vi địa lý nhất định Nếu phát triển nông thôn là vấn đề phát triển chung, có sự thống nhất tương đối và có thể chia sẻ giữa các nước khác nhau trên thế giới, thì xây dựng nông thôn mới có tính chất đặc thù Không nhiều nước sử dụng và phát triển nội dung này thành công trong phát triển nông thôn (Nguyễn Quang Dũng, 2010) Nổi bật hơn cả có trường hợp phong trào Làng Mới của Hàn Quốc Khi đó người nông dân trong các làng quê được khơi dậy và khai sáng tinh thần để làm việc chăm chỉ trên cơ sở tính gắn kết cộng đồng, đoàn kết và kỷ luật cao, cộng đồng làng của họ có thể thực hiện được các công việc khó khăn Từ đó, tạo ra sự thay đổi của bộ mặt làng quê, người nông dân đồng thời cải thiện đáng kể điều kiện đời sống vật chất và tinh thần Kết quả thu được từ phong trào Làng Mới được coi là có vai trò quan trọng, đóng góp đáng kể vào hiện đại hóa, phát triển khu vực nông thôn và phát triển đất nước Hàn Quốc.Như vậy, yếu tố Mới vừa là thay đổi tích cực về chất

- tinh thần người nông dân, vừa là thay đổi tích cực về hình thức - bộ mặt làng quê Trong đó, thay đổi về chất có vai trò quyết định (Nguyễn Quang Dũng, 2010) Xây dựng nông thôn mới tập trung vào tổ chức thực hiện các nội dung phát triển nông thôn tại cấp cơ sở Việc quản lý và thực hiện trên cơ sở cấp quản lý chính quyền tiếp xúc trực tiếp với cộng đồng dân cư Nó có giới hạn về phạm vi địa lý với vùng diện tích tương đối nhỏ, tương ứng với phạm vi sinh sống của mỗi cộng đồng dân cư nông thôn Xây dựng nông thôn mới là một quá trình liên tục, lâu dài Các nội dung sẽ bao trùm tất cả các hoạt động phát triển nông thôn tại cấp cơ sở Có nhiều bên với vai trò khác nhau sẽ tham gia vào quá trình xây dựng nông thôn mới, đó là người dân, Nhà nước, các tổ chức và cá nhân khác (Nguyễn Quang Dũng, 2010) 2.1.2.8 Trình tự xây dựng nông thôn mới

Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC ngày 13/4/2011 của Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính quy định chương trình xây dựng nông thôn mới gồm 7 bước sau:

- Bước 1: Thành lập hệ thống quản lý, thực hiện

- Bước 2: Tổ chức thông tin, tuyên truyền về thực hiện Chương trình xây dựng NTM (được thực hiện trong suốt quá trình triển khai thực hiện)

Trang 26

- Bước 3: Khảo sát đánh giá thực trạng nông thôn theo 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia NTM

- Bước 4: Xây dựng quy hoạch NTM của xã

- Bước 5: Lập, phê duyệt đề án xây dựng NTM của xã

cư, của các cộng đồng nông thôn một cách bền vững, đều có thể coi là hoạt động, nội dung của PTNT

2.1.3.2 Vị trí và phạm vi của chương trình NTM

Xây dựng NTM là việc tập trung thực hiện các nội dung PTNT tại cấp cơ sở Trong đó, có sự tham gia của nhiều bên liên quan khác nhau Sự tham gia của Nhà nước có vai trò rất quan trọng để có thể thúc đẩy PTNT cấp cơ sở ở vùng nông thôn trên phạm vi cả nước, đưa đến một mặt bằng chung, nhất là có thể tạo ra động lực cho sự phát triển mạnh mẽ về chất trong các giai đoạn tiếp theo

Nhà nước cần thiết kế và xây dựng một chương trình NTM nằm trong bối cảnh xây dựng NTM Chương trình NTM là một chương trình do Nhà nước chủ trì, thực hiện hỗ trợ một số lĩnh vực cụ thể về quản lý, kỹ thuật và nguồn lực trong việc xây dựng NTM Các lĩnh vực, cách thức hỗ trợ của Nhà nước trong chương trình NTM phải là thiết yếu, có hiệu quả, tạo ra tác động tích cực trong xây dựng NTM cấp cơ sở Nếu như xây dựng NTM là một quá trình lâu dài thì chương trình NTM được thực hiện trong một khung thời gian nhất định

Như vậy, chương trình NTM do Nhà nước khởi xướng và thiết kế chương trình, trong đó có phần hỗ trợ quan trọng và phù hợp của Nhà nước nhắm đến việc

Trang 27

xây dựng NTM Chương trình NTM thường có khung thời gian trong giai đoạn 5 -

10 năm đầu của quá trình xây dựng NTM

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

2.2.1 Thực trạng về xây dựng nông thôn mới ở một số nước trên thế giới

2.2.1.1 Nhật Bản

Con đường hiện đại hóa nông nghiệp theo mô hình tiết kiệm đất đai

Bắt đầu từ thời Minh Trị Duy Tân cho đến trước khi công nghiệp phát triển nhanh chóng sau chiến tranh, lương thực luôn là một trong những vấn đề chủ yếu

mà Nhật Bản phải đối diện Một mặt, họ mưu cầu có thể tự cung cấp lương thực, mặt khác lại gặp phải tình trạng nông nghiệp mất dần ưu thế, vấn đề điều chỉnh nông nghiệp của Nhật Bản lúc này cực kỳ cấp thiết

Năm 1870, Nhật Bản nhập nông cụ, phân bón và giống từ các nước Âu, Mỹ nhằm hiện đại hóa nông nghiệp, mô phỏng Âu, Mỹ thiết lập các xưởng chế tạo nông

cụ, bãi ươm giống, ruộng thí nghiệm Nhưng thực tiễn đã chứng minh, con đường hiện đại hóa nông nghiệp theo mô hình “tiết kiệm lao động” của Âu, Mỹ không phù hợp với một Nhật Bản lạc hậu về kinh tế, đất chật người đông, quy mô nông điền nhỏ Xuất phát từ thực tế đó, Nhật Bản lựa chọn một phương thức kinh doanh theo

mô hình “tiết kiệm đất đai”, nhằm nhiều vào lao động và phân bón, cải thiện hệ thống thủy lợi nội đồng, nhân rộng các giống cây trồng tốt, sử dụng nhiều phân bón hóa học, phát triển kỹ thuật canh tác kinh doanh mô thức nhỏ kết hợp giữa tập trung lao động và tập trung đất đai

Đến giữa những năm 50 của thế kỷ XX, sự tăng tốc của công nghiệp hóa ở Nhật Bản đã thu hút một lượng lớn sức lao động của nông nghiệp, lực lượng lao động ở nông thôn trở nên thiếu hụt Nhưng lúc này, Nhật Bản đã kịp chuẩn bị điều kiện “tư bản thay thế lao động” Công nghiệp hóa cung cấp cho nông nghiệp một lượng lớn máy móc công cụ, bắt đầu thời kỳ cơ khí hóa nông nghiệp quy mô lớn Máy cày động lực và máy kéo dùng trong nông nghiệp ở Nhật Bản đã tăng từ 90 ngàn chiếc (năm 1955) lên gần 400 ngàn chiếc (đầu những năm 1970), cơ bản hoàn thành hiện đại hóa nông nghiệp Nhưng cũng vào thời kỳ này, chính sự bảo hộ nông nghiệp của Nhật Bản gặp phải sự phản đối của các tập đoàn lợi ích thương nghiệp, công nghiệp và người tiêu dùng Về sau, khi công nghiệp phát triển nhanh chóng, sự tẩy chay đối với nông nghiệp ở trong nước mới mất đi Đoàn thể nông nghiệp đã thành công trong công việc đề xướng và thực thi bảo hộ nông nghiệp ở trình độ cao nhất thế giới

Trang 28

Để có một nền nông nghiệp phát triển như vậy, chính phủ Nhật Bản đã nắm vai trò chủ đạo, mạnh dạn đầu tư hơn 2000 tỷ yên để làm các hạng mục xây dựng cơ bản của nông thôn, cải thiện môi trường, đưa nước, đường, điện, điện thoại, đến từng hộ dân, miễn phí hoàn toàn giáo dục sơ đẳng, tạo dựng cơ sở để thành thị và nông thôn tác động tốt tới nhau Về cơ bản, quốc gia này đã làm tốt việc phát triển cân bằng, bền vững (Tuấn Anh, 2012)

2.2.1.2 Hàn Quốc: Phong trào nông thôn mới - Saemaul Undong

Vào cuối thập kỷ 60 của thế kỷ XX, Hàn Quốc là nước nghèo, lạc hậu, người dân khổ cực, thiếu đói triền miên Nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp trong khi lũ lụt, hạn hán thường xuyên xảy ra Thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt 85 USD Mặc dù đã có nhiều biện pháp để tăng năng suất lương thực nhưng nhìn chung nông thôn Hàn Quốc còn rất lạc hậu Xã hội bị phân chia thành hai khối có đời sống tinh thần khác hẳn nhau Trong khi một bộ phận dân cư thành thị tích cực học tập, với quyết tâm đổi đời thì đại bộ phận nông dân vẫn sống trong cảnh nghèo nàn, mang trong mình tư tưởng bi quan, ỷ lại, lối thoát duy nhất của họ là rời bỏ quê hương, di chuyển về đô thị

Xuất phát từ tình hình trên, phong trào “Saemaul Undong” ra đời với mục đích biến đổi cộng đồng nông thôn cũ thành cộng đồng nông thôn theo tinh thần: Mọi người làm việc và hợp tác với nhau xây dựng cộng đồng mình ngày một đẹp hơn và giàu hơn Cuối cùng là để xây dựng một quốc gia ngày một giàu mạnh hơn dựa trên nền tảng “khuyến khích người dân tự hợp tác để giúp đỡ nhau phát triển”, theo quan điểm “viện trợ của Chính phủ cũng là vô nghĩa nếu người dân không nghĩ cách tự giúp mình” Tinh thần “Saemaul Undong” được xây dựng trên 3 trụ cột: Chuyên cần - Tự giác - Hợp tác Đó là những giá trị xuyên suốt quá trình phát triển nông thôn nói riêng, xã hội Hàn Quốc nói chung, đóng góp lớn đưa GDP bình quân của Hàn Quốc từ 85 USD lên 20.000 USD sau 30 năm phát triển

Trong thập niên 70, chính phủ nhìn thấy tiềm lực của Saemaul Undong nhưng

do ngân sách hạn hẹp nên không thể đưa các dự án về nông thôn Những khoản vốn nhỏ giọt từ ngân sách chỉ đủ gói gọn trong 10 nội dung thí điểm phát triển nông thôn trong đó tập trung vào việc: Mở rộng và nâng cấp đường giao thông; cải tạo và nâng cấp nhà ở; chỉnh sửa, làm lại bếp và hàng rào; xây dựng cầu; cải tạo và nâng cấp hệ thống thủy lợi để cấp nước sinh hoạt và sản xuất; xây dựng các khu vực giặt giũ công cộng; xây dựng giếng nước; xây dựng cầu; cải tạo và nâng cấp hệ thống

Trang 29

thủy lợi để cấp nước sinh hoạt và sản xuất; xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu

Để thực hiện các nội dung đó, Hàn Quốc chia thành các giai đoạn sau:

Năm thứ nhất: Chính phủ cấp cho 32 ngàn xã, mỗi xã 355 bao xi măng và giao cho chính quyền xã tổ chức thực hiện Các hoạt động khác được lấy từ ngân sách địa phương và lực lượng lao động sẵn có Sau một năm, 16 nghìn xã (50%) đạt mục tiêu đề ra

Năm thứ hai: Chính phủ tiếp tục cấp thêm cho những xã tự vươn lên bằng chính sức mình 500 bao xi măng và 1 tấn thép Kết quả là tranh vách đất được thay bằng nhà gạch, đường xá được mở rộng, đê điều được tu bổ, cầu cống được xây dựng Đặc biệt, chương trình này đã giúp cho người dân nông thôn xóa được mặc cảm, tự vươn lên, tạo nền tảng cho phát triển kinh tế và đô thị

Năm thứ ba: Chính phủ chia 32 ngàn xã làm 3 loại: Cơ sở - Tự lực - Tự lập để

hỗ trợ kinh phí dựa trên cấp độ phát triển của từng loại và tiếp tục phát triển các dự

án sau phù hợp với yêu cầu nông thôn mới

Sau 8 năm triển khai phong trào Saemaul Undong, nông thôn Hàn Quốc đạt được những thành tựu to lớn: Cơ bản hoàn thành xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, với 42.000 km đường liên thôn, 69.000 km đường nội đồng; đời sống nông dân thay đổi, thu nhập tăng lên 03 lần so với 7 năm trước đó, đạt 3.000 USD/người/năm (năm 1977), cao hơn thu nhập bình quân của hộ dân ở thành phố Khu vực nông thôn trở thành xã hội năng động, có khả năng tự tích lũy, tự đầu tư và phát triển Thành quả của phong trào Saemaul undong đã tạo tiền đề xây dựng xã hội Hàn Quốc ngày càng hưng thịnh Là quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển ở Đông Bắc Á, song Hàn Quốc vẫn đảm bảo việc làm ổn định cho 2,3 triệu lao động nông nghiệp (chiếm 11,6% lao động cả nước)

Kinh nghiêm rút ra từ phong trào Saemaul Undong là: Phát huy nội lực của nhân dân với sự hỗ trợ giảm dần của Nhà nước để xây dựng nông thôn mới Xây dựng nông thôn mới là quá trình lâu dài nhưng trước mắt tập trung hoàn thiện điều kiện sống của người dân; xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống, đồng thời phát triển các hình thức kinh tế hợp tác trong nông thôn Nhà nước hỗ trợ nông dân thông qua hình thức cho vay với lãi suất phù hợp để phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho nông dân thông qua các hình thức: Tăng năng suất cây trồng; xây dựng vùng chuyên canh; xây dựng các hình thức hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, phát triển chăn nuôi, trồng rừng đa canh ; đào tạo đội ngũ cán bộ

Trang 30

phát triển nông thôn, đặc biệt là người lãnh đạo chương trình ở các xã; thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở để xây dựng nông thôn mới và xã hội hóa công tác bảo vệ, phát triển môi trường nông thôn (Tuấn Anh, 2012)

2.2.1.3 Xây dựng nông thôn mới ở Trung Quốc

Từ đầu những năm 80 của thế kỷ 20, Trung Quốc đã chọn hướng phát triển nông thôn bằng cách phát huy những công xưởng nông thôn thừa kế được của những công xã nhân dân trước đây, thay đổi sở hữu và phương thức quản lý để phát triển mô hình “công nghiệp hưng trấn” Các lĩnh vực như chế biến nông lâm sản, hàng công nghiệp nhẹ, máy móc nông cụ phục vụ sản xuất nông nghiệp đang ngày càng được đẩy mạnh

Nguyên tắc của Trung Quốc là quy hoạch đi trước, định ra các biện pháp thích hợp cho từng nơi, đột phá trọng điểm, làm mẫu đường Chính phủ hỗ trợ, nông dân xây dựng Với mục tiêu “ly nông bất ly hương” Trung Quốc đã thực hiện đồng thời 3 chương trình phát triển nông nghiệp và phát triển nông thôn

- Chương trình đốm lửa: điểm khác biệt của chương trình này là trang bị cho hàng triệu nông dân các tư tưởng, tiến bộ khoa học, bồi dưỡng nhân tài đốm lửa, nâng cao tố chất nông dân Sau 15 năm thực hiện, chương trình đã bồi dưỡng được

60 triệu thanh niên nông thôn thành một đội ngũ cán bộ khoa học cốt cán, tạo ra một động lực tiềm năng thúc đẩy nông thôn phát triển theo kịp với thành thị

- Chương trình được mùa: chương trình này giúp đại bộ phận nông dân áp dụng khoa học tiên tiến, phương thức quản lý hiện đại để phát triển nông nghiệp, nông thôn Trong 15 năm sản lượng lương thực của Trung Quốc đã tăng lên 3 lần so với những năm đầu 70 Mục tiêu phát triển nông nghiệp là sản xuất các nông sản chuyện dụng, phát triển chất lượng và tăng cường chế biến nông sản phẩm

- Chương trình giúp đỡ vùng nghèo: mục tiêu là nâng cao mức sống của các vùng nghèo, vùng miền núi, dân tộc ít người; mở rộng ứng dụng thành tựu khoa học tiên tiến, phổ cập tri thức khoa học công nghệ và bồi dưỡng cán bộ khoa học cốt cán cho nông thôn xa xôi, tăng sản lượng lương thực và thu nhập của nông dân Sau khi thực hiện chương trình, ở những vùng này, số dân nghèo giảm từ 1,6 triệu người xuống còn 5 vạn người, diện nghèo khó giảm từ 47% xuống còn 1,5%

Tại hội nghị toàn thể Trung Ương lần thứ 5 khóa XVI của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, năm 2005, lần đầu tiên Trung Quốc đưa ra quy hoạch “Xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa” Đây là kế hoạch xây dựng mới đã được Trung Quốc

Trang 31

đưa vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 05 năm lần thứ XI (2006 - 2010) Mục tiêu của quy hoạch là: “sản xuất phát triển, cuộc sống dư dật, làng quê văn minh, thôn xã sạch sẽ, quản lý dân chủ” Xây dựng nông thôn mới Trung Quốc tạo nên một hình ảnh mới đầy ấn tượng về một “nông thôn Trung Quốc” đầy vẻ đẹp tráng lệ

Tuy vậy, dù với rất nhiều cố gắng, phát triển nông thôn cấp cơ sở và nông thôn mới tại Trung Quốc cũng chưa đạt được các mục tiêu đề ra để thúc đẩy phát triển khu vực nông thôn Mô hình nông thôn mới của Trung Quốc chưa được coi là thành công khi hiện nay, khoảng cách giữa khu vực thành thị và nông thôn vẫn đang ngày càng rộng ra Còn tồn tại nhiều vấn đề trong khu vực nông nghiệp, nông thôn Trung Quốc (Nguyễn Quang Dũng, 2010)

2.2.1.4 Thái Lan: Sự trợ giúp mạnh mẽ của nhà nước

Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống với dân số nông thôn chiếm khoảng 80% dân số cả nước Để thúc đẩy sự phát triển bền vững nền nông nghiệp, Thái Lan đã áp dụng một số chiến lược như: Tăng cường vai trò của cá nhân và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độ của từng cá nhân và tập thể bằng cách mở các lớp học và các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giải quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp; giảm nguy cơ rủi ro và thiết lập hệ thống bảo hiểm rủi ro cho nông dân

Đối với các sản phẩm nông nghiệp, Nhà nước đã hỗ trợ để tăng sức cạnh tranh với các hình thức, như tổ chức hội chợ triển lãm hàng nông nghiệp, đẩy mạnh công tác tiếp thị; phân bổ khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học và hợp lý,

từ đó góp phần ngăn chặn tình trạng khai thác tài nguyên bừa bãi và kịp thời phục hồi những khu vực mà tài nguyên đã bị suy thoái; giải quyết những mâu thuẫn có liên quan đến việc sử dụng tài nguyên lâm, thủy hải sản, đất đai, đa dạng sinh học, phân bổ đất canh tác Trong xây dựng kết cấu hạ tầng, Nhà nước đã có chiến lược trong xây dựng và phân bố hợp lý các công trình thủy lợi lớn phục vụ cho nông nghiệp Hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết đất canh tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác trong sản xuất nông nghiệp Chương trình điện khí hóa nông thôn với việc xây dựng các trạm thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước…

Về lĩnh vực công nghiệp phục vụ nông nghiệp, chính phủ Thái Lan đã tập trung vào các nội dung sau: Cơ cấu lại ngành nghề phục vụ phát triển công nghiệp

Trang 32

nông thôn, đồng thời cũng xem xét đến các nguồn tài nguyên, những kỹ năng truyền thống, nội lực, tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất và tiếp thị song song với việc cân đối nhu cầu tiêu dùng trong nước và nhập khẩu

Thái Lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng nông nghiệp, thủy hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp chế biến nông sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nhất là các nước công nghiệp phát triển Ngành công nghiệp chế biến thực phẩm ở Thái Lan phát triển rất mạnh nhờ một số chính sách sau:

- Chính sách phát triển nông nghiệp: Một trong những nội dung quan trọng nhất của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2000-2005 là kế hoạch cơ cấu lại mặt hàng nông sản của Bộ Nông nghiệp Thái Lan, nhằm mục đích nâng cao chất lượng và sản lượng của 12 mặt hàng nông sản, trong đó có các mặt hàng: gạo, dứa, tôm sú, gà và cà phê Chính phủ Thái Lan cho rằng, càng có nhiều nguyên liệu cho chế biến thì ngành công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm mới phát triển và càng thu được nhiều ngoại tệ cho đất nước Nhiều sáng kiến làm gia tăng giá trị cho nông sản được khuyến khích trong chương trình Mỗi làng một sản phẩm và chương trình Quỹ làng

- Chính sách bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm: Chính phủ Thái Lan thường xuyên thực hiện chương trình quảng bá vệ sinh an toàn thực phẩm Năm 2004, Thái Lan phát động chương trình “Năm an toàn thực phẩm và Thái Lan là bếp ăn của thế giới” Mục đích chương trình này là khuyến khích các nhà chế biến và nông dân có hành động kiểm soát chất lượng vệ sinh thực phẩm để bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Bên cạnh đó, Chính phủ thường xuyên hỗ trợ cho doanh nghiệp cải thiện chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm Do đó, ngày nay, thực phẩm chế biến của Thái Lan được người tiêu dùng ở các thị trường khó tính, như Hoa Kỳ, Nhật Bản và EU chấp nhận

- Mở cửa thị trường khi thích hợp: Chính phủ Thái Lan đã xúc tiến đầu tư, thu hút mạnh các nhà đầu tư nước ngoài vào liên doanh với các nhà sản xuất trong nước

để phát triển ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, thông qua việc mở cửa cho các quốc gia dù lớn hay nhỏ vào đầu tư kinh doanh Trong tiếp cận thị trường xuất khẩu, Chính phủ Thái Lan là người đại diện thương lượng với chính phủ các nước

để các doanh nghiệp đạt được lợi thế cạnh tranh trong xuất khẩu thực phẩm chế biến Bên cạnh đó, Chính phủ Thái Lan có chính sách trợ cấp ban đầu cho các nhà

Trang 33

máy chế biến và đầu tư trực tiếp vào kết cấu hạ tầng như: Cảng kho lạnh, sàn đấu giá và đầu tư vào nghiên cứu và phát triển; xúc tiến công nghiệp và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Xúc tiến công nghiệp là trách nhiệm chính của Cục Xúc tiến công nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp, nhưng việc xúc tiến và phát triển công nghiệp chế biến thực phẩm ở Thái Lan do nhiều cơ quan cùng thực hiện Chẳng hạn, trong

Bộ Nông nghiệp và Hợp tác xã, cùng với Cục Xúc tiến nông nghiệp, Cục Hợp tác

xã giúp nông dân xây dựng hợp tác xã để thực hiện các hoạt động, trong đó có chế biến thực phẩm; Cục Thủy sản giúp đỡ nông dân từ nuôi trồng, đánh bắt đến chế biến thủy sản Cơ quan Tiêu chuẩn sản phẩm công nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp xúc tiến tiêu chuẩn hoá và hệ thống chất lượng; Cơ quan Phát triển công nghệ và khoa học quốc gia xúc tiến việc áp dụng khoa học và công nghệ cho chế biến; Bộ Đầu tư xúc tiến đầu tư vào vùng nông thôn (Tuấn Anh, 2012)

2.2.2 Thực trạng xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam

Đối với nước ta, Đảng và Nhà nước đã chủ trương đẩy mạnh CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn nhằm mục tiêu phát triển nông thôn theo hướng hiện đại, đảm bảo phát triển cả về kinh tế và đời sống xã hội Đi theo đường lối của Đảng, từng địa phương trong cả nước tiến hành phát triển kinh tế mà trước hết là phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn, trong đó có chú trọng phát triển công nghiệp nông thôn Nhằm mục tiêu đó, Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 Hội nghị lần thứ

7, BCH Trung ương khóa X của Đảng đã đề ra nhiệm vụ thực hiện mục tiêu hiện đại hóa nông thôn Việt Nam vào cuối năm 2020 Chính phủ, các bộ ngành, địa phương đã có nhiều văn bản chỉ đạo thực hiện như: Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới; Thông tư số 07/2010/TT-BNNPTNT ngày 8/2/2010 của Bộ Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn hướng dẫn quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp cấp

xã theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới; Thông tư số 09/2010/TT-BXD ngày 04/8/2010 của Bộ Xây dựng về Quy định việc lập nhiệm vụ, đồ án quy hoạch về quản lý quy hoạch xây dựng xã nông thôn mới;

Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, quan trọng và có tính chiến lược để thực hiện thành công Nghị quyết 26-NQ/TW của Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, là một chủ trương đúng đắn, hợp lòng dân của Đảng, nhà nước, đã được nhân dân đồng tình và hưởng ứng tích cực Trong 05 năm qua, Đảng, Quốc hội,

Trang 34

Chính phủ cùng các Bộ, ngành, các cấp ủy, chính quyền và cả hệ thống chính trị, nhân dân đã chung vai, góp sức thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới Đến nay đã được triển khai tích cực, có chương trình hành động, kế hoạch triển khai cụ thể, rõ ràng, đúng hướng, Chương trình đã làm thay đổi nhận thức của đa số cán bộ và người dân, từ trông chờ, ỷ lại vào đầu tư của Nhà nước, sang tự chủ thực hiện và đạt được nhiều kết quả quan trọng, được nhân dân đồng tình, ủng hộ

và tham gia tích cực; Chương trình xây dựng nông thôn mới đã trở thành phong trào thi đua, phong trào quần chúng sôi nổi và đều khắp trong cả nước Đội ngũ cán bộ vận hành Chương trình, đặc biệt là đội ngũ cán bộ cơ sở đã có tiến bộ rõ rệt Vai trò của các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể ở nhiều nơi được phát huy, dân chủ ở nông thôn được nâng lên về chất, tạo nên nhiều chuyển biến mới trong nông nghiệp,

bộ mặt nông thôn được đổi mới, đời sống nông dân được nâng lên

Đến nay có 1.298 xã đạt 19 tiêu chí (đạt 14,5%), dự kiến cuối năm đạt 1.500

xã (đạt 16%); số tiêu chí đạt chuẩn bình quân cả nước tăng từ 4,7 tiêu chí/xã năm

2010 lên 12,9 tiêu chí/xã năm 2015 (tăng 8,2 tiêu chí); 183 xã có khó khăn đã nỗ lực vươn lên (từ xuất phát điểm dưới 3 tiêu chí, nay đã đạt được 10 tiêu chí trở lên);

đã có 11 đơn vị cấp huyện được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới và có 8 huyện, thị xã đang đề nghị Ban Chỉ đạo Trung ương thẩm định, công nhận đạt chuẩn nông thôn mới năm 2015 Trong quá trình triển khai thực hiện xây dựng nông thôn mới,

đã xuất hiện nhiều mô hình, cách làm hay, kinh nghiệm tốt Cụ thể có tới 22.000 mô hình sản xuất nông nghiệp tiên tiến, hiệu quả; thu nhập của người nông dân đạt 24,4 triệu đồng/năm (tăng lên 1,9 lần so với 2010, mục tiêu đề ra là tăng 1,5 lần); tỷ lệ hộ nghèo nông thôn đến hết 2015 là 8,2%, giảmbình quân 2% năm trong thời điểm kinh tế khó khăn

Bên cạnh những kết quả rất quan trọng đã đạt được, việc thực hiện Chương trình trong thời gian qua vẫn còn một số hạn chế: Tiến độ triển khai nhìn chung còn chậm so với mục tiêu, yêu cầu (mục tiêu tới năm 2015 có 20% xã đạt tiêu chí nông thôn mới như Nghị quyết Trung ương 7 khóa X đã đề ra); nhận thức của một bộ phận cán bộ đảng viên và người dân về những nội dung thiết yếu của Chương trình chưa đầy đủ, việc quan tâm chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền ở một số nơi chưa thường xuyên, sâu sát; các nội dung về phát triển sản xuất gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp, xây dựng đời sống văn hóa, bảo vệ môi trường chưa được quan tâm đúng mức Nhiều địa phương đã chú trọng thực hiện các nội dung xây dựng nông thôn mới do cấp xã đảm nhận, nhưng chưa chú trọng đúng mức thực hiện các nội

Trang 35

dung ở cấp thôn và hộ gia đình; một số cơ chế, chính sách, không phù hợp, chậm được bổ sung điều chỉnh sửa đổi; còn có sự chênh lệch lớn về kết quả thực hiện giữa các vùng, miền (số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới ở Đông Nam Bộ là 34%, Đồng bằng sông Hồng là 23,5%, miền núi phía Bắc và Tây Nguyên mới chỉ đạt khoảng 7%) Nguồn lực Trung ương và huy động nguồn lực xã hội cho Chương trình còn thấp nhiều so với yêu cầu thực tế (Chương trình triển khai vào thời kỳ suy thoái kinh tế nên việc huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới gặp nhiều khó khăn), một số địa phương chạy theo thành tích nên có biểu hiện huy động quá sức dân, nợ đọng xây dựng cơ bản không có khả năng trả, hoặc khi đánh giá chất lượng tiêu chí còn xuê xoa; việc triển khai và vận dụng khi xây dựng các tiêu chí ở một số địa phương còn máy móc, kém hiệu quả, thậm chí gây lãng phí nguồn lực; chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn chậm phát huy hiệu quả như mong đợi (Văn phòng Chính phủ, 2015)

2.2.3 Thực trạng xây dựng nông thôn mới tỉnh Hưng Yên

Qua 5 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, đến nay Hưng Yên có 38 xã cơ bản đạt 19 tiêu chí, trong đó có 32 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới và không còn xã nào đạt dưới 10 tiêu chí Bình quân toàn tỉnh đạt 14,7 tiêu chí/ xã tăng 8,1 tiêu chí so với năm 2011 Cũng qua 5 năm thực hiện, Hưng Yên đã huy động được một nguồn lực tương đối lớn (gần 28 nghìn tỷ đồng) để xây dựng nông thôn mới, trong đó: 2.201,4 tỷ đồng đầu tư trực tiếp từ ngân sách; 1.566,9 tỷ đồng vốn lồng ghép các chương trình, dự án; đặc biệt, nguồn lực huy động từ nhân dân chiếm tới trên 70%; các tổ chức tín dụng đóng trên địa bàn tỉnh đã cho vay với tổng dư nợ lũy kế đến nay khoảng 13.519 tỷ đồng để phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn; đến nay, toàn tỉnh đã có 146 xã, phường, thị trấn xử lý đất dôi dư, với diện tích đã được xử lý là 20,28 ha, kinh phí thu được khoảng 129,5 tỷ đồng, đã thu nộp ngân sách nhà nước 111,3 tỷ đồng

Toàn tỉnh có 120 xã triển khai dồn thửa đổi ruộng, trong đó 53 xã đã giao ruộng xong Trong quá trình dồn thửa đổi ruộng tại 20 xã điểm, đã vận động nhân dân dành hơn 178 ha đất, đóng góp trên 12,5 tỷ đồng và hàng nghìn ngày công lao động để xây dựng các công trình hạ tầng phục vụ phát triển sản xuất và đời sống dân sinh

Trang 36

PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

Đề tài được nghiên cứu trên địa huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên Huyện Ân Thi nằm về phía Đông của tỉnh trên trục Quốc Lộ 38 và Tỉnh lộ 200 Nghiên cứu điểm tại xã Đa Lộc và xã Hạ Lễ

3.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

- Nông thôn mới các xã trong huyện Ân Thi được điều tra từ trước khi có đề

án quy hoạch xây dựng nông thôn mới (năm 2011)

- Số liệu hiện trạng về đất đai, kinh tế xã hội lấy đến 31/12/2016

- Tình hình thực quy hoạch xây dựng nông thôn mới được điều tra đến tháng 12/2016

3.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

- Các văn bản pháp lý có liên quan đến xây dựng NTM

- Phương án quy hoạch xây dựng NTM tại các xã trong huyện Ân Thi

- Tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng NTM tại 2 xã Hạ Lễ và xã Đa Lộc, huyện Ân Thi

3.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

3.4.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Ân Thi

- Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và cảnh quan môi trường

- Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội

- Thực trạng phát triển nông thôn huyện Ân Thi

3.4.2 Đánh giá tình hình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Ân Thi 3.4.2.1 Kết quả thực hiện bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện

3.4.2.2 Tình hình thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện

3.4.2.3 Những tồn tại trong thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Ân Thi

Trang 37

3.4.3 Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới xã Hạ

Lễ và xã Đa Lộc

3.4.4 Đề xuất giải pháp thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Ân Thi

3.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.5.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

Đến năm 2016 qua điều tra và rà soát kết quả thực hiện quy hoạch nông thôn mới tổng số tiêu chí đạt được trên địa bàn toàn huyện là 328 tiêu chí Bình quân toàn huyện đạt 16,40 tiêu chí/xã Kết quả thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện toàn được chia làm 2 nhóm như sau:

Nhóm 1: Các xã thực hiện khá (đạt từ 14 - 16 tiêu chí): Đạt 14/19 tiêu chí có

01 xã (Quang Vinh) Đạt 15/19 tiêu chí có 11 xã (Bãi Sậy, Bắc Sơn, Đào Dương, Xuân Trúc, Quảng Lãng, Đặng Lễ, Cẩm Ninh, Văn Nhuệ, Tùng Mậu, Hồng Vân,

Đa Lộc) Đạt 16/19 tiêu chí có 01 xã (Tiền Phong)

Nhóm 2: Các xã thực hiện tốt (đạt xã nông thôn mới: ): Đạt 19/19 tiêu chí có

07 xã (Hồng Quang, Vân Du, Phù Ủng, Tân Phúc, Hoa Thám, Nguyễn Trãi, Hạ Lễ)

Từ kết quả đánh giá chung về tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại huyện Ân Thi tiến hành chọn ngẫu nhiên 2 xã từ 02 nhóm (nhóm thực hiện tốt và nhóm thực hiện khá) là xã Hạ Lễ và xã Đa Lộc để nghiên cứu điểm để phân tích, đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới nhằm tìm hiểu những tồn tại trong quá trình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới 3.5.2 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu, tài liệu

a Điều tra thu thập số liệu thứ cấp

- Tại UBND, các phòng ban chức năng của huyện Ân Thi, các báo cáo tổng kết, phương tiện thông tin

- Nội dung: Các số liệu, tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, tình hình

sử dụng và biến động đất đai, biến động đất nông nghiệp, phát triển khu dân cư mới, tình hình cơ sở hạ tầng, giao thông thủy lợi, quá trình phát triển kinh tế - xã hội - môi trường trong 5 năm qua, các kết quả đạt được sau 5 năm thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới Tình hình công tác quy hoạch nông thôn mới trên toàn huyện

Trang 38

b Điều tra thu thập số liệu sơ cấp

- Điều tra tại UBND xã nghiên cứu điểm xã Hạ Lễ và xã Đa Lộc

- Nội dung điều tra:

+ Việc thực hiện quy hoạch nông thôn mới tại xã Hạ Lễ và xã Đa Lộc

+ Việc thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại 2 xã

+ Điều tra, khảo sát, và đánh giá các số liệu có liên quan đến việc thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại các xã

- Để thu thập các thông tin liên quan đến đề tài, tôi tiến hành thu thập số liệu

sơ cấp thông qua 100 phiếu điều tra được thiết kế sẵn, đối tượng lựa chọn khảo sát

là người dân trên địa bàn 2 xã được chọn (bao gồm một số nội dung như hiểu biết của người dân về xây dựng nông thôn mới, sự đóng góp của người dân trong xây dựng nông thôn mới như: hiến đất để xây dựng cơ sở hạ tầng, đóng góp ngày công, nguồn vốn…) Qua việc điều tra, phỏng vấn chúng ta có thể thấy được những khó khăn và thuận lợi trong quá trình thực hiện xây dựng NTM

3.5.3 Phương pháp đánh giá

Bộ chỉ tiêu đánh giá: Sử dụng bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới của tỉnh Hưng Yên Bao gồm các nhóm tiêu chí sau:

- Nhóm tiêu chí về Quy hoạch

- Nhóm tiêu chí về Hạ tầng kinh tế - xã hội

- Nhóm tiêu chí về Kinh tế và tổ chức sản xuất

- Nhóm tiêu chí về Văn hóa - xã hội - môi trường

So sánh trước và sau khi thực hiện quy hoạch NTM huyện Ân Thi So sánh các tiêu chí trong Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới của các xã điều

Trang 39

tra theo các giai đoạn thời gian khác nhau (trước và sau khi có quy hoạch xây dựng NTM) Từ đó thấy được sự khác biệt khi thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới

So sánh việc thực hiện xây dựng nông thôn mới tại 2 xã trong huyện Ân Thi

để đánh giá kết quả thực hiện những mặt được và chưa được được, từ đó tìm hiểu những tồn tại trong quá trình thực hiện xây dựng nông thôn mới

Kết quả thực hiện các tiêu chí được đưa ra đánh giá với các chỉ tiêu quy hoạch được duyệt

Sử dụng phương pháp đối chiếu, so sánh giữa kết quả thực hiện các chỉ tiêu với chỉ tiêu quy hoạch được duyệt và so sánh thực trạng với các chỉ tiêu quy định 3.5.5 Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu

Sau khi đã thu thập được các thông tin, tư liệu cần thiết cho đề tài, tiến hành thống kê, phân loại tài liệu theo từng phần nhất định để xử lý các dữ liệu phục vụ cho xây dựng báo cáo Sử dụng các chỉ tiêu tổng hợp (số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân) để mô tả và phân tích thực trạng phát triển kinh tế xã hội sau 5 năm xây dựng Nông thôn mới Sử dụng phần mềm Excel để tổng hợp và phân tích số liệu điều tra

Trang 40

PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI HUYỆN ÂN THI 4.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và cảnh quan môi trường 4.1.1.1 Điều kiện tự nhiên

a Vị trí địa lý

Huyện Ân Thi là 01 trong 10 đơn vị hành chính của tỉnh Hưng Yên, nằm về phía Đông của tỉnh trên trục Quốc Lộ 38 và Tỉnh lộ 200 Có tổng diện tích tự nhiên

- Phía Bắc giáp huyện Mỹ Hào, huyện Yên Mỹ

- Phía Nam giáp huyện Phù Cừ, huyện Tiên Lữ

- Phía Đông giáp tỉnh Hải Dương

- Phía Tây giáp huyện Kim Động và huyện Khoái Châu

b Địa hình, địa mạo

Là huyện thuộc vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, đất đai tương đối bằng phẳng, chủ yếu bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi, kênh mương và đường giao thông Với địa hình như vậy rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, đặc biệt trong năm qua được sự chỉ đạo của UBND tỉnh, sự giúp đỡ của Sở Tài nguyên và Môi trường huyện Ân Thi đã tiến hành dồn ô đổi ruộng, tạo nên những thửa đất lớn dễ dàng áp dụng những tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất góp phần nâng cao hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp

c Khí hậu

Nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ, huyện Ân Thi chịu ảnh hưởng của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết trong năm được chia thành 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông, với đặc điểm khí hậu thời tiết khác nhau

- Mùa Hè: Từ tháng 6 đến tháng 8 nắng nóng, mưa nhiều

- Mùa Đông: Lạnh, hanh khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 02 năm sau

- 02 mùa chuyển tiếp Xuân, Thu thì khí hậu mát mẻ

Ngày đăng: 09/07/2021, 06:45

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w