- Để khắc phục những tồn tại, bất cập trong việc thực hiện quyền của người sử dụng đất, cần thực hiện các giải pháp như: Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về đất đai và việc thực hiện qu
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN VĂN HOÁN
ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN
CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT Ở TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN TIÊN DU – TỈNH BẮC NINH
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Phương Nam
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực, chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc./
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Hoán
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Phạm Phương Nam đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Khoa Quản lý đất đai - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ, công chức, viên chức Phòng Tài nguyên và Môi trường, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Tiên Du đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Hoán
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
1.4.1 Những đóng góp mới 2
1.4.2 Ý nghĩa khoa học 3
1.4.3 Ý nghĩa thực tiễn 3
Phần 2 Tổng quan tài liệu 4
2.1 Một số vấn đề lý luận liên quan đến quyền của người sử dụng đất 4
2.1.1 Quyền sở hữu về đất đai 4
2.1.2 Quyền sử dụng đất 7
2.1.3 Người sử dụng đất 7
2.1.4 Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất 8
2.1.5 Thủ tục hành chính thực hiện các quyền của người sử dụng đất 11
2.2 Thực hiện quyền đối với đất đai tại một số nước trên thế giới 12
2.2.1 Thụy Điển 12
2.2.2 Australia 14
2.2.3 Trung Quốc 16
2.2.4 Hàn Quốc 19
2.2.5 Kinh nghiệm về thực hiện quyền của người sử dụng đất đối với Việt Nam 20
Trang 52.3 Thực hiện các quyền sử dụng đất ở việt nam qua các giai đoạn 21
2.3.1 Khái quát chính sách về quyền sử dụng đất qua các thời kỳ 21
2.3.2 Thực trạng thực hiện quyền sử dụng đất của cả nước và tại tỉnh Bắc Ninh 34
Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 38
3.1 Địa điểm nghiên cứu 38
3.2 Thời gian nghiên cứu 38
3.3 Đối tượng nghiên cứu 38
3.4 Nội dung nghiên cứu 38
3.4.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 38
3.4.2 Thực trạng quản lý, sử dụng đất tại huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh 38
3.4.3 Kết quả thực hiện quyền sử dụng đất ở tại huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh 38
3.4.4 Đánh giá việc thực hiện quyền sử dụng đất ở tại huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh 38
3.4.5 Giải pháp hoàn thiện việc thực hiện quyền của người sử dụng đất tại huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh 38
3.5 Phương pháp nghiên cứu 38
3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 38
3.5.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 39
3.5.3 Phương pháp xử lý, phân tích, tổng hợp số liệu 40
3.5.4 Phương pháp so sánh 40
3.5.5 Phương pháp đánh giá 40
Phần 4 Kết quả và thảo luận 41
4.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 41
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 41
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 43
4.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Tiên Du 45
4.2 Thực trạng quản lý và sử dụng đất của huyện Tiên Du 47
4.2.1 Thực trạng quản lý đất đai 47
4.2.2 Hiện trạng sử dụng đất năm 2015 huyện Tiên Du 48
4.3 Kết quả việc thực hiện quyền sử dụng đất ở trên địa bàn huyện Tiên Du giai đoạn 2011- 2015 51
Trang 64.3.1 Trình tự, thủ tục đăng ký các quyền chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho,
thế chấp QSDĐ ở trên địa bàn huyện Tiên Du 51
4.3.2 Kết quả thực hiện quyền chuyển nhượng QSDĐ đất ở trên địa bàn huyện Tiên Du giai đoạn 2011-2015 53
4.3.3 Kết quả thực hiện quyền thừa kế quyền sử dụng đất ở trên địa bàn huyện Tiên Du giai đoạn 2011-2015 56
4.3.4 Kết quả thực hiện quyền tặng cho quyền sử dụng đất ở trên địa bàn huyện Tiên Du giai đoạn 2011-2015 58
4.3.5 Kết quả thực hiện quyền thế chấp quyền sử dụng đất ở trên địa bàn huyện Tiên Du giai đoạn 2011-2015 60
4.4 Đánh giá kết quả việc thực hiện quyền của người sử dụng đất ở tại huyện Tiên Du 63
4.4.1 Ý kiến đánh giá của các hộ gia đình, cá nhân về việc thực hiện quyền sử dụng đất ở 63
4.4.2 Đánh giá của cán bộ, viên chức 66
4.4.3 Đánh giá chung về tình hình thực hiện quyền của người sử dụng đất ở trên địa bàn huyện Tiên Du 68
4.5 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quyền của người sử dụng đất ở tại huyện Tiên Du 69
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 71
5.1 Kết luận 71
5.2 Kiến nghị 72
Trang 7
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
BTNMT Bộ Tài nguyên và Môi trường
CNVPĐKĐĐ Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Số phiếu điều tra hộ gia đình, cá nhân thực hiện quyền của người
SDĐ tại huyện Tiên Du 39 Bảng 4.1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2015 huyện Tiên Du 49 Bảng 4.2 Hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2015 huyện Tiên Du 50 Bảng 4.3 Tình hình thực hiện quyền chuyển nhượng QSDĐ trên địa bàn huyện
Tiên Du giai đoạn 2011 – 2015 55 Bảng 4.4 Kết quả tiếp nhận hồ sơ thừa kế QSDĐ ở trên địa bàn huyện Tiên Du
giai đoạn 2011 – 2015 57 Bảng 4.5 Kết quả tiếp nhận hồ sơ tặng cho QSDĐ ở trên địa bàn huyện Tiên Du
giai đoạn 2011 – 2015 59 Bảng 4.6 Kết quả tiếp nhận hồ sơ thế chấp QSDĐ ở trên địa bàn huyện Tiên Du
giai đoạn 2011 – 2015 62 Bảng 4.7 Ý kiến đánh giá của hộ gia đình, cá nhân về việc đón tiếp công dân tại
Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả giải quyết TTHC của huyện Tiên Du giai đoạn 2011-2015 64 Bảng 4.8 Ý kiến đánh giá của hộ gia đình, cá nhân về thời gian giải quyết công
việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả giải quyết TTHC 65 Bảng 4.9 Bảng tổng hợp các ý kiến góp ý của người sử dụng đất về thủ tục
hành chính 67 Bảng 4.10 Bảng tổng hợp đánh giá của cán bộ, viên chức thực hiện các thủ tục
hành chính về quyền sử dụng đất 67
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Vị trí địa lý huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh 41 Hình 4.2 Cơ cấu sử dụng đất năm 2015 huyện Tiên Du 48 Hình 4.3 Trình tự, thủ tục đăng ký chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho, thế chấp
QSDĐ tại huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh 51 Hình 4.4 Kết quả tiếp nhận hồ sơ chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho, thế chấp trên
địa bàn huyện Tiên Du giai đoạn 2011 – 2015 53
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Nguyễn Văn Hoán
Tên luận văn: “Đánh giá việc thực hiện quyền của người sử dụng đất ở trên địa
bàn huyện Tiên Du – tỉnh Bắc Ninh”
người sử dụng đất Phương pháp xử lý, phân tích, tổng hợp số liệu: Tổng hợp tình
hình chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế, thế chấp QSDĐ bằng phần mềm Microsoft Office Excel 2010 Phương pháp so sánh: Số liệu được tổng hợp theo từng đối tượng địa bàn là thị trấn, xã từng nội dung quyền sử dụng đất và từng năm để lập thành bảng, tiến hành phân tích, so sánh số liệu điều tra thực hiện quyền của người sử dụng đất ở
giữa các năm điều tra về tình hình thực hiện quyền của người sử dụng đất Phương
pháp đánh giá: Đánh giá việc thực hiện quyền của người sử dụng đất thông qua các
tiêu chí trong phiếu điều tra
Kết quả chính và kết luận:
- Theo kết quả thống kê đất đai tính đến ngày 31/12/2015, tổng diện tích đất tự nhiên trên địa bàn huyện là 9.568,65 ha (chiếm 100%), trong đó: Tổng diện tích đất nông nghiệp của toàn huyện là 3.575,29 ha (chiếm 37,36% tổng diện tích đất tự nhiên); diện tích đất phi nông nghiệp là 5.993,36 ha (chiếm 62,61% tổng diện tích đất tự nhiên); diện tích đất chưa sử dụng không còn Tổng số giấy chứng nhận đã cấp trong toàn huyện Trên địa bàn huyện Tiên Du việc cấp GCNQSD đất ở nông thôn đã cấp được 106.228 hộ đạt 96,21%, cấp GCNQSD đất ở đô thị, đã cấp 38.688 hộ, với tổng diện tích
đã cấp 768,25 ha, đạt 92,06 %
- Trong giai đoạn 2011 – 2015, huyện Tiên Du đã tiếp nhận tổng số 2571 hồ sơ
Trang 11chuyển nhượng QSDĐ ở trong đó xã Hoàn Sơn có số trường hợp chuyển nhượng cao nhất với 735 trường hợp, xã Tân Chi có số trường hợp chuyển nhượng thấp nhất với 57 trường hợp Thừa kế QSDĐ ở có 1100 trường hợp trong đó nhiều nhất là xã Phú Lâm với 156 trường hợp, thấp nhất là xã Hiên Vân với 37 trường hợp Tặng cho QSDĐ ở trong giai đoạn 2011 – 2015 có 963 trường hợp trong đó nhiều nhất là xã Phú Lâm với
143 trường hợp, ít nhất là xã Tân Chi với 23 trường hợp Trong giai đoạn nghiên cứu có
4150 hồ sơ thế chấp QSDĐ ở được đăng ký biến động tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Theo kết quả điều tra, 100% số hộ thực hiện chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho, thế chấp QSDĐ ở có đầy đủ GCNQSDĐ và 100% các hộ đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính khi chuyển quyền
- Qua số liệu điều tra thu thập ý kiến đánh giá của HGĐ, cá nhân; cán bộ, viên chức, có 30,64% HGĐ, cá nhân và cán bộ, viên chức đánh giá không hài lòng về điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho công tác đăng ký QSDĐ Đánh giá thông qua phiếu điều tra người thực hiện quyền sử dụng đất cho thấy, 34,11% HGĐ, cá nhân không hài lòng về thời hạn giải quyết TTHC với lý do chủ yếu là việc trả kết quả giải quyết TTHC chậm Việc thiếu cán bộ, viên chức thực hiện các TTHC về QSDĐ (17/21phiếu); sự phối hợp giữa cán bộ, viên chức của các phòng ban trong việc thực hiện quyền của người sử dụng đất chưa chặt chẽ (7/21 phiếu) được thể hiện qua phiếu điều tra cán bộ, viên chức là một trong số những lý do dẫn đến tình trạng chậm giải quyết, chậm trả kết quả giải quyết TTHC về QSDĐ theo quy định
- Để khắc phục những tồn tại, bất cập trong việc thực hiện quyền của người sử dụng đất, cần thực hiện các giải pháp như: Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về đất đai
và việc thực hiện quyền của người sử dụng đất; nâng cao hiệu quả hoạt động của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả giải quyết TTHC huyện Tiên Du; cải thiện, nâng cấp các trang thiết bị, cơ sở vật chất tại các cơ quan, đơn vị hành chính trên địa bàn huyện Tiên Du; tăng biên chế, đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, viên chức trong thực thi công vụ
Trang 12THESIS ABSTRACT
Master Candidate: Nguyen Van Hoan
Thesis title: "Evaluation of the implementation of the land use rights in Tien Du district
- Bac Ninh province"
Major: Land Management sector Code: 62.85.01.03
Educational Organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objetives:
- Evaluation of the implementation of land use rights in Tien Du district, Bac Ninh province;
- Propose some solutions in the implementation of land use rights in Tien Du district, Bac Ninh province
Research Methods: Data on natural conditions, economic - social is collected in
offices, units Tien Du district Methods of collecting primary data: Survey of 173 people have made the transfer of land use rights at the branch office of land registration and 21 officials directly linked to the rights of land users Treatment methods, analysis, and synthesis of data: To review the situation to transfer, donate, bequeath or mortgage
of land use rights in the software Microsoft Office Excel 2010 Method comparison: The data are aggregated each object in the locality is the town, each content communal land use rights and each year to tabulated, analyzed, comparing the survey carried out
by the land use right in the middle of five things Check on the status of implementation
of the land use rights Assessment method: Evaluation of the implementation of the land use rights of the criteria adopted in the questionnaire
Main results and conclusions:
- According to the statistics of land to the date of 31/12/2015, a total area of natural land in the district is 9568.65 hectares (100%), of which: Total land area of the district agriculture is 3575.29 hectares (accounting for 37.36% of total natural land area); non-agricultural land area is 5993.36 hectares (accounting for 62.61% of total natural land area); Unused land no longer The total number of certificates issued in the whole district, Tien Du district on the granting of land use right certificates granted in rural areas is 106228 households reached 96.21%, level certificates of land use rights of land urban, 38 688 households were granted, with a total area of 768.25 hectares granted, reaching 92.06% In the period 2011 - 2015, Tien Du district has received a total of 2571 records of land use right transfer in Hoan Son commune which has the highest transfer cases with 735 cases, Tan Chi with schools where the transfer of the lowest with 57 cases Inheritance of land use in the 1100 case in which there is a maximum of 156 communes Woody with cases, Van Hien commune is the lowest with
Trang 1337 cases Donation of land use rights in the period 2011 - 2015 with 963 cases in which the Phu Lam at most 143 cases, at least Tan Chi with 23 cases During the study period with 4150 records of land use right mortgage is registered in volatility at the branch office of land registration district According to a survey, 100% of them implemented the transfer, bequeath, donate or mortgage of land use rights in full certificates of land use rights and 100% of households have fully implemented means financial services as licensor
- Through the survey data collected opinions of households and individuals; officers and employees, with 30.64% of households, individuals and officials and officials assess the conditions are not satisfied on the basis of material serves for the registration of land use rights Assessed through surveys of people exercise their right to land use showed that 34.11% of all households and individuals are unhappy about the time limit for settling administrative procedures for reasons mainly to releasing slow administrative procedures The lack of staff and implementation of administrative procedures for land use rights (17/21 votes); coordination between the officers and employees of the departments in the implementation of land use rights is not close (7/21 votes) is expressed through the survey officers and employees is one of the reasons leading to slow due to the settlement, the settlement results deferred administrative procedures for land use rights as prescribed
- To overcome the shortcomings and inadequacies in the implementation of land use rights, to implement solutions like: To propagate and popularize the law of the land and the implementation of land use rights; improve operational efficiency of reception and result-solving administrative procedures Tien Du district; improving and upgrading the equipment and facilities at agencies, administrative units Tien Du district; increased staffing, professional training and professional, improve the sense of responsibility of the officials and employees in performing official duties
Trang 14PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là cơ sở không gian của mọi quá trình sản xuất, là tư liệu sản xuất đặc biệt trong nông nghiệp, là thành phần quan trọng nhất của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công trình kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng
Trước khi có Hiến pháp 1980, đất đai nước ta có nhiều hình thức sở hữu:
sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân Khi Hiến pháp năm 1980 ra đời đã quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân Đến Hiến pháp năm 1992 và hiến pháp năm 2013, đất đai tiếp tục được quy định là thuộc sở hữu toàn dân Luật Đất đai năm 2013 đã có những quy định về việc giao QSDĐ cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất Tuy nhiên, tình hình thực hiện các QSDĐ ở các địa phương vẫn còn nhiều tồn tại và bất cập như: hiện tượng chuyển dịch QSDĐ
và chuyển mục đích sử dụng đất trong nông nghiệp đang diễn ra tự phát, thiếu thông tin và không có sự kiểm soát của Nhà nước; thị trường giao dịch ngầm về đất đai còn chiếm tỷ lệ lớn, Giấy chứng nhận QSDĐ là điều kiện cần thiết cho hoạt động của thị trường QSDĐ, nhưng người dân không muốn nhận mà vẫn thực hiện giao dịch ngầm; công tác bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất để phục
vụ cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng, trụ sở cơ quan, trường học, bệnh viện… dựa vào khung giá đất do Nhà nước quy định nhưng vẫn còn nhiều bất cập Giải phóng mặt bằng chậm chễ, cản trở tiến độ đầu tư của các công trình; tâm lý của người dân ở vùng đồng bằng Bắc bộ, mặc dù không trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhưng vẫn giữ lại đất dẫn đến vấn đề nông dân không có đất do chuyển nhượng ngày càng tăng
Quyền sử dụng đất là một tính chất đặc thù của pháp luật đất đai Việt Nam Pháp luật đất đai hiện hành đã hạn chế được sự can thiệp của các biện pháp hành chính đối với các QSDĐ, cùng với các quy định coi “QSDĐ là tài sản” đã khuyến khích, thúc đẩy ngày càng tăng các giao dịch dân sự về QSDĐ và tài sản gắn liền với đất Tuy nhiên, cho đến nay việc thực hiện các QSDĐ trong thực tiễn vẫn còn nhiều bất cập cần giải quyết Để có cơ sở hoàn thiện chính sách và
đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện các QSDĐ, việc nghiên cứu nhằm đánh giá tình hình thực hiện các quyền của người sử dụng đất tại địa bàn
cụ thể huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh là cần thiết và rất có ý nghĩa
Trang 15Thực tiễn trong thực hiện các QSDĐ tại mỗi địa phương có sự khác nhau
do đặc thù về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội cũng như nhận thức của người dân ở mỗi vùng Huyện Tiên Du là một trong những trung tâm kinh tế, văn hoá
xã hội của tỉnh Bắc Ninh Huyện có quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ, nhiều khu công nghiệp được xây dựng đã thu hút rất nhiều dân cư về sinh sống, đất nông nghiệp thu hẹp, hạ tầng bước đầu được cải thiện Tuy nhiên, tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhanh chóng kéo theo rất nhiều điều bất cập trong quản
lý hành chính, nhất là việc thực hiện các quyền sử dụng đất Trong những năm gần đây cùng với cả nước thực hiện CNH – HĐH kéo theo nhu cầu về sử dụng đất đai có xu hướng ngày càng tăng lên và các hoạt động thực hiện các quyền của người sử dụng đất trên địa bàn huyện diễn ra khá sôi động Mặc dù vây, việc thực hiện các thủ tục liên quan đến quyền của người sử dụng đất ở còn gặp khó khăn, bất cập cần được nghiên cứu, đánh giá và giải quyết để việc thực hiện quyền của người sử dụng đất ở tại huyện Tiên Du được thuận lợi và nhanh chóng hơn
Xuất phát từ thực tế trên, nên thực hiện đề tài: “Đánh giá việc thực hiện
quyền của người sử dụng đất ở trên địa bàn huyện Tiên Du – tỉnh Bắc Ninh”
là cần thiết
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
- Đánh giá tình hình thực hiện các quyền sử dụng đất ở trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh;
- Đề xuất một số giải pháp trong việc thực hiện các quyền sử dụng đất ở trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài tập trung nghiên cứu việc thực hiện quyền chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế, thế chấp của người sử dụng đất ở trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2011-2015 Đây là những quyền của người sử dụng đất ở được thực hiện nhiều nhất trong giai đoạn nghiên cứu
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 1.4.1 Những đóng góp mới
Luận văn là công trình nghiên cứu một cách có về việc thực hiện quyền của người sử dụng đất ở trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh với những điểm mới là chỉ rõ những tồn tại, bất cập và nguyên nhân khi thực hiện quyền của
Trang 16người sử dụng đất ở trên địa bàn huyện Tiên Du và đề xuất một số giải pháp khắc phục phù hợp với điều kiện thực tế của địa bàn nghiên cứu
1.4.2 Ý nghĩa khoa học
Luận văn đã đưa ra được nhưng con số cụ thể về việc thực hiện quyền của người sử dụng đất ở, thông qua việc tiến hành phỏng vấn người thực hiện quyền cũng như người thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến quyền của người sử dụng đất, cơ sở pháp lý của việc thực hiện quyền và đưa ra các biện pháp cụ thể
1.4.3 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn là tài liệu nghiên cứu cho sinh viên, cán
bộ quan tâm đến việc thực hiện quyền của người sử dụng đất Ngoài ra, những biện pháp được đề xuất trong luận văn có thể để các cơ quan, đơn vị trên địa bàn huyện Tiên Du tham khảo nhằm hoàn thiện hơn nữa việc thực hiện quyền của người sử dụng đất trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh
Trang 17PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT
2.1.1 Quyền sở hữu về đất đai
2.1.1.1 Khái niệm quyền sở hữu về đất đai
Điều 164, Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật” (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2005) Đối tượng của quyền sở hữu là một loại tài sản cụ thể; chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác (hộ gia đình, cộng đồng ) có đủ ba quyền là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản
2.1.1.2 Phân loại quyền sở hữu về đất đai
Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền
định đoạt
- Quyền chiếm hữu là quyền của chủ sở hữu nắm giữ, quản lý tài sản thuộc sở hữu của mình Trong một số trường hợp theo quy định của pháp luật thì người không phải là chủ sở hữu tài sản cũng có quyền sở hữu tài sản
- Quyền sử dụng là quyền của chủ sở hữu khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản Chủ sở hữu có quyền khai thác giá trị tài sản theo ý chí của mình bằng cách thức khác nhau Người không phải là chủ sở hữu cũng
có quyền sử dụng tài sản trong trường hợp được chủ sở hữu giao quyền sử dụng Điều này thấy rõ trong việc Nhà nước giao QSDĐ cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân
- Quyền định đoạt là quyền của chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu tài sản của mình cho người khác hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó Chủ sở hữu thực hiện quyền định đoạt tài sản của mình theo hai phương thức:
+ Định đoạt số phận pháp lý của tài sản, tức là chuyển quyền sở hữu tài sản của mình cho người khác thông qua hình thức giao dịch dân sự như bán, đổi, tặng cho, để thừa kế
+ Định đoạt số phận thực tế của tài sản, tức là làm cho tài sản không còn trong thực tế
Trang 18Với tư cách đại diện chủ sở hữu về đất đai, Nhà nước có các quyền được quy định tại Điều 13, Luật Đất đai 2013 gồm:
- Quyết định quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất: Quy hoạch
sử dụng đất là việc phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường
và thích ứng biến đổi khí hậu trên cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực đối với từng vùng kinh tế - xã hội và đơn vị hành chính trong một khoảng thời gian xác định; Kế hoạch sử dụng đất là việc phân chia quy hoạch sử dụng đất theo thời gian để thực hiện trong kỳ quy hoạch sử dụng đất
- Quyết định mục đích sử dụng đất: Nhà nước quyết định mục đích sử
dụng đất thông qua quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất và cho phép chuyển mục đích sử dụng đất
- Quy định hạn mức sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất: Gồm hạn
mức giao đất nông nghiệp, hạn mức giao đất ở, hạn m ức công nhận quyền sử dụng đất ở và hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp
- Quyết định thu hồi đất, trưng dụng đất: Nhà nước quyết định thu hồi
đất trong các trường hợp vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; do vi phạm pháp luật về đất đai; do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người Nhà nước quyết định trưng dụng đất trong trường hợp thật cần thiết để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai
- Quyết định giá đất: Nhà nước ban hành khung giá đất, bảng giá đất và
quyết định giá đất cụ thể
- Quyết định trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất: Nhà nước
trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thông qua các hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất, giao đất có thu tiền sử dụng đất; cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm, cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê hoặc công nhận quyền sử dụng đất
- Quyết định chính sách tài chính về đất đai: Nhà nước quyết định chính
sách thu, chi tài chính về đất đai và điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất mà không do đầu tư của người sử dụng đất mang lại thông qua chính sách thuế, tiền
sử dụng đất, tiền thuê đất, đầu tư cơ sở hạ tầng và chính sách hỗ trợ cho người có đất thu hồi
Trang 19- Quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất: Nhà nước quy định
quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất phù hợp với hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nguồn gốc sử dụng đất và nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất
Các hình thức sở hữu tài sản bao gồm sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể,
sở hữu tư nhân và sở hữu toàn dân
- Sở hữu nhà nước là hình thức sở hữu đối với các tài sản bao gồm đất đai, rừng tự nhiên, rừng trồng có nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi tự nhiên ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh
- Sở hữu tập thể là sở hữu của hợp tác xã hoặc các hình thức kinh tế tập thể ổn định khác do cá nhân, HGĐ cùng góp vốn, góp sức hợp tác sản xuất, kinh doanh nhằm thực hiện mục đích chung được quy định trong điều lệ, theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, dân chủ, cùng quản lý và cùng hưởng lợi
- Sở hữu tư nhân là sở hữu của cá nhân đối với tài sản hợp pháp của mình Thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn, hoa lợi, lợi tức và các tài sản hợp pháp khác của cá nhân là tài sản thuộc hình thức
sở hữu tư nhân (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2005)
- Sở hữu toàn dân là hình thức sở hữu đối với đất đai ở Việt Nam, được quy định tại Điều 5, Luật Đất đai năm 2003: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu” Luật Đất đai năm 2013 lại một lần nữa khẳng định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định” Như vậy, Luật Đất đai đã xác định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, được giao cho các chủ thể sử dụng hợp pháp với các quyền, nghĩa vụ và lợi ích được pháp luật quy định, bảo
vệ đã thể hiện rõ bản chất Nhà nước của dân, do dân và vì dân, mọi quyền lực, trong đó có quyền sở hữu về đất đai thuộc về nhân dân, phù hợp với điều kiện cụ thể của nước ta hiện nay (Nguyễn Cúc, 2014)
Với tư cách là đại diện chủ sở hữu về đất đai, Nhà nước thực hiện việc thống nhất quản lý về đất đai trong phạm vi cả nước nhằm đảm bảo cho đất đai được sử dụng theo đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (KHSDĐ), đảm bảo lợi
Trang 20ích của Nhà nước cũng như của người sử dụng Nhà nước thực hiện đầy đủ các quyền của chủ sở hữu: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt
- Với tư cách đại diện chủ sở hữu đất đai, Nhà nước không trực tiếp sử dụng đất mà giao cho các tổ chức, HGĐ, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài nhưng Nhà nước không mất đi quyền sử dụng đất đai của mình Bởi vì, Nhà nước thực hiện QSDĐ bằng các hình thức chủ yếu sau: Thông qua việc xây dựng, xét duyệt quy hoạch, KHSDĐ để phân định mục đích sử dụng cho từng loại đất cụ thể; Thông qua việc xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và
sử dụng đất buộc các tổ chức, HGĐ, cá nhân phải thực hiện trong quá trình sử dụng đất Điều này có nghĩa là thông qua quá trình sử dụng đất của người sử dụng
mà các ý tưởng sử dụng đất của Nhà nước sẽ trở thành hiện thực Đồng thời, người
sử dụng đất trong quá trình sử dụng phải đóng góp một phần lợi ích mà họ thu được từ việc sử dụng đất đai dưới dạng những nghĩa vụ vật chất cho Nhà nước thông qua hình thức như nộp thuế sử dụng đất, thuế chuyển QSDĐ, nộp lệ phí địa chính, lệ phí trước bạ, nộp tiền sử dụng đất (Phạm Phương Nam, 2013)
- QSDĐ của Nhà nước phát sinh dựa trên cơ sở Nhà nước là đại diện chủ
sở hữu đất đai nên QSDĐ này là vĩnh viễn, trọn vẹn và không bị hạn chế Còn QSDĐ của người sử dụng xuất hiện khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép nhận chuyển QSDĐ hoặc công nhận QSDĐ và phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước, bị hạn chế bởi diện tích, thời hạn và mục đích sử dụng (Trần Quang Huy, 2013)
2.1.3 Người sử dụng đất
Người sử dụng đất là các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước cho phép sử dụng đất bằng một trong các hình thức giao đất, cho thuê đất, cho phép nhận chuyển quyền sử dụng đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất, có quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định trong thời hạn sử dụng đất
Trang 212.1.4 Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất
2.1.4.1 Quyền của người sử dụng đất
a Quyền chung của người sử dụng đất
Các quyền chung của người sử dụng đất được quy định tại Điều 166, Luật Đất đai 2013 bao gồm:
i) Quyền được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;
ii) Hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất;
iii) Hưởng các lợi ích do công trình của Nhà nước phục vụ việcbảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp;
iv) Được Nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp;
v) Được nhà nước bảo hộ khi bị người khác xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của mình;
vi) Được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định;
vii) Được khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai
b Quyền riêng của người sử dụng đất
Điều 167, Luật Đất đai 2013 quy định các quyền riêng của người sử dụng đất bao gồm:i) Quyền chuyển đổi, ii) chuyển nhượng, iii) cho thuê, iv) cho thuê lại, v) thừa kế, vi) tặng cho; vii) quyền thế chấp, viii) góp vốn quyền sử dụng đất”
Sau đây là nội dung cụ thể của các quyền:
- Chuyển đổi quyền sử dụng đất là hành vi chuyển QSDĐ trong các trường hợp: nông dân cùng một địa phương (cùng một xã, phường, thị trấn) đổi đất (nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản) cho nhau để tổ chức lại sản xuất, hợp thửa, chỉnh trang đồng ruộng, tiện canh tiện
cư, giải tỏa xâm phụ canh hoặc khắc phục sự manh mún khi phân phối đất đai công bằng theo kiểu “có tốt, có xấu, có gần, có xa”; những người có đất ở trong cùng một địa phương (cùng xã, phường, thị trấn) có cùng nguyện vọng thay đổi
Trang 22chỗ ở Như vậy, chuyển đổi QSDĐ giữa các chủ sử dụng đất không nhằm mục đích thương mại (Phạm Phương Nam, 2013)
- Chuyển nhượng quyền sử dụng đất là một hình thức cơ bản của chuyển QSDĐ Theo đó, người sử dụng đất (bên chuyển QSDĐ) thỏa thuận việc chuyển giao QSDĐ cho người được chuyển nhượng (bên nhận QSDĐ) mà người đó phải trả cho bên chuyển QSDĐ một khoản tiền tương ứng với giá trị QSDĐ Người chuyển nhượng QSDĐ có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập từ việc chuyển QSDĐ (Trần Quang Huy, 2013) Đặc thù của việc chuyển nhượng QSDĐ là ở chỗ: đất đai vẫn thuộc sở hữu toàn dân và việc chuyển quyền chỉ thực hiện trong giới hạn của thời gian giao đất; Nhà nước có quyền điều tiết phần địa tô chênh lệch thông qua việc thu thuế chuyển QSDĐ, thuế sử dụng đất và tiền sử dụng đất; Nhà nước
có thể quy định một số trường hợp không được chuyển QSDĐ; việc chuyển nhượng QSDĐ đều phải đăng ký biến động về đất đai, nếu không sẽ bị xem là hành vi phạm pháp (Đỗ Văn Đại và cs., 2012)
- Cho thuê quyền sử dụng đất là thỏa thuận giữa các HGĐ, cá nhân với nhau theo đó bên cho thuê chuyển QSDĐ cho bên thuê trong một thời hạn, còn bên thuê trả tiền thuê và sử dụng đất đúng mục đích mà pháp luật quy định Cho thuê QSDĐ là hoạt động phổ biến trong nền kinh tế thị trường và có thể coi đó là một dạng chuyển nhượng QSDĐ có điều kiện và bị giới hạn trong một khoảng thời gian nhất định Hoạt động này giải quyết được nhu cầu của người có QSDĐ nhưng không trực tiếp sử dụng và không muốn chuyển nhượng QSDĐ với những người muốn mở rộng quy mô sản xuất nhưng không muốn hoặc không có đủ điều kiện để nhận chuyển nhượng QSDĐ (Trần Quang Huy, 2013)
- Thừa kế quyền sử dụng đất được hiểu là việc chuyển QSDĐ của người
đã chết sang cho người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật phù hợp với quy định của Bộ Luật dân sự và pháp luật về đất đai Hiện nay, theo Bộ Luật dân sự
và Luật Đất đai thì thừa kế là một quan hệ xã hội và QSDĐ được coi là di sản thừa kế Thừa kế là một dạng đặc biệt của quan hệ chuyển nhượng và quan hệ này được giới hạn ở phạm vi và chủ thể thực hiện Chỉ những người có quan hệ với nhau về huyết thống, hôn nhân hoặc có nghĩa vụ trực tiếp với nhau về kinh tế mới được nhận thừa kế QSDĐ Người thừa kế không phải nộp thuế thu nhập từ việc nhận chuyển nhượng QSDĐ
- Tặng cho quyền sử dụng đất là việc chuyển QSDĐ từ chủ thể đất này sang chủ thể khác mà không cần có sự đền bù về mặt vật chất Thực chất tặng
Trang 23cho QSDĐ là một dạng đặc biệt của quan hệ chuyển nhượng QSDĐ nhưng việc chuyển nhượng này có giá cả thanh toán bằng không Tặng cho QSDĐ phải có sự thống nhất ý chí giữa hai bên trong quan hệ tặng cho QSDĐ, loại trừ trường hợp người được tặng cho không muốn nhận tặng cho QSDĐ
- Thế chấp quyền sử dụng đất là một hình thức chuyển QSDĐ (không đầy đủ) trong quan hệ tín dụng Người làm thế chấp vay nợ, lấy đất đai làm vật thế chấp để thi hành trách nhiệm vay nợ với người cho vay; đất đai dùng làm vật thế chấp không được chuyển dịch, vẫn do người thế chấp chiếm hữu, sử dụng và dùng nó đảm bảo một giá trị nhất định; khi người thế chấp đến kỳ không thể trả
nợ được, người nhận thế chấp có quyền đem đất đai phát mại và ưu tiên thanh toán để thu hồi vốn Thế chấp đất đai là cơ sở của thế chấp tài sản trong thị trường BĐS, trong thế chấp BĐS thì phần lớn giá trị nằm trong giá trị QSDĐ Trong trường hợp người vay tiền không có QSDĐ để thế chấp thì có thể dùng phương thức bảo lãnh để huy động vốn, đó là dựa vào một cá nhân hay tổ chức cam kết dùng QSDĐ của họ để chịu trách nhiệm thay cho khoản vay của mình (Nguyễn Thị Dung, 2011)
- Góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất được hiểu là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó người có QSDĐ hợp pháp có thể dùng giá trị QSDĐ để hợp tác sản xuất, kinh doanh Phương thức góp vốn bằng QSDĐ là cách phát huy quyền năng đất đai trong việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế địa phương, tạo điều kiện cho HGĐ, cá nhân phát triển sản xuất, khuyến khích liên doanh, liên kết và thu hút nguồn vốn đầu tư vào sản xuất, kinh doanh (Trần Quang Huy, 2013)
- Điều 188, Luật Đất đai 2013 quy định các điều kiện thực hiện các quyền của người sử dụng đất:Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; đất không
có tranh chấp; quyền sử dụng đất không bị kê biên để đảm bảo thi hành án; trong thời hạn sử dụng đất
2.1.4.2 Nghĩa vụ của người sử dụng đất
Điều 170 Luật đất đai năm 2013 quy định nghĩa vụ chung của người sử dụng đất như sau:
i, Sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới thửa đất, đúng quy định về
sử dụng độ sâu trong lòng đất và chiều cao trên không, bảo vệ các công trình công cộng trong lòng đất và tuân theo các quy định khác của pháp luật có liên quan
Trang 24ii, Thực hiện kê khai đăng ký đất đai; làm đầy đủ thủ tục khi chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật
iii, Thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật
iv, Thực hiện các biện pháp bảo vệ đất
v, Tuân theo các quy định về bảo vệ môi trường, không làm tổn hại đến lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất có liên quan
vi, Tuân theo các quy định của pháp luật về việc tìm thấy vật trong lòng đất vii, Giao lại đất khi Nhà nước có quyết định thu hồi đất, khi hết thời hạn
sử dụng đất mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền gia hạn sử dụng
2.1.5 Thủ tục hành chính thực hiện các quyền của người sử dụng đất
Điều 195 Luật đất đai 2013 quy định các thủ tục hành chính về đất đai bao gồm:
i) Thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất;
ii) Thủ tục đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;
iii) Thủ tục cấp đổi, cấp lại, đính chính, thu hồi Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng;
iv) Thủ tục thực hiện các quyền của người sử dụng đất;
v) Thủ tục cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc, cưỡng chế thi hành quyết định thu hồi đất;
vi) Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai, thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai tại cơ quan hành chính;
vii) Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
Điều 196 Luật đất đai 2013 quy về công khai thủ tục hành chính về đất đai:
- Nội dung công khai thủ tục hành chính về đất đai bao gồm:
i) Cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả;
ii) Thời gian giải quyết đối với mỗi thủ tục hành chính;
Trang 25iii) Thành phần hồ sơ đối với từng thủ tục hành chính;
iv) Quy trình và trách nhiệm giải quyết từng loại thủ tục hành chính; v) Nghĩa vụ tài chính, phí và lệ phí phải nộp đối với từng thủ tục hành chính
- Việc công khai về các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này thực hiện bằng hình thức niêm yết thường xuyên tại trụ sở cơ quan tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả; đăng trên trang thông tin điện tử cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính, trang thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện
2.2 THỰC HIỆN QUYỀN ĐỐI VỚI ĐẤT ĐAI TẠI MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
2.2.1 Thụy Điển
Tại Thụy Điển, pháp luật đất đai về cơ bản dựa trên việc sở hữu tư nhân
về đất đai và nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, sự giám sát chung của xã hội tồn tại trên rất nhiều lĩnh vực, như phát triển đất đai và bảo vệ môi trường Hoạt động giám sát là một hoạt động phổ biến trong tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế thị trường cho dù hệ thống pháp luật về chi tiết được hình thành khác nhau
Hệ thống pháp luật về đất đai của Thụy Điển gồm có rất nhiều đạo luật, luật, pháp lệnh phục vụ cho các hoạt động đo đạc địa chính và quản lý đất đai Các hoạt động cụ thể như hoạt động địa chính, quy hoạch sử dụng đất, đăng ký đất đai, bất động sản và việc xây dựng ngân hàng dữ liệu đất đai… đều được luật hóa Dưới đây là một số đặc điểm nổi bật của pháp luật, chính sách đất đai của Thụy Điển (Nguyễn Thị Thu Hồng, 2000)
- Việc đăng ký quyền sở hữu
Việc đăng ký quyền sở hữu khi thực hiện chuyển nhượng đất đai: Tòa án thực hiện đăng ký quyền sở hữu khi có các chuyển nhượng đất đai Người mua phải đăng ký quyền sở hữu của mình trong vòng 3 tháng sau khi mua Bên mua nộp hợp đồng chuyển nhượng để xin đăng ký Tòa án sẽ xem xét, đối chiếu với
Sổ đăng ký đất Nếu xét thấy hợp pháp, Tòa sẽ tiến hành đăng ký quyền sở hữu
để người mua là chủ sở hữu mới Các bản sao của hợp đồng chuyển nhượng sẽ lưu tại tòa án, bản gốc được trả lại cho bên mua Tòa án cũng xem xét các hạn chế về chuyển nhượng của bên bán (như cấm bán)
Đăng ký đất là bắt buộc tại Thụy Điển nhưng hệ quả pháp lý quan trọng
Trang 26lại xuất phát từ hợp đồng chứ không phải từ việc đăng ký Vì vậy, chuyển nhượng là một hợp đồng cá nhân (không có sự làm chứng về mặt pháp lý và không có xác nhận của cơ quan công chứng) nên rất khó kiểm soát được việc đăng ký Tuy nhiên ở đây hầu như tất cả các cuộc mua bán, chuyển nhượng đều được đăng ký Do vậy, việc đăng ký sẽ tăng thêm sự vững chắc về quyền sở hữu của chủ mới, quyền được ưu tiên khi có tranh chấp với một bên thứ ba nào đó, và quan trọng hơn, quyền sở hữu được đăng ký rất cần thiết khi thế chấp (Nguyễn Thị Thu Hồng, 2000)
- Vấn đề thế chấp
Quyền sở hữu được đăng ký sau khi hợp đồng được ký kết nhưng thế chấp lại được thực hiện theo một cách khác Theo quy định pháp luật về thế chấp, có 3 thủ tục để thực hiện thế chấp, đó là:
Bước 1: Trước tiên người sở hữu đất đai phải làm đơn xin thế chấp để vay một khoản tiền nhất định Nếu đơn được duyệt thì thế chấp đó sẽ được đăng
ký và Tòa án sẽ cấp cho chủ sở hữu một văn bản xác nhận đủ điều kiện thế chấp Văn bản xác nhận đủ điều kiện thế chấp này sẽ được sử dụng cho một cam kết thế chấp thực tế được thực hiện sau khi đăng ký Văn bản xác nhận đủ điều kiện thế chấp dường như chỉ có ở Thụy Điển
Bước 2: Văn bản xác nhận đủ điều kiện thế chấp được gửi cho bên cho vay Khi thực hiện bước 1, Tòa án không kiểm tra, xác minh các yêu cầu đối với thế chấp Yêu cầu đối với thế chấp chỉ được xét đến khi thực sự sử dụng bất động sản để vay vốn (tức là có xem xét đến ở bước 2) Các yêu cầu đặt ra khi thế chấp là: bên đi vay phải là chủ sở hữu bất động sản; bên cho vay cần đặt ra các điều kiện cho người đi vay; bên đi vay phải cam kết việc thực hiện thế chấp và bên cho vay sẽ giữ văn bản thế chấp Khi không đáp ứng các yêu cầu này thì việc thế chấp coi như không hợp pháp Đây là trình tự thế chấp theo quy định của pháp luật, nhưng trên thực tế hầu hết các thế chấp đều được diễn ra do Ngân hàng và các tổ chức tín dụng thực hiện Tại Ngân hàng, bên đi vay sẽ ký ba văn bản: Hợp đồng vay (phải nêu rõ số tiền vay), Hợp đồng thế chấp (thế chấp bất động sản) và một đơn gửi Tòa án để xin đăng ký thế chấp Ngân hàng sẽ giữ lại hai tài liệu đầu
và gửi đơn xin thế chấp đến Tòa án Sau khi được xử lý, đơn xin thế chấp được chuyển lại Ngân hàng và lưu trong hồ sơ thế chấp Thông thường Ngân hàng đợi
Trang 27đến khi có quyết định phê duyệt của Tòa án mới chuyển tiền cho người đi vay Khi khoản nợ thế chấp được thanh toán hết, văn bản xác nhận đủ điều kiện thế chấp sẽ được trả lại cho bên đi vay
Bước 3: được áp dụng khi hợp đồng thế chấp bị vi phạm Khi bên vay không thanh toán theo đúng hợp đồng thì bên cho vay sẽ có đơn tịch thu tài sản
để thế nợ Việc này sẽ do một cơ quan nhà nước có thẩm quyền đặc biệt thực hiện, đó là: Cơ quan thi hành pháp luật (Enforcement Service) Nếu yêu cầu không được chấp thuận, tài sản sẽ được bán đấu giá và bên nhận thế chấp sẽ được thanh toán khoản tiền đã cho vay thế chấp Thủ tục này được tiến hành khá nhanh chóng Vụ việc sẽ được xử lý trong vòng 6 tháng kể từ khi có đơn xin bán đấu giá (Nguyễn Thị Thu Hồng, 2000)
- Về vấn đề bồi thường
Khi Nhà nước thu hồi đất, giá trị bồi thường được tính dựa trên giá thị
trường Ngoài ra, người sở hữu còn được bồi thường các thiệt hại khác Chủ đất
được hưởng các lợi ích kinh tế từ tài sản của mình (nếu trong trường hợp tài sản
đó phải nộp thuế thì chủ đất phải nộp thuế) Chủ đất có thể bán tài sản và được hưởng lợi nhuận nếu bán được với giá cao hơn khi mua nhưng phải nộp thuế cho trường hợp chuyển nhượng đó Chủ đất được quyền giữ lại tài sản của mình, tuy nhiên cũng có thể bị buộc phải bán tài sản khi đất đó cần dành cho các mục đích chung của xã hội Trong trường hợp đó sẽ là bắt buộc thu hồi và chủ đất được quyền đòi bồi thường dựa trên giá trị thị trường của tài sản (Nguyễn Thị Thu Hồng, 2000)
2.2.2 Australia
Pháp luật đất đai của Australia chịu ảnh hưởng sâu sắc của hệ thống pháp luật của Anh, theo Luật Chung Pháp luật đất đai của Anh không công nhận quan điểm sở hữu tuyệt đối đối với đất đai mà đặt trọng tâm vào quyền chiếm hữu và chứng nhận quyền được xác định ngay từ thời gian đầu và được coi như một trong những hòn đá tảng của Luật BĐS Anh – Australia Các quyền về đất đai/ BĐS ở Australia bao gồm:
Sở hữu Nhà nước: Tiếp cận dưới góc độ những học thuyết về chiếm hữu
và học thuyết về tài sản, vương quyền đối với đất đai được hiểu là quyền tối cao của nữ hoàng đối với toàn bộ đất đai (lãnh thổ) Đất đai được phân bố để sử dụng
Trang 28thông qua hai phương thức chiếm hữu là cấp đất và cho thuê Ý nghĩa của vương quyền đối với từng phương thức có khác nhau Thông thường, những loại đất nhạy cảm thường được cấp theo phương thức cho thuê
Tại bang New South Wales, với thủ phủ là Sydney, đất được cấp theo chế độ sử dụng tự do (đất tư) gồm 3,6 triệu thửa Đất vương quyền dành cho các mục đích công khoảng 1 triệu thửa (tuy nhiên thửa đất này lớn hơn nhiều so với thửa đất tư) Để đáp ứng các nhu cầu phát triển, chính phủ lấy đất từ quỹ đất vương quyền rồi bán cho người sử dụng Đối với những khu vực nhạy cảm về môi trường thì áp dụng chế độ cho thuê để có điều kiện tăng cường sự quản lý Nhìn chung, việc quản lý, sử dụng đất đai ở đây cũng tuân thủ nguyên tắc bền vững: Nhà nước ban hành văn bản “Hướng dẫn chung” về sử dụng đất; việc hướng dẫn khai thác, phát triển cụ thể do chính quyền địa phương ban hành (Nguyễn Đình Bồng, 2014)
Sở hữu tư nhân: Sở hữu tư nhân được thiết lập tương ứng với khái niệm
về tài sản mà theo học thuyết về tài sản xác định là một khái niệm trừu tượng được đặt giữa đất đai và người sử dụng đất Như vậy, nhiều người có thể có lợi ích trên cùng một mảnh đất Hơn nữa, các lợi ích có thể phân theo thời gian và ứng với nó có những loại tài sản khác nhau được thiết lập
Như vậy, theo “bậc thang của sở hữu” có hai loại tài sản: (1) Tài sản tư gồm tài sản tư được hưởng quyền vô thời hạn và được tự do thừa kế, quyền thừa
kế hạn chế; phần lớn đất đai tại đô thị được cấp theo chế độ sử dụng tự do; theo phương thức này, chủ thể được cấp đất được đảm bảo lợi ích tuyệt đối về đất còn vương quyền chỉ là danh nghĩa; (2) Tài sản không được thừa kế và các tài sản khác theo phương thức thuê Theo “dấu hiệu sở hữu” tương ứng có các loại đất sau: đất tư (gần như sở hữu tư nhân tuyệt đối); đất thuê (sở hữu có điều kiện về thời hạn); đất sử dụng theo hợp đồng (không có quyền sở hữu); đất công thuộc sở hữu nhà nước; đại bộ phận đất nông thôn lại là đất vương quyền cho thuê hoặc sử dụng theo phương thức cấp phép và chế độ cho thuê hạn chế (đất đồng cỏ) (Nguyễn Đình Bồng, 2014)
Quyền đất đai của người bản xứ: Luật về quyền đất đai của người bản
xứ ban hành năm 1993 trên cơ sở quyết định của Tòa án Tối cao Australia tại Mabo công nhận quyền của người bản xứ đối với đất đai của họ phù hợp với pháp luật và tập tục truyền thống; cụ thể là: Các quyền cư trú trên đất; các quyền
Trang 29về bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên; các quyền về duy trì, sử dụng, quản lý đất đai; các quyền sử dụng và hưởng lợi từ nguồn tài nguyên thiên nhiên; quyền
ra quyết định về đất đai và quản lý tiếp cận (Nguyễn Đình Bồng, 2014)
Các chủ sở hữu đất đai đều có quyền chuyển nhượng, cho thuê (cho thuê lại) và thế chấp, riêng quyền thừa kế chỉ áp dụng đối với đất tư Giá giao dịch về đất đai được thiết lập theo thị trường, tuy nhiên giá đất thuê phụ thuộc vào thời hạn thuê còn lại và thấp hơn giá đất tư Vai trò của thông tin BĐS thể hiện ở việc chuyển dịch đất đai về tay người sử dụng có hiệu quả nhất với chi phí giao dịch thấp nhất để thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của xã hội Nhìn chung, nhu cầu về BĐS ở Australia được đáp ứng, thị trường vận hành có hiệu quả, chi phí giao dịch thấp và có thể dự báo được Các thông tin về cung, cầu đối với từng loại đất trên thị trường đều được phân tích hàng năm và có dự báo cho các năm sau
Hệ thống Torrens – Hệ thống đăng ký đất đai/BĐS Australia đóng vai trò trung tâm của Luật BĐS của Australia Đây là hệ thống chứng nhận quyền qua đăng ký và được nhà nước bảo đảm về tính chính xác của việc đăng ký Theo
hệ thống này, từng thửa đất được xác định cụ thể trên bản đồ, các quyền về đất đai và tên của chủ sở hữu quyền được ghi rõ Khi thửa đất được giao dịch thì chỉ cần đổi tên của chủ sở hữu quyền Bản đồ phải làm lại và phải lập hồ sơ mới trong trường hợp một phần của thửa đất được giao bán Mặc dù, chủ sở hữu quyền hoặc bên cho vay thế chấp (trong trường hợp thế chấp) có thể giữ giấy chứng nhận sở hữu quyền đối với thửa đất, nhưng hồ sơ gốc phải được lưu trong
cơ quan đăng ký sở hữu quyền Hệ thống này ra đời đã làm thay đổi bản chất của các giao dịch, đặc biệt đối với quan hệ thế chấp Các giao dịch được đăng ký và công nhận tính pháp lý được Nhà nước bảo đảm và chịu trách nhiệm bồi thường nếu xảy ra những sai sót Với hệ thống Torrens, các giao dịch có liên quan đến đất đai và BĐS được thực hiện thuận lợi, an toàn với chi phí giao dịch thấp, những người tham gia các giao dịch về đất đai hoàn toàn được bảo đảm (Nguyễn Đình Bồng, 2014)
2.2.3 Trung Quốc
Trước cải cách và mở cửa (1978), Trung Quốc không thừa nhận tư hữu đối với đất đai Cho đến khi Hiến pháp năm 1982 được ban hành thì toàn bộ đất
đô thị của Trung Quốc đã quốc hữu hóa, sở hữu toàn dân Nhà nước với tư cách
là người chịu trách nhiệm trước toàn xã hội trong việc quản lý đất đai nói chung
Trang 30và đất đô thị nói riêng Nhà nước tiến hành phân phối đất đai theo quan hệ quản
lý hành chính Đất được quy vào một loại tài sản mang tính phúc lợi xã hội, được phân phối miễn phí, do vậy người sử dụng đất không phải trả bất cứ một khoản tiền nào cho việc sử dụng đất Những chủ thể sử dụng đất cũng không được phép chuyển nhượng phần đất mà mình được sử dụng đó (Nguyễn Minh Hoàn, 2013)
Hiến pháp Trung Quốc năm 1982 quy định: không tổ chức, cá nhân nào được phép chiếm đoạt, mua, bán, cho thuê hay chuyển nhượng đất đai dưới bất
kỳ hình thức nào Như vậy, Trung Quốc không thừa nhận trao đổi đất đai như một loại hàng hóa theo quan hệ thị trường Đặc biệt, thời kỳ này Trung Quốc không hạn chế việc Nhà nước thu hồi đất theo mục đích vì “lợi ích công cộng”, càng làm gia tăng việc sử dụng đất đai kém hiệu quả
Tuy nhiên, trên thực tế, người sử dụng đất vẫn tiến hành mua bán đất đai như một loại hàng hóa trong một thị trường đất đai “không chính thức” Ở nhiều địa phương, nông dân, hợp tác xã đã lén lút bán hoặc cho thuê đất cho các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng Đây được coi là những nhân tố năng động đầu tiên xuất hiện ở Trung Quốc trong quan hệ giao dịch đất đai Đặc biệt, trước đòi hỏi
mở cửa và thu hút ngày càng nhiều nguồn vốn đầu tư nước ngoài và sự vươn lên của bản thân các thành phần kinh tế trong nước đã tạo áp lực cho việc cải cách chính sách đất đai ở Trung Quốc (Nguyễn Minh Hoàn, 2013)
Kể từ khi thiết lập hệ thống kinh tế thị trường, nguyên tắc chuyển giao đất theo mục đích sử dụng và xác định giá đất theo cơ chế thị trường cũng dần dần được hình thành Đến năm 1986, Luật Quản lý đất đai đã quy định cơ cấu sử dụng đất đai thông qua việc giao và cho thuê có đền bù, từ đây đã tạo nền tảng cho việc hình thành thị trường đất đai Trên thực tế, những phác họa ban đầu cho việc thiết lập thị trường đất đai được bắt đầu từ những khu vực mà kinh tế thị trường phát triển mạnh như Quảng Đông, Giang Tô, Triết Giang,
Tháng 11-1987, Trung Quốc đã ban hành quyết định cải cách chính sách đất đai ở một số thành phố lớn như Thượng Hải, Thẩm Quyến, Quảng Châu, Đặc khu kinh tế Thẩm Quyến là thành phố đầu tiên ở Trung Quốc thừa nhận giá trị hàng hóa của đất đai Ngày 1-12-1987, tại Thẩm Quyến đã mở phiên đấu giá quyền sử dụng 8.588 m2 đất với thời hạn 50 năm Tham gia phiên đấu giá này có
44 doanh nghiệp đã cạnh tranh quyết liệt để giành QSDĐ và người thắng cuộc đã phải trả 5,25 triệu Nhân dân tệ Như vậy, tại Thẩm Quyến, QSDĐ tham gia vào
Trang 31thị trường như các tài sản khác đã chính thức được công nhận (Nguyễn Minh Hoàn, 2013)
Việc đưa đất đai vào quan hệ thị trường đã được chính thức quy định tại Hiến pháp sửa đổi của Trung Quốc (4-1988), chấm dứt chế độ phân phối đất đai không thu tiền và không xác định thời hạn, đất đai chính thức được tham gia vào thị trường như một loại hàng hóa Hiến pháp sửa đổi đã bổ sung quyền chuyển nhượng QSDĐ, đồng thời hủy bỏ quy định cấm cho thuê đất Cụ thể hóa Hiến pháp, Hội đồng nhà nước Trung Quốc đã ban hành Quy chế tạm thời về việc giao
và chuyển nhượng QSDĐ của Nhà nước tại đô thị, trong đó quy định rõ về QSDĐ có thể chuyển nhượng bằng hợp đồng, đấu thầu và đấu giá
Năm 1990, Quốc vụ viện Trung Quốc ban hành “Điều lệ tạm thời xuất nhượng và chuyển nhượng quyền sử dụng đất đai quốc hữu thành thị”, “Quyền
sử dụng đất đai có thể chuyển nhượng” đã được hợp pháp hóa
Như vậy, từ cơ chế giao đất không thu tiền chuyển sang có thu tiền; từ chỗ không giới hạn thời hạn sử dụng đất chuyển sang quy định sử dụng đất có thời hạn; từ chuyển nhượng “chui” sang chuyển nhượng hợp pháp; và từ sự cứng nhắc trong phân lập quản lý đến chỗ linh hoạt hơn, dù vẫn với cơ chế quản lý phân lập giữa đô thị và nông thôn, đã tạo ra cho công tác quản lý sử dụng đất của Trung Quốc bước đầu đạt được hiệu quả (Nguyễn Minh Hoàn, 2013)
Từ năm 1992, Trung Quốc nhấn mạnh đến việc hoàn thiện thị trường đất đai Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV Đảng Cộng sản Trung Quốc xác định cải cách chế độ sử dụng ruộng đất là một bộ phận cấu thành quan trọng trong chỉnh thể cải cách thể chế kinh tế, đồng thời nêu rõ về nội dung và yêu cầu của việc xác định phạm vi sự phát triển thị trường đất đai Đặc biệt, chế độ sử dụng đất đai đặc thù ở các đặc khu kinh tế và đô thị mở cửa vùng duyên hải được xây dựng
Đến năm 1998, tiếp thu ý kiến đóng góp của các tầng lớp xã hội, Kỳ họp thứ 4 Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa IX Trung Quốc (29-8-1998), đã ban hành Luật quản lý đất đai (sửa đổi) Với việc thành lập thị trường đất đai, ở hầu hết các thành phố và các tỉnh của Trung Quốc, đất đai đã được chuyển giao theo phương thức phải trả tiền cho Nhà nước (Nguyễn Minh Hoàn, 2013)
Chế độ sở hữu đất đai được quy định trong Điều 8 Luật quản lý đất đai nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1998 như sau: Đất đai nội thành thành phố thuộc quyền sở hữu của nhà nước; Đất đai ở nông thôn và khu vực ngoại ô,
Trang 32ngoài những khu đất do nhà nước quy định thuộc quyền sở hữu của nhà nước, đều thuộc sở hữu tập thể nông dân; đất ở, đất trồng trọt và đất đồi núi đều thuộc
về quyền sở hữu tập thể của nông dân (Nguyễn Minh Hoàn, 2013)
Đất đai thuộc quyền sở hữu của nhà nước và của tập thể nông dân đều
có thể chuyển cho đơn vị hoặc cá nhân sử dụng theo pháp luật Cá nhân hoặc đơn
vị có nghĩa vụ bảo vệ, quản lý và sử dụng đất hợp lý (Điều 9 Luật quản lý đất đai nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1998)
Ngày 1-1-2000, Bộ Đất đai và Tài nguyên đã ban hành Thông tư về việc thành lập thị trường đất đai và khuyến khích các loại giao dịch QSDĐ tiêu chuẩn nhằm mục đích thành lập, hoàn thiện hệ thống quản lý nhà nước đối với giao dịch đất đai và tiêu chuẩn hóa các hoạt động của thị trường đất đai
Năm 2001, việc ban hành một loạt các quy định của các địa phương và các văn bản tiêu chuẩn chung đã giúp thiết lập, hoàn thiện hệ thống kiểm soát toàn
bộ đất đai cho mục đích xây dựng, tập trung đất cho các mục đích xây dựng ở đô thị, công khai giao dịch QSDĐ, thường xuyên điều chỉnh giá đất tiêu chuẩn, công khai thông tin về đăng ký đất đai, quyết định tập thể (Nguyễn Minh Hoàn, 2013)
2.2.4 Hàn Quốc
Thị trường nhà đất nông thôn Hàn Quốc tăng trưởng và giá nhà đất liên tiếp tăng là một trong những thách thức lớn nhất đối với chính phủ Hàn Quốc Quá trình công nghiệp hóa diễn ra nhanh chóng đã tạo ra làn sóng dân cư từ vùng nông thôn đổ ra thành thị làm tăng mạnh giá nhà đất Lĩnh vực này đã làm cho những người giàu nay lại càng giàu hơn Hàn Quốc đã áp dụng nhiều biện pháp để giảm giá nhà đất như cứ 3 tháng một lần, Chính phủ tăng thuế, thắt chặt các quy định về
dự án tái xây dựng chung cư và cho xây thêm các thị trấn vệ tinh Đồng thời, một đạo luật mới được ban hành yêu cầu những người kinh doanh nhà đất phải báo cáo giá trị thật của các giao dịch liên quan đến nhà đất với nhà chức trách
Hàn Quốc luôn chú ý tới những nhu cầu chuyên biệt của người già và người khuyết tật trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống tại các khu dân cư Theo yêu cầu của Bộ Xây dựng và Giao thông Hàn Quốc, 10 loại thiết bị thuận tiện sẽ được lắp đặt miễn phí cho những cư dân có tuổi và người khuyết tật sống tại các căn nhà chung cư mới thuê Đối tượng sử dụng những căn nhà này sẽ là người già ở độ tuổi từ 65 trở lên, những người khuyết tật độ 3 trở lên và những người khiếm thị, khiếm thính
Trang 33Các trang thiết bị miễn phí này bao gồm việc giảm thiểu số lượng cửa ra vào, đá lát chống trơn trượt cho phòng tắm, thay đổi hướng mở và đóng cửa, ghế ngồi trong phòng tắm, thay đổi thiết bị điều khiển bình ga, thay đổi vị trí của video phone trong phòng, lắp đặt hệ thống báo động, tín hiệu hướng dẫn bằng âm thanh tại lối vào các khu chung cư, bồn rửa bát có lắp đặt thêm ghế ngồi sẽ được bán ra với giá phải chăng nhất
Một lối đi ra vào dành cho xe lăn tay tại các tòa nhà chung cư và một số
cơ sở khác sẽ phải bắt buộc được xây dựng theo luật hiện hành Song có rất nhiều nhà xây dựng chung cư tư nhân không xây dựng những cơ sở này cho người già
có thể áp dụng đối với công dân các nước có trao quyền tương tự cho công dân Hàn Quốc Các loại đất liên quan đến QP-AN, cơ sở văn hóa, khu bảo tồn còn
có các ràng buộc cụ thể hơn tại các đạo luật: Bảo vệ cơ sở quân sự, Bảo tồn di
sản văn hoá, Luật Bảo tồn môi trường (Bộ Tài Nguyên và Môi trường, 2015)
2.2.5 Kinh nghiệm về thực hiện quyền của người sử dụng đất đối với Việt Nam
- Thứ nhất: Cần phát triển mạnh hệ thống lý luận về thị trường bất động sản và phát triển thị trường bất động sản tại Việt Nam phù hợp với thể chế kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Từ đó việc thực hiện quyền của người
sử dụng đất được thực hiện theo hệ thống thị trường bất động sản với việc cung cấp các thông tin cho người tham gia giao dịch tốt hơn và việc thực hiện được liên thông đặc biệt việc thực hiện quyền chuyển nhượng và thế chấp của người sử dụng đất
- Thứ hai: Coi trọng việc tạo dựng khuôn khổ pháp luật để thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến việc thực hiện quyền của người sử dụng đất Do những điều kiện lịch sử, quá trình hình thành và phát triển thị trường đất đai ở nước ta có những đặc điểm đặc thù do đó cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ sở lý luận trên cơ sở tham khảo hệ thống quy phạm pháp luật đất đai của các nước phát triển
Trang 34- Thứ ba: Tiếp tục hoàn thiện cơ sở dữ liệu, áp dụng cơ sở dữ liệu đất đai vào trong công tác quản lý, sử dụng đất, cung cấp thông tin rộng rãi cho thị trường bất động sản, người quyền sử dụng đất
- Thứ tư: Phát triển dịch vụ công về đất đai như một số nước nhằm nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện thủ tục hành chính liên quan đến quyền của người sử dụng đất
2.3 THỰC HIỆN CÁC QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở VIỆT NAM QUA CÁC GIAI ĐOẠN
2.3.1 Khái quát chính sách về quyền sử dụng đất qua các thời kỳ
2.3.1.1 Quyền sở hữu đất đai ở Việt Nam từ khởi đầu đến hết thời kỳ thuộc địa (1945)
a Trong thời kỳ dựng nước
Nông nghiệp trồng lúa nước, sức kéo của trâu bò đã xuất hiện khá sớm trên lãnh thổ nước ta Cuộc sống định cư trên các vùng đồng bằng ven sông đã tạo ra những cộng đồng nông nghiệp, những “làng” hay “chạ” của những cư dân
có cùng nguồn gốc, tiếng nói Đất đai do các thành viên cộng đồng hợp tác, khai phá, do đó, theo truyền thống thời nguyên thủy phải thuộc về sở hữu của cả cộng đồng Mọi thành viên cộng đồng đều có trách nhiệm bảo vệ ruộng chung, không cho phép các làng, chạ, láng giềng lấn chiếm Trách nhiệm đó gắn liền với cuộc sống hàng ngày của các thành viên nên đồng thời họ cũng tự nguyện cày cấy, trồng trọt và thu hoạch vào ngày mùa Không ai có quyền chiếm giữ lâu dài một
bộ phận ruộng đất nào đó làm của riêng (Nguyễn Đức Khả, 2003)
Tuy nhiên, sự phát triển của công cụ sản xuất và kinh nghiệm trồng trọt cho phép người đứng đầu làng (bồ chính) cùng các “già làng” tiến hành phân chia ruộng đất cho các thành viên của làng để cày cấy và hưởng thụ Ngược lại, thành viên khi được chia ruộng phải có nghĩa vụ với làng: Làm thủy lợi, chống ngập lụt, cứu giúp nhau khi có thiên tai, mất mùa, đóng góp phục vụ các việc chung… Đến khi Nhà nước Văn Lang - Âu Lạc tồn tại thì cũng bước đầu hình thành một quan niệm nhất định về lãnh thổ, quốc gia do Nhà nước quản lý chung, về những công việc do Nhà nước điều hành Đó là cơ sở của cái gọi là
sở hữu tối cao về ruộng đất của Nhà nước, đứng đầu là vua Hùng hay vua Thục Mặc dù vậy, quan niệm này đương thời chưa được xác định rõ ràng bởi tính chất sơ khai của Nhà nước Văn Lang - Âu Lạc Ruộng đất thực chất thuộc
Trang 35quyền sở hữu chung của cả công xã và công xã chỉ phải nộp thuế cho các Lạc Hầu, Lạc Tướng theo “thể chế cống nạp” (Nguyễn Đức Khả, 2003)
b Thời kỳ Bắc thuộc
Hơn 1000 năm Bắc thuộc đã để lại dấu ấn sâu sắc trong chế độ sở hữu ruộng đất của người Việt Làng xã với quyền sở hữu tập thể về ruộng đất được duy trì nhưng ở bên trên là một bộ máy chính quyền thành thục, có nhiều kinh nghiệm giải quyết vấn đề ruộng đất Quyền sở hữu của các làng, chạ chịu sự khống chế của chính quyền đô hộ Nhiều viên quan đô hộ (Sĩ Nhiếp, Chu Phù, Đào Khản, Tuệ Độ…) đã cướp đất của người Việt, xây dựng các trang trại, bắt
nô tỳ cày cấy Các triều đại phong kiến phương Bắc cũng du nhập chế độ ban cấp ruộng đất của Trung Quốc vào nước ta, từ đó hình thành nên những điền trang lớn của các viên quan đô hộ Đồng thời, hàng vạn người Hán di cư sang cũng họp nhau khai phá đất hoang, xây dựng xóm làng theo và phân phối ruộng đất theo quan niệm riêng của mình Tình hình nói trên đã ảnh hưởng đến chế độ ruộng đất tại các vùng gần trung tâm của chính quyền đô hộ Một số quan lang trở thành người giàu có, nhiều thóc lúa, ruộng đất, có thế lực trong vùng được gọi là tầng lớp hào trưởng địa phương như Phùng Hưng, Khúc Thừa Dụ, Dương Đình Nghệ… Sử cũ cũng cho biết sau khi củng cố được chính quyền tự chủ đầu thế kỷ
X, Tiết độ sứ Khúc Hạo đã thi hành chính sách tiến bộ về tài chính nhằm “tha bỏ lực dịch và quân bình thuế ruộng” Như vậy, vào thời Bắc thuộc ở nước ta đã xuất hiện một số hình thức sở hữu ruộng đất mới là sở hữu tối cao của Nhà nước
và sở hữu tư nhân, song chưa phổ biến Sở hữu tập thể của làng xã vẫn chiếm ưu thế tuyệt đối bởi nhu cầu cố kết cộng đồng để phản ứng lại các thế lực xâm lược, biến làng xã thành những "pháo đài xanh" và nơi duy trì những giá trị truyền thống của dân tộc (Nguyễn Văn Khánh, 2013)
c Thời kỳ phong kiến độc lập
Thế kỷ X, nước ta khôi phục nền độc lập dân tộc, bước vào kỷ nguyên xây dựng các vương triều Từ phong kiến Chế độ sở hữu phong kiến về ruộng đất trong từng thời kỳ có những đặc trưng riêng, nhưng nói chung có 2 hình thái chính: Sở hữu của Nhà nước với chế độ công điền công thổ và sở hữu tư nhân, trong đó, chế độ sở hữu của Nhà nước luôn chiếm ưu thế Nhà nước phong kiến
mà đại diện là nhà vua với tư cách là chủ sở hữu tối cao về ruộng đất, đã chi phối đến hầu hết các bộ phận ruộng đất khác nhau, tuy nhiên quyền chi phối đó tuỳ thuộc vào từng thời kỳ lịch sử, mà mức độ chi phối không giống nhau
Trang 36Có thể thấy rất rõ từ đầu thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XIV, chế độ sở hữu Nhà nước về ruộng đất luôn giữ địa vị thống trị Đây tảng để Nhà nước ban hành hàng loạt các chính sách về là cơ sở kinh tế chủ yếu của Nhà nước, là nền tảng để Nhà nước ban hành hàng loạt các chính sách về ruộng đất Đặc điểm chung của các triều đại Lý - Trần - Hồ (1010 - 1407) là áp đặt quyền sở hữu tối cao của Nhà nước bao trùm lên tất cả các loại ruộng đất công của làng xã và các loại hình tư hữu, coi đó là cơ sở quan trọng nhất của chế độ Trung ương tập quyền Hệ thống pháp luật với các bộ luật Hình Thư (nhà Lý), Hình Luật (nhà Trần) đã bao quát nhiều quan hệ phức tạp về đất đai với đặc trung cơ bản là khuyến khích sở hữu tư nhân, hạn chế quỹ công làng xã Trong những năm cuối của thế kỷ XIV, sự phát triển nhanh chóng của chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất với sự mở rộng của các điền trang quý tộc lớn đã dần trỏ thành mối nguy hại đối với mô hình Nhà nước phong kiến tập quyền Và chính sách “hạn điền” của Hồ Quý Ly như là một tất yếu vừa xóa bỏ sở hữu tư nhân lớn về ruộng đất vừa khẳng định vai trò, sức mạnh và quyền sở hữu tối cao của Nhà nước có thể can thiệp vào bất kỳ loại hình
sở hữu ruộng đất nào
Thế kỷ XV là thời kỳ thịnh trị của Nhà nước phong kiến tập quyền với
“mô hình Lê Sơ” và đỉnh cao là triều vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497) Luật Hồng Đức ban hành năm 1483 có 59 điều nói về ruộng đất, trong đó tập trung vào việc bảo vệ chế độ sở hữu tối cao của Nhà nước thông qua thu tô thuế và quản lý ruộng đất; bảo vệ nghiêm ngặt chế độ ruộng đất công; bảo vệ chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất và tài sản, đặc biệt là sở hữu lớn của quý tộc, địa chủ Dưới triều Lê, sở hữu nhà nước về ruộng đất giữ địa vị bao trùm, thống trị” Trên
cơ sở tịch thu và thống kê các nguồn đất đai, Nhà nước đã xác lập quyền sở hữu
và thực thi chính sách Lộc điền để ban cấp ruộng đất cho tầng lớp quan lại cao cấp và hoàng thân quốc thích của triều đình Nhà Lê đã thực thi chính sách phong cấp ruộng đất cho công thần và quan lại nhưng cũng cấm họ lập điền trang hay trang trại tư, chế độ tư hữu về ruộng đất chững lại do áp lực mạnh mẽ của thiết chế trung ương tập quyền mạnh Bên cạnh chính sách ban cấp ruộng đất cho quan lại, Nhà nước Lê sơ còn thực hiện chính sách Quân điền để phân chia ruộng đất cho dân các làng xã Điều này thể hiện xu hướng quốc hữu hóa ruộng đất, qua
đó khẳng định quyền sở hữu tối cao về đất đai của Nhà nước
Bước sang thế kỷ XVI, sự suy yếu của Nhà nước phong kiến trung ương
và sự phát triển mạnh mẽ của chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất đã làm tổ hại
Trang 37đến chính sách quân điền Mặc dù vậy, trong những thế kỷ tiếp theo, chính sách này vẫn được duy trì và vẫn là chỗ dựa kinh tế chủ yếu của Nhà nước phong kiến trung ương Trong khi đó, chế độ tư hữu ruộng đất ngày càng phát triển nhanh chóng và đến đầu thế kỷ XIX đã chiếm tới trên 80% diện tích ruộng đất của cả nước Tuy nhiên, vai trò sở hữu tối cao của Nhà nước phong kiến không bị mất đi bởi ruộng tư vẫn bị Nhà nước thu tô và triều đình có thể ra lệnh xóa bỏ sở hữu lớn trang trại về ruộng đất Đến thế kỷ XIX, với bản chất của một nhà nước phong kiến tập quyền cao độ, triều đình nhà Nguyễn đã ra sức khôi phục và củng
cố quyền sở hữu ruộng đất của mình Điều đó thể hiện qua một loạt chính sách như lập địa bạ, ban hành phép quân điền Gia Long…(Nguyễn Văn Khánh, 2013) Pháp luật đất đai của triều Nguyễn trong luật Gia Long bảo vệ ruộng công đồng thời cũng bảo vệ ruộng tư Tuy nhiên, trên thực tế, nhà Nguyễn đã giải quyết vấn đề sở hữu ruộng đất theo hướng quốc hữu hóa gắn chặt với hạn chế tư hữu Cải cách ruộng đất thí điểm của Minh Mạng năm 1840 tại Bình Định là một
ví dụ tiêu biểu Trong suốt triều Nguyễn, quá trình phân hóa và xu hướng tư hữu hóa tự nhiên về ruộng đất diễn ra rất chậm chạp Đáng chú ý là ở Nam bộ, với chính sách hiến tư điền thành công điền và chuyển đồn điền thành công đến và nhất là với sự thành công của dự án “ đồn điền lập ấp” của Nguyễn Tri Phương
từ sau năm 1853 thì ruộng đất công tăng nhanh Tuy nhiên, khác với Bắc bộ và Trung bộ, xu hướng tư nhân hóa ruộng đất ở Nam bộ phát triển rất mạnh mẽ; đến giữa thế kỷ XIX có những nơi tỷ lệ ruộng đất tư đã chiếm 86, 5%, thậm chí đạt 97,4% Song song với quá trình duy trì và tăng cường quyền sở hữu tối cao về ruộng đất, Nhà nước còn tìm cách can thiệp ngày càng sâu vào ruộng đất công làng xã, hay nói cách khác, ruộng đất công làng xã bị phong kiến hoá ngày càng mạnh mẽ, mặc dù ở mỗi thời kỳ được gọi tên một cách khác nhau Theo Trương Hữu Quýnh, ở thời Lý - Trần “ruộng đất công làng xã tuy thuộc sở hữu Nhà nước nhưng vẫn do làng xã quản lý Đó là lý do khiến nó mang tên "quan điền", "quan điền bản xã" Cách gọi quan điền đã thể hiện quyền sở hữu của Nhà nước đối với
bộ phận ruộng đất công làng xã song từ thời nhà Lê, bộ phận ruộng đất này còn mang tên "xã dân công điền" Ruộng đất công làng xã ngoài tính chất thuộc quyền sở hữu nhà nước còn là ruộng đất của "từng xã thôn, chia cho dân trong xã cày cấy, nép tô và chính vì vậy mà nó còn có tên gọi như trên" Đến thời Lê, bộ phận ruộng đất này vẫn chiếm ưu thế, tồn tại trên phạm vi khá rộng so với ruộng đất tư Có thế đây là một trong những lý do để nhà Lê chỉ đánh thuế vào ruộng
Trang 38đất tư Sự phát triển mạnh mẽ của chế độ sở hữu và chiếm hữu tư nhân về ruộng đất đã tác động mạnh mẽ vào các hình thức sở hữu công hữu đương thời mà trước hết là ruộng đất công làng xã, thu hẹp thêm một buớc bộ phận ruộng đất này (Nguyễn Văn Khánh, 2013)
Cho đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trong các khoán ước, hương ước của từng làng xã, người ta thường xuyên bắt gặp những quy định về việc phân chia công điền công thổ Như vậy, về nguyên tắc cũng như trong thực tế cả Nhà nước và làng xã đều cố gắng duy trì, bảo vệ ruộng đất công làng xã, cố gắng thể hiện vai trò của mình ở đó Nhà nước tuy nắm quyền chi phối, nhưng trong thực
tế quyền sử dụng thực sự bộ phận ruộng đất này lại thuộc về cư dân làng xã Đây
là một biểu hiện của " phép vua thua lệ làng" Nhưng mặt khác, quyền lực của làng xã thể hiện ở bộ phận ruộng đất này dù có những lúc vượt trội lên thì xét trong toàn bộ quá trình lịch sử, về căn bản, làng xã vẫn chịu áp lực chi phối luật pháp của Nhà nước trung ương Vì vậy, dù "phép vua có thua lệ làng" nhưng "lệ làng" cũng không phá vỡ "phép vua” Ngay cả đối với sở hữu tư nhân, Nhà nước vẫn có thể can thiệp bất kỳ lúc nào khi cảm thấy mối đe dọa hiện hữu với chế độ Trung ương tập quyền (Nguyễn Văn Khánh, 2013)
d Vào thời kỳ Thuộc địa
Thực dân Pháp tiến hành xâm lược Việt Nam từ năm 1858 và đến năm
1884 cơ bản hoàn thành công cuộc chinh phục trên phạm vi toàn quốc Trong lĩnh vực đất đai, người Pháp từng bước đưa việc đo đạc, thành lập bản đồ địa chính, hồ sơ địa chính, và pháp luật đất đai vào quy phạm, làm cơ sở cho việc quản lý đất đai và bảo vệ quyền sở hữu đất đai Tuy nhiên, thời kỳ đầu thuộc Pháp, ở nước ta vẫn tồn tại song song 2 hệ thống pháp luật khác nhau về quyền
sở hữu ruộng đất Đó là luật pháp của nước Pháp áp dụng ở Việt Nam và luật pháp của triều đình phong kiến Dần dần, thực dân Pháp đã từng bước vô hiệu hóa hệ thống luật pháp truyền thống của Việt Nam và khẳng định vai trò độc tôn của luật pháp nước Pháp Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, pháp luật về đất đai được quy định một cách chặt chẽ và mang tính hiện đại, chịu ảnh hưởng sâu sắc của luật đất đai của phương Tây, mang tính chất tư sản rõ nét (Nguyễn Văn Khánh, 2013)
Nội dung pháp luật đất đai dưới thời thực dân quy định về quyền sở hữu đất đai rất rõ ràng, gồm 4 loại hình sở hữu được pháp luật bảo hộ: Sở hữu pháp nhân công (bao gồm sở hữu Nhà nước và sở hữu làng xã), sở hữu pháp nhân tư
Trang 39(bao gồm sở hữu của các Hội thương mại, các Hội được pháp luật bảo vệ), sở hữu chung (nhiều người đồng sở hữu một mảnh đất không thể phân chia), sở hữu
tư nhân (quyền sở hữu tư nhân được pháp luật bảo vệ gồm quyền chiếm hữu, hưởng dụng và định đoạt tài sản một cách tuyệt đối miễn là không vi phạm các điều khoản cấm) Chế định về quyền sở hữu cũng quy định về chế độ “địa dịch”, nghĩa là những hạn chế của một bất động sản phải gánh để không gây phương hại đến một bất động sản khác (Nguyễn Văn Khánh, 2013)
Quyền tư hữu đất đai đã được pháp luật bảo vệ, thể hiện rõ nguyên tắc nổi tiếng trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền Pháp năm 1789 là “Quyền tư hữu là thiêng liêng và bất khả xâm phạm” và đây cũng là nét khác biệt cơ bản nhất so với luật pháp về đất đai dưới các triều đại phong kiến Việt Nam Diễn biến hiện thực trong thời Pháp thuộc không hoàn toàn giống như pháp luật quy định Thực dân Pháp tôn trọng quyền tư hữu, quyền sở hữu đất đai của người Pháp và các thế lực địa chủ, tay sai người Việt nhưng không tôn trọng đất tư của nông dân nghèo Nhiều nghị định đã được ban hành quy định chi tiết về chế độ ban cấp ruộng đất đồn điền, kết quả là số lượng đồn điền và quỹ đất đồn điền tăng nhanh, lên tới 909.300 ha hoặc không có ruộng, phải lĩnh canh ruộng đất của địa chủ hoặc trở thành công nhân đồn điền (Nguyễn Văn Khánh, 2013)
Đối với Nam Kỳ, thực dân Pháp chủ trương phát triển chế độ sở hữu lớn
về ruộng đất Chính quyền thực dân đã ra nghị định bán rẻ nhiều vùng đất đai rộng lớn; chiếm đoạt đất bỏ hoang, đất công để sang nhượng cho thực dân và địa chủ người Việt, lập nên những đồn điền rộng lớn (thậm chí trên 2.000 ha) với tầng lớp đại điền chủ Nam kỳ có thế lực to lớn về kinh tế - chính trị Song mặt khác, sự phát triển của các đồn điền và sở hữu tư nhân lớn về ruộng đất cũng là điều kiện để sản xuất và tâp trung nông sản cao, thúc đẩy hoạt động xuất khẩu nông sản ra thị trường thế giới (Nguyễn Văn Khánh, 2013)
Ngược lại với Nam Kỳ, ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ, thực dân Pháp chủ trương duy trì chế độ công điền và chế độ sở hữu nhỏ về ruộng đất Để tránh cho nông dân thoát ly khỏi sản xuất nông nghiệp, chính quyền Pháp cố gắng cột chặt nông dân vào ruộng đất bằng cách duy trì một quỹ đất công phù hợp Nhiều nghị định, thông tư được ban hành nhằm cấm các làng xã bán công điền công thổ, cấm biến diện tích khai hoang mới thành đất tư, cấp thêm ruộng công cho các làng xã Vì vậy, quỹ đất công ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ đến năm 1945 vẫn còn từ 20 - 30% Ruộng đất công còn song không có nghĩa là người nông dân được hưởng lợi bởi
Trang 40vì loại đất này thường bị chia cắt thành nhiều mảnh nhỏ, thời hạn quân điền ngắn lại bị cường hào làng xã lũng đoạn Sở hữu đất công làng xã lúc này thực chất chịu sự chi phối của tầng lớp kỳ hào địa phương (Nguyễn Văn Khánh, 2013) Như vậy, dưới thời Pháp thuộc, tuy chính quyền thực dân đã công nhận
và bảo hộ quyền sở hữu tư nhân về ruộng đất song tình hình thực tế lại rất phức tạp Chủ thể nắm giữ quyền sở hữu ruộng đất thực chất là địa chủ, tư sản đối với đất tư và cường hào địa phương đối với loại đất công Một mặt, sở hữu tư nhân lớn về mặt ruộng đất được khuyến khích ở Nam Kỳ nhưng mặt khác sở hữu công điền lại được bảo vệ chặt chẽ ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ Trên bình diện cả nước, diện tích ruộng công và ruộng của các tập thể nhỏ tăng trong khi tỷ lệ ruộng tư lại
có xu hướng giảm Đây là một điều “bất bình thường” trong quy luật tiến hóa của chế độ ruộng đất nói chung ở Việt Nam dưới thời Pháp thuộc (Nguyễn Văn Khánh, 2013)
2.3.1.2 Quyền sở hữu đất đai ở Việt Nam trong thời kỳ từ 1945 - 1975
a Dưới Chính quyền Việt Nam Cộng hòa
Sau hội nghị Giơnevơ, nước Việt Nam tạm thời bị chia cắt làm 2 miền Nam - Bắc với hai chế độ chính trị, xã hội khác nhau Miền Nam đặt dưới quyền kiểm soát của chính quyền Sài Gòn với sự hỗ trợ đắc lực từ Hoa Kỳ Chính sách ruộng đất nói chung của chính quyền sài Gòn được thể hiện qua hai cuộc cải cách điền địa thời Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu Khi mới lên nắm quyền, Ngô Đình Diệm đã coi cải cách điền địa là quốc sách và là vấn đề then chốt của kinh tế ở miền Nam Cải cách điền địa dưới thời Ngô Diệm tiến hành từ 1955 đến 1963, được chia làm 2 giai đoạn Giai đoạn 1 thực hiện “Quy chế tá điền’’ nhằm quy định việc lập hợp đồng và xác định mức tô giữa tá điền và địa chủ Nội dung này thực chất chỉ mang tính cải lương vì không giải quyết vấn đề cơ bản của ruộng đất là quyền sở hữu Các địa chủ thời kỳ kháng chiến chống Pháp bị chính quyền cách mạng tịch thu ruộng đất, nay trở về chiếm đoạt lại ruộng đất và chính quyền Diệm không kiểm soát được mức tô của địa chủ (Nguyễn Văn Khánh, 2013)
Giai đoạn 2 của cải cách điền địa thời Ngô Đình Diệm liên quan trực tiếp tới quyền sở hữu đất đai nhằm mục tiêu “phân chia ruộng đất cho công bằng, giúp tá điền thành tiểu điền chủ” Nội dung cụ thể quy định địa chủ giữ lại 115
ha, số ruộng thừa ra sẽ “truất hữu” bán cho người thiếu ruộng, mỗi ruộng không quá 5 ha Thực tế, giai đoạn 2 chỉ đụng chạm đến 1/3 số diện tích đất đai của địa