Trong giai đoạn 2011 – 2015, tại các địa phương có điều kiện phát triển kinh tế, đô thị hóa nhanh thì số lượng các trường hợp giao dịch về đất đai diễn ra sôi động hơn, các xã thuần nôn
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
HOÀNG VĂN LONG
ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT Ở TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG, TỈNH THANH HÓA
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Phương Nam
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc./
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Hoàng Văn Long
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Khoa Quản lý Đất đai, Ban Quản
lý đào tạo - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Phạm Phương Nam đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ủy ban nhân dân huyện Quảng Xương, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất huyện Quảng Xương, Chi cục Thống kê huyện Quảng Xương, Ủy ban nhân dân và cán bộ địa chính của các
xã, thị trấn phỏng vấn đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và cung cấp đầy đủ các thông tin,
số liệu, tư liệu bản đồ trong quá trình nghiên cứu luận văn này
Cuối cùng tôi xin trân trọng cảm ơn các bạn học viên cùng lớp, những người thân trong gia đình và bạn bè đã giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả Luận văn
Hoàng Văn Long
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 4
2.1 Một số vấn đề lý luận liên quan đến quyền của người sử dụng đất 4
2.1.1 Quyền sở hữu về đất đai 4
2.1.2 Quyền sử dụng đất 5
2.1.3 Người sử dụng đất 6
2.1.4 Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất 7
2.2 Quyền sở hữu, quyền sử dụng đất đai tại một số nước trên thế giới 10
2.2.1 Thụy Điển 10
2.2.2 Ôxtrâylia 12
2.2.3 Trung Quốc 13
2.2.4 Malayxia 15
2.2.5 Kinh nghiệm về thực hiện quyền của người sử dụng đất đối với Việt Nam 16
2.3 Thực hiện quyền của người sử dụng đất tại việt nam và tỉnh Thanh Hóa 16
2.3.1 Thực hiện quyền của người sử dụng đất tại Việt Nam 16
2.3.2 Thực trạng thực hiện quyền sử dụng đất của cả nước và tại tỉnh Thanh Hóa 23
Trang 5Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 28
3.1 Địa điểm nghiên cứu 28
3.2 Thời gian nghiên cứu 28
3.3 Đối tượng nghiên cứu 28
3.4 Nội dung nghiên cứu 28
3.4.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Quảng Xương 28
3.4.2 Thực trạng quản lý, sử dụng đất tại huyện Quảng Xương 28
3.4.3 Đặc điểm thực hiện quyền sử dụng đất ở tại huyện Quảng Xương 28
3.4.4 Đánh giá việc thực hiện quyền sử dụng đất ở tại huyện Quảng Xương 28
3.4.5 Giải pháp hoàn thiện việc thực hiện quyền sử dụng đất ở tại huyện Quảng Xương 28
3.5 Phương pháp nghiên cứu 28
3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 28
3.5.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 29
3.5.3 Phương pháp xử lý, phân tích, so sánh số liệu 30
3.5.4 Phương pháp đánh giá 31
Phần 4 Kết quả và thảo luận 32
4.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Quảng Xương tỉnh Thanh Hóa 32
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 32
4.1.2 Các nguồn tài nguyên 34
4.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 39
4.2 Thực trạng quản lý, sử dụng đất tại huyện quảng Xương 42
4.2.1 Thực trạng quản lý đất đai tại huyện Quảng Xương 42
4.2.2 Thực trạng sử dụng đất tại huyện Quảng Xương 44
4.3 Kết quả thực hiện quyền sử dụng đất ở tại huyện Quảng Xương 47
4.3.1 Thực hiện quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở 50
4.3.2 Thực hiện quyền thừa kế quyền sử dụng đất ở 53
4.3.3 Thực hiện quyền tặng cho quyền sử dụng đất ở 56
4.3.4 Thực hiện quyền thế chấp quyền sử dụng đất ở 60
4.4 Đánh giá việc thực hiện quyền của người sử dụng đất ở trên địa bàn huyện Quảng Xương 63
Trang 64.4.1 Đánh giá của người sử dụng đất 63
4.4.2 Đánh giá của cán bộ, công chức, viên chức 68
4.4.3 Đánh giá chung việc thực hiện quyền của người sử dụng đất ở tại huyện Quảng Xương 74
4.5 Một số giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn quyền của người sử dụng đất ở trên địa bàn huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa 78
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 80
5.1 Kết luận 80
5.2 Kiến nghị 81
Tài liệu tham khảo 82
Phụ lục 84
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
CC, VC Công chức, viên chức
CNH Công nghiệp hóa
GCN Giấy chứng nhận
GCNQSDĐ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HĐH Hiện đại hóa
UBND Ủy ban nhân dân
VPĐKQSDĐ Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất XHCN Xã hội chủ nghĩa
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Số lượng phiếu phỏng vấn hộ gia đình, cá nhân thực hiện quyền của người
sử dụng đất ở tại huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa 30 Bảng 4.1 Bảng hiện trạng sử dụng đất năm 2015 huyện Quảng Xương 45 Bảng 4.2 Bảng tổng hợp đăng ký thực hiện quyền của người sử dụng đất ở phân
theo loại quyền (Giai đoạn 2011-2015) 47 Bảng 4.3 Bảng tổng hợp số vụ chuyển nhượng QSD đất ở giai đoạn 2011-2105
huyện Quảng Xương 51 Bảng 4.4 Bảng tổng hợp số vụ giao dịch thừa kế QSD đất ở tại huyện Quảng
Xương đoạn 2011-2015 54 Bảng 4.5 Bảng tổng hợp số vụ tặng cho QSD đất ở tại huyện Quảng Xương giai
đoạn 2011-2015 57 Bảng 4.6 Bảng tổng hợp số vụ giao dịch thế chấp QSD đất ở tại huyện Quảng
Xương giai đoạn 2011-2015 60 Bảng 4.7 Đánh giá của công dân về bộ phận TN&TKQ và trình tự thủ tục thực
hiện QSDĐ 64 Bảng 4.8 Đánh giá của công dân về thời hạn trả kết quả và tính chuyên nghiệp
của bộ phận TN&TKQ 65 Bảng 4.9 Đánh giá của công dân về nghĩa vụ tài chính và mức độ hiểu biết pháp
luật đất đai 66 Bảng 4.10 Ý kiến góp ý khác của công dân khi thực hiện TTHC 67 Bảng 4.11 Đánh giá của cán bộ, công chức, viên chức về cơ sở vật chất, nhân lực và
áp lực của việc giải quyết TTHC trong lĩnh vực đất đai 69 Bảng 4.12 Đánh giá của cán bộ, công chức, viên chức thực hiện về TTHC lĩnh vực
đất đai, mức độ hiểu biết và chấp hành pháp luật đất đai 71 Bảng 4.13 Đánh giá của cán bộ, công chức, viên chức về mức độ phối hợp, mức
thu phí và lệ phí của công dân khi thực hiện giải quyết TTHC 72 Bảng 4.14 Tổng hợp ý kiến góp ý khác của cán bộ, công chức, viên chức thực
hiện các thủ tục hành chính về quyền sử dụng đất 73
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Sơ đồ vị trí địa lý huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa 32 Hình 4.2 Cơ cấu đất đai huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa 46 Hình 4.3 Biểu đồ số vụ giao dịch QSDĐ ở huyện Quảng Xương giai đoạn
2011-2015 phân theo từng loại quyền 49 Hình 4.4 Biểu đồ số vụ chuyển nhượng QSDĐ ở trên địa bàn huyện Quảng
Xương giai đoạn 2011-2015 52 Hình 4.5 Biểu đồ số vụ thừa kế QSDĐ ở trên địa bàn huyện Quảng Xương giai
đoạn 2011-2015 55 Hình 4.6 Biểu đồ số vụ tặng cho QSDĐ ở trên địa bàn huyện Quảng Xương giai
đoạn 2011-2015 58 Hình 4.7 Biểu đồ số vụ thế chấp QSDĐ ở trên địa bàn huyện Quảng Xương giai
đoạn 2011-2015 62
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Hoàng Văn Long
Tên Luận văn: “Đánh giá việc thực hiện quyền của người sử dụng đất ở trên địa
bàn huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá”
Phương pháp nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu: Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Quảng
Xương; Thực trạng quản lý, sử dụng đất tại huyện Quảng Xương; Đặc điểm thực hiện quyền sử dụng đất ở tại huyện Quảng Xương; Đánh giá việc thực hiện quyền sử dụng đất ở tại huyện Quảng Xương; Giải pháp hoàn thiện việc thực hiện quyền sử dụng đất ở tại huyện Quảng Xương
Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp; Phương pháp thu thập
số liệu sơ cấp; Phương pháp xử lý, phân tích, so sánh số liệu; Phương pháp đánh giá
Kết quả chính và kết luận
Trong giai đoạn 2011-2015, huyện Quảng Xương đã hoàn thành công tác giải quyết thủ tục hành chính cho 31.568 trường hợp thực hiện quyền của người sử dụng đất trên tổng số 32.147 trường hợp đến đăng ký thực hiện chiếm 98,19%, so với số lượng GCN QSDĐ đã cấp là 62.355 GCN thì giai đoạn này tỷ lệ thực hiện quyền của người sử dụng đất khoảng 50,62% Trong giai đoạn 2011 – 2015, tại các địa phương
có điều kiện phát triển kinh tế, đô thị hóa nhanh thì số lượng các trường hợp giao dịch về đất đai diễn ra sôi động hơn, các xã thuần nông lượng giao dịch kém sôi động hơn Kết quả nghiên cứu cho thấy, về cơ bản các trường hợp chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp, tặng cho đã được thực hiện theo quy định với 142/180 phiếu điều tra có hồ sơ giải quyết TTHC đúng hẹn đạt 78,9%; đánh giá của người sử dụng đất
Trang 11liên quan đến bộ phận tiếp nhận và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính ở mức trung khá, có 119/180 hộ được phỏng vấn cảm thấy hài lòng với bộ phận tiếp nhận
và trả kết quả đạt 66,1% Đội ngũ cán bộ, viên chức thực hiện việc giải quyết TTHC liên quan đến quyền của người sử dụng đất cơ bản đáp ứng yêu cầu của công việc (100% ý kiến đánh giá của cán bộ, viên chức) Bên cạnh những ưu điểm vẫn còn những tồn tại và hạn chế như việc quản lý các trường hợp thực hiện quyền của người
sử dụng đất chưa toàn diện, đội ngũ cán bộ chưa đủ để đáp ứng yêu cầu công việc Điều kiện cơ sở vật chất vẫn còn khó khăn chưa đáp ứng được yêu cầu công việc, đặc biệt đối với các xã, thị trấn
Thực hiện quyền của người sử dụng đất ở tại huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn 2011-2015 đã đạt được những kết quả nhất định, song vẫn còn một
số hạn chế cần được khắc phục thông qua hoàn thiện công tác cấp GCN quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; kiện toàn bộ máy thực hiện quyền của người sử dụng đất; tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước về đất đai và đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về đất đai cho người dân
Trang 12THESIS ABSTRACT Master candidate: Hoang Van Long
Thesis title: "Evaluation of the Implementation of Housing Land Use Rights in
Quang Xuong District, Thanh Hoa Province"
Major: Land Management Code: 60.85.01.03
Educational Organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
Research Contents: General conditions of natural, economic and socio of Quang
Xuong district; Situation management and use of land in Quang Xuong district; Features of exercising the right to use land in Quang Xuong district; Assess the implementation of the right to use land in Quang Xuong district; Solutions to improve the implementation of the right to use land in Quang Xuong district
Research Methods: Methods of collecting secondary data; Methods of collecting
primary data; Treatment methods, analysis and comparison of data; Evaluation methods
Main findings and conclusions
In the period 2011-2015, Quang Xuong district has completed the settlement of administrative procedures for the implementation of 31568 cases of land use right out of
32147 registered cases to account for 98,19% implemented, compared to the number issued is 62355 land titles this stage, the rate of implementation of the land use rights of about 52,62% In the period 2011 - 2015, in the local economic development conditions, rapid urbanization, the number of cases of land transactions more active place, the agricultural commune of transactions less exciting more study results showed that, basically transfer cases, inheritance, mortgage, donation was carried out in accordance with the questionnaire 142/180 settlement record punctuality reached 78 administrative procedure, 9%; evaluation of land use related to the adoption agency and result-solving administrative procedures to its pretty, with 119/180 households interviewed feel satisfied with the adoption agency and result reaching 66.1% Staff and employees implement the resolution related to the administrative procedures of the basic land use
to meet the requirements of the job (100% feedback of officers and employees) Besides
Trang 13the advantages still exist and restrictions as the management of the case the rights of land users are not comprehensive, not enough staff to meet work requirements Infrastructure conditions are still difficult not meet job requirements, especially for the communes and towns
The implementation of housing land use rights in Quang Xuong district, Thanh Hoa province in 2011-2015 has achieved certain results, but there are still some limitations that need to be overcome through the issuance perfection of titles of land use rights, ownership of houses and other assets attached to the land; apparatus consolidate the rights of land users; continue to reform administrative procedures, improve operational efficiency of the State management agencies on land and promote the dissemination and popularization of laws on land to the people
Trang 14PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đất đai luôn là nguồn tài nguyên quý của mọi quốc gia, bởi lẽ đó là tư liệu sản xuất quan trọng để sản xuất ra của cải vật chất cho sự tồn tại và phát triển của
xã hội loài người; đồng thời, đất đai là nguồn tài nguyên có hạn về số lượng, nên việc quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả nhất luôn là vấn đề mà Chính phủ của các quốc gia đặc biệt quan tâm và được quản lý chặt chẽ bằng luật pháp Trong quá trình phát triển xã hội, đất đai và tài sản gắn liền với đất được chuyển từ chủ này qua chủ khác, từ mục đích sử dụng này sang mục đích sử dụng khác Để quản lý tốt đất đai, quản lý các mối quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản
lý và sử dụng đất, tất cả thay đổi về đất, về tài sản gắn liền với đất cần phải được quản lý bằng công tác đăng ký đất đai tại cơ quan nhà nước
Ở Việt Nam, Luật Đất đai năm 2003 đã quy định các quyền chung của người sử dụng đất và quy định chi tiết “9 quyền” Luật Đất đai năm 2013 được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2013 quy định chi tiết về 7 quyền chung (quyền được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản khác gắn liền với đất; hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất; hưởng các lợi ích do công trình của Nhà nước phục vụ việc bảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp; được Nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp; được nhà nước bảo hộ khi bị người khác xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của mình; được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định; được khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai)
và 8 quyền của người sử dụng đất (Quyền chuyển đổi, quyền chuyển nhượng,
quyền cho thuê, quyền cho thuê lại, quyền thừa kế, quyền tặng cho quyền sử dụng đất, quyền thế chấp, quyền góp vốn bằng quyền sử dụng đất) Quyền sử dụng đất
là một nét mới sáng tạo của pháp luật đất đai Việt Nam trong thời kỳ đổi mới Trên
cơ sở chế độ sở hữu toàn dân, các quyền sử dụng đất mở, tạo điều kiện cho người
sử dụng đất gắn bó với đất đai, đầu tư vốn và lao động khai thác sử dụng hợp lý, hiệu quả đất đai, phát huy nội lực xây dựng nước mạnh, dân giàu, xã hội công bằng, dân chủ văn minh
Thực tiễn trong thực hiện các QSDĐ tại mỗi địa phương có sự khác nhau
do đặc thù về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội cũng như nhận thức của
Trang 15người dân ở mỗi vùng Huyện Quảng Xương là một trong những trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của tỉnh Thanh Hoá, có vị trí thuận lợi cho việc giao lưu và phát triển kinh tế Trong những năm gần đây cùng với cả nước thực hiện CNH – HĐH kéo theo nhu cầu về sử dụng đất đai có xu hướng ngày càng tăng lên và các hoạt động thực hiện các quyền của người sử dụng đất trên địa bàn huyện diễn ra khá mạnh mẽ, trong khi đó việc thực hiện các quyền của người sử dụng đất còn nhiều bất cập, đặc biệt đối với đất ở Do vậy,
thực hiện đề tài: “Đánh giá việc thực hiện quyền của người sử dụng đất ở
trên địa bàn huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá” là thực sự cần thiết
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Đánh giá tình hình thực hiện quyền của người sử dụng đất ở trên địa bàn huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá
- Đề xuất một số giải pháp thực hiện tốt hơn quyền của người sử dụng đất ở trên địa bàn huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng là người thực hiện các quyền về sử dụng đất ở trên địa bàn huyện Quảng Xương
- Đề tài đi sâu nghiên cứu việc thực hiện 04 quyền của người sử dụng đất
ở (quyền chuyển nhượng, quyền thừa kế, quyền tặng cho, quyền thế chấp bằng quyền sử dụng đất ở của hộ gia đình, cá nhân) trên địa bàn 35 xã và 01 thị trấn thuộc huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn 2011-2015 Đây
là những quyền được thực hiện nhiều nhất, phổ biến nhất so với các quyền khác trong giai đoạn nghiên cứu và có nhiều vấn đề tồn tại liên quan cần được xem xét giải quyết
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 1.4.1 Những đóng góp mới
Luận văn đã chỉ ra những ưu điểm và những tồn tại, nguyên nhân của các tồn tại khi thực hiên quyền của người sử dụng đất ở tại huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa, trên cơ sở đó đã đề xuất giải pháp hoàn thiện việc thực hiện quyền của người sử dụng đất trong thời gian tới trên địa bàn nghiên cứu
1.4.2 Ý nghĩa khoa học
Luận văn đã làm rõ hơn và hệ thống hóa những vấn đề lý luận về người
sử dụng đất, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, kinh nghiệm thực hiện quyền của người sử dụng đất tại một số nước trên thế giới
Trang 161.4.3 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, cán bộ quan tâm đến việc thực hiện quyền của người sử dụng đất Ngoài ra, những giải pháp được đề xuất trong luận văn có thể để các
cơ quan, đơn vị trên địa bàn huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa áp dụng nhằm hoàn thiện hơn nữa việc thực hiện quyền của người sử dụng đất
Trang 17PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT
2.1.1 Quyền sở hữu về đất đai
2.1.1.1 Khái niệm quyền sở hữu về đất đai
Quyền sở hữu về đất đai là một dạng quyền sở hữu về tài sản, gọi tắt là quyền sở hữu Quyền sở hữu được quy định trong Điều 164 của Bộ luật Dân
sự năm 2005 bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân và chủ thể khác Sở hữu về đất đai thể hiện quan hệ giữa người với người trong chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đất đai (Nguyễn Văn Khánh, 2013)
Quyền chiếm hữu đất đai là quyền nắm giữ, quản lý đất đai thuộc sở hữu của mình Trong một số trường hợp theo quy định của pháp luật thì người không phải là chủ sở hữu tài sản cũng có quyền chiếm hữu tài sản (Nguyễn Văn Khánh, 2013)
Quyền sử dụng đất đai là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ đất đai của chủ sở hữu Chủ sở hữu được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ đất đai theo ý chí của mình nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác Người không phải là chủ sở hữu cũng có quyền
sử dụng đất đai trong trường hợp được chủ sở hữu giao quyền sử dụng, điều này thấy rõ trong việc Nhà nước giao quyền sử dụng đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân (Nguyễn Văn Khánh, 2013)
Quyền định đoạt về đất đai là quyền chuyển giao quyền sở hữu đất đai hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó Chủ sở hữu có quyền bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, từ bỏ hoặc thực hiện các hình thức định đoạt khác phù hợp với quy định của pháp luật đối với đất đai (Nguyễn Văn Khánh, 2013)
2.1.1.2 Các hình thức sở hữu về đất đai
Các hình thức sở hữu về đất đai bao gồm: sở hữu nhà nước, sở hữu tập
thể, sở hữu tư nhân và sở hữu toàn dân
Sở hữu nhà nước về đất đai là hình thức sở hữu mà chủ sở hữu là Nhà nước Với tư cách là chủ sở hữu, Nhà nước thực hiện quyền chiếm hữu, quyền định đoạt và quyền sử dụng đối với đất đai Tại Việt Nam trước năm 1980, sở
Trang 18hữu nhà nước về đất đai là một trong những hình thức sở hữu về đất đai và được quy định trong Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959
Sở hữu tập thể về đất đai là hình thức sở hữu mà chủ sở hữu là tập thể (hợp tác xã, doanh nghiệp, cộng đồng dân cư hoặc tập thể khác) Cũng như đối với sở hữu nhà nước về đất đai, sở hữu tập thể về đất đai tại Việt Nam được quy định trong Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959
Sở hữu tư nhân về đất đai là hình thức sở hữu mà chủ sở hữu là cá nhân
và hộ gia đình Cá nhân, hộ gia đình sở hữu đất đai được thực hiện quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt đối với đất đai như bán đất, tặng cho đất đai, từ bỏ quyền sở hữu về đất đai và các quyền khác theo quy định của pháp luật Quyền sở hữu tư nhân về đất đai cũng được quy định tại Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959
Sở hữu toàn dân về đất đai là hình thức sở hữu về đất đai mà chủ sở hữu là toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Với tư cách là đại diện chủ sở hữu về đất đai, Nhà nước thực hiện quyền chiếm hữu, định đoạt và Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân, tập thể và các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài,
tổ chức ngoại giao, người Việt Nam định cư nước ngoài để khai thác, sử dụng Khái niệm sở hữu toàn dân lần đầu tiên được đưa vào Hiến pháp năm
1980 và tiếp tục được quy định trong Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm
2013 (Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩaViệt Nam, 1992, 2013)
Tại Việt Nam, với tư cách đại diện chủ sở hữu về đất đai, Nhà nước không trực tiếp sử dụng đất mà giao cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài nhưng Nhà nước không mất đi quyền sử dụng đất đai của mình Bởi vì, Nhà nước thực hiện quyền sử dụng đất bằng các hình thức chủ yếu sau: Thông qua việc xây dựng, xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để phân định mục đích sử dụng cho từng loại đất cụ thể; Thông qua việc
Trang 19xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất buộc các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân phải thực hiện trong quá trình sử dụng đất Điều này có nghĩa là thông qua quá trình sử dụng đất của người sử dụng
mà các ý tưởng sử dụng đất của Nhà nước sẽ trở thành hiện thực Đồng thời, người sử dụng đất trong quá trình sử dụng phải đóng góp một phần lợi ích mà
họ thu được từ việc sử dụng đất đai dưới dạng những nghĩa vụ vật chất cho Nhà nước thông qua hình thức như nộp thuế sử dụng đất, thuế chuyển quyền
sử dụng đất, nộp lệ phí địa chính, lệ phí trước bạ, nộp tiền sử dụng đất Quyền sử dụng đất đai của Nhà nước phát sinh dựa trên cơ sở Nhà nước là đại diện chủ sở hữu đất đai nên quyền sử dụng đất này là vĩnh viễn, trọn vẹn và không bị ai hạn chế Còn quyền sử dụng đất của người sử dụng xuất hiện khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép nhận chuyển quyền sử dụng đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất và phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước, bị hạn chế bởi diện tích, thời hạn và mục đích sử dụng Như vậy, “Quyền sử dụng đất” là một khái niệm có tính sáng tạo đặc biệt của các nhà luật pháp Việt Nam Trong điều kiện đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân và không thể phân chia thì làm thế nào để người dân thực hiện được quyền của mình? Để người dân có thể khai thác, sử dụng đất đai có hiệu quả, đáp ứng được nhu cầu của sản xuất và đời sống mà lại không làm mất đi ý nghĩa tối cao của tính toàn dân, không mất đi vai trò quản lý với tư cách đại diện chủ sở hữu của Nhà nước? Khái niệm “quyền sử dụng đất” của “người sử dụng đất” chính là sự sáng tạo pháp luật, giải quyết được mâu thuẫn nói trên và làm hài hòa được các lợi ích của quốc gia, Nhà nước
và mỗi người dân (Đinh Dũng Sỹ, 2003)
2.1.3 Người sử dụng đất
Theo Điều 5, Luật Đất đai năm 2013, người sử dụng đất bao gồm các đối tượng như: tổ chức trong nước gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức sự nghiệp công lập và tổ chức khác theo quy định của pháp luật về dân
sự (gọi chung là tổ chức); hộ gia đình, cá nhân trong nước (gọi chung là hộ gia đình, cá nhân); cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố và điểm dân cư tương tự có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ;
Trang 20Ngoài các đối tượng kể trên còn có cơ sở tôn giáo gồm chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, niệm phật đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và cơ sở khác của tôn giáo;
tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao gồm cơ quan đại diện ngoại giao,
cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện khác của nước ngoài có chức năng ngoại giao được Chính phủ Việt Nam thừa nhận; cơ quan đại diện của tổ chức thuộc Liên hợp quốc, cơ quan hoặc tổ chức liên chính phủ, cơ quan đại diện của tổ chức liên chính phủ; người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo quy định của pháp luật về quốc tịch; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gồm doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp Việt Nam mà nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại theo quy định của pháp luật về đầu tư
2.1.4 Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất
2.1.4.1 Quyền của người sử dụng đất
a) Quyền chung của người sử dụng đất
Theo Điều 166, Luật Đất đai năm 2013, người sử dụng đất có các quyền chung là được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất; hưởng các lợi ích do công trình của Nhà nước phục vụ việc bảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp; được Nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp; được Nhà nước bảo hộ khi người khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của mình; được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định; khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác
vi phạm pháp luật về đất đai
b) Quyền riêng của người sử dụng đất
Theo Điều 167, Luật Đất đai năm 2013, người sử dụng đất có các quyền: Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất
Chuyển đổi QSDĐ là hành vi chuyển QSDĐ trong các trường hợp: nông dân cùng một địa phương (cùng một xã, phường, thị trấn) đổi đất (nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản) cho nhau
để tổ chức lại sản xuất, hợp thửa, chỉnh trang đồng ruộng, tiện canh tiện cư,
Trang 21giải tỏa xâm phụ canh hoặc khắc phục sự manh mún khi phân phối đất đai công bằng theo kiểu “có tốt, có xấu, có gần, có xa”; những người có đất ở trong cùng một địa phương (cùng xã, phường, thị trấn) có cùng nguyện vọng thay đổi chỗ ở Như vậy, chuyển đổi QSDĐ giữa các chủ sử dụng đất không nhằm mục đích thương mại
Chuyển nhượng QSDĐ là hành vi chuyển QSDĐ, trong trường hợp người sử dụng đất chuyển đi nơi khác, chuyển sang làm nghề khác, không có khả năng sử dụng hoặc để thực hiện quy hoạch sử dụng đất mà pháp luật cho phép Trong trường hợp này, người nhận đất phải trả cho người chuyển QSDĐ một khoản tiền tương ứng với mọi chi phí mà họ phải bỏ ra để có được QSDĐ đó và số đầu tư làm tăng giá trị đất đai Đặc thù của việc chuyển nhượng QSDĐ là ở chỗ: đất đai vẫn thuộc sở hữu toàn dân và việc chuyển quyền chỉ thực hiện trong giới hạn của thời gian giao đất; Nhà nước có quyền điều tiết phần địa tô chênh lệch thông qua việc thu thuế chuyển QSDĐ, thuế
sử dụng đất và tiền sử dụng đất; Nhà nước có thể quy định một số trường hợp không được chuyển QSDĐ; mọi cuộc chuyển nhượng QSDĐ đều phải đăng ký biến động về đất đai, nếu không sẽ bị xem là hành vi phạm pháp
Cho thuê QSDĐ là thỏa thuận giữa các HGĐ, cá nhân với nhau theo đó bên cho thuê QSDĐ cho bên thuê trong một thời hạn, còn bên thuê trả tiền thuê và sử dụng đất đúng mục đích sử dụng đất mà pháp luật quy định Cho thuê QSDĐ là hoạt động phổ biến trong nền kinh tế thị trường và có thể coi đó
là một dạng chuyển nhượng QSDĐ có điều kiện và bị giới hạn trong một khoảng thời gian nhất định Hoạt động này giải quyết được nhu cầu của người
có QSDĐ nhưng không trực tiếp sử dụng và không muốn chuyển nhượng QSDĐ và những người muốn mở rộng quy mô sản xuất nhưng không muốn hoặc không có đủ điều kiện để nhận chuyển nhượng QSDĐ Cho thuê lại QSDĐ được thực hiện trong trường hợp người có QSDĐ là người được nhà nước cho thuê đất để đầu tư xây dựng hạ tầng khu công nghiệp, khu thương mại, văn phòng cho các tổ chức cá nhân thuê lại QSDĐ trên đất đã hoàn thành cơ sở hạ tầng để kinh doanh, sản xuất; Người thuê phải trả cho chủ sử dụng đất một khoản tiền nhất định, thời hạn và giá QSDĐ cho thuê theo thỏa thuận giữa bên cho thuê và bên thuê lại QSDĐ (Đào Trung Chính, 2005) Thừa kế QSDĐ là việc chuyển QSDĐ của người đã chết sang cho người thừa kế theo quy định của Bộ luật dân sự và pháp luật về đất đai (Điều
Trang 22733 Bộ luật dân sự 2005) Theo Bộ luật dân sự và Luật Đất đai hiện hành thì thừa kế là một quan hệ xã hội và QSDĐ được coi là di sản thừa kế Thừa kế là một dạng đặc biệt của quan hệ chuyển nhượng và quan hệ này được giới hạn ở phạm vi và chủ thể thực hiện Chỉ những người có quan hệ với nhau về huyết thống, hôn nhân hoặc nghĩa vụ trực tiếp với nhau về kinh tế mới được nhận thừa kế QSDĐ Người thừa kế không phải nộp thuế thu nhập từ việc nhận chuyển nhượng QSDĐ (Nguyễn Đình Bồng, 2012)
Tặng cho QSDĐ là việc chuyển QSDĐ từ chủ thể đất này sang chủ thể khác mà không cần có sự đền bù về mặt vất chất Thực chất tặng cho QSDĐ là một dạng đặc biệt của quan hệ chuyển nhượng QSDĐ nhưng việc chuyển nhượng này có giá trị thanh toán bằng không Tặng cho QSDĐ phải có sự thống nhất giữa các bên trong quan hệ tặng cho QSDĐ, ngoại trừ trường hợp người nhận tặng cho không muốn nhận tặng cho QSDĐ (Nguyễn Hải An, 2012)
Thế chấp QSDĐ là một hình thức chuyển QSDĐ (không đầy đủ) trong quan hệ tín dụng Người làm thế chấp vay nợ, lấy đất đai làm vật thế chấp để thi hành trách nhiệm vay nợ với người cho vay; đất đai dùng làm vật thế chấp không được chuyển dịch, vẫn do người thế chấp chiếm hữu, sử dụng và dùng
nó đảm bảo một giá trị nhất định; khi người thế chấp đến kỳ không thể trả nợ được, người nhận thế chấp có quyền đem đất đai phát mại và ưu tiên thanh toán để thu hồi vốn Thế chấp đất đai là cơ sở của thế chấp tài sản trong thị trường bất động sản, trong thế chấp bất động sản thì phần lớn giá trị nằm trong giá trị QSDĐ Trong trường hợp người vay tiền không có QSDĐ để thế chấp thì có thể dùng phương thức bảo lãnh để huy động vốn, đó là dựa vào một cá nhân hay tổ chức cam kết dùng QSDĐ của họ để chịu trách nhiệm thay cho khoản vay của mình (Nguyễn Đình Bồng và cs., 2006)
Góp vốn bằng giá trị QSDĐ là hành vi mà người có QSDĐ có thể dùng đất đai làm cổ phần để tham gia kinh doanh, sản xuất, xây dựng xí nghiệp Phương thức góp vốn bằng QSDĐ là cách phát huy quyền năng đất đai trong việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế địa phương trong các trường hợp phải chuyển hàng loạt đất nông nghiệp thành đất phi nông nghiệp, phát triển xí nghiệp, dịch vụ, thương mại mà vẫn đảm bảo được việc làm và thu nhập cho nông dân – là một trong những lựa chọn phù hợp với con đường hiện đại hóa và công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn (Trần Quang Huy, 2009)
Trang 23Theo Điều 188 Luật Đất đai năm 2013, để thực hiện các quyền trên, người sử dụng đất cần có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản
3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật Đất đai năm 2013; đất không có tranh chấp; quyền sử dụng đất không bị
kê biên để bảo đảm thi hành án và trong thời hạn sử dụng đất
2.1.4.2 Nghĩa vụ của người sử dụng đất
Theo Điều 170, Luật Đất đai năm 2013, người sử dụng đất phải sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới thửa đất, đúng quy định về sử dụng độ sâu trong lòng đất và chiều cao trên không, bảo vệ các công trình công cộng trong lòng đất và tuân theo các quy định khác của pháp luật có liên quan; thực hiện
kê khai đăng ký đất đai; làm đầy đủ thủ tục khi chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho QSDĐ; thế chấp, góp vốn bằng giá trị QSDĐ theo quy định của pháp luật; thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật; thực hiện các biện pháp bảo vệ đất; tuân theo các quy định về bảo vệ môi trường, không làm tổn hại đến lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất có liên quan; tuân theo các quy định của pháp luật về việc tìm thấy vật trong lòng đất; giao lại đất khi Nhà nước có quyết định thu hồi đất, khi hết thời hạn sử dụng đất mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền gia hạn
sử dụng
2.2 QUYỀN SỞ HỮU, QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI TẠI MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
2.2.1 Thụy Điển
Tại Thụy Điển, pháp luật đất đai về cơ bản dựa trên việc sở hữu tư nhân
về đất đai và nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, sự giám sát chung của xã hội tồn tại trên rất nhiều lĩnh vực, như phát triển đất đai và bảo vệ môi trường Hoạt động giám sát là một hoạt động phổ biến trong tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế thị trường cho dù hệ thống pháp luật về chi tiết được hình thành khác nhau
Hệ thống pháp luật về đất đai của Thụy Điển gồm có rất nhiều đạo luật, luật, pháp lệnh phục vụ cho các hoạt động đo đạc địa chính và quản lý đất đai Các hoạt động cụ thể như hoạt động địa chính, quy hoạch sử dụng đất, đăng
ký đất đai, bất động sản và việc xây dựng ngân hàng dữ liệu đất đai… đều được luật hóa Dưới đây là một số đặc điểm nổi bật của pháp luật, chính sách đất đai của Thụy Điển (Nguyễn Thị Thu Hồng, 2000)
Trang 24- Việc đăng ký quyền sở hữu: Việc đăng ký quyền sở hữu khi thực hiện
chuyển nhượng đất đai: Tòa án thực hiện đăng ký quyền sở hữu khi có các chuyển nhượng đất đai Người mua phải đăng ký quyền sở hữu của mình trong vòng 3 tháng sau khi mua Bên mua nộp hợp đồng chuyển nhượng để xin đăng
ký Tòa án sẽ xem xét, đối chiếu với Sổ đăng ký đất Nếu xét thấy hợp pháp, Tòa sẽ tiến hành đăng ký quyền sở hữu để người mua là chủ sở hữu mới Các bản sao của hợp đồng chuyển nhượng sẽ lưu tại tòa án, bản gốc được trả lại cho bên mua Tòa án cũng xem xét các hạn chế về chuyển nhượng của bên bán (như cấm bán)
Đăng ký đất là bắt buộc tại Thụy Điển nhưng hệ quả pháp lý quan trọng lại xuất phát từ hợp đồng chứ không phải từ việc đăng ký Vì vậy, chuyển nhượng là một hợp đồng cá nhân (không có sự làm chứng về mặt pháp lý và không có xác nhận của cơ quan công chứng) nên rất khó kiểm soát được việc đăng ký Tuy nhiên ở đây hầu như tất cả các cuộc mua bán, chuyển nhượng đều được đăng ký Do vậy, việc đăng ký sẽ tăng thêm sự vững chắc về quyền
sở hữu của chủ mới, quyền được ưu tiên khi có tranh chấp với một bên thứ ba nào đó, và quan trọng hơn, quyền sở hữu được đăng ký rất cần thiết khi thế chấp (Nguyễn Thị Thu Hồng, 2000)
- Vấn đề thế chấp: Quyền sở hữu được đăng ký sau khi hợp đồng được
ký kết nhưng thế chấp lại được thực hiện theo một cách khác Theo quy định của pháp luật về thế chấp, có 3 bước để thực hiện thế chấp:
Bước 1: Người sở hữu đất đai làm đơn xin thế chấp để vay một khoản tiền Nếu đơn được duyệt thì thế chấp đó sẽ được đăng ký và toà án sẽ cấp cho chủ sở hữu một văn bản xác nhận đủ điều kiện thế chấp Văn bản xác nhận đủ điều kiện thế chấp này sẽ được sử dụng cho một cam kết thế chấp thực thế được thực hiện sau khi đăng ký
Bước 2: Văn bản xác nhận đủ điều kiện thế chấp được gửi cho bên cho vay Khi thực hiện bước 1, toà án không kiểm tra, xác minh các yêu cầu đối với thế chấp Yêu cầu đối với thế chấp chỉ được xét đến khi thực sự sử dụng bất động sản để vay vốn (tức là chỉ được xem xét đến ở bước 2) Các yêu cầu đặt ra khi thế chấp là: bên đi vay phải là chủ sở hữu bất động sản; bên cho vay cần đặt ra các điều kiện cho người đi vay; bên đi vay phải cam kết việc thực hiện thế chấp và bên cho vay sẽ giữ văn bản thế chấp Khi không đáp ứng các
Trang 25yêu cầu này thì thế chấp sẽ không hợp pháp Đó là trình tự thế chấp theo quy định của pháp luật nhưng trên thực tế hầu hết các thế chấp đều do ngân hàng
và các tổ chức tín dụng thực hiện Tại ngân hàng, bên đi vay sẽ ký ba văn bản: hợp đồng vay (nêu rõ lượng tiền vay), hợp đồng thế chấp (thế chấp bất động sản) và một đơn gửi toà án để xin đăng ký thế chấp Ngân hàng sẽ giữ hai tài liệu đầu tiên và gửi đơn xin thế chấp đến toà án Sau khi được xử lý, đơn xin thế chấp lại được chuyển lại ngân hàng và lưu trong hồ sơ thế chấp Thông thường ngân hàng đợi đến khi có quyết định phê duyệt của toà án mới chuyển tiền cho người đi vay Khi nợ thế chấp được thanh toán hết, văn bản xác nhận
đủ điều kiện thế chấp sẽ được trả lại cho bên đi vay
Bước 3: Được áp dụng khi hợp đồng thế chấp bị vi phạm Khi không được thanh toán theo đúng hợp đồng, bên cho vay sẽ làm đơn xin tịch thu tài sản để thế
nợ Việc này sẽ do một cơ quan có thẩm quyền đặc biệt thực hiện, đó là: Cơ quan thi hành pháp luật Nếu yêu cầu không được chấp thuận, tài sản sẽ được bán đấu giá và bên cho thế chấp sẽ được thanh toán khoản tiền đã cho thế chấp Thủ tục này được tiến hành khá nhanh chóng Vụ việc sẽ được xử lý trong vòng 6 tháng kể
từ khi có đơn xin bán đấu giá (Nguyễn Thị Thu Hồng, 2000)
- Về vấn đề bồi thường: Khi Nhà nước thu hồi đất, giá trị bồi thường
được tính dựa trên giá thị trường Ngoài ra, người sở hữu còn được bồi thường các thiệt hại khác Chủ đất được hưởng các lợi ích kinh tế từ tài sản của mình (nếu trong trường hợp tài sản đó phải nộp thuế thì chủ đất phải nộp thuế) Chủ đất có thể bán tài sản và được hưởng lợi nhuận nếu bán được với giá cao hơn khi mua nhưng phải nộp thuế cho trường hợp chuyển nhượng đó Chủ đất được quyền giữ lại tài sản của mình, tuy nhiên cũng có thể bị buộc phải bán tài sản khi đất đó cần dành cho các mục đích chung của xã hội Trong trường hợp đó sẽ là bắt buộc thu hồi và chủ đất được quyền đòi bồi thường dựa trên giá trị thị trường của tài sản (Nguyễn Thị Thu Hồng, 2000)
2.2.2 Ôxtrâylia
Ôxtrâylia có cơ sở pháp luật về quản lý, sở hữu và sử dụng đất đai từ rất sớm Thời gian trước 01/01/1875, luật pháp Ôxtrâylia quy định 2 loại đất thuộc sở hữu của Nhà nước (đất Nhà nước) và đất thuộc sở hữu tư nhân (đất
tư nhân) Đất Nhà nước là đất do Nhà nước làm chủ, cho thuê và dự trữ Đất
tư nhân là đất do Nhà nước chuyển nhượng lại cho tư nhân (đất có đăng kí bằng khoán thời gian sau 01/01/1875)
Trang 26Như vậy, về hình thức sở hữu, luật pháp của Ôxtrâylia quy định Nhà nước
và tư nhân đều có quyền sở hữu bất động sản trên mặt đất, không phân chia giữa nhà và đất Về phạm vi, người sở hữu có quyền sở hữu khoảng không và độ sâu được quyền sử dụng có thể từ 12 đến 60 mét (theo quy định cụ thể của pháp luật) Toàn bộ khoáng sản có trong lòng đất như: bạc, vàng, đồng, chì, kẽm, sắt, ngọc, than đá, dầu mỏ, phốt phát, đều thuộc sở hữu Nhà nước (Sắc lệnh về đất đai 1933); nếu Nhà nước thực hiện khai thác khoáng sản phải ký hợp đồng thuê đất với chủ đất và phải đền bù thiệt hại tài sản trên đất
Về quyền lợi và nghĩa vụ, luật pháp Ôxtrâylia thừa nhận quyền sở hữu tuyệt đối, không bắt buộc phải sử dụng đất Chủ sở hữu có quyền chuyển nhượng, thế chấp, cho thuê hoặc chuyển quyền theo di chúc mà không có sự trói buộc hoặc ngăn trở nào Nhà nước có quyền trưng dụng đất để xây dựng hoặc thiết lập các công trình công cộng phục vụ quốc kế dân sinh (Điều 10, Sắc lệnh về đất đai 1902) nhưng chủ sở hữu được Nhà nước bồi thường Việc
sử dụng đất phải tuân theo quy hoạch và phân vùng và đất phải được đăng kí chủ sở hữu, khi chuyển nhượng phải nộp phí trước bạ và đăng kí tại cơ quan
có thẩm quyền (Cục quản lý đất đai Ôxtrâylia - DOLA) (Nguyễn Đình Bồng
và cs., 2014)
2.2.3 Trung Quốc
Hiến pháp 1982 của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, đất đai ở Trung Quốc thuộc sở hữu Nhà nước (đối với đất đô thị) hoặc sở hữu tập thể (đối với đất thuộc khu vực nông thôn) Vì đất đai ở nông thôn cũng là đối tượng quản
lý của chính quyền địa phương và Trung ương, nên quyền sở hữu đối với toàn
bộ đất đai ở Trung Quốc đều “dưới sự làm chủ” của Nhà nước Trung Quốc Mặc dù không thừa nhận tư hữu đất đai nhưng theo Điều 2 của Hiến pháp được sửa đổi năm 1988, QSDĐ được phép chuyển nhượng tại Trung Quốc Trong điều kiện này, QSDĐ đã được tách rời khỏi quyền sở hữu đất đai Hiện nay QSDĐ ở Trung Quốc có thể chia làm hai loại: QSDĐ được
“cấp” và QSDĐ được “giao” QSDĐ được "cấp" là loại QSDĐ truyền thống được áp dụng cho các doanh nghiệp nhà nước Nhà nước cấp đất cho các doanh nghiệp nhà nước không thu tiền hoặc thu rất ít và có thể thu hồi bất cứ lúc nào Đối với trường hợp này, QSDĐ không thể chuyển nhượng, cho thuê hay thế chấp
Trang 27Vào cuối những năm 1980, việc thiết lập hệ thống kinh tế thị trường ở Trung Quốc đã làm xuất hiện hình thức QSDĐ “giao” Các doanh nghiệp, người sử dụng đất được phép mua QSDĐ giao đối với một thửa đất nhất định nào đó từ Nhà nước với một khoảng thời gian sử dụng cụ thể (thông thường từ
40 - 70 năm tuỳ thuộc vào mục đích sử dụng) Việc mua bán này có thể được thực hiện thông qua thoả thuận, đấu thầu hoặc đấu giá Khi đã có được QSDĐ người sử dụng đất có thể thực hiện giao dịch đất đai
2.2.3.1 Quyền Chuyển nhượng QSDĐ
a Về điều kiện
Về mặt lý thuyết, chuyển nhượng QSDĐ là hoạt động dân sự, cho nên chính quyền chỉ đóng vai trò giám sát mà không can thiệp bằng biện pháp hành chính, trừ những trường hợp thực sự cần thiết Nhìn chung, có ba điều kiện cơ bản để được chuyển nhượng, đó là: đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính
để có QSDĐ; có giấy chứng nhận QSDĐ và đã bỏ vốn thực hiện hoạt động đầu tư ở một mức độ nhất định, thông thường là ít nhất 25% tổng số vốn đầu
tư cho việc sử dụng theo dự án (Lưu Quốc Thái, 2006)
b Về thủ tục
Theo pháp luật Trung Quốc, giấy tờ về chuyển nhượng QSDĐ không nhất thiết phải qua công chứng nhà nước Thông thường trong 15 ngày kể từ ngày ký hợp đồng, người nhận chuyển nhượng QSDĐ phải đăng ký QSDĐ tại Phòng quản lý Nhà nước về đất đai, kèm với việc nộp phí chuyển nhượng tương ứng
2.2.3.2 Cho thuê QSDĐ
Người sử dụng đất có thể cho thuê QSDĐ để nhận tiền cho thuê Giao dịch này phải được thực hiện thông qua hợp đồng Hai bên trong giao dịch phải đến cơ quan quản lý nhà nước về đất đai để đăng ký việc cho thuê trong
Trang 28thời hạn 20 ngày sau khi hợp đồng có hiệu lực Nội dung chính của hợp đồng
là bên thuê phải sử dụng đất đúng theo thời hạn, điều kiện mà bên cho thuê đã cam kết trước đây để có được QSDĐ (Lưu Quốc Thái, 2006)
2.2.3.3 Thế chấp QSDĐ
Người sử dụng đất có thể thế chấp QSDĐ thông qua giấy chứng nhận QSDĐ tại các tổ chức tín dụng ở địa phương để vay vốn Giao dịch thế chấp phải được thực hiện thông qua hợp đồng giữa người sử dụng đất và chủ thể cho vay Nếu đến hạn thanh toán mà người thế chấp không trả được nợ, bên cho vay
có thể phải đăng ký quyền sử dụng với tư cách là người sử dụng đất mới
Đối với người sử dụng đất nước ngoài, việc thế chấp QSDĐ để vay vốn
từ các tổ chức tín dụng địa phương vẫn còn khó khăn, bởi họ thường được coi
là nguồn cấp vốn cho thị trường trong nước, chứ không phải là người đi vay tiền của Trung Quốc (Lưu Quốc Thái, 2007)
2.2.4 Malayxia
Theo Bộ Luật Đất đai của Malaixia, cá nhân, tổ chức muốn được công nhận là người sở hữu đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai của liên bang để có một văn bản chứng nhận gọi là bằng khoán Văn bản bằng khoán điền thổ chính là bằng chứng để kết luận cá nhân hoặc tổ chức đã đăng ký trong đó chính là chủ sở hữu được mô tả trong bằng khoán Trước khi đăng ký vào bằng khoán, đất đai vẫn là đất của bang Mọi giao dịch (chuyển nhượng, trả tiền, cho thuê, ) đều phải đăng ký, nếu không thì đó chỉ là hợp đồng giữa các bên liên quan Nó sẽ không được Chính phủ công nhận là vĩnh viễn cho đến khi được đăng ký hợp pháp (Chu Tuấn Tú, 2000)
Các loại bằng khoán mà bang có thể chuyển nhượng gồm: Bằng khoán đăng ký và Bằng khoán Phòng đất đai (là loại bằng khoán hoàn chỉnh) có nghĩa là đất đã được đo đạc xong Chủ sở hữu đất có Bằng khoán hoàn chỉnh
sẽ có những như: có Bằng khoán vĩnh viễn; có quyền chia, ngăn hoặc hợp nhất đất đai; có quyền tiến hành các giao dịch (chuyển nhượng, cho thuê, đóng tiền, ) trên đất đai của mình; có quyền ngăn chia ngôi nhà nào có từ 2 tầng trở lên để có được các bằng khoán riêng cho các phần diện tích riêng trong ngôi nhà; có quyền để lại đất hoặc phần tài sản không phân chia nào khác trên
đó theo di chúc
Chính phủ có thể thu hồi lại đất đã được giao cấp bằng biện pháp thu hồi bắt buộc hoặc mua lại từ các chủ sở hữu Khi bị thu hồi đất các chủ sở hữu
Trang 29được đền bủ thỏa đáng Bất kỳ cá nhân nào có yêu sách đối với đất bị thu hồi
có thể phản đối về việc đo đạc diện tích đất, số tiền đền bù, người được đền bù hoặc việc chia tiền đền bù Những phản đối này chỉ được đưa ra nếu như cá nhân đó đã khiếu nại với Cơ quan quản lý đất đai khi được thẩm vấn và vụ việc sẽ được chuyển sang Tòa án Sau khi trả tiền đền bù, cơ quan tổ chức sẽ
có được đất đai hợp pháp cho dù còn có các phản đối (Chu Tuấn Tú, 2000)
2.2.5 Kinh nghiệm về thực hiện quyền của người sử dụng đất đối với Việt Nam
Thứ nhất, Cần phát triển mạnh hệ thống lý luận về thị trường bất động
sản và phát triển thị trường bất động sản tại Việt Nam phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Từ đó việc thực hiện quyền của người sử dụng đất được thực hiện theo hệ thống thị trường bất động sản với việc cung cấp các thông tin cho người tham gia giao dịch tốt hơn và việc thực hiện được liên thông đặc biệt việc thực hiện quyền chuyển nhượng và thế chấp của người sử dụng đất
Thứ hai, Coi trọng việc tạo dựng khuôn khổ pháp luật để thực hiện các
thủ tục hành chính liên quan đến việc thực hiện quyền của người sử dụng đất
Do những điều kiện lịch sử, quá trình hình thành và phát triển thị trường đất đai ở nước ta có những đặc điểm đặc thù do đó cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ sở lý luận trên cơ sở tham khảo hệ thống quy phạm pháp luật đất đai của các nước phát triển
Thứ ba, Tiếp tục hoàn thiện cơ sở dữ liệu, áp dụng cơ sở dữ liệu đất đai
vào trong công tác quản lý, sử dụng đất, cung cấp thông tin rộng rãi cho thị trường bất động sản, người quyền sử dụng đất
Thứ tư, Phát triển dịch vụ công về đất đai như một số nước nhằm nâng
cao hiệu quả trong việc thực hiện thủ tục hành chính liên quan đến quyền của người sử dụng đất
2.3 THỰC HIỆN QUYỀN CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT TẠI VIỆT NAM
VÀ TỈNH THANH HÓA
2.3.1 Thực hiện quyền của người sử dụng đất tại Việt Nam
2.3.1.1 Giai đoạn trước khi Luật Đất đai 1987 có hiệu lực
Pháp luật quy định về đất đai của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được đánh dấu bằng Luật cải cách ruộng đất năm 1953 Năm 1980, Chính phủ ban hành Quyết định 210-CP ngày 1/7/1980 về thống nhất quản lý ruộng đất
Trang 30và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 299-TTg ngày 10/11/1980 về công tác đo đạc, phân hạng và đăng ký thống kê ruộng đất Tổng cục Quản lý ruộng đất có Quyết định số 56/ĐKTK ngày 05/11/1981 ban hành quy định về thủ tục đăng ký thống kê ruộng đất trong cả nước việc đăng ký đất đai mới được bắt đầu thực hiện trở lại ở Việt Nam Theo quy định này, việc đăng ký đất đai được thực hiện thống nhất cả nước theo một trình tự chặt chẽ, hệ thống hồ sơ đăng ký đất đai quy định khá đầy đủ và chi tiết, trong đó bản đồ giải thửa và sổ đăng ký ruộng đất,
sổ mục kê là tài liệu cơ bản của hồ sơ thể hiện các nội dung đăng ký đất gồm: Hình thể đường ranh giới thửa (trên bản đồ), tên chủ sử dụng ruộng đất (họ tên, tuổi, chỗ ở), số hiệu thửa đất và tờ bản đồ, xứ đồng, diện tích, sử dụng chính thức hay tam giao, loại đất, loại thổ nhưỡng, hạng đất, tình hình thủy lợi; các tài liệu này được lập thành 2 bộ lưu giữ ở 2 cấp xã, huyện để theo dõi, quản lý biến động đất đai; sổ đăng ký ruộng đất và sổ mục kê đất phải được
Ủy ban nhân dân xã và huyện phê duyệt mới chính thức có giá trị pháp lý Điều 11 Hiến pháp năm 1959 đã ghi nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trong thời kỳ quá độ bao gồm các hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất sau: SHNN tức là SHTD; sở hữu HTX tức là sở hữu của tập thể nhân dân lao động; sở hữu của người lao động riêng lẻ; sở hữu của nhà tư sản dân tộc Nhà nước đã bảo hộ QSH về đất đai Cụ thể, Điều 12 Hiến pháp 1959 đã quy định
“những rừng cây, những đất hoang mà pháp luật quy định là của Nhà nước thì đều thuộc SHTD”
Do không được quy định trong hiến pháp và các văn bản mang tính pháp
lý nên việc thực hiện mua bán, tặng cho, cầm cố đất đai không được thực hiện chỉ khi Nhà nước cần lấy ruộng đất thì sẽ thu xếp công ăn việc làm cho người
bị lấy ruộng đất hoặc bù cho một số ruộng đất ở nơi khác để họ làm ăn sinh sống và sẽ bồi thường thích đáng cho họ về những ruộng đất đã bị lấy
2.3.1.2 Giai đoạn Luật Đất đai 1987 có hiệu lực
Giai đoạn từ năm 1987 đến năm 1993 là giai đoạn nghiêm cấm mua, bán, lấn chiếm đất đai, phát canh thu tô dưới mọi hình thức, nhận đất được giao mà không sử dụng, sử dụng không đúng mục đích, tự tiện sử dụng đất nông nghiệp, đất có rừng vào mục đích khác, làm hủy hại đất đai
Sau 4 năm thi hành Luật Đất đai năm 1987 cho thấy thực tế đã nảy sinh những bất cập, đó là người sử dụng đất thực sự không có quyền đối với mảnh
Trang 31đất mình được giao, kể cả quyền thừa kế, chuyển nhượng, họ chỉ được chuyển QSDĐ trong các trường hợp: khi hộ nông dân vào hoặc ra hợp tác xã, tập đoàn sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp; khi hợp tác xã, tập đoàn sản xuất nông nghiệp và cá thể thoả thuận đổi đất cho nhau để tổ chức lại sản xuất; khi người được giao đất chuyển đi nơi khác hoặc đã chết mà thành viên trong hộ của người đó vẫn tiếp tục sử dụng đất đó Luật chỉ cho phép được thừa kế nhà ở hoặc mua nhà ở đồng thời được QSDĐ ở có ngôi nhà đó, sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận quyền sở hữu đối với nhà ở
Theo quy định trên cho thấy, Luật còn gò bó, chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng đất của các chủ sử dụng đất Cho nên thực tế vẫn xảy ra hiện tượng mua bán đất đai trá hình theo cách xây dựng một túp lều trên đất để bán, nhưng thực chất là bán đất Luật điều chỉnh các quan hệ đất đai ở trạng thái tĩnh Nhà nước chỉ quản lý về mặt pháp luật hành chính đơn thuần, chưa thể hiện đầy đủ quản lý Nhà nước về mặt kinh tế đối với đất đai Trong quá trình triển khai theo Luật đất đai 1988, Nhà nước đã ban hành chính sách khoán 100 và khoán 10 theo Chỉ thị số 100/CT-TW làm cho hiện trạng sử dụng đất có nhiều thay đổi do đó công tác đăng ký đất đai gặp nhiều khó khăn cùng với việc chưa có một hệ thống văn bản hoàn chỉnh chặt chẽ làm cho công tác quản lý đất đai giai đoạn này kém hiệu quả
Chính vì những lý do trên mà công tác quản lý đất đai cũng như việc lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giai đoạn này chưa đạt kết quả cao Đến năm 1993, cả nước mới cấp được khoảng 1.600.000 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ nông dân ở gần 1.500 xã, tập trung chủ yếu tại các vùng đồng bằng sông Cửu Long (40%) Đặc biệt do chính sách đất đai chưa ổn định nên giấy chứng nhận giai đoạn này chủ yếu là giấy chứng nhận tạm thời chủ yếu cho các xã tự kê khai
2.3.1.3 Giai đoạn Luật Đất đai 1993 có hiệu lực
Hiến pháp 1992 còn quy định: “Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng
đất có quyền chuyển QSDĐ theo quy định của pháp luật” Do đó, Quốc hội đã
đưa việc sửa đổi Luật Đất đai vào chương trình xây dựng pháp luật năm 1993 Luật Đất đai năm 1993 được Quốc hội thông qua ngày 14/07/1993 và có hiệu lực ngày 15/10/1993 về cơ bản kế thừa Luật Đất đai 1987 và bổ sung một số nội dung mới như một số quyền của người sử dụng đất Cụ thể Luật cho phép
Trang 32người sử dụng đất được thực hiện 5 quyền: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp QSDĐ Như vậy, Luật đưa ra những quy định theo xu hướng ngày càng mở rộng quyền của người sử dụng, cho họ định đoạt hạn chế QSDĐ của mình Nghĩa là chuyển QSDĐ phải tuân theo điều kiện, nội dung, hình thức do Bộ luật dân sự và pháp luật về đất đai quy định
Giai đoạn từ năm 1993 đến năm 1998 là giai đoạn Luật cho phép người
sử dụng đất được thực hiện 5 quyền: Chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai 1993 Tuy nhiên, do sự phát triển nhanh của nền kinh tế, xã hội, qua thực tế với tác động của cơ chế kinh tế thị trường làm cho quan hệ đất đai càng trở nên phức tạp, nhiều vấn đề lịch sử còn chưa được giải quyết thì các vấn đề mới lại nảy sinh
mà Luật Đất đai 1993 chưa có quy định Năm 1998 Luật Đất đai được sửa đổi,
bổ sung Luật bổ sung thêm một số quyền của người sử dụng đất như quyền góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất, quyền cho thuê lại quyền sử dụng đất
Vì vậy giai đoạn 1998 đến trước Luật Đất đai 2003 có hiệu lực người sử dụng đất có 7 quyền riêng là: Chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất Luật lần này đã sửa đổi,
bổ sung một số vấn đề về QSDĐ như sau:
Việc quyết định cho người đang sử dụng đất chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất làm muối, đất ở, đất chuyên dùng sang mục đích khác; người đang sử dụng đất nông nghiệp trồng lúa nước chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản, trồng cây lâu năm hoặc người đang sử dụng đất nông nghiệp trồng cây lâu năm chuyển sang trồng cây hàng năm phải căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt Cho phép tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có quyền thế chấp giá trị QSDĐ theo quy định của pháp luật và cũng được bảo lãnh bằng giá trị QSDĐ, tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất đó tại các tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam Nghĩa là người sử dụng đất cũng được thế chấp, bảo lãnh bằng giá trị QSDĐ tại các tổ chức tín dụng có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam,
tổ chức tín dụng 100% vốn nước ngoài Tuy nhiên, trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa, tình hình quản lý và sử dụng đất sau 3 năm thực hiện Luật Đất đai sửa đổi 2001 đã cho thấy còn bộc lộ những thiếu sót, yếu kém
Trang 33Mặc dù giai đoạn này đã quy định 7 quyền của người sử dụng đất tuy nhiên các quy định trong lĩnh vực pháp luật đất đai và các lĩnh vực khác có liên quan như trong lĩnh vực dân sự chưa thực sự đồng bộ và thống; giá trị đất đai chưa tuân theo thị trường; thị trường BĐS chưa thực sự bùng nổ; nhận thức của người dân về pháp luật đất đai còn thấp dẫn đến số lượng trường hợp thực hiện quyền của người sử dụng đất như chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế, thế chấp còn ít và hạn chế đặc biệt là ở vùng nông thôn
2.3.1.4 Giai đoạn Luật Đất đai 2003 có hiệu lực
Luật Đất đai 2003 quy định QSDĐ của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất bao gồm: “Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho QSDĐ; quyền thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng
QSDĐ; quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất” (Điều 106 Luật Đất
đai 2003) Mặt khác Nhà nước giao đất cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân
sử dụng ổn định lâu dài, Nhà nước chỉ thu hồi đất vì những lý do đặc biệt, đáp ứng lợi ích quốc gia và công cộng, hết thời hạn giao đất không có nghĩa là Nhà nước thu hồi đất mà Nhà nước sẽ tiếp tục giao đất cho người sử dụng Trường hợp Nhà nước thu hồi đất thì Nhà nước sẽ giao đất khác cho người sử dụng hoặc
sẽ “bồi thường thiệt hại” (Điều 73 Luật Đất đai 1993), “bồi thường” (Điều 106
Luật Đất đai 2003) Như vậy, trên thực tế người được giao quyền sử dụng các
loại đất này thực hiện các quyền chiếm hữu và sử dụng tương đối toàn diện, còn quyền định đoạt tuy có hạn chế trong một số quyền năng cụ thể, song đó chỉ là trên phương diện lý thuyết xét trên góc độ pháp lý, còn trên thực tế các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp QSDĐ cũng rất gần với khái niệm quyền định đoạt (Phùng Văn Nghệ, 2010) Kết quả cấp GCN đất ở trên
cả nước tính đến ngày 30/92008, đất ở nông thôn cấp được 10.298.895 GCN chiếm diện tích 380.807 ha, đạt 76,00% diện tích cần cấp; đất ở đô thị cấp được 2.825.205 GCN chiếm diện tích 63.012 ha, đạt 60,90% diện tích cần cấp
Việc cấp GCN chậm làm ảnh hưởng đến công tác quản lý đất đai của Nhà nước và làm thất thoát nguồn thu ngân sách từ đất Nghị định 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 quy định về việc thống nhất cấp một loại GCNQSDĐ, QSHNỞ
và tài sản gắn liền với đất Trong năm 2011 cả nước đã thực hiện cấp Giấy chứng nhận đất ở với khoảng 2.048.000 giấy, diện tích cấp được 55.270 ha, trong đó: Đất ở tại nông thôn cấp được 1.312.000 giấy với diện tích 37.300 ha, tăng 12,9%
Trang 34số giấy và 9,7% diện tích; đất ở tại đô thị cấp được 736.000 giấy với diện tích 17.970 ha, tăng 25,9% số giấy và 27,9% về diện tích
2.3.1.5 Giai đoạn Luật Đất đai 2013 có hiệu lực đến nay
Luật Đất đai 2013 được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2013 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2014, Nhà nước đã ban hành các văn bản dưới luật thay thế các văn bản cũ:
- Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất
- Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ địa chính
- Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản khác gắn liền với đất
- Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định
người có đất ở trong cùng một địa phương (cùng 1 xã, phường, thị trấn) có
cùng nguyện vọng thay đổi chỗ ở Việc chuyển đổi QSDĐ là không có mục đích thương mại
Trang 35- Quyền chuyển nhượng QSDĐ: Chuyển nhượng QSDĐ là hành vi chuyển
QSDĐ, trong trường hợp người sử dụng đất chuyển đi nơi khác, chuyển sang làm nghề khác, không có khả năng sử dụng hoặc để thực hiện quy hoạch sử đụng đất mà pháp luật cho phép, Trong trường hợp này, người nhận đất phải trả cho người chuyển QSDĐ một khoản tiền tương ứng với mọi chi phí họ phải bỏ ra để có được quyền sử dụng đó và số đầu tư làm tăng giá trị đất đai Đặc thù của việc chuyển nhượng QSDĐ là ở chỗ: đất đai vẫn thuộc sở hữu toàn dân và việc chuyển quyền chỉ thực hiện trong giới hạn của thời gian giao đất; Nhà nước có quyền điều tiết phần địa tô chênh lệch thông qua việc thu thuế chuyển QSDĐ, thuế sử dụng đất và tiền sử dụng đất; Nhà nước có thể quy định một số trường hợp không được chuyển QSDĐ; mọi cuộc chuyển nhượng QSDĐ đều phải đăng ký thực hiện quyền của người sử dụng đất, nếu không, sẽ bị xem là hành vi phạm pháp
- Quyền cho thuê QSDĐ: Cho thuê QSDĐ được thực hiện trong trường
hợp người có QSDĐ không sử dụng mà cho tổ chức, cá nhân khác thuê để sử dụng đất đó theo quy định của pháp luật; người thuê phải trả cho chủ sử dụng đất một khoản tiền nhất định, thời hạn và giá QSDĐ cho thuê theo thỏa thuận giữa bên cho thuê và bên thuê QSDĐ
- Quyền cho thuê lại QSDĐ: Cho thuê lại QSDĐ được thực hiện trong
trường hợp người có QSDĐ là người được nhà nước cho thuê đất để đầu tư xây dựng hạ tầng khu công nghiệp, khu thương mại, văn phòng cho các tổ chức cá nhân thuê lại QSDĐ trên đất đã hoàn thành cơ sở hạ tầng để kinh doanh, sản xuất; Người thuê phải trả cho chủ sử dụng đất một khoản tiền nhất định, thời hạn và giá QSDĐ cho thuê theo thỏa thuận giữa bên cho thuê và bên thuê lại QSDĐ
- Quyền thừa kế QSDĐ: Thừa kế QSDĐ là hành vi chuyển QSDĐ khi
người có QSDĐ đã chết để lại QSDĐ cho những người có quan hệ thừa kế theo di chúc hoăc theo quy định của pháp luật
- Quyền cho, tặng QSDĐ: Cho, tặng QSDĐ là hành vi chuyển QSDĐ
trong tình huống đặc biệt, người nhận QSDĐ không phải trả tiền nhưng có thể phải nộp thuế Do nhu cầu của việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế, phân công lại lao động xã hội, việc chuyển QSDĐ không chỉ dừng lại trong quan hệ dân sự
mà có thể phát triển thành các quan hệ thương mại, dịch vụ; giá trị chuyển nhượng QSDĐ chiếm một tỉ trọng rất có ý nghĩa trong các giao dịch trên thị trường bất động sản
Trang 36- Quyền thế chấp QSDĐ: Thế chấp QSDĐ là một hình thức chuyển QSDĐ
(không đầy đủ) trong quan hệ tín dụng Người làm thế chấp vay nợ, lấy đất đai làm vật thế chấp để thi hành trách nhiệm vay nợ với người cho vay; đất đai dùng làm vật thế chấp không được chuyển dịch vẫn do người thế chấp chiếm hữu sử dụng và dùng nó đảm bảo có một giá trị nhất định; khi người thế chấp đến kỳ không thể trả nợ được, người nhận thế chấp có quyền đem đất đai phát mại và ưu tiên thanh toán để thu hồi vốn Thế chấp đất đai là cơ sở của thế chấp tài sản trong thị trường bất động sản, trong thế chấp bất động sản thì phần lớn giá trị là nằm trong giá trị QSDĐ
- Quyền góp vốn bằng giá trị QSDĐ: Góp vốn bằng giá trị QSDĐ là hành
vi mà người có QSDĐ có thể dùng đất đai làm cổ phần để tham gia kinh doanh, sản xuất, xây dựng xí nghiệp Phương thức góp vốn bằng QSDĐ là cách phát huy tiềm năng đất đai trong việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế địa phương trong các trường hợp phải chuyển hàng loạt đất nông nghiệp thành đất phi nông nghiệp, phát triển xí nghiệp, dịch vụ, thương mại, mà vẫn đảm bảo được việc làm và thu nhập cho nông dân - là một trong những lựa chọn phù hợp với con đường hiện đại hóa và công nghiệp hoá nông nghiệp và nông thôn
Tính đến 30/9/2014, cả nước đã thực hiện cấp GCN đất ở khoảng 18.257.076 giấy với diện tích 645.735 ha, trong đó: Đất ở nông thôn đã cấp được khoảng 12.918.211 GCN chiếm diện tích 516.140 ha, đạt 94,40% diện tích cần cấp; Đất ở đô thị đã cấp được khoảng 5.338.865 GCN chiếm diện tích 129.595
ha, đạt 96,70% diện tích cần cấp Kết quả cấp GCN của cả nước còn chậm phần lớn các trường hợp còn tồn đọng đều có nguồn gốc phức tạp hoặc vi phạm pháp luật đất đai vì vậy rất khó khăn trong quá trình xử lý Tình trạng tồn đọng GCN
đã ký chưa trao cho người sử dụng đất vẫn còn nhiều ở một số địa phương
2.3.2 Thực trạng thực hiện quyền sử dụng đất của cả nước và tại tỉnh Thanh Hóa
2.3.2.1 Thực trạng thực hiện quyền sử dụng đất của cả nước
Các quyền của ngưởi sử dụng đất bao gồm: quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn Có thể nói, sau khi Luật đất đai năm 1993 ra đời, việc thực hiện quyền của ngưởi sử dụng đất
ở nước ta mới bắt đầu hình thành và phát triển một cách chính thức Trong thời gian đầu hình thành và phát triển, việc thực hiện quyền của ngưởi sử dụng đất không thể không tránh khỏi những khó khăn, những vấn đề tồn tại cần nghiên cứu để giải quyết
Trang 37Về tình hình chuyển đổi QSDĐ: Sau 15 năm thực hiện quyền chuyển đổi
QSDĐ, thực tế cho thấy việc chuyển đổi QSDĐ đối với đất ở, đất lâm nghiệp và đất chuyên dùng ít xảy ra mà chủ yếu là việc chuyển đổi QSDĐ nông nghiệp trồng lúa nhằm hạn chế tình trạng “manh mún” ruộng đất Thực hiện Nghị định
số 64/CP về giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình cá nhân sử dụng ổn định lâu dài, hầu hết các địa phương đều thực hiện giao đất theo phương thức có ruộng tốt, ruộng xấu, ruộng xa, ruộng gần Do đó, dẫn đến tình trạng đất nông nghiệp
"manh mún", nhất là ở các tỉnh phía Bắc, có những thửa ruộng chỉ dưới 100m2 Việc chuyển đổi ruộng đất giữa các hộ nông dân với nhau để chuyển những thửa nhỏ thành thửa lớn hơn là một nhu cầu thực tiễn Trên cơ sở quy định của pháp luật, nhiều địa phương đã tổ chức cho hộ gia đình, cá nhân thực hiện chuyển đổi QSDĐ thông qua chương trình “dồn điền, đổi thửa” giữa các hộ nông dân, đã giảm đáng kể số thửa đất của mỗi hộ Sau khi chuyển đổi, năng suất tăng, tiết kiệm lao động và đầu tư của nông dân
Về tình hình chuyển nhượng QSDĐ: Chuyển nhượng QSDĐ đã thực sự
đáp ứng được nhu cầu của đại đa số người dân khi có nhu cầu về đất nông nghiệp, đất ở và đất sản xuất kinh doanh Người sử dụng đất chủ động đầu tư, năng động hơn trong sử dụng đất đồng thời cũng tăng được nguồn thu cho ngân sách Nhà nước Chỉ tính riêng đối với đất ở tại nông thôn, mỗi năm có khoảng 100.000 đến 200.000 hộ gia định nông thôn dọn đến nơi ở mới, chủ yếu thông qua con đường chuyển nhượng QSDĐ Trong quá trình tổ chức thực hiện, còn một số tồn tại như chuyển nhượng QSDĐ nông nghiệp chỉ được thực hiện có điều kiện đã không hỗ trợ cho quá trình chuyển đổi cơ cấu lao động tại nông thôn, có đến trên 50% số vụ chuyển nhượng QSDĐ không đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thủ tục chuyển nhượng còn quá phức tạp
Về tình hình cho thuê đất, cho thuê lại đất: Quy định của pháp luật về
quyền cho thuê đất, cho thuê lại đất đã có tác dụng tích cực trong việc đầu tư trên đất Tuy nhiên, việc thực hiện quyền cho thuê, cho thuê lại đất còn có tồn tại: nhiều tổ chức lợi dụng sự quản lý lỏng lẻo từ phía các cơ quan nhà nước đã
áp dụng trái pháp luật quyền cho thuê, cho thuê lại, cụ thể như nhiều cơ quan hành chính sự nghiệp, đơn vị lực lượng vũ trang cho thuê đất làm văn phòng, nhà xưởng, cơ sở kinh doanh dịch vụ trên đất được Nhà nước giao theo chế độ
Trang 38không thu tiền sử dụng đất (riêng các cơ quan hành chính sự nghiệp hiện đang cho thuê khoảng 1.319.457m2); nhiều hộ gia đình, cá nhân dành đất, mặt bằng, nhà ở cho thuê để làm cửa hàng, cơ sở dịch vụ môi giới, văn phòng hoặc cho sinh viên, người lao động, người nước ngoài thuê để ở mà không đăng ký với
cơ quan nhà nước
nhiên, phần lớn là không khai báo, đăng ký tại cơ quan Nhà nước Qua một số kết quả điều tra cho thấy hầu hết người dân đều cho rằng việc thừa kế QSDĐ là công việc nội bộ gia đình theo truyền thống “cha truyền con nối”, khi phải chia thừa kế thì anh, em tự thoả thuận với nhau và có sự chứng kiến của họ hàng, không cần phải khai báo với cơ quan nhà nước, do đó đã xảy ra nhiều tranh chấp giữa những người được thừa kế QSDĐ
Về thế chấp, bảo lãnh bằng QSDĐ: Việc thực hiện quyền thế chấp, bảo
lãnh bằng QSDĐ thực sự đã phát huy được nguồn vốn đầu tư đất đai, góp phần đáng kể vào quá trình phát triển sản xuất, kinh doanh Người sử dụng đất sử dụng quyền này ngày càng nhiều hơn Trình tự, thủ tục để thực hiện quyền thế chấp, bảo lãnh đã được cải cách nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cả người đi vay và người cho vay Việc thế chấp, bảo lãnh QSDĐ để vay vốn tăng dần qua các năm (dư nợ cho vay có bảo đảm bằng QSDĐ năm 1998 tăng 7,3 lần so với năm 1993, năm 2001 tăng 3,1 lần so với năm 1998) Tuy nhiên, việc thực hiện các quyền này cũng đã bộc lộ một số bất cập: pháp luật quy định tính giá đất cao hơn nhiều lần, vì vậy số tiền được vay không tương xứng với giá trị thực của QSDĐ; GCNQSDĐ được cấp chưa nhiều; chưa có cơ quan đăng ký thế chấp phù hợp; chưa có hệ thống dữ liệu thông tin đất đai
Về tình hình góp vốn bằng QSDĐ: Sự phát triển nhanh cả về số lượng và
quy mô của các cơ sở sản xuất kinh doanh từ các thành phần kinh tế và sự gia tăng của đầu tư nước ngoài vào nước ta dẫn đến sự liên doanh, liên kết trong đầu
tư, sản xuất, kinh doanh mà chủ yếu là thông qua việc góp vốn bằng QSDĐ, đặc biệt là trong liên doanh với nước ngoài (tổng giá trị góp vốn bằng QSDĐ đã lên tới 3 tỷ USD) Tuy nhiên, hiện nay nhiều vấn để nảy sinh trong quá trình liên doanh, liên kết nhưng chưa có cơ sở pháp lý để giải quyết như QSDĐ khi cổ phần hóa doanh nghiệp, khi doanh nghiệp liên doanh chuyển sang doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, khi doanh nghiệp phá sản hoặc giải thể
Trang 392.3.3.2 Thực hiện quyền của người sử dụng đất tại tỉnh Thanh Hoá
Trong những năm qua, được sự quan tâm của Bộ Tài nguyên và Môi trường và của các Bộ, Ngành Tỉnh Thanh Hóa đã triển khai thực hiện công tác
đo đạc, lập bản đồ địa chính theo dự án đo đạc bản đồ, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 11 huyện miền núi (giai đoạn từ năm 2004-2008) và Dự án tổng thể (giai đoạn từ năm 2008-2011) toàn Tỉnh đã hoàn thành việc đo đạc, lập bản đồ địa chính theo hệ tọa độ VN-2000 trên địa bàn 19 huyện thuộc tỉnh Công tác xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính trên địa bàn tỉnh còn hạn chế, mới xây dựng được ở một số huyện nhưng chưa đồng bộ, mỗi huyện được một số xã
Kết quả rà soát, đánh giá tình hình, xác định nhu cầu cấp giấy chứng nhận đối với từng loại đất cụ thể trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đến ngày 20/10/2015, đối với đất ở hộ gia đình, cá nhân: Đã cấp 852.545/932.748 GCNQSD đất ở cho
hộ gia đình, cá nhân đạt 91,40% số giấy cần phải cấp (lần đầu) Trong đó đất ở
đô thị (phường, thị trấn) cấp được 107.870/118.001 giấy (mỗi thửa 01 giấy), đạt 91,41% số thửa đất cần phải cấp (lần đầu); đất ở nông thôn đã cấp được 744.675/814.747 giấy (cả cấp chung và cấp đến thửa), đạt 91,40% số thửa đất cần phải cấp (Báo cáo số 106/BC-STNMT Thanh Hóa ngày 17/9/2013)
UBND tỉnh Thanh Hóa đã chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường, UBND cấp huyện rà soát các thủ tục hành chính về đất đai, cắt giảm thành phần hồ sơ, thời gian giải quyết và đẩy mạnh việc giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế
“một cửa”, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, công dân và trình UBND tỉnh sửa đổi, bổ sung kịp thời những thủ tục hành chính cho phù hợp với quy định của pháp luật Các thủ tục hành chính về đất đai được công bố công khai rộng rãi, tạo điều kiện tổ chức thực hiện có hiệu quả, chống các hành vi tiêu cực, gây phiền
hà, sách nhiễu; các tổ chức, doanh nghiệp và người dân dễ dàng tiếp cận với đất đai, tìm kiếm cơ hội đầu tư; đồng thời cũng là căn cứ để cơ quan có thẩm quyền
tổ chức thanh tra, kiểm tra công tác cải cách thủ tục hành chính, đảm bảo việc tổ chức thực hiện cải cách thủ tục hành chính có hiệu quả
Trong giai đoạn 2011 – 2015 với 9 quyền riêng của ngưởi sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 và 8 quyền riêng của người sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai 2013 thì trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa thực hiện khoảng 283.500 giao dịch của ngưởi sử dụng đất, quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho và thế chấp diễn ra sôi động hơn so với các quyền cho thuê, cho
Trang 40thuê lại và góp vốn bằng quyền sử dụng đất; quyền thế chấp diễn ra nhiều nhất so với các quyền khác (với khoảng 55.282 giao dịch chiếm khoảng 19,5 %) Trong
27 đơn vị hành chính cấp huyện, thị xã, thành phố thì huyện Quảng Xương diễn
ra khá sôi động với gần 31.545 giao dịch chiếm 11,13% giao dịch trên địa bàn toàn tỉnh Do đặc thù của từng địa phương do đó tại khu vực đô thị, vùng đồng bằng ven biển người sử dụng đất thực hiện quyền chuyển nhượng và thế chấp chiếm số lượng nhiều nhất, còn đối với các huyện trung du và miền núi thì việc thực hiện quyền tặng cho và thừa kế lại chiếm số lượng lớn nhất