TỔNG QUAN
Nguy cơ lây nhiễm nghề nghiệp của nhân viên y tế
(Vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng…)
Bệnh nhân Dụng cụ y tế Đã sử dụng Bàn tay
Môi trường V ệ sinh môi trường, bề mặt Đường ra Đường xâm nhập Đối tượng bị ảnh hưởng
Rác thải y tế Rác thải lây nhiêm, sắc nhọn
Dụng cụ y tế sắc nhọn
Da NVYT bị tổn thương
Sơ đồ 1: Chủ trình lây nhiễm
Trong bệnh viện, vi sinh vật (VSV) hiện diện ở nhiều nơi, bao gồm nguồn chứa trực tiếp như máu, dịch, chất tiết và chất thải của bệnh nhân, cũng như nguồn chứa trung gian như môi trường xung quanh, dụng cụ y tế, bàn tay nhân viên và chất thải y tế VSV có thể xâm nhập vào cơ thể qua các đường lây như đường máu, đường hô hấp (thông qua không khí và giọt bắn) và đường tiếp xúc trực tiếp Khả năng xâm nhập của VSV phụ thuộc vào cơ chế sinh bệnh, hoàn cảnh, thời gian và khả năng bảo vệ của đối tượng tiếp xúc.
Nguồn chứa trực tiếp từ bệnh nhân là yếu tố lây lan bệnh nguy hiểm, bao gồm máu, dịch, chất tiết và chất thải Một nghiên cứu tại 79 cơ sở y tế ở Việt Nam cho thấy tỷ lệ lây bệnh cao nhất đến từ tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân (53,4%), tiếp xúc với bệnh phẩm (34,3%), và tổn thương do vật sắc nhọn (12,4%) Lây nhiễm do tiếp xúc chủ yếu xảy ra tại các cơ sở y tế tuyến huyện, trong khi lây nhiễm từ bệnh phẩm cao nhất ở tuyến Trung Ương (37,5%).
Nguồn chứa gián tiếp chủ yếu: có thể tồn tại và lưu trú dưới nhiều hình thức khác nhau, trong đó có một số nguồn chứa chủ yếu như:
Chất thải y tế nguy hại là loại chất thải chứa yếu tố gây nguy hiểm cho sức khỏe con người và môi trường, như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hay phóng xạ Sự gia tăng nhanh chóng về số lượng bệnh viện và phòng khám tại Việt Nam dẫn đến việc phát sinh ngày càng nhiều chất thải y tế Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra khối lượng và chủng loại chất thải y tế, đặc biệt là chất thải lây nhiễm, tại các cơ sở y tế ở Việt Nam Chẳng hạn, nghiên cứu năm 2009 tại Bệnh viện đa khoa Thái Nguyên cho thấy khối lượng chất thải y tế nguy hại là 0,11 kg/giường bệnh, chiếm 8,77% tổng chất thải y tế Một nghiên cứu năm 2013 tại Quảng Nam ghi nhận 0,48 tấn chất thải rắn y tế nguy hại/ngày, tương đương 0,12 kg/giường bệnh/ngày Tại Bệnh viện đa khoa khu vực Hóc Môn, TP.HCM, chất thải y tế chiếm 10,83% tổng lượng chất thải với 1200 kg/ngày, trong đó có 480-500 ống tiêm được thải ra hàng ngày Nghiên cứu tại Bệnh viện Việt Tiệp - Hải Phòng cho thấy chất thải nguy hại thải ra chiếm 4,27% tổng chất thải y tế, tương đương 77,19 kg/ngày.
Bàn tay của nhân viên y tế (NVYT) hiện được xác nhận là nguồn lây truyền vi sinh vật nguy hiểm, có khả năng làm lây lan bệnh tật từ người bệnh này sang người bệnh khác Việc chạm vào các bề mặt ô nhiễm hoặc tiếp xúc với bệnh nhân trong quá trình chăm sóc là những yếu tố chính góp phần vào sự lây truyền này.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Tâm năm 2012 cho thấy, trong số 50 nhân viên y tế tại khoa cán bộ cao cấp, BV Quân đội 108, có tới 96% bàn tay bị nhiễm khuẩn, chủ yếu ở móng tay và khe ngón với tỷ lệ lần lượt là 43,8% và 37,5% Việc mang móng tay giả hoặc để móng tay dài có thể tạo điều kiện cho Pseudomonas aeruginosa sinh sôi, dẫn đến nguy cơ dịch nhiễm khuẩn Nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng chỉ ra rằng mức độ ô nhiễm bàn tay xảy ra trong quá trình chăm sóc bệnh nhân, với ô nhiễm cao nhất xảy ra ngay cả khi không thực hiện thao tác chăm sóc Tại một bệnh viện hạng 3 ở Việt Nam, nghiên cứu trên 134 nhân viên y tế cho thấy mức độ nhiễm vi khuẩn trung bình trước khi vệ sinh tay là 1,65 log (10), với các vi khuẩn gây bệnh phổ biến như Acinetobacter baumannii, Klebsiella pneumoniae, và Staphylococcus aureus.
Môi trường bệnh viện là khái niệm bao quát, bao gồm cả môi trường xung quanh như nước, bề mặt làm việc và không khí, nơi mà nhân viên y tế (NVYT) tiếp xúc hàng ngày Tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) được xem là chỉ số quan trọng để đánh giá chất lượng dịch vụ y tế.
BV là một yếu tố quan trọng trong việc đánh giá chất lượng môi trường BV Nghiên cứu đã chỉ ra rằng một số nguồn ô nhiễm khác có thể xuất phát từ áo choàng của nhân viên y tế, ống nghe, máy tính và điện thoại di động.
Không khí và nước trong cơ sở y tế (CSYT) đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì môi trường an toàn Không khí ở những khu vực hẹp, ít lưu thông tạo điều kiện cho vi khuẩn và virus xâm nhập qua đường hô hấp Cầu khuẩn Gram dương chiếm ưu thế trong không khí, với Staphylococcus và Micrococcus là hai loại phổ biến nhất Giám sát không khí thường xuyên là cần thiết để đánh giá hiệu quả kiểm soát và phát hiện sự xâm nhập bất thường Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng như hệ thống nước phức tạp có thể dẫn đến ứ đọng và hình thành màng sinh học, trong khi nhiệt độ nước lý tưởng cho chăm sóc sức khỏe cũng tạo điều kiện cho sự phát triển của vi khuẩn và nấm mốc.
Bề mặt môi trường, bao gồm các bề mặt tiếp xúc trực tiếp và gần gũi với bệnh nhân như thanh giường, bàn cạnh giường và tay cầm, là những khu vực dễ bị ô nhiễm và có nguy cơ truyền mầm bệnh Một nghiên cứu năm 2012 cho thấy 20,5% găng tay và áo choàng của nhân viên y tế bị nhiễm bẩn khi tiếp xúc với bệnh nhân, trong đó có 25,8% nhiễm Acinetobacter baumannii đa kháng và 17,1% nhiễm Pseudomonas aeruginosa đa kháng Hơn nữa, 91% các chủng vi khuẩn phân lập từ nhân viên y tế có liên quan đến môi trường hoặc bệnh nhân, cho thấy ô nhiễm môi trường là yếu tố quyết định lây truyền mầm bệnh Việc tuân thủ các biện pháp phòng ngừa tiếp xúc và làm sạch môi trường có thể giảm nguy cơ lây truyền.
BV Đại học Hassan II ở Fez, Maroc đã tiến hành nghiên cứu từ năm 2014 tại khoa nội, thu thập 112 mẫu bề mặt xung quanh bệnh nhân nội trú bằng kỹ thuật tăm bông Phân tích vi khuẩn cho thấy có 200 chủng vi khuẩn và 38 chủng chưa xác định, trong đó 47% là vi khuẩn lớn, với 30% từ tay vịn, 19% từ bàn cạnh giường và tay nắm cửa phòng, 21% từ tay nắm cửa nhà vệ sinh, 7% từ tay ghế hóa trị, 2% từ nút bấm tủ và 2% từ nút điện Bốn chủng S aureus được phát hiện, hai trên tay vịn và hai trên tay nắm cửa phòng Tỷ lệ Enterobacteriaceae trên các bề mặt phân tích đạt 39,2% Nghiên cứu của Đại học Illinois, Mỹ năm 2019 cho thấy ô nhiễm găng tay và áo choàng là phổ biến, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sử dụng phương tiện phòng hộ để bảo vệ quần áo và da của nhân viên y tế Nghiên cứu cũng khuyến cáo rằng tấm che mặt có thể bảo vệ khuôn mặt và khẩu trang khỏi chất lỏng bắn ra.
Nhiễm khuẩn liên quan tới chăm sóc y tế (nhiễm khuẩn BV) là các nhiễm khuẩn phát sinh trong quá trình điều trị tại cơ sở y tế, thường xuất hiện sau 48 giờ nhập viện và không có mặt trong giai đoạn ủ bệnh trước đó Một khảo sát năm 2010 tại 183 bệnh viện ở Hoa Kỳ cho thấy trong số 11.282 bệnh nhân, 452 người mắc ít nhất một loại nhiễm trùng liên quan đến chăm sóc sức khỏe, với viêm phổi và nhiễm trùng vết mổ chiếm tỷ lệ cao nhất (21,8% mỗi loại) và nhiễm trùng đường tiêu hóa là 17,1% Clostridium difficile là mầm bệnh phổ biến nhất, chiếm 12,1% Mức độ mắc nhiễm khuẩn BV được xác định qua các chỉ số như tỷ lệ người bệnh hiện mắc, tỷ lệ hiện mắc và mật độ hiện mắc NKBV, được nghiên cứu trong 10 năm tại khoa hồi sức tích cực miền Nam.
Từ năm 2007 đến 2016, Ba Lan ghi nhận tổng cộng 1849 bệnh nhân với tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) là 27,6% (510 bệnh nhân) Một nghiên cứu đa trung tâm tại miền Nam Ba Lan từ 2016 đến 2019 cho thấy trong số 3028 bệnh nhân nhập viện tại khoa Hồi sức tích cực, tỷ lệ mắc trên 100 ca nhập viện đạt 17,8%, mật độ mắc trên 1000 bệnh nhân là 20,3 Tỷ lệ tử vong trong nghiên cứu này là 16%, trong đó 28% trường hợp tử vong liên quan đến nhiễm Clostridioides difficile.
Thực trạng phơi nhiễm và lây nhiễm nghề nghiệp của NVYT
Yếu tố nguy cơ lây nhiễm
+ Trực tiếp: máu dịch, chất thải, chất tiết…
+Giản tiếp: Bàn tay nhân viên y tế, bề mặt môi trường, không khí
- Điều kiện lao động đặc thù
+Dụng cụ y tế sắc nhọn
Yếu tố nguy cơ phát sinh
Yếu tố phòng ngừa và kiểm soát lây nhiễm
- Cung cấp điều kiện hoạt động phòng ngừa chuẩn :
+Hệ thống kiểm soát nhiễm khuẩn
- Hoạt động của hệ thống kiểm soát nhiễm khuẩn
(giám sát, đào tạo, quản lý sức khỏe…)
- Hoạt động của nhân viên y tế (KAP)
Sơ đồ 2: Yếu tố nguy cơ và yếu tố phòng ngừa lây nhiễm
1.2.1 Các yếu tố bất lợi trong môi trường làm việc của NVYT
Ngành Y tế đang phải đối mặt với nhiều áp lực liên tục, bao gồm công việc quá tải, cường độ làm việc cao và sức ép từ bệnh nhân và gia đình, dẫn đến việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa nhiễm khuẩn (PNC) không đầy đủ Nghiên cứu tại 25 bệnh viện công ở tỉnh Quý Châu, Trung Quốc, đã chỉ ra rằng các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng PNC giảm dần theo thứ tự: thiết bị bảo hộ, kiến thức, thái độ, môi trường an toàn và khối lượng công việc Một nghiên cứu năm 2012 tại Bệnh viện Da liễu Trung ương cho thấy mỗi điều dưỡng phải thực hiện trung bình 23,82 mũi tiêm/ngày, với một số điều dưỡng phải tiêm tới 41 mũi/ngày Đáng chú ý, 92% điều dưỡng gặp phải tổn thương do vật sắc nhọn, mặc dù 94% đã được đào tạo về tiêm an toàn.
Tỷ lệ phơi nhiễm nghề nghiệp giảm liên quan đến số giường phục vụ trên mỗi nhân viên y tế, với hộ lý có tỷ lệ phơi nhiễm cao nhất (14,8%), tiếp theo là bác sĩ (8,5%) và y tá (6,2%) Nghiên cứu tại BV Quân đội 108 cho thấy, trong độ tuổi 31 - 50, tỷ lệ nhân viên y tế gặp stress, trầm cảm và lo âu lần lượt là 19,6%, 24,5% và 43,2%, với tỷ lệ mức độ nặng và rất nặng tương ứng là 4,4%, 2,9% và 11% Một nghiên cứu khác trên 79 cơ sở y tế tại Việt Nam cho thấy nhóm có khối lượng công việc nặng (cấp cứu, gây mê hồi sức, tâm thần) có tỷ lệ stress cao gấp 4,9 lần, trong đó tỷ lệ tại cơ sở y tế tuyến trung ương là 15,9%, cao hơn so với tuyến tỉnh (12,8%) và tuyến huyện (9,3%).
Bạo lực trong ngành Y tế đang ngày càng trở thành vấn đề nghiêm trọng, đặc biệt khi tỷ lệ nhân viên y tế (NVYT) bị lăng mạ lên tới 18,4% theo nghiên cứu tại 79 cơ sở y tế (CSYT) ở Việt Nam Trong đó, bác sĩ là nhóm chịu ảnh hưởng nhiều nhất với tỷ lệ 23,7%, tiếp theo là y tá, hộ lý và kỹ thuật viên với tỷ lệ lần lượt là 14%.
19,3%); tỷ lệ hành hung chiếm 2,4 % trong đó lần lượt là KTV (2,8%); y tá (2,7%) và bác sỹ là 2,6% [44].
Thời điểm làm việc và thời gian tiếp xúc có ảnh hưởng đáng kể đến tuân thủ quy trình chăm sóc sức khỏe Một nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ người tham gia chăm sóc sức khỏe vào buổi sáng đạt 46,6%, trong khi buổi chiều chỉ là 22,3%, buổi tối 19,8% và buổi đêm 11,3% Nghiên cứu của Nguyễn Bích Diệp cũng chỉ ra rằng tổn thương thường xảy ra nhiều nhất vào ca sáng với tỷ lệ 56,7%, trong đó tổn thương khi tiêm chiếm 42,9% Đặc biệt, một nghiên cứu trên 15.134 nhân viên y tế cho thấy, những người tham gia phòng chống dịch tại thực địa có tỷ lệ mắc bệnh cao gấp 3,2 lần so với nhóm không tham gia.
1.2.2 Phơi nhiễm, lây nhiễm của nhân viên y tế
Gánh nặng bệnh tật được định nghĩa là tổng số năm sống bị mất do tử vong sớm và số năm sống khỏe mạnh bị mất do tàn tật Công thức tính gánh nặng bệnh tật là DALY = YLL + YLD.
DALY: năm sống tàn tật hiệu chỉnh (Disability adjusted life years) YLL: số năm mất đi do tử vong sớm (Years of life lost)
YLD: Số năm sống bệnh tật (Years lived with Disability)
Theo nghiên cứu của Hà Thế Tấn, trong tổng số 15.134 nhân viên y tế (NVYT), tỷ lệ mắc bệnh nghề nghiệp đạt 15,7% Tỷ lệ cao nhất ghi nhận ở khoa truyền nhiễm với 24,5%, tiếp theo là khối nội, nhi và phòng khám với 20,5%, và khối giải phẫu bệnh cùng pháp y đạt 19,4%.
Nguy cơ lây nhiễm qua đường máu, đặc biệt từ các vật sắc nhọn như kim tiêm, dao, kéo và mảnh thủy tinh, đã được nhấn mạnh do khả năng gây tổn thương “kép” Theo ước tính, nguy cơ lây truyền qua kim tiêm đối với viêm gan B dao động từ 3% đến 10% (có thể lên tới 30%), viêm gan C từ 0,8% đến 3%, và HIV khoảng 0,3% (với rủi ro phơi nhiễm qua niêm mạc là 0,1%) Đặc biệt, tổn thương do kim tiêm có virus HBV dương tính có nguy cơ nhiễm HBV từ 23% đến 62%, theo nghiên cứu của tác giả Dương Khánh Vân vào năm 2012.
Theo ước tính của CSYT lớn Hà Nội, tỷ lệ mới mắc viêm gan B trong năm là 50 ca/100.000 người, với 40 ca/100.000 người/năm ở y/bác sỹ, 65 ca/100.000 người/năm ở điều dưỡng và 30 ca/100.000 người/năm ở các nhân viên y tế khác Đối với HIV, tỷ lệ mới mắc chung là 0,2 ca/100.000 người/năm, tương ứng với 0,2 ca ở y/bác sỹ, 0,3 ca ở điều dưỡng và 0,1 ca ở các nhân viên y tế khác Nghiên cứu cũng chỉ ra tỷ lệ quy thuộc nhiễm vi sinh vật do TTNN bởi VSN cho viêm gan B là 32,16%, trong đó y/bác sỹ là 27,8%, điều dưỡng 39,5% và các nhân viên y tế khác là 21,7% Tỷ lệ quy thuộc đối với HIV lần lượt là 0,52% chung, 0,49% ở y/bác sỹ, 0,53% ở điều dưỡng và 0,23% ở các nhân viên y tế khác.
Nghiên cứu tại Bệnh viện Da liễu Trung ương năm 2012 cho thấy tổn thương do thu dọn dụng cụ chiếm 73,9%, trong khi tổn thương do kim đâm chỉ chiếm 7,9% các trường hợp bị nhiễm Một khảo sát quy mô lớn tại Việt Nam chỉ ra rằng tổn thương do vết sắc nhọn (VSN) chiếm tới 48%, với tỷ lệ cao nhất thuộc về khối Ngoại (66%) và khối xét nghiệm (53,8%).
Theo một nghiên cứu tại Hà Nội năm 2012, bàn tay và ngón tay là vị trí bị tổn thương nhiều nhất, chiếm 94,5%, với 97,6% chấn thương do VSN xảy ra ở ngón tay Hầu hết các tổn thương là xuyên thấu da (77,8%) và xước da (19,6%) Ngoài ra, tổn thương do VSN chủ yếu xảy ra vào buổi sáng, chiếm 68,3%.
Trong quá trình làm việc, nhân viên y tế (NVYT) có thể gặp phải tổn thương do vi sinh vật (VSN) nhiều lần Theo nghiên cứu năm 2012 của Dương Khánh Vân, 83,9% NVYT bị tổn thương dưới 5 lần, trong khi tỷ lệ tổn thương từ 6-10 lần là 9,9%, và những trường hợp trên 10 lần chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ.
Tỷ lệ mắc bệnh trong nhóm nhân viên y tế (NVYT) từng bị tổn thương do vật sắc nhọn (VSN) cao gấp 2,2 lần so với nhóm chưa bị tổn thương, với tỷ lệ HBsAg dương tính đạt 7% và tỷ lệ mang Anti-HCV là 1,14% Các khoa xét nghiệm, ngoại, giám định y khoa, và truyền nhiễm có tỷ lệ nhiễm HBsAg lần lượt là 14,1%, 12,4% và 10,3% Nhóm y tá và kỹ thuật viên có tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan B cao nhất là 10,6% Tỷ lệ nhiễm HBV tại tuyến huyện cũng cao hơn so với tuyến y tế tỉnh và trung ương (14,2% so với 9,1% và 9,6%) Nghiên cứu tại 6 cơ sở y tế ở Hà Nội cho thấy 37,6% đối tượng bị tổn thương do VSN, trong đó nguyên nhân chủ yếu là do sơ xuất chiếm 75,6%.
BV đa khoa Mizan-Aman tại Tây Nam Ethiopia (2015) ghi nhận 29,6% nhân viên y tế từng trải qua chấn thương do kim đâm Đặc biệt, 57,9% trường hợp chấn thương kim đâm xảy ra khi bệnh nhân di chuyển đột ngột, trong khi 45,2% người tham gia khảo sát đã bị máu hoặc dịch cơ thể bắn vào mắt hoặc miệng.
Từ năm 2005 đến 2009, có 384 trường hợp nhiễm HCV được công nhận là bệnh lây nhiễm nghề nghiệp, tương đương với tỷ lệ 1,5/100.000 nhân viên y tế Tổn thương do kim tiêm tại bệnh viện được ghi nhận với tỷ lệ 29,9/1000 nhân viên y tế, cao hơn đáng kể so với tỷ lệ 7,4/1000 nhân viên y tế nói chung.
Lây nhiễm qua đường hô hấp, bao gồm lây qua không khí và giọt bắn, có thể xảy ra ở dạng cấp tính hoặc mạn tính Hiện nay, lây nhiễm cấp tính đang trở thành mối quan ngại hàng đầu do sự bùng phát nhanh chóng và phức tạp của các dịch bệnh như SARS, H5N1, H1N1, EBOLA và đặc biệt là đại dịch Covid-19.
Theo báo cáo của WHO số lượng NVYT bị nhiễm Ebola tại 3 nước Guinea, Liberia và Sierra Leone từ tháng 1 năm 2014 đến ngày 31 tháng 3 năm
Các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát lây nhiễm
1.3.1 Khái niệm và quá trình phát triển hoạt động phòng ngừa
Năm 2012, BYT đã ban hành tài liệu “Hướng dẫn phòng ngừa chuẩn trong các cơ sở khám, chữa bệnh” tại Việt Nam [8].
Phòng ngừa chuẩn là tập hợp các biện pháp cơ bản được áp dụng cho tất cả bệnh nhân tại các cơ sở khám chữa bệnh, không phụ thuộc vào chẩn đoán hay tình trạng nhiễm trùng Nguyên tắc chính là coi tất cả máu, chất tiết và chất bài tiết (trừ mồ hôi) đều có nguy cơ lây truyền bệnh.
Nhân viên y tế bao gồm tất cả những người lao động trong cơ sở khám bệnh và chữa bệnh, có vai trò quan trọng trong việc khám, điều trị và chăm sóc người bệnh Đối tượng này không chỉ bao gồm bác sĩ và điều dưỡng mà còn có kỹ thuật viên, nhân viên vật lý trị liệu, nhân viên xã hội, tâm lý, dược sĩ và nhân viên vệ sinh.
Việc tuân thủ các biện pháp phòng ngừa nhiễm khuẩn (PNC) là rất quan trọng trong việc giảm nguy cơ lây truyền trong môi trường chăm sóc y tế, từ đó hạn chế sự lây lan trong cộng đồng bệnh viện, bao gồm nhân viên y tế, bệnh nhân và người nhà Sự an toàn và chất lượng trong công tác khám chữa bệnh được nâng cao nhờ vào việc thực hiện đồng bộ các biện pháp PNC, nhằm tác động đến từng mắt xích trong chu trình lây nhiễm.
Lịch sử phát triển của các biện pháp phòng ngừa luôn được cập nhật và mở rộng, phản ánh sự thay đổi và phát triển của các bệnh lây nhiễm trên toàn cầu.
Vào năm 1970, Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Bệnh tật Hoa Kỳ (CDC) đã công bố hướng dẫn về cách ly phòng ngừa lần đầu tiên, bao gồm bảy biện pháp cách ly khác nhau như phòng ngừa tuyệt đối, phòng ngừa bảo vệ, và phòng ngừa lây truyền qua đường hô hấp, đường tiêu hóa, và qua vết thương (chất bài tiết, máu).
Năm 1985 do sự bùng phát của dịch HIV/AIDS, CDC ban hành hướng dẫn phòng ngừa mới gọi là Phòng ngừa phổ cập (Universal Precautions).
Theo hướng dẫn này, máu được xem như là nguồn lây truyền quan trọng nhất và dự phòng phơi nhiễm qua đường máu là cần thiết [8].
Vào năm 1995, hướng dẫn phòng ngừa phổ cập đã được chuyển đổi thành PNC, mở rộng khuyến cáo phòng ngừa phơi nhiễm không chỉ với máu mà còn với các chất tiết và bài tiết từ cơ thể.
Từ năm 2007, sau dịch SARS và sự bùng phát của cúm A H5N1, CDC cùng các tổ chức kiểm soát nhiễm khuẩn đã khuyến cáo tăng cường vệ sinh hô hấp trong phòng ngừa nhiễm khuẩn cho tất cả người bệnh có triệu chứng đường hô hấp Thực hiện các biện pháp phòng ngừa nhiễm khuẩn (PNC) là cần thiết để kiểm soát lây nhiễm từ máu, chất tiết và chất bài tiết, ngay cả khi không thấy máu Việc tuân thủ PNC không chỉ giúp giảm thiểu nhiễm khuẩn liên quan đến chăm sóc y tế mà còn hạn chế lây truyền cho nhân viên y tế và người bệnh, đồng thời bảo vệ môi trường, từ đó nâng cao chất lượng và an toàn trong bệnh viện.
1.3.2 Một số biện pháp phòng ngừa chuẩn
Sơ đồ 3: Các biện pháp phòng ngừa chuẩn và kiểm soát
Khái niệm: là làm sạch tay bằng nước và xà phòng có hay không có chất sát khuẩn và sát khuẩn tay với dung dịch có chứa cồn [8].
Vệ sinh tay (VST) là một trong những nội dung cơ bản của phòng ngừa nhiễm khuẩn (PNC) và là biện pháp hiệu quả nhất để kiểm soát sự lây truyền tác nhân gây bệnh tại các cơ sở khám chữa bệnh Được xem như một loại vacxin "tự chế", VST đơn giản và hiệu quả, luôn được ưu tiên áp dụng đầu tiên nhằm ngăn ngừa lây truyền bệnh giữa người bệnh và nhân viên y tế, cũng như giữa các nhân viên y tế với nhau.
Nguyên tắc cơ bản trong cơ sở khám chữa bệnh là phải đảm bảo cung cấp nước sạch, trang bị phương tiện vệ sinh tay (VST) và dung dịch sát khuẩn tay chứa cồn tại các khu vực thăm khám và chăm sóc bệnh nhân Việc tập huấn và kiểm tra giám sát tuân thủ VST là cần thiết Tại Việt Nam, Bộ Y tế đã triển khai đánh giá theo 83 tiêu chí, trong đó việc “triển khai chương trình và giám sát tuân thủ rửa tay” là một trong sáu nội dung quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK) tại bệnh viện.
Phương tiện thiết yếu vệ sinh tay:
Vị trí vệ sinh tay (VST) cần phải được trang bị đầy đủ bồn rửa sạch sẽ có vòi nước với cần gạt, nước sạch, xà phòng và giá đựng xà phòng Ngoài ra, cần có khăn lau tay dùng một lần trong thùng hoặc hộp đựng có nắp đậy, cùng với thùng chứa khăn bẩn VST là biện pháp quan trọng và thường được áp dụng đầu tiên trong thực hành kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK).
Theo nghiên cứu năm 2009 tại Hưng Yên, tỷ lệ bồn rửa tay đạt chuẩn tại các bệnh viện tuyến tỉnh và huyện rất thấp, chỉ 8,3% và 0% tương ứng Các phương tiện vệ sinh tay tại buồng bệnh cũng chỉ đạt 17,7%, chủ yếu là bồn rửa tay (72,6%), trong khi vị trí vệ sinh bằng cồn chỉ đạt 27,4% Việc thiếu các phương tiện thiết yếu cho vệ sinh tay là một vấn đề nghiêm trọng cần được khắc phục.
Địa điểm vệ sinh tay nên được bố trí tại các khu vực chăm sóc và phục vụ bệnh nhân, bao gồm buồng khám, buồng thủ thuật, buồng bệnh và buồng xét nghiệm, với bồn vệ sinh tay và dung dịch vệ sinh tay có chứa cồn Các vị trí cần thiết như giường bệnh nặng, xe tiêm thay băng, bàn khám bệnh, xét nghiệm, và cửa ra vào mỗi buồng bệnh đều phải được trang bị Theo thống kê, thuốc sát trùng tay không cần nước được sử dụng phổ biến nhất với tỷ lệ 79,3%, trong khi khăn giấy và khăn bông được dùng để làm khô tay với tần suất tương đương khoảng 40% Thuốc sát trùng đóng vai trò quan trọng trong việc giảm vi sinh vật trên tay nhân viên y tế, từ đó hạn chế sự lây truyền vi khuẩn Các sản phẩm thường gặp tại Hoa Kỳ bao gồm rượu, chlorhexidine, chloroxylenol, iốt và iodophors, cùng với các hợp chất amoni bậc bốn và triclosan Tuy nhiên, cần lưu ý rằng có hơn 40 vụ bùng phát và giả bùng phát do thuốc sát trùng bị ô nhiễm.
Kỹ thuật VST được phát triển dựa trên các thời điểm thực hiện và các phương pháp sử dụng hóa chất liên quan Một số khái niệm quan trọng cần nắm rõ bao gồm các thời điểm tối ưu để áp dụng VST và cách thức sử dụng hóa chất hiệu quả.
+ Chỉ định vệ sinh tay: là lý do cần VST tại thời điểm xác định liên quan tới loại thao tác chăm sóc, điều trị đã thực hiện.
Vệ sinh tay là một yếu tố quan trọng trong chăm sóc và điều trị bệnh, giúp ngăn chặn sự lây lan của mầm bệnh qua bàn tay Cần thực hiện vệ sinh tay đúng thời điểm để đảm bảo hiệu quả, và số lần vệ sinh tay cần thiết phải được chú trọng trong quy trình chăm sóc sức khỏe.
Hành động vệ sinh tay là một cơ hội quan trọng để thực hiện vệ sinh tay theo phương pháp khử khuẩn bằng cồn hoặc rửa tay Nếu không thực hiện vệ sinh tay khi có chỉ định, cơ hội này sẽ được ghi nhận là “bỏ qua”.
Tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay: được xác định bằng số cơ hội có vệ sinh tay
(hành động VST) x 100/số cơ hội cần vệ sinh tay Theo báo cáo kết quả, trong