GIỚI THIỆU CHUNG
Việt Nam là một trong những quốc gia giàu nhất thế giới về đa dạng sinh học
Sự hủy hoại đa dạng sinh học vẫn tiếp diễn, ngay cả trong các khu bảo tồn, với nguyên nhân chính là hoạt động sinh kế của người dân địa phương Do đó, việc nâng cao năng lực cho nhân viên quản lý các vườn quốc gia trở thành nhiệm vụ cấp bách để bảo tồn hiệu quả sự đa dạng sinh học quý giá, đặc biệt là ở những khu vực cần được bảo vệ chặt chẽ.
Chính phủ Việt Nam đã thực hiện nhiều biện pháp bảo tồn đa dạng sinh học, đặc biệt thông qua việc phát triển các vườn quốc gia Một ví dụ điển hình là việc ban hành “Chiến lược Quản lý Hệ thống Khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam đến năm 2010” vào năm 2003 và thành lập 18 vườn quốc gia mới từ năm 2000 Tuy nhiên, những nỗ lực này chưa được thực hiện hiệu quả do hạn chế về năng lực nhân viên quản lý, sự chậm trễ trong hỗ trợ tài chính từ chính phủ, và các định chế chưa phù hợp.
Khu vực lân cận vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà (VQGBDNB) có 5.067 hộ dân
Với dân số 26.028 người, chủ yếu là các dân tộc thiểu số, đời sống của người dân trong khu vực này phụ thuộc vào nông nghiệp, nhưng diện tích đất canh tác hạn chế dẫn đến điều kiện sinh kế khó khăn Tỷ lệ hộ nghèo tại đây vượt quá 29% do năng suất nông nghiệp thấp và đất đai hạn chế Để cải thiện cuộc sống, người dân đã phải khai thác rừng để mở rộng diện tích canh tác, trồng cà phê, săn bắn, hái lượm và thu thập củi, gây đe dọa đến đa dạng sinh học tại Vườn Quốc Gia Bến En Để giải quyết những vấn đề này, Chính phủ Việt Nam đã triển khai dự án hợp tác kỹ thuật nhằm nâng cao năng lực cộng đồng tại Vườn Quốc Gia.
Dự án "Bidoup - Núi Bà" đã được trình lên Chính phủ Nhật Bản nhằm nhận hỗ trợ thực thi, bao gồm các hoạt động du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng và cải thiện sinh kế thông qua giáo dục về nông lâm nghiệp và môi trường Chính phủ Nhật Bản đã chính thức chấp thuận đề xuất này.
Hiện nay, người nghèo tại nông thôn Việt Nam được định nghĩa là những người có thu nhập dưới 19 USD mỗi tháng, con số này thấp hơn nhiều so với tiêu chuẩn nghèo mà Ngân hàng Thế giới đưa ra.
Dự án "Tăng cường năng lực quản lý dựa vào cộng đồng tại Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà" được hình thành bởi JICA, nhằm thiết lập quản lý hợp tác tại Vườn quốc gia này Dự án được xây dựng dựa trên kết quả khảo sát và thảo luận với các tổ chức liên quan thuộc chính phủ Việt Nam.
Vườn Quốc gia Bidoup - Núi Bà (VQGBDNB) nằm ở phía bắc tỉnh Lâm Đồng, với diện tích 70.038 ha, lớn hơn nhiều so với các vườn quốc gia khác tại Việt Nam Được thành lập năm 1986 dưới hình thức Khu Bảo tồn thiên nhiên và nâng cấp thành vườn quốc gia vào năm 2004, VQGBDNB đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học Nó nằm ở trung tâm của ba khu vực bảo vệ: VQG Chu Yang Sin, VQG Phước Bình và Rừng phòng hộ Đa Nhim, tạo thành hành lang sinh thái giữa các khu vực này Hệ sinh thái của VQGBDNB rất phong phú, bao gồm rừng mưa nhiệt đới thường xanh, rừng hỗn giao, rừng lùn núi cao và nhiều loại rừng khác, nhờ đó, nơi đây được công nhận là một trong những điểm nóng về đa dạng sinh học của Việt Nam với 1.923 loài thực vật và 359 loài động vật có xương sống.
63 loài thực vật và 32 loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng trong danh sách của
IUCN, và nhiều loài đặc hữu khác Ngoài ra, VQGBNB cũng được tổ chức
Birdlife International chỉ định là một trong 221 Vùng Chim Đặc Hữu trên thế giới trong đó bao gồm 3 khu vực chim quan trọng là Cổng Trời, Lang Biang và
Dự án Bidoup nhằm quản lý bền vững VQGBDNB, nơi có đa dạng động thực vật phong phú, thông qua việc phát triển các phương thức quản lý tài nguyên thiên nhiên hiệu quả Dự án chú trọng cải thiện sinh kế cho người dân sống xung quanh VQGBDNB bằng ba hợp phần chính: (1) Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng (CBET), (2) Mô hình sinh kế thân thiện với môi trường (EFLO), và (3) Quản lý hợp tác (CM) giữa VQGBDNB và cộng đồng địa phương.
Chiến lược dự án nhằm mang lại lợi ích cho người dân ở các thôn mục tiêu thông qua việc triển khai các hoạt động trong các hợp phần CBET và EFLO Đồng thời, người dân cần tuân thủ quy định về quản lý tài nguyên để giảm thiểu nguy cơ từ các hoạt động của con người.
VQGBDNB đã phát triển một mô hình quản lý hợp tác với các thôn mục tiêu nhằm nâng cao năng lực của cộng đồng Mục tiêu chính của dự án là cải thiện sự tham gia và phát triển bền vững trong các thôn, từ đó tạo ra những giá trị tích cực cho người dân địa phương.
Hướng đến thiết lập quản lý hợp tác tại Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà 8
VQGBDNB sẽ được cải thiện trong việc quản lý nguồn tài nguyên của vườn quốc gia nhờ vào việc phát triển mô hình quản lý hợp tác với các thôn mục tiêu.
Thời gian dự án là 4 năm, bắt đầu từ đầu năm 2010 Phía đối tác là UBND tỉnh
Lâm Đồng và Ban Quản lý VQGBDNB đang triển khai dự án tại năm thôn thuộc hai xã và một thị trấn của huyện Lạc Dương Theo số liệu tháng 10/2011, số hộ gia đình sinh sống trong năm thôn mục tiêu được tổng hợp trong bảng dưới đây.
Bảng 1 Các thôn mục tiêu của Dự án
Trấn Dân tộc Số hộ Số dân
Bon Đưng I Lạc Dương Lạch (K’ho-Lạch) 203 895
Bonnơr B Lát Lạch (K’ho-Lạch) 163 726 Đạ Blah Đa Nhim Cil (K’ho-Cil) 88 447 Đạ Tro Đa Nhim Cil (K’ho-Cil) 95 595 Đạ Ra Hoa Đa Nhim Cil (K’ho-Cil) 118 608
KHỞI ĐỘNG HOẠT ĐỘNG DỰ ÁN
Dự án bắt đầu từ tháng 1/2010 nhằm đối phó với nguy cơ ảnh hưởng đến đa dạng sinh học tại VQGBDNB do hoạt động của con người, như xâm chiếm đất rừng Mục tiêu của dự án là phát triển mô hình quản lý hợp tác giữa VQGBDNB và cộng đồng tại các thôn mục tiêu, nhằm bảo tồn hiệu quả hơn nguồn tài nguyên tại khu vực này Ý tưởng chính là xây dựng và thực hiện quy ước thôn về quản lý tài nguyên.
VQGBDNB được quản lý bởi các thành viên trong cộng đồng, nơi họ thiết lập và vận hành cơ chế chia sẻ lợi ích (BSM) dựa trên nguồn lực tại VQGBDNB, đảm bảo lợi ích được phân phối công bằng cho tất cả thành viên Các hoạt động của các hợp phần CBET cũng góp phần vào sự phát triển bền vững của cộng đồng.
EFLO được xây dựng nhằm mang lại lợi ích cho cả những người tham gia trực tiếp và cộng đồng thông qua BSM, từ đó tạo ra một mô hình quản lý hiệu quả.
Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà sẽ thiết lập quản lý hợp tác thông qua sự tương tác giữa ba thành phần BSM, CBET và EFLO, nhằm tăng cường sự tham gia của cộng đồng vào công tác bảo tồn.
Dựa trên mục tiêu đã đề ra, bước đầu tiên là thành lập cơ cấu thực thi dự án với các Nhóm công tác (WG) chịu trách nhiệm phát triển các mô hình CBET, EFLO và BSM Các Nhóm công tác này bao gồm những cán bộ có chuyên môn phù hợp.
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và
Trung tâm Khuyến nông (TTKN) thuộc tỉnh Lâm Đồng và nhân viên VQGBDNB
Cơ cấu tổ chức này đã nhanh chóng được thiết lập ngay sau khi bắt đầu dự án
Khảo sát nhu cầu tập huấn năng lực đã được thực hiện để hỗ trợ nhóm Công tác phát triển các mô hình CBET, EFLO, BSM Dựa trên kết quả khảo sát, các khóa tập huấn đã được tổ chức nhằm nâng cao năng lực quản lý cho các thành viên trong nhóm Ngoài ra, dự án còn tổ chức chuyến tham quan học tập cho nhân viên và thành viên nhóm Công tác đến các vườn quốc gia.
Indonesia đang tìm hiểu cách khai thác dịch vụ du lịch sinh thái và học hỏi kinh nghiệm từ các mô hình thành công Để đạt được điều này, các cuộc điều tra cơ bản đã được thực hiện tại các thôn mục tiêu và thôn đối chứng Đồng thời, đánh giá thôn có sự tham gia (PRA) cũng đã được tiến hành, nhằm tạo nền tảng cho việc hình thành kế hoạch hoạt động du lịch cộng đồng (CBET) và phát triển du lịch sinh thái (EFLO) với sự đóng góp của chuyên gia và nhà tư vấn.
Hướng đến thiết lập quản lý hợp tác tại Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà 10
Hướng đến thiết lập quản lý hợp tác tại Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà 11
PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI TẠI VIỆT NAM
Du lịch sinh thái tại Việt Nam vẫn còn đang trong giai đoạn phát triển đầu tiên
Theo như “Khảo sát Ngành Du lịch Việt Nam” do JICA tiến hành, mặc dù Việt
Nam có tiềm năng lớn để phát triển du lịch sinh thái, đặc biệt tại các vườn quốc gia, khu bảo tồn và đất ngập nước Tuy nhiên, số lượng khách du lịch đến các khu bảo tồn thiên nhiên vẫn còn hạn chế, với 44,7% khu bảo tồn có dưới 2.000 lượt du khách và 32% khu đón từ 2.000 đến 10.000 lượt trong năm 2006 Hiện tại, chưa có số liệu cụ thể về tỷ lệ du khách là khách du lịch sinh thái.
Du lịch sinh thái thuộc quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao, và Du lịch,
Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà đang hướng đến việc thiết lập quản lý hợp tác nhằm phát triển du lịch sinh thái Đây là những địa điểm tiềm năng thuộc quyền quản lý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển.
Việc phát triển du lịch sinh thái tại các vườn quốc gia cần sự tư vấn từ Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng UBND tỉnh, vì điều này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến thời gian, quy trình và đầu tư Một số chính sách liên quan đến phát triển du lịch sinh thái đã được ban hành, như Quyết định số 186/2006/QĐ-TTG ngày 14/08/2006.
Thủ tướng ký ban hành quy chế quản lý rừng đặc dụng và Quyết định số
Nghị định 104/2007/QĐ-BNN ngày 27/12/2007 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quy định về quản lý du lịch sinh thái tại các vườn quốc gia và khu bảo tồn, nhằm khuyến khích đầu tư từ khối kinh tế tư nhân Tuy nhiên, theo khảo sát, hoạt động du lịch sinh thái hiện nay chủ yếu do các vườn quốc gia tổ chức, với một số công ty du lịch thành công trong việc vận hành các tuyến du lịch tại khu bảo tồn Điều đáng lưu ý là cộng đồng địa phương vẫn chưa được hưởng lợi từ các hoạt động này.
PHÁT TRIỂN CBET TẠI VQGBDNB
Khu vực VQGBDNB hiện chưa có nhiều hoạt động du lịch và du lịch sinh thái, ngoại trừ khu núi Lang Biang, nơi thu hút một lượng du khách leo núi nhất định hàng năm Dự án JICA – VQGBDNB mới được khởi động nhằm phát triển một mô hình quản lý hợp tác hiệu quả trong khu vực này.
VQGBDNB và cộng đồng tại các thôn mục tiêu cần phát triển mô hình CBET một cách hiệu quả, nhằm phối hợp với hợp phần EFLO để đóng góp tích cực vào mô hình tổng thể.
CM Một vấn đề khác nữa là thời gian Theo định nghĩa về du lịch sinh thái và
CBET được đề cập trong phần Tham khảo, tuy nhiên việc thiết lập CBET tốn nhiều thời gian do phải đáp ứng nhiều điều kiện như phát triển năng lực chuyên môn và quản lý, cũng như phát triển sản phẩm du lịch sinh thái và quảng bá Ngoài ra, việc xây dựng mối quan hệ đối tác với các đơn vị lữ hành cũng là một yếu tố quan trọng Các thôn mục tiêu gặp nhiều bất lợi, với kết quả từ các cuộc đánh giá cho thấy thiếu tài nguyên du lịch và hầu như không có kinh nghiệm trong lĩnh vực này, ngoại trừ thôn Bon Đưng.
1, một số người đã tham gia hoạt động du lịch trong vùng núi Lang Biang Trong
Để thiết lập quản lý hợp tác tại Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà, cần xem xét tình trạng hiện tại và nhận thấy rằng mô hình CBET không thể phát triển hiệu quả trong thời gian dự án kéo dài chỉ 4 năm Do đó, một quyết định đồng thuận đã được đưa ra nhằm phát triển mô hình này một cách bền vững hơn.
Mô hình "du lịch sinh thái dựa vào VQGBDNB" được quản lý bởi VQGBDNB với sự tham gia của cộng đồng, nhằm hướng tới việc hình thành CBET Mô hình này hy vọng sẽ chuyển giao chức năng vận hành và quản lý các hoạt động du lịch sinh thái, đáp ứng các điều kiện cần thiết để phát triển bền vững.
VQGBDNB sang cho thành viên cộng đồng Dựa trên quyết định này, kế hoạch phát triển CBET tại VQGBDNB và kế hoạch vận hành CBET đã được thiết lập
Tham khảo: định nghĩa du lịch sinh thái và CBET
1 Định nghĩa phổ biến và chi tiết nhất về du lịch sinh thái bao gồm các tính chất sau:
Dựa vào tài nguyên thiên nhiên và có tác động tối thiểu đến các khu vực tài nguyên thiên nhiên
Có yếu tố giáo dục môi trường
Tiếp cận cộng đồng địa phương mà không gây ra tác động tiêu cực
Nâng cao bản sắc văn hóa và phát triển ngành nghề truyền thống
Một phần lợi nhuận được sử dụng để bảo tồn khu vực tài nguyên thiên nhiên và phát triển cộng đồng địa phương
2 Du lịch sinh thái tại Việt Nam được định nghĩa như sau: Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững (Luật Du lịch)
Du lịch sinh thái là loại hình du lịch kết hợp giữa thiên nhiên và văn hóa địa phương, nhấn mạnh vai trò giáo dục môi trường và hỗ trợ bảo tồn, phát triển bền vững với sự tham gia của cộng đồng địa phương.
3 CBET là một hình thức du lịch được quản lý và vận hành bởi cộng đồng và dựa trên tài nguyên thiên nhiên CBET thường có quy mô nhỏ và nằm ở những khu vực nông thôn CBET cũng bao gồm tương tác văn hóa giữa du khách và cộng đồng địa phương
Những thuộc tính thường gặp trong hoạt động CBET:
Hướng đến thiết lập quản lý hợp tác tại Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà 16
Nhằm hỗ trợ cộng đồng địa phương, đặc biệt là người dân nông thôn và người bản địa, chúng tôi tập trung vào việc nâng cao an ninh trật tự, đảm bảo an toàn và cải thiện vệ sinh.
Góp phần nâng cao đời sống tinh thần của cá nhân và gìn giữ các tài nguyên thiên nhiên và văn hóa
Nâng cao sinh kế và giảm nghèo
Chung tay quản lý sản phẩm và hoạt động du lịch
Chia sẻ công bằng lợi nhuận
Sử dụng một phần lợi nhuận để phát triển cộng đồng và/hay duy trì và bảo vệ tài sản văn hóa và/hay di sản thiên nhiên
Cộng đồng tham gia hoạch định, ra quyết định, phát triển và vận hành các hoạt động du lịch.
KẾT QUẢ
1.3.1 Hình thành kế hoạch vận hành CBET
Kế hoạch vận hành CBET được xây dựng từ tháng 10/2010 với sự tham gia của nhiều bên Mặc dù đã quyết định phát triển du lịch sinh thái dựa trên VQGBDNB như một mô hình trung gian, nhưng việc triển khai mô hình du lịch sinh thái tại từng thôn gặp khó khăn do thiếu nguồn tài nguyên và nhân lực địa phương Do đó, cần xác định rõ các hoạt động du lịch sinh thái dựa vào tài nguyên sẵn có để thúc đẩy phát triển bền vững.
VQGBDNB sẽ bao gồm các hoạt động như đi bộ trên tuyến (hiking), băng rừng
Trekking và ngắm chim là những hoạt động thú vị tại các thôn mục tiêu, nơi các thành viên cộng đồng tham gia làm diễn giả và hướng dẫn viên Bên cạnh đó, Giáo dục môi trường (GDMT) sẽ được tổ chức tại Trung tâm du khách (TTDK) nhằm thu hút du khách Một khảo sát nhỏ về nhu cầu của khách du lịch tại Đà Lạt cũng xác nhận sự ủng hộ cho các hoạt động du lịch này.
Kế hoạch vận hành CBET được xây dựng dựa trên các kết luận và quyết định đã thống nhất, tạo nền tảng cho các kế hoạch hành động, tập huấn, cơ sở hạ tầng, thiết lập thể chế và chiến lược tiếp thị Điều này nhằm đáp ứng nhu cầu tập huấn cho cộng đồng và nhân viên VQGBDNB tham gia vào các hoạt động liên quan.
Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà đang hướng tới việc thiết lập quản lý hợp tác cho hoạt động du lịch cộng đồng (CBET) thông qua các lớp tập huấn Những lớp học này sẽ tập trung vào các kỹ năng quan trọng như hướng dẫn du lịch sinh thái, diễn giải, sơ cấp cứu, và tiếp đón du khách, cùng với biểu diễn cồng chiêng Hầu hết các hoạt động này sẽ được thực hiện bởi các tổ chức và giảng viên địa phương.
Kế hoạch hạ tầng du lịch bao gồm xây dựng Trung tâm du khách, cải tạo ba tuyến điểm du lịch tại VQG, khu cắm trại và các tiện ích phục vụ giáo dục môi trường Kế hoạch cũng thiết lập Trung tâm Du lịch sinh thái và Giáo dục môi trường (CEEE), cùng với việc quy định giá vé vào cổng và phí dịch vụ Chiến lược tiếp thị tập trung vào việc hợp tác với các cơ sở lữ hành để thu hút khách tham quan đến VQGBDNB Ngoài ra, kế hoạch khẩn cấp cũng được xây dựng để hướng dẫn du khách trong trường hợp gặp tai nạn khi tham gia các hoạt động du lịch sinh thái, dựa trên khảo sát về các bệnh viện tại tỉnh Lâm Đồng.
Kế hoạch vận hành CBET đã được hoàn tất vào tháng 5/2011, với các hoạt động chi tiết được thống nhất với cộng đồng và các tổ chức liên quan thông qua một cuộc hội thảo Đánh giá tác động môi trường (EIA) cũng đã được thực hiện, và kết quả đã được trình lên Bộ Tài nguyên và Môi trường để nhận được phê duyệt.
1.3.2 Chuẩn bị thử nghiệm các hoạt động du lịch sinh thái theo kế hoạch vận hành CBET
Theo kế hoạch vận hành CBET, chuẩn bị thử nghiệm du lịch sinh thái được thực thi như sau:
Các thành viên trong cộng đồng muốn tham gia hoạt động du lịch sinh thái sẽ được lựa chọn vào danh sách ứng viên tiềm năng thông qua quá trình tham vấn với cộng đồng Quy trình lựa chọn này được thực hiện dựa trên tiến độ mở rộng các hoạt động du lịch sinh thái cộng đồng (CBET).
Để phát triển năng lực cho những người tham gia du lịch sinh thái, các thành viên cộng đồng và nhân viên VQG đã tham gia các khóa tập huấn chuyên sâu Những khóa học này bao gồm hướng dẫn tuyến du lịch sinh thái, kỹ năng diễn giải, sơ cấp cứu, kỹ năng đón tiếp du khách và kiến thức về đa dạng sinh học Chương trình tập huấn được thực hiện liên tục từ tháng trước, nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và trải nghiệm cho du khách.
Theo kế hoạch phát triển hạ tầng, một số tiện nghi đã được xây dựng để phục vụ cho hoạt động thử nghiệm, trong đó có việc hoàn thiện Trung tâm du khách.
Vào tháng 9/2011, việc thiết lập quản lý hợp tác tại Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà đã hoàn tất, phục vụ cho phát triển du lịch cộng đồng (CBET) Các mô hình trưng bày tại Trung tâm Dịch vụ Du lịch (TTDK) được thiết kế và lắp đặt theo chủ đề đã thống nhất với CEEE và các thành viên dự án Để phục vụ nhu cầu của du khách nội địa không thích đi bộ trên những tuyến đường dài, một tuyến tham quan ngắn đã được thiết lập gần TTDK Đồng thời, một tuyến tham quan có độ dài trung bình cũng đã được cải tạo và lắp đặt biển chỉ dẫn nhằm đảm bảo an toàn cho du khách.
CEEE được thành lập vào tháng 4/2011 dưới sự quản lý của VQGBDNB, với nhiệm vụ phát triển và quản lý hoạt động du lịch sinh thái và giáo dục môi trường Phí vào cổng tại VQGBDNB đã được trình lên UBND tỉnh sau khi thực hiện khảo sát, thảo luận và hội thảo, và đã nhận được sự chấp thuận.
Lâm Đồng Phí dịch vụ như phí diễn giải được thảo luận giữa các thành viên CEEE và dự án, đồng thời tham khảo ý kiến cộng đồng để đưa ra quyết định cuối cùng Cách quản lý và vận hành hoạt động du lịch sinh thái của CEEE được xác định qua sổ tay nhân viên, trong đó mỗi nhân viên được giao nhiệm vụ cụ thể, mặc dù tài liệu này chỉ hoàn tất vào tháng 7/2011.
Để thúc đẩy du lịch sinh thái tại VQGBDNB, một hội thảo và buổi tham quan giới thiệu đã được tổ chức cho các đơn vị lữ hành tại Đà Lạt, dẫn đến việc ký kết biên bản ghi nhớ hợp tác giữa BQL VQGBDNB/CEEE và 9 đơn vị lữ hành Bên cạnh đó, các tài liệu quảng cáo như tờ rơi, DVD về du lịch sinh thái đã được thiết kế và phân phối cho các đơn vị lữ hành và khách sạn Hơn nữa, trang web quảng bá du lịch sinh thái tại VQGBDNB cùng với quảng cáo trên các tạp chí du lịch cũng đã được triển khai.
Thử nghiệm du lịch sinh thái dựa vào VQGBDNB đã được triển khai từ cuối năm 2011 với sự tham gia của một số thành viên trong cộng đồng.
1.3.3 Thử nghiệm hoạt động du lịch sinh thái
(1) Hoạt động thử nghiệm du lịch sinh thái đã liên tục được triển khai từ cuối tháng 12/2011
Hoạt động du lịch sinh thái thử nghiệm dựa trên kế hoạch vận hành CBET tại
VQGBDNB, ngoại trừ khu vực núi Lang Biang, đã chính thức hoạt động và TTDK đã mở cửa từ ngày 31/12/2011, thu hút du khách đến tham quan thành phố Đà Lạt.
“Lễ hội hoa” tổ chức hai năm một lần, mặc dù như đã đề cập trong phần 1.3.2
VẤN ĐỀ TỒN TẠI
1.4.1 Thời gian dự án không đủ dài để phát triển mô hình du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng
Dự án khởi động vào đầu năm 2010 và kết thúc vào cuối năm 2013, với thời gian còn lại chưa đầy một năm, yêu cầu hoàn tất các vấn đề liên quan đến phát triển năng lực cho CEEE và cộng đồng Mô hình du lịch sinh thái phát triển trong điều kiện khó khăn, như năng lực hạn chế của CEEE và cộng đồng về du lịch sinh thái, cùng với sự nhận thức hạn chế về VQGBDNB Mặc dù đã có tiến triển trong phát triển năng lực và tiếp thị, việc chuẩn bị cho CEEE và cộng đồng thực hiện các hoạt động du lịch sinh thái bền vững trong thời gian ngắn của dự án vẫn gặp nhiều thách thức.
1.4.2 Nguồn tài nguyên du lịch không chỉ thuộc quyền thừa hưởng của các thôn mục tiêu trong dự án
Dự án phát triển du lịch sinh thái tại năm thôn mục tiêu đang khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên và văn hóa của VQGBDNB và vùng lân cận Tuy nhiên, nguồn tài nguyên này không chỉ thuộc về 5 thôn, dẫn đến việc lợi ích từ khai thác cần được chia sẻ cho tất cả các thôn trong khu vực, mặc dù điều này chưa được thực hiện Chẳng hạn, khi VQGBDNB thu phí vào cổng khu vực núi Lang Biang và ủy quyền cho cộng đồng bán vé, họ chỉ được giữ gần 10% doanh thu, trong khi còn nhiều thôn khác trong khu vực Mặc dù có kế hoạch mở rộng các hoạt động CBET ra các thôn khác sau khi dự án kết thúc, tính khả thi của việc này vẫn còn chưa chắc chắn.
BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Sau đây là những bài học kinh nghiệm từ hoạt động du lịch sinh thái tính đến nay
Hướng đến thiết lập quản lý hợp tác tại Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà 24
1.5.1 Mô hình CBET cần được phát triển từ du lịch sinh thái dựa vào VQG CEEE đóng vai trò kết nối các nhóm CBET trong quá trình phát triển và vận hành CBET tại khu vực vườn quốc gia
Do thiếu hụt nguồn tài nguyên du lịch và nhân lực tại các thôn mục tiêu, việc phát triển mô hình CBET trong thời gian ngắn là không khả thi Do đó, việc thiết lập mô hình du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng được đánh giá là cách tiếp cận phù hợp.
VQGBDNB là mô hình trung gian nhằm phát triển mô hình CBET trong tương lai, với CEEE giữ vai trò quan trọng trong quản lý hoạt động du lịch sinh thái Tuy nhiên, việc tham gia của cộng đồng theo cá nhân và nhu cầu gặp khó khăn trong việc triển khai CBET từ mô hình du lịch sinh thái dựa vào VQGBDNB Sự tham gia độc lập của các cá nhân không đủ để nâng cao năng lực quản lý của cộng đồng, điều này là cần thiết cho việc vận hành CBET Do đó, hai nhóm cộng đồng đã được thành lập và làm việc theo nhóm Mô hình CBET được xây dựng từ mô hình du lịch sinh thái dựa vào VQGBDNB thông qua việc chuyển giao dần chức năng quản lý từ CEEE sang các nhóm cộng đồng, từ đó phát triển hợp tác với VQGBDNB như một phương thức phát triển bền vững.
CBET trong khu vực có phần lớn diện tích thuộc vườn quốc gia
Mô hình vận hành CBET tại vườn quốc gia cần sự kết hợp giữa CEEE và các nhóm CBET cộng đồng để đạt hiệu quả cao nhất CEEE sẽ tiếp tục đảm nhiệm một số chức năng quan trọng như tiếp thị và đặt tour, trong khi các nhóm CBET tập trung vào việc cung cấp dịch vụ cho du khách Điều này cho thấy rằng việc để cộng đồng giữ mọi vai trò trong quản lý CBET sẽ không hiệu quả do nguồn nhân lực hạn chế CEEE có thể đóng vai trò kết nối và chia sẻ trách nhiệm với các nhóm CBET, tạo ra một hệ thống vận hành hài hòa và hiệu quả.
1.5.2 CEEE cần được năng cao năng lực, nhất là kỹ năng quản lý du lịch sinh thái và kỹ năng phát triển năng lực cho thành viên cộng đồng
Phát triển năng lực cho thành viên cộng đồng và nhân viên CEEE là yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy du lịch sinh thái tại các VQG và khu bảo tồn Điều này không chỉ giúp nâng cao kiến thức và kỹ năng cho cộng đồng mà còn góp phần bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
Để thiết lập quản lý hợp tác tại Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà, 25 thành viên cộng đồng và nhân viên CEEE đã được đào tạo nhiều kỹ năng cần thiết cho hoạt động du lịch sinh thái, bao gồm hướng dẫn, diễn giải, sơ cấp cứu và tiếp tân Việc phát triển kỹ năng quản lý du lịch sinh thái, đặc biệt là kỹ năng giao tiếp và quản lý thời gian, là yếu tố quan trọng và thách thức nhất cho nhân viên CEEE khi làm việc với khu vực kinh tế tư nhân Đối với các thành viên cộng đồng, cần tổ chức các khóa tập huấn kỹ năng liên tục, ngay cả sau khi dự án kết thúc, để họ có thể tham gia hiệu quả vào các hoạt động du lịch sinh thái Nhân viên CEEE cũng cần được đào tạo để tự tổ chức các khóa tập huấn cho cộng đồng, và việc hình thành nhóm chủ chốt là cần thiết để đảm bảo sự bền vững trong công tác đào tạo này.
Để nâng cao năng lực cho các nhóm CBET cộng đồng, nhân viên CEEE cần trang bị kỹ năng và kiến thức về phát triển cộng đồng, chẳng hạn như kỹ năng điều hành cuộc họp thôn Cách tiếp cận phù hợp với cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong việc khuyến khích tinh thần làm chủ các hoạt động CBET và giảm sự phụ thuộc vào vườn quốc gia.
1.5.3 Giáo dục Môi trường tạo sự khác biệt trong hoạt động du lịch sinh thái tại VQGBDNB so với các sản phẩm du lịch từ các đơn vị lữ hành
Trụ cột chiến lược tiếp thị cho thử nghiệm du lịch sinh thái là CEEE cần thiết lập mối quan hệ đối tác với các đơn vị lữ hành đưa khách đến VQGBDNB Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu của hoạt động thử nghiệm, số lượng khách tham gia du lịch sinh thái còn hạn chế.
VQGBDNB vẫn chưa được nhiều người biết đến, và mối quan hệ đối tác với các đơn vị lữ hành chưa được CEEE củng cố đúng mức, dẫn đến hiệu quả chưa tối đa.
Dự án tại Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà đã xác định việc quản lý hợp tác và phát triển sản phẩm du lịch sinh thái là ưu tiên hàng đầu, nhằm thu hút du khách Để vượt qua những thách thức, dự án đã tập trung vào khai thác thị trường giáo dục môi trường, coi đây là một trong bốn trụ cột chính trong chiến lược tiếp thị Các nỗ lực đã được thực hiện để giới thiệu dịch vụ đến các trường học và hợp tác với Sở Giáo dục tỉnh Lâm Đồng, dẫn đến việc các trường bắt đầu tổ chức cho học sinh tham quan khu vực TTDK và lắng nghe các nhân viên giải thích về môi trường Kết quả là, lượng khách tham gia vào chương trình CBET đã tăng lên.
VQGBDNB đang ngày càng thu hút du khách tại Đà Lạt, một trong những điểm đến du lịch hàng đầu ở Việt Nam Mặc dù có nhiều lựa chọn cho du khách, nhưng hiện tại chưa có sản phẩm du lịch nào tập trung vào giáo dục môi trường Do đó, du lịch sinh thái tại VQGBDNB có tiềm năng lớn trong việc mang đến trải nghiệm giáo dục môi trường độc đáo Yếu tố giáo dục môi trường chính là điểm khác biệt giúp VQGBDNB nổi bật so với các điểm tham quan khác ở Đà Lạt.
1.5.4 Diễn giải giúp du khách hiểu sâu hơn, hài lòng hơn, đồng thời cũng là điểm khác biệt trong sản phẩm du lịch của
VQGBDNB hợp tác với các đơn vị lữ hành tại Đà Lạt, đón tiếp khoảng 3,5 triệu lượt khách mỗi năm Các đơn vị lữ hành này kinh doanh và hưởng lợi từ việc chào mời đa dạng sản phẩm du lịch, bao gồm cả những hoạt động du lịch sinh thái hấp dẫn.
Tại VQGBDNB, các đơn vị lữ hành thường tổ chức các tour trekking trong rừng, nhưng không cung cấp dịch vụ diễn giải về thiên nhiên và văn hóa địa phương do kiến thức hạn chế của hướng dẫn viên Ngược lại, du lịch sinh thái tại VQGBDNB bao gồm diễn giải chuyên sâu về tài nguyên rừng, động thực vật và cuộc sống của người dân tộc, do nhân viên CEEE và cộng đồng đã được đào tạo thực hiện Dịch vụ diễn giải này không chỉ giúp du khách hiểu rõ hơn về thiên nhiên mà còn tăng cường sự hài lòng và thú vị trong chuyến đi Do đó, diễn giải là yếu tố thiết yếu và là điểm khác biệt trong hoạt động du lịch sinh thái tại VQGBDNB, cần được quảng bá đến các đơn vị lữ hành và khách sạn để nâng cao nhận thức về giá trị cộng thêm của dịch vụ này.
Hướng đến thiết lập quản lý hợp tác tại Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà 27 diễn giải và giới thiệu với khách
1.5.5 Địa điểm du lịch sinh thái phải được chọn lựa nghiêm túc
Khi khởi động dự án, các thôn mục tiêu được chỉ định chủ yếu dựa trên yếu tố chính trị và phát triển cộng đồng, thay vì điều kiện thuận lợi cho mô hình CBET Mặc dù các thôn này nằm ở vị trí địa lý thuận tiện giữa Đà Lạt và Nha Trang, hoặc gần Đà Lạt, nhưng chúng lại thiếu nguồn nhân lực và tài nguyên du lịch về văn hóa và thiên nhiên Điều này gây ra nhiều khó khăn cho việc phát triển du lịch sinh thái, làm ảnh hưởng đến sự ổn định và hiệu quả của mục tiêu cuối cùng là phát triển CBET.
MỞ ĐẦU
Dự án Tăng cường Năng lực quản lý dựa vào cộng đồng của Vườn Quốc gia
Dự án Bidoup - Núi Bà, được tài trợ bởi Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA), đã chính thức khởi động vào tháng 1 năm 2010 với mục tiêu nâng cao năng lực cho Vườn Quốc gia.
Quốc gia Bidoup - Núi Bà (VQGBDNB) áp dụng mô hình quản lý hợp tác nhằm quản lý hiệu quả tài nguyên thiên nhiên Để thực hiện mục tiêu này, ba hợp phần chính đã được triển khai, bao gồm Quản lý hợp tác (CM), Du lịch sinh thái Dựa vào Cộng đồng (CBET), và Các Lựa chọn Sinh kế Thân thiện với Môi trường.
Môi trường (EFLO) là một hệ thống các hợp phần tương tác, nhằm hỗ trợ các thôn mục tiêu như Đạ Blah, Đạ Ra Hoa và Đạ Tro tại xã Đa Nhim, Bon Đưng.
Tại Thị trấn Lạc Dương và Bonnor B ở xã Lát, mục tiêu là cải thiện sinh kế của người dân để giảm sự phụ thuộc vào rừng và tăng cường hợp tác hiệu quả với Ban Quản lý Vườn Quốc gia Quyết định này bao gồm Hợp phần EFLO, dựa trên nhận định rằng nếu không có sự cải thiện sinh kế bền vững, quản lý hợp tác và các mục tiêu bảo tồn của vườn quốc gia sẽ không thể đạt được.
Trong báo cáo này, chúng tôi tổng hợp các kết quả từ Hợp phần EFLO, rút ra bài học từ thực tiễn và thảo luận về các yếu tố quan trọng cần xem xét khi phát triển các phương án sinh kế cho người dân địa phương ở các thôn trong vùng đệm của vườn quốc gia.
HỢP PHẦN EFLO CỦA DỰ ÁN JICA – VQGBDNB
Chính phủ Việt Nam cam kết bảo tồn đa dạng sinh học thông qua việc thực hiện Luật Bảo vệ và Phát triển Rừng cùng với Luật Bảo vệ Môi trường.
Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà đang hướng đến việc thiết lập quản lý hợp tác tại 34 trường, nhằm đối phó với các nguy cơ như khai thác trái phép tài nguyên thực vật, săn bắt động vật và xâm canh vào rừng Các quy định của chính phủ về quản lý rừng đã được ban hành để phát triển vùng đệm và thu hút cộng đồng nông thôn tham gia vào bảo vệ và quản lý rừng Người dân trong vùng đệm được kỳ vọng sẽ tích cực tham gia vào việc bảo vệ, bảo tồn và sử dụng hợp lý các sản phẩm và dịch vụ của rừng, qua đó góp phần vào phương hướng chính của quản lý hợp tác.
Sự tham gia của cộng đồng địa phương trong quản lý hợp tác bị ảnh hưởng bởi cách nhìn và năng lực của các nhóm liên quan trong việc thực hiện các phương pháp này Mặc dù đã sinh sống qua nhiều thế hệ, các cộng đồng thường bị xem là vi phạm luật bảo vệ rừng hoặc xâm canh vào rừng Đồng thời, các Ban quản lý được tài trợ bởi Chính phủ cũng đóng vai trò quan trọng trong việc định hình hiệu quả của các chiến lược này.
Quản lý rừng đặc dụng và rừng phòng hộ đã triển khai hệ thống quản lý rừng theo hợp đồng, tuy nhiên, nếu thiếu sự tham gia tích cực từ cộng đồng, các thành viên chỉ đóng vai trò như lao động thuê mướn trong các hoạt động lâm nghiệp, như tuần tra rừng và kiểm soát cháy rừng, dưới sự hướng dẫn của kiểm lâm.
Một số thử nghiệm giao đất rừng cho cộng đồng quản lý vì lợi ích của họ chưa đạt được kết quả như mong đợi Do đó, cần phát triển một hình thức quản lý hợp tác, trong đó không chỉ công nhận quyền lợi của cộng đồng địa phương mà còn nâng cao năng lực của họ để thực hiện các quyền đó.
2.2.2 Sự khởi xướng hợp phần EFLO
Nhận thức rằng cải thiện sinh kế địa phương là quan trọng cho quản lý rừng bền vững và bảo tồn đa dạng sinh học, Ban Quản lý VQGBDNB đã hỗ trợ các hoạt động EFLO của dự án Qua hoạt động PRA thực hiện năm 2010, Ban Quản lý đã xác định nhiều cơ hội cải thiện sinh kế địa phương và phát hiện các vấn đề quan trọng ảnh hưởng đến sinh kế, đồng thời tạo áp lực lên tài nguyên rừng.
Đất canh tác hạn chế
Năng suất cây trồng thấp
Hướng đến thiết lập quản lý hợp tác tại Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà 35
Giá nông sản thấp và sự phụ thuộc vào thương lái trung gian
Hợp phần EFLO đã chỉ ra một mối liên hệ chặt chẽ giữa các vấn đề và áp lực lên tài nguyên rừng Giả thuyết cho rằng nếu phát triển hệ thống thâm canh dựa vào lao động tại các khu đất canh tác của người dân, áp lực lên tài nguyên rừng sẽ được giảm thiểu.
Khi triển khai dự án, Hợp phần EFLO đối mặt với nhiều thách thức như khó khăn trong việc tập hợp người dân, thông tin không đến được với tất cả, và kỳ vọng quá cao từ một số nông dân nghèo Thêm vào đó, có những cá nhân muốn giữ lợi ích cho gia đình hoặc dòng tộc của họ Để giải quyết các vấn đề này, nhóm EFLO đã quyết định áp dụng một quy trình tham gia, bao gồm: (a) giải thích mục tiêu của dự án và điều chỉnh kỳ vọng của người dân tại các cuộc họp thôn; (b) tìm hiểu các vấn đề và quan điểm của các nhóm liên quan ở năm thôn mục tiêu; (c) xác định các vấn đề ưu tiên cần được giải quyết.
(1) Sinh kế địa phương trong các thôn mục tiêu làm thành cơ sở của kế hoạch EFLO
Tất cả năm thôn mục tiêu đều là các thôn của người K’ho đã được định cư Người dân ở các thôn Đạ Blah, Đạ Ra Hoa và Đạ Tro thuộc Xã Đa Nhim tự nhận mình là nhóm phụ Cils, trong khi cư dân thôn Bon Đưng I của Thị trấn Lạc cũng có những đặc điểm văn hóa riêng.
Dương và Bonnor B của Xã Lát thuộc nhóm phụ Lạch, nơi sinh kế của năm thôn chủ yếu phụ thuộc vào ba nguồn tài nguyên chính: vườn hộ được giao cho nông dân trong chương trình định cư, đất đồi bao gồm đất rẫy hoặc đất mới chuyển hóa từ rừng, và đất rừng dưới sự quản lý của Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà.
Rừng Phòng hộ Đầu nguồn Đa Nhim và các sông suối đang bị xuống cấp do khai thác khoáng sản, đặc biệt là thiếc và cát Tại hai thôn của Xã Lát và Thị trấn Lạc Dương, sinh kế địa phương phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, trong khi ba thôn của Xã Đa Nhim chứng kiến sự chuyển biến từ nền kinh tế tự cấp sang kinh tế hàng hóa Cà phê là nông sản chủ lực, xuất hiện cả trong các vườn hộ và trên đất đồi xa nhà Ngoài ra, các hoạt động phi nông nghiệp như đào đãi sa khoáng thiếc và thu hái lâm sản ngoài gỗ cũng đang diễn ra.
Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà đang hướng đến việc thiết lập quản lý hợp tác với 36 động làm thuê Một số nghề tiểu thủ công dựa trên tài nguyên địa phương đã được đánh giá Canh tác cà phê được xem là sinh kế chính tại năm thôn mục tiêu, nhưng năng suất cà phê vẫn thấp, và cải thiện sản xuất cà phê là ưu tiên hàng đầu của người dân địa phương Bên cạnh đó, tại Bon Đưng 1, việc thúc đẩy sản xuất rau an toàn cũng được coi là một mối quan tâm quan trọng Ngoài ra, một số nông dân ở Bonnor B sở hữu đàn gia súc lớn (trâu) thả rông trong rừng.
(2) Mục đích và mục tiêu của dự án được làm sáng tỏ với người dân trong các thôn để cân bằng các kỳ vọng của họ
Dựa trên thông tin từ các cuộc điều tra trước đó, nhiều cuộc họp đã được tổ chức tại các thôn mục tiêu để xác định các vấn đề và ưu tiên của cộng đồng, đồng thời thu hút các nhóm quan tâm vào hoạt động dự án Tuy nhiên, trong các cuộc họp, thường xuất hiện sự kỳ vọng quá mức vào dự án, với một số người chiếm ưu thế Thái độ này được xem là tác động tiêu cực từ các can thiệp trước đây, ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân địa phương Nhận thức được điều này, các thành viên EFLO đã tích cực thảo luận và làm việc với ban lãnh đạo và các vị già làng để xây dựng mối quan hệ tốt với cộng đồng, đặc biệt là với nhóm nghèo hơn.
Kế hoạch công tác ban đầu chỉ tập trung vào hai lĩnh vực chính: cải thiện sản xuất cà phê và giảm lạm dụng nông dược, do hạn chế về nguồn nhân lực Các phương thức thực hành tốt trong các lĩnh vực khác sẽ được xem xét và thúc đẩy vào năm sau.
Sự hợp tác chặt chẽ với các thành phần BSM và CBET trong dự án là rất cần thiết Cuối quá trình, các thành viên EFLO đã xác định được một số hoạt động khả thi phù hợp với sinh kế địa phương.
(3) Khám phá cách nhìn của các nhóm liên quan khác nhau
PHÁT HIỆN
2.3.1 Sự kết hợp cách tiếp cận FFS và FFE trong hợp phần EFLO
Nông dân tại các thôn mục tiêu đã tham gia một số khóa đào tạo khuyến nông do Trung tâm Nông nghiệp huyện tổ chức trước khi triển khai hợp phần EFLO của dự án Tuy nhiên, các khóa đào tạo này thường chỉ kéo dài một hoặc hai ngày, dẫn đến sự chấp nhận và thích ứng của nông dân địa phương đối với các kỹ thuật được đào tạo là hạn chế và thiếu sự giám sát hiệu quả.
Cách tiếp cận FFS nhằm tập hợp nông dân tham gia vào quá trình học hỏi trên đồng ruộng, dựa trên quan sát, phân tích, thí nghiệm và thảo luận để phát triển các phương thức thực hành tốt trong quản lý hệ thống canh tác cà phê Tuy nhiên, do hạn chế về nguồn nhân lực, vào năm 2011, chúng tôi chỉ thực hiện FFS cho ba thôn ở xã Đa Nhim với 30 nông dân tham gia từ tháng 7 đến 12, trong khi ở hai thôn của Thị trấn Lạc Dương và Xã Lát chỉ tổ chức được một khóa đào tạo khuyến nông thực hành.
Khóa đào tạo này vẫn mang tính khuyến nông truyền thống, mặc dù đã có những hoạt động của FFS nhằm tạo ra sự tương tác trong các chủ đề thực tế và liên quan.
PBE đang hướng đến việc thiết lập quản lý hợp tác tại Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà, nhằm hỗ trợ nông dân Từ tháng 8 đến tháng 11 năm 2011, chương trình đã thu hút 20 người tham gia.
Bảng 3 Các đặc điểm của FFS được áp dụng bởi Dự án JICA- Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà
Tần suất của các cuộc họp Một lần mỗi tuần
Thời gian một cuộc họp 3 giờ
Thời gian FFS 2011: từ tháng 7 đến tháng 12, 2011
Số người tham gia FFS 2011: 1 FFS 30 người (10 x 3 thôn)
Số người tham gia FFE
1 học viên FFS hỗ trợ một nông dân khác
Phân tích hệ thống canh tác cà phê là cần thiết để cải thiện hiệu quả sản xuất Các phương án cải thiện bao gồm giảm xói mòn, quản lý cây trồng, quản lý dinh dưỡng, kiểm soát côn trùng và bệnh hại, cũng như quản lý nông hộ và lập kế hoạch nông trại Những thí nghiệm này sẽ giúp tối ưu hóa quy trình canh tác, nâng cao năng suất và bảo vệ môi trường.
Làm việc theo nhóm, thí nghiệm trên nông trại, giám sát và quản lý thích ứng
Những người thúc đẩy FFS Trung tâm Khuyến nông Tỉnh
Trung tâm Nông nghiệp huyện
Năm 2012, chúng tôi tổ chức hai khóa đào tạo FFS, một tại xã Đa Nhim với 30 người tham gia và một tại Thị trấn Lạc Dương với 21 người tham gia Việc này diễn ra sau khi thuyết phục được nhà tư vấn địa phương về phương pháp FFS Nhà tư vấn chính tại Đa Nhim là nhân viên của Trung tâm Khuyến nông Tỉnh, trong khi nhà tư vấn cho PBE (2011) và FFS (2012) ở Thị trấn Lạc Dương đến từ Trung tâm.
Hướng đến thiết lập quản lý hợp tác tại Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà 40
Nông nghiệp huyện Lạc Dương đang phát triển mạnh mẽ, với FFS tại Đa Nhim cho thấy hiệu quả trong việc thúc đẩy sự thành lập các nhóm làm việc Ngược lại, tại PBE, các hoạt động nhóm lại hạn chế hơn FFS năm 2012 ở Bon Đưng 1 cũng góp phần vào sự phát triển này.
Trong FFS ở Đa Nhim, mặc dù nam giới chiếm ưu thế trong số những người tham gia, tỷ lệ nữ giới lại cao hơn Tuy nhiên, chỉ có hai phụ nữ tham gia tích cực vào các cuộc thảo luận trong FFS.
Mỗi người tham gia, cùng với các FFS, cam kết hỗ trợ ít nhất một nông dân khác thông qua hoạt động khuyến nông dựa vào nông dân (FFE).
EFLO vui mừng nhận thấy rằng FFE có hiệu quả ở một số thôn như Bonnor B,
Bon Đưng 1, Đạ Ra Hoa và Đạ Blah, nhưng cần được cải thiện thông qua sự giám sát chặt chẽ hơn ở một số thôn khác
Chúng tôi tổ chức các buổi học FFS nhằm hỗ trợ các thành viên của Nhóm Công tác trong việc cải thiện kỹ năng thúc đẩy.
Dự án FFS đã giảm số lượng tư vấn nhờ sự hỗ trợ của các chuyên gia tư vấn Cụ thể, vào năm 2011, có bốn nhà tư vấn được mời ký hợp đồng thực hiện FFS, nhưng con số này đã giảm xuống còn hai nhà tư vấn vào năm sau.
Chúng tôi tin rằng phương pháp này sẽ hỗ trợ hiệu quả trong việc thực hiện chương trình Nông thôn mới, đồng thời nâng cao khả năng chấp nhận và thích ứng với các công nghệ nông nghiệp tại những vùng đa dạng, dễ bị tổn thương và có nhiều rủi ro xung quanh các vườn quốc gia.
Sau đây là một số phát hiện chính trong tiến trình
(1) Kỹ thuật canh tác là quan trọng nhưng các chủ đề quản lý nông trại và nông hộ cũng cần được bao gồm trong chương trình FFS
Trong khu vực vùng đệm VQGBDNB, việc áp dụng một hệ thống thâm canh hiệu quả có thể giúp giảm thiểu tình trạng thiếu đất canh tác Đây là giả thuyết chính được đưa ra để giải quyết vấn đề này.
Hợp phần EFLO giải thích các hoạt động sản xuất cà phê, nhấn mạnh rằng một số tri thức bản địa của nông dân đã không còn phù hợp với hệ thống canh tác mới Mặc dù cà phê đã được trồng lâu dài, nông dân vẫn dựa vào kinh nghiệm truyền thống, dẫn đến khó khăn trong việc đối phó với sâu bệnh Các nhóm bên ngoài cho rằng nông dân không tuân thủ quy trình canh tác và thu hoạch do nhiều yếu tố khác nhau Cây cà phê thường được trồng dày và che bóng bởi cây hồng trong các vườn hộ, điều này ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng sản phẩm.
Tại Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà, việc quản lý hợp tác trong sản xuất cà phê đang gặp khó khăn do không được bón phân đúng cách và thiếu sót trong việc tỉa cành Bên cạnh đó, phương pháp thu hoạch cũng chưa được cải thiện, dẫn đến sự không chắc chắn trong sản xuất và giảm hiệu quả kinh tế cho nông hộ.
VẤN ĐỀ TỒN TẠI
2.4.1 Định chế hóa các hoạt động của EFLO ở Vườn quốc gia
Trong quá trình thực hiện các hoạt động EFLO, thành phần của WG đã có những thay đổi nhất định Nhân viên của VQGBDNB thường xuyên thăm các thôn, chủ yếu trong các buổi học FFS, với phần lớn là nhân viên kiểm lâm từ hai trạm.
Núi Bà và Ia Jiêng nằm trong Vườn Quốc Gia, ban đầu được xem là những người thực thi pháp luật với cách tiếp cận áp đặt Tuy nhiên, thái độ của họ đã chuyển biến tích cực, hướng tới việc khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong quản lý rừng.
Việc thành lập "Đơn vị Quan hệ với Cộng đồng" là giải pháp hiệu quả cho việc phát triển cộng đồng trong vùng đệm và tăng cường hợp tác quản lý rừng Năng lực của các thành viên nhóm công tác EFLO đã được nâng cao nhờ vào quá trình học tập thông qua việc thực hiện FFS.
Sự cam kết của họ trong việc tiếp tục công việc sau khi dự án kết thúc vẫn chưa rõ ràng, chủ yếu do vấn đề về bố trí định chế Mặc dù VQGBDNB có mối liên hệ chặt chẽ với các cộng đồng địa phương trong vùng đệm.
CFMP và FEPES không có đơn vị cụ thể nào để thu hút cộng đồng địa phương VQGBDNB cùng với các ban quản lý rừng đặc dụng cũng gặp khó khăn trong việc này.
Các SUFs tại Việt Nam đã khởi xướng nhiều hoạt động phát triển cộng đồng trong vùng đệm, nhận được sự hỗ trợ từ một số dự án khác nhau.
VQG thiếu một đơn vị điều phối để phát triển cộng đồng một cách hiệu quả Dự án JICA-VQGBDNB kỳ vọng rằng nhóm công tác (WG) sẽ tiếp tục hoạt động sau khi dự án kết thúc Tuy nhiên, nhiều thành viên trong nhóm hiện xem sự tham gia của họ trong hợp phần EFLO chỉ là công việc phụ.
VQGBDNB có đội ngũ nhân viên chủ yếu là các nhà lâm nghiệp với nền tảng vững chắc về khoa học tự nhiên và sinh học Để nâng cao hiệu quả trong việc thực thi các chính sách hợp tác quản lý rừng, VQG cần xem xét việc thành lập một Đơn vị Quan hệ với Cộng đồng nhằm hỗ trợ BQL trong việc áp dụng các phương pháp tiếp cận tổng hợp.
Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà đang hướng tới việc thiết lập quản lý hợp tác để bảo tồn đa dạng sinh học Nhóm WG sẽ đóng vai trò nòng cốt trong đơn vị này, tạo động lực thu hút sự tham gia của các thành viên và phối hợp các hoạt động phát triển cộng đồng một cách bền vững.
2.4.2 Áp dụng những tiếp cận FFS và FFE
FFS và FFE đã chứng minh hiệu quả trong khuyến nông, với đào tạo kỹ năng thúc đẩy số lượng người hưởng lợi Sau hai năm áp dụng FFS cho cây cà phê, chúng tôi nhận thấy đây là cách tiếp cận phù hợp trong vùng đệm khu bảo tồn, đặc biệt cho các cộng đồng dân tộc thiểu số, nơi nhịp độ và phương pháp học là mối quan tâm chính Mặc dù số lượng người tham gia FFS hàng năm hạn chế (khoảng 10 người mỗi thôn), FFE được coi là phương pháp mở rộng học tập trong cộng đồng Tuy nhiên, cần cải thiện bằng cách cung cấp đào tạo bổ sung cho người tham gia.
Nòng cốt FFS cần được giám sát chặt chẽ hơn để nâng cao hiệu quả Việc thu hút các thành viên trong nhóm công tác tham gia vào hoạt động thực hành thúc đẩy là một phương pháp hiệu quả nhằm tăng cường nguồn nhân lực cho việc áp dụng cách tiếp cận FFS trong vùng đệm của vườn quốc gia.
Mặc dù một số nhân viên khuyến nông đã tiếp xúc với các phương pháp FFS và FFE, nhưng hiện tại hệ thống khuyến nông chủ yếu áp dụng cách tiếp cận chuyển giao công nghệ từ trên xuống, không khuyến khích tư duy và học hỏi của người dân địa phương Hơn nữa, một số công nghệ không được thiết kế tốt về mặt xã hội, dẫn đến việc cộng đồng dân tộc thiểu số áp dụng công nghệ chuyển giao này ở mức thấp.
Trong mô hình FFS, việc kết hợp quản lý nông trại và nông hộ mang lại hiệu quả cao, phản ánh nhu cầu của cộng đồng Để thực hiện chương trình Nông thôn Mới, chúng tôi đề xuất điều chỉnh cách tiếp cận FFS nhằm triển khai các hoạt động phát triển vùng đệm, đồng thời tích hợp các nội dung quản lý tài nguyên thiên nhiên liên quan.
2.4.3 Thúc đẩy những sự hợp tác liên cơ quan Đặt các hoạt động EFLO của dự án trong bối cảnh của sự phát triển vùng đệm, một cách tiếp cận tổng hợp sẽ là một chiến lược thiết yếu Ở cấp chính sách, đã có các ủy ban và cơ chế như JCC và PSC nhưng sự phối hợp ở cấp cơ sở phải được tăng cường Cần thúc đẩy những hợp tác liên cơ quan ở cấp thực thi (xã
Mục tiêu chính là thiết lập quản lý hợp tác tại Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà nhằm tăng cường các hoạt động phát triển cộng đồng.
WG của EFLO đã được thiết kế với các thành viên thuộc các tổ chức ngoài
BÀI HỌC KINH NGHIỆM
1 Xây dựng mối quan hệ tốt với các cộng đồng đòi hỏi một tiến trình dài nhưng cần thiết để đạt được sự hiểu biết và tin tưởng lẫn nhau, đạt được sự tham gia có ý nghĩa và thực hiện đúng đắn các hoạt động của dự án Trong hợp phần EFLO, tiến trình đã được bắt đầu bằng cách làm sáng tỏ các mục tiêu của dự án và thu hút các thành viên của cộng đồng trong nhiều cuộc họp, nhờ đó có thể xác định được nhu cầu thực sự của các bộ phận kinh tế và xã hội khác nhau trong các cộng đồng Các buổi học FFS cũng cung cấp cơ hội cho sự tham gia của các cộng đồng Tiến trình có sự tham gia này giúp tránh sự cực đoan và có được một cách nhìn cân bằng hơn về các khái niệm “thân thiện với môi trường” và “hỗ trợ người nghèo”
2 Sự phát triển EFLO cần một cách nhìn đột phá trong việc lựa chọn các công nghệ và cách thức phổ biến chúng một cách có hiệu quả đến người dân trong các thôn Trong thực tế, tất cả các công nghệ được phát triển đều đáp ứng với người nghèo và đã được phát triển với sự tham gia tích cực của người dân trong các thôn, mặc dù một số nông dân khá giả hơn có thể có nhiều cơ hội áp dụng chúng hơn Làm việc trong bối cảnh của các thôn đã được hỗ trợ mạnh bởi các chương trình lớn của nhà nước, khi bắt đầu, nhóm EFLO đã phải đối diện với một số thử thách do sự kỳ vọng quá mức của người dân trong các thôn và thái độ thụ động trông chờ của một số người nghèo, nhưng bằng sự duy trì quan hệ tốt với người dân trong các thôn, người dân địa phương trong các thôn trở thành tích cực hơn trong tiến trình học tập
3 Trong tình hình này, sự kết hợp FFS và FFE là cách tiếp cận tốt không chỉ trong khuyến nông, mà cả (và quan trọng hơn) trong việc tạo ra những cơ hội để người dân trong các thôn nói lên những quan tâm của họ và dần dần phục hồi tinh thần tự giúp mình Các hỗ trợ cần thiết như hiểu biết về tài chính, kỹ thuật canh tác, phân bón, nông cụ cần được tiếp tục, vì chúng giúp nông dân nghèo canh tác tốt hơn, tránh các thiệt hại lớn hơn Tuy nhiên, các
Để thiết lập quản lý hợp tác tại Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà, cần thực hiện các biện pháp hỗ trợ nhằm phục hồi tinh thần tự giúp mình trong các thôn mục tiêu Trong bối cảnh này, việc chuyển đổi tư duy của người dân từ việc chỉ tập trung vào lợi ích ngắn hạn sang việc hướng tới tính bền vững lâu dài là rất quan trọng Phương pháp FFS và FFE được xem là những cách tiếp cận hiệu quả để thúc đẩy quá trình học tập và phát triển cộng đồng.
Trao quyền cho người dân trong các thôn và tăng cường năng lực thực hiện các quyền đó là mục tiêu quan trọng Việc thúc đẩy hoạt động nhóm cho các thành viên đã tốt nghiệp FFS được xem là một phương pháp đổi mới trong khuyến nông.
4 Giám sát là quan trọng và giám sát có sự tham gia đòi hỏi nhiều thời gian hơn kỳ vọng Tuy nhiên, với một sự giám sát có hiệu quả, FFE là một cách tiếp cận tốt được sử dụng bởi hợp phần EFLO để mở rộng khuyến nông có sự tham gia Việc tổ chức cho các nhóm thành viên đã tốt nghiệp FFS có thể cung cấp một loại cơ chế tương trợ mặc dù hiệu quả của hình thức tổ chức cộng đồng này chưa được đánh giá, đặc biệt trong mối quan hệ với BSM
Hướng đến thiết lập quản lý hợp tác tại Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà 59