Do các loại hóa chất BVTV thường là các chất hoá học có độc tính cao nên mặt trái của hóa chất BVTV là mối đe dọa cho sức khỏe con người và gia súc, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe cộng đồng,
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Đề tài này là kết quả nghiên cứu của tôi, các số liệu và kết luận nghiên cứu trình bày trong đề tài chưa từng được công bố ở các nghiên cứu khác
Mọi tham khảo dùng trong bài báo cáo này đều được trích dẫn rõ rang tên tác giả, tên công trình, thời gian thực hiện, địa điểm công bố
Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo, hay gian trá, tôi xin chịu trách nhiệm
Nghệ An, tháng 4 năm 2017
Sinh viên
Lương Minh Thư
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin chân thành cảm ơn:
ThS Hoàng Ngọc Thân đã hết lòng tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành bài báo cáo thực tập tốt nghiệp này
Đồng thời tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học công nghệ Vạn Xuân, quý thầy cô khoa Công nghệ Sinh học, nhân dân 4 xã: Thanh Thịnh, Thanh Hương, Hạnh Lâm, Ngọc Lâm thuộc huyện Thanh Chương Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm
ơn chân thành tới các anh, các chị trong Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Thanh Chương, những người đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi tìm hiểu và học hỏi, làm việc trong thời gian thực tập vừa qua
Và tôi cũng chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, luôn bên cạnh ủng hộ, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Nghệ An, tháng 04/2017
Sinh viên
Lương Minh Thư
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
Nghệ An, ngày … tháng … năm 2017
Giảng viên hướng dẫn
Hoàng Ngọc Thân
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG, HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Nội dung nghiên cứu 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Giới thiệu chung về hóa chất BVTV 3
1.1.1 Một số khái niệm 3
1.1.2 Ưu điểm và nhược điểm hóa chất BVTV 4
1.2 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên tại huyện Thanh Chương 9
1.2.1 Vị trí địa lý 9
1.2.2 Địa hình 9
1.2.3 Khí hậu và thời tiết 10
1.2.4 Thủy văn 12
1.3 Quá trình sử dụng hóa chất BVTV ở Nghệ An 13
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.1 Đối tượng nghiên cứu 14
2.2 Địa điểm nghiên cứu 14
2.3 Thời gian nghiên cứu 14
2.4 Các phương pháp nghiên cứu 14
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 14
2.4.2 Phương pháp thực tế 14
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 15
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 16
3.1 Tình hình quản lý hóa chất BVTV tại huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An 16
Trang 53.1.2 Văn bản quản lý pháp luật 17
3.2 Ảnh hưởng và nguyên tắc sử dụng hóa chất BVTV 20
3.2.1 Ảnh hưởng của hóa chất BVTV đến môi trường 20
3.2.2 Các nguyên tắc sử dụng hóa chất BVTV 23
3.3 Tình hình buôn bán và sử dụng hóa chất BVTV tại huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An 25
3.3.1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp 25
3.3.2 Tình hình kinh doanh buôn bán hóa chất BVTV tại một số của hàng 26
3.3.3 Tần suất sử dụng hóa chất BVTV của người dân 27
3.3.4 Những hóa chất BVTV được sử dụng phổ biến 29
3.3.5 Những cây trồng thường xuyên sử dụng hóa chất BVTV 30
3.3.6 Những cách thức xử lý lượng dư thừa hóa chất BVTV của người dân 30
3.4 Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao công tác quản lý và hiệu quả sử dụng hóa chất BVTV tại Huyện Thanh Chương, Tỉnh Nghệ An 32
3.4.1 Giải pháp quản lý 32
3.4.2 Biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng hóa chất BVTV 33
3.5 Hình thức thu gom rác thải có nguồn gốc hóa chất BVTV 37
3.6 Mô hình xử lý rác thải có nguồn gốc hóa chất BVTV 38
KẾT LUẬN 41
KIẾN NGHỊ 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43 PHỤ LỤC a
Trang 6MRL Mức giới hạn tối đa dư lượng hóa chất
bảo vệ thực vật trên nông sản
BV-KDTV Bảo vệ - Kiểm định thực vật
POP Hóa chất bảo vệ thực vật khó phân hủy
Trang 7DANH MỤC BẢNG, HÌNH
Bảng 1.1 Các danh mục hóa chất BVTV bị cấm sử dụng ở Việt Nam 6 Bảng 3.1 Diện tích đất nông nghiệp thuộc 4 xã trong diện điều tra 25 Bảng 3.2 Tình hình buôn bán kinh doanh hóa chất BVTV tại 4 xã
trong diện điều tra
26
Bảng 3.3 Tần suất sử dụng hóa chất BVTV của người dân tại 4 xã
thuộc diện điều tra
Hình 3.1 Sơ đồ quản lý hóa chất BVTV tại Nghệ An 17
Hình 3.2 Biểu đồ kinh doanh, buôn bán hóa chất BVTV tại 4 xã
thuộc diện điều tra
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia phát triển đi lên từ nông nghiệp Trong suốt chiều dài phát triển của dân tộc, nông nghiệp luôn là ngành có đóng góp tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm của Việt Nam thuận lợi cho sự phát triển của cây trồng nhưng cũng rất thuận lợi cho sự phát sinh, phát triển của sâu bệnh, cỏ dại gây hại mùa màng Xuất phát từ thực tiễn đòi hỏi con người phải tìm ra một hợp chất có thể ức chế hoạt động hoặc gây chết sâu bệnh, bảo vệ mùa màng Do vậy việc sử dụng hóa chất BVTV từ những năm 50 cho tới nay vẫn chiếm một vai trò hết sức quan trọng, có khi mang tính quyết định
Trong lĩnh vực trồng trọt, hóa chất BVTV có vai trò rất quan trọng trong việc giữ vững năng suất, chất lượng cây trồng, đảm bảo an ninh lương thực Tuy nhiên, bà con nông dân thường có kiến thức hạn chế về các loại hoạt chất trong hóa chất BVTV, dẫn tới tình trạng sử dụng hóa chất BVTV thiếu hiệu quả và an toàn, làm tăng chi phí sản xuất và nguy cơ mất an toàn thực phẩm, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và môi trường
Do các loại hóa chất BVTV thường là các chất hoá học có độc tính cao nên mặt trái của hóa chất BVTV là mối đe dọa cho sức khỏe con người và gia súc, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe cộng đồng, làm ô nhiễm môi trường, diệt cả côn trùng và vi sinh vật có ích làm mất cân bằng hệ sinh thái, là một đối tượng có nguy cơ cao gây ô nhiễm môi trường sinh thái nếu không được quản lý chặt chẽ và sử dụng đúng cách
Từ đó tạo điều kiện cho dịch bệnh phát triển, bùng phát mạnh hơn Dùng hóa chất không đúng kỹ thuật, sẽ nhanh chóng tạo nên tính kháng hóa chất của sâu bệnh, hóa chất BVTV nhiều khi còn để lại dư lượng độc hại trên nông sản làm ngộ độc người
sử dụng giảm chất lượng và khả năng cạnh tranh của nông sản
Thanh Chương được biết đến là một huyện nông nghiệp miền núi phía tây của Nghệ An có diện tích gieo trồng rộng lớn, là một huyện còn khó khăn nên hoạt động canh tác nông nghiệp còn chủ yếu Để duy trì cây trồng phát triển tốt, tránh tác hại của sâu bệnh và cỏ dại thì người dân ở đây phải nhờ đến sự trợ giúp của hóa chất BVTV Trong quá trình sử dụng thì lượng hóa chất còn tồn dư trên bao bì hay chai lọ
bị người dân trực tiếp xả xuống ao hồ, sông suối là không thể tránh khỏi hay việc hóa chất trực tiếp ngấm xuống đất cũng gây hậu quả vô cùng nghiêm trọng Để đảm bảo cho kinh tế nông nghiệp của địa phương phát triển ổn định thì việc giải quyết những tác hại do hóa chất BVTV gây ra là vô cùng cần thiết
Xuất phát từ những lý luận và thực tiễn trên cùng với sự quan tâm của một người
Trang 9hóa chất bảo vệ thực vật tại huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An”” làm báo cáo
thực tập
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Biết được thực trạng sử dụng hóa chất BVTV tại huyện Thanh Chương, tỉnh
Nghệ An
- Cung cấp hiện trạng ô nhiễm môi trường do hóa chất BVTV tại huyện Thanh
Chương, tỉnh Nghệ An để tiến hành các nghiên cứu khác
3 Nội dung nghiên cứu
- Thực trạng việc sử dụng hóa chất BVTV tại, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ
Trang 10CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Giới thiệu chung về hóa chất BVTV
1.1.1 Một số khái niệm
1.1.1.1 Hóa chất bảo vệ thực vật
Có rất nhiều khái niệm về hóa chất BVTV
Hóa chất BVTV là những hợp chất độc có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp hóa học được dùng để phòng trừ sâu, bệnh, côn trùng, nhện, tuyến trùng, chuột, chim, thú rừng, nấm, rong rêu, cỏ dại , ốc bươu, chuột… hại cây trồng và nông sản được gọi chung là sinh vật hại cây trồng và nông sản Hóa chất BVTV gồm nhiều nhóm khác nhau, gọi theo tên nhóm sinh vật gây hại, như hóa chất trừ sâu dùng để trừ sâu hại, hóa chất trừ bệnh để trừ bệnh cho cây… Trừ một số trường hợp còn nói chung mỗi nhóm hóa chất chỉ có tác dụng đối với sinh vật gây hại thuộc nhóm đó [7] [8] Hóa chất BVTV là những chất độc; nhưng muốn là hóa chất BVTV phải đạt một số yêu cầu sau:
Có tính độc với sinh vật gây hại
Có khả năng tiêu diệt nhiều loài dịch hại (tính độc vạn năng), nhưng chỉ tiêu diệt các loài sinh vật gây hại mà không gây hại cho đối tượng không phòng trừ (tính chọn lọc)
An toàn đối với người, môi sinh và môi trường
Dễ bảo quản, chuyên chở và sử dụng
Giá thành hạ [7]
Không có một loại chất độc nào có thể thoả mãn hoàn toàn các yêu cầu nói trên Các yêu cầu này, thậm chí ngay trong một yêu cầu cũng có mâu thuẫn không thể giải quy ết được Tuỳ theo giai đoạn phát triển của biện pháp hoá học, mà các yêu cầu được đánh giá cao thấp khác nhau Hiện nay, yêu cầu “an toàn với người, môi sinh
và môi trường” được toàn thế giới quan tâm nhiều nhất [7]
Các loại dịch hại là:
Trang 11 Sâu: tên gọi chung cho nhóm côn trùng, có nhiều loại sâu thay đổi hình dạng một lần hay nhiều lần trong vòng đời của chúng Sâu gây hại hầu hết khi chúng còn non [7]
Nhện: các loại nhện rất nhỏ, màu đỏ hoặc xanh, có 8 chân Nhện là loại gây hại trên bông, rau và cây ăn quả [7]
Ốc và sên: là loại có thân mềm và nhớt Thân ốc được bao bọc lớp vỏ cứng, còn loài sên thì không có vỏ bao Ban ngày chúng nghỉ, ban đêm đi kiếm ăn [7]
Tuyến trùng: là loại rất nhỏ, không màu, không thấy được bằng mắt thường Tuyến trùng chích, hút rễ thân, đỉnh sinh trưởng và gây hại làm cho cây kém phát triển Rất khó phòng trừ tuyến trùng [7]
Gặm nhấm: là loài chuột, sóc có thể gây hại cho cây trồng, hoa quả và sản phẩm trong kho Chuột sinh sản nhanh và có thể phòng trừ có hiệu quả bằng nhiều biện pháp kết hợp với nông dân [7]
1.1.2 Ưu điểm và nhược điểm hóa chất BVTV
1.1.2.1 Ưu điểm
Những ưu điểm của hóa học bảo vệ thực vật có thể tóm tắt như sau:
Các chất hóa học thường có tác dụng nhanh Chỉ sau khi phun một thời gian ngắn, các loại hóa chất hóa học bảo vệ thực vật có thể nhanh chóng chặn đứng tác hại của sâu, bệnh, chặn đứng các trận dịch Mặt khác, chất hóa học diệt các loài sinh vật gây hại tương đối triệt để Nếu phun hóa chất hóa học đúng cách có thể bảo đảm sâu chết 95%, có trường hợp đến 100% [8]
Biện pháp hóa học bảo vệ thực vật có thể trong một thời gian ngắn triển khai một cách rộng rãi trên những diện tích lớn Điều này có ý nghĩa rất lớn khi sâu bệnh phát sinh và gây hại trên những vùng rộng lớn Biện pháp này có thể dùng được ở cả những nơi địa hình gập ghềnh ở các vùng đồi núi, mà thường ở những nơi này các biện pháp bảo vệ thực vật khác cho kết quả kém [7]
Biện pháp hóa học bảo vệ thực vật trong phần lớn các trường hợp đều đtôi lại hiệu quả kinh tế cao Ở nhiều nước trên thế giới đã dùng một khối lượng lớn hóa chất hóa học, người ta tính ra cứ một đồng tiền chi phí cho việc dùng hóa chất hóa học trừ sâu thu được sản phẩm nông nghiệp có giá trị là 10-12 đồng Một số trường hợp cứ một đồng bỏ ra chi phí cho biện pháp hóa học thu về được 40-50 đồng, như trong trường hợp hóa chất hóa học trừ sâu bệnh cho cây ăn quả [8]
Biện pháp hóa học bảo vệ thực vật tương đối đơn giản, dễ áp dụng và có thể phổ biến rộng rãi trong sản xuất, nông dân tiếp thu và dễ sử dụng [7]
Trang 121.1.2.2 Nhược điểm
Bên cạnh những ưu điểm không nhỏ, biện pháp hóa học bảo vệ thực vật có nhiều nhược điểm Những nhược điểm này càng ngày càng nổi rõ lên khi những tác động của con người lên thiên nhiên ngày càng sâu sắc và đời sống vật chất cũng như tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng lên Những nhược điểm của hóa học bảo vệ thực vật là:
Các hợp chất hóa học bảo vệ thực vật là những chất độc Khi sử dụng thiếu cẩn thận, không đúng kỹ thuật, có thể gây độc cho người, gia súc, có trường hợp làm cho người và gia súc bị chết [7] [13]
Các chất hóa học có thể tích tụ lại trong đất làm cho đất bị nhiễm độc, trở thành không trồng trọt được Các chất hóa học có thể giữ lại trong nông sản và từ đó đi vào
cơ thể người, gây độc cho người sử dụng Nông sản mang theo dư lượng hóa chất hóa học bảo vệ thực vật làm cho nông sản không sạch, nông sản bị ô nhiễm [9]
Các chất hóa học có trong cơ thể các loài sinh vật gây hại sau khi chúng bị nhiễm hóa chất, có thể đi qua các khâu trong các chuỗi dinh dưỡng, gây độc cho các loài sinh vật trong sinh quần và cuối cùng đi vào cơ thể con người Các nhà khoa học
đã công bố tài liệu cho thấy, trong cơ thể con cá đánh bắt được ở các đại dương người
ta đã tìm thấy hóa chất trừ sâu DDT Hóa chất này có thể từ cá để đi vào cơ thể người
ăn các con cá đó [7]
Có những con chim ăn các con sâu bị nhiễm hóa chất, hóa chất đi vào cơ thể chim Người bắn chim, ăn thịt chim có hóa chất và hóa chất đi vào cơ thể người [10] Các chất hóa học bảo vệ thực vật gây ra những ảnh hưởng đối với các loài sinh vật trong các hệ sinh thái nông nghiệp Bên cạnh việc các hóa chất bảo vệ thực vật tiêu diệt các loài sinh vật gây hại, chúng cũng có thể giết chết côn trùng và các loài sinh vật có ích khác, từ đó giải phóng cho một số loài sinh vật gây hại khỏi sự kiềm chế của các loại thiên địch và vì vậy chúng hoạt động mạnh hơn, gây hại nhiều hơn Dùng hóa chất không đúng cách, đúng liều lượng có thể làm tăng dần tính quen hóa chất, làm phát sinh tính kháng hóa chất ở một số loài sinh vật gây hại
Do đó, về sau hóa chất không tiêu diệt được các loài sinh vật gây hại này nữa và chúng trở thành rất khó diệt trừ Kinh nghiệm đáng ghi nhớ của chúng ta là phun hóa chất trừ sâu loang hại bông Lúc đầu mỗi vụ bông chỉ phu 3-4 lần là ngăn ngừa được tác dụng của sâu loang Về sau số lần phun hóa chất phải tăng dần lên
Sau 5-6 năm có nơi phải phun đến 12-14 lần, thậm chí đến 20 lần trong một vụ bông để trừ sâu loang Và như vậy, môi trường sản xuất bị ô nhiễm hóa chất trừ sâu nặng nề [7]
Trang 13Từ Thông tư số 03 /2016/TT-BNNPTNT ngày 21 tháng 4 năm 2016 của Bộ
trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thì ta sẽ có bảng sau về các danh
mục hóa chất BVTV cấm sử dụng tại Việt Nam:
Bảng 1.1: Các danh mục hóa chất BVTV bị cấm sử dụng ở Việt Nam
TT MÃ HS TÊN CHUNG
(Common names) MÃ HS
TÊN THƯƠNG PHẨM (Trade names)
Thuốc trừ sâu, thuốc bảo quản lâm sản
1 2903.82.00 Aldrin 3808.50.10 Aldrex, Aldrite…
2 2903.81.00 BHC, Lindane 3808.50.10 Beta - BHC, Gamma -
HCH, Gamatox 15 EC,
20 EC, Lindafor , Carbadan 4/4 G;
7 2920.90 Endosulfan 3808.91.19 Cyclodan 35EC,
Endosol 35EC, Tigiodan 35ND, Thasodant 35EC, Thiodol 35ND
9 2903.82.00 Heptachlor 3808.50.10 Drimex, Heptamul,
Heptox…
Trang 1410 2903.89.00 Isobenzen 3808.91.19 Các loại thuốc BVTV có
60 DD, Isosuper 70 DD, Tamaron 50 EC
14 2920.11.00 Methyl Parathion 3808.50.10 Danacap M 25, M 40;
Folidol - M 50 EC; Isomethyl 50 ND; Metaphos 40 EC, 50EC; (Methyl Parathion) 20
EC, 40 EC, 50 EC; Milion 50 EC; Proteon
50 EC; Romethyl 50ND; Wofatox 50 EC
15 2924.12.00 Monocrotophos 3808.50.10 Apadrin 50SL, Magic
50SL, Nuvacron 40 SCW/DD, 50 SCW/DD, Thunder 515DD
16 2920.11.00 Parathion Ethyl 3808.91.19 Alkexon , Orthophos ,
Thiopphos
17 2908.19.00 Sodium
Pentachlorophenate monohydrate
3808.91.19 Copas NAP 90 G, PMD
4 90 bột, PBB 100 bột
18 2908.11.00 Pentachlorophenol 3808.50.10 CMM 7 dầu lỏng
Trang 1580 WP (dạng khác)
4 2903.92.00 Hexachlorobenzene 3808.50.21 Anticaric, HCB (dạng
bình xịt) 3808.50.29 Anticaric, HCB (dạng
khác)
5 2852.10 Mercury (Hg) 3808.50.21 Các hợp chất của thủy
ngân (dạng bình xịt) 3808.50.29 Các hợp chất của thủy
ngân (dạng khác)
6 2804.90.00 Selenium (Se) 3808.92.19 Các hợp chất của Selen
Trang 16Thanh Chương là một huyện miền núi nằm ở phía tây nam thuộc tỉnh Nghệ An
Toạ độ: 18°44' đến 18°22' vĩ độ Bắc và 105°13' đến 105°8' kinh độ Đông
Phía tây nam giáp tỉnh Bolikhamxai của Lào
Phía đông giáp huyện Đô Lương và Nam Đàn
Phía tây bắc giáp huyện Anh Sơn
Phía đông bắc giáp huyện Đô Lương
Phía nam giáp huyện Hương Sơn
Huyện Thanh Chương cách thành phố Vinh 50 km về phía tây Nghệ An: Toàn huyện
có diện tích tự nhiên là: 1128.3106 km² bao gồm 39 xã và 1 thị trấn, có số dân: 252.459 người Thành phần dân tộc: Kinh; Thái; Khơ mú cùng sinh sống
Về giao thông vận tải: Ngoài đường thuỷ với hệ thống sông ngòi dày đặc, Thanh Chương có đường Hồ Chí Minh dài 53 km chạy dọc theo hướng tây bắc - đông nam
từ Thanh Đức tới Thanh Xuân qua 11 xã; đường quốc lộ 46 từ Thanh Khai đến Ngọc Sơn rồi chạy ngang qua Võ Liệt, cắt đường Hồ Chí Minh, tới cửa khẩu Thanh Thuỷ; đường 15 chạy từ Ngọc Sơn lên Thanh Hưng, theo hướng gần như song song với đường Hồ Chí Minh Ngoài ra, Thanh Chương còn có nhiều đường mòn qua Lào và các đường liên xã, liên thôn, thuận lợi cho sản xuất và giao lưu giữa các vùng nội
huyện
1.2.2 Địa hình
Trang 17Hình 1.1: Bản đồ hành chính huyện Thanh Chương
Diện tích tự nhiên của Thanh Chương là 1.127,63 km2, xếp thứ 5 trong 19 huyện, thành, thị trong tỉnh
Địa hình Thanh Chương rất đa dạng Tính đa dạng này là kết quả của một quá trình kiến tạo lâu dài và phức tạp Núi đồi, trung du là dạng địa hình chiếm phần lớn đất đai của huyện Núi non hùng vĩ nhất là dãy Giăng Màn có đỉnh cao 1.026m, tạo thành ranh giới tự nhiên với tỉnh Bôlykhămxay (Lào), tiếp đến là các đỉnh Nác Lưa cao 838m, đỉnh Vũ Trụ cao 987m, đỉnh Bè Noi cao 509m, đỉnh Đại Can cao 528m, đỉnh Thác Muối cao 328m Núi đồi tầng tầng lớp lớp, tạo thành những cánh rừng trùng điệp
Phía hữu ngạn sông Lam đồi núi xen kẽ, có dãy chạy dọc, có dãy chạy ngang,
có dãy chạy ven bờ sông, cắt xẻ địa bàn Thanh Chương ra nhiều mảng, tạo nên những cánh đồng nhỏ hẹp Chỉ có vùng Thanh Xuân, Võ Liệt, Thanh Liên là có những cánh đồng tương đối rộng Phía tả ngạn sông Lam, suốt một giải từ chân núi Cuồi kéo xuống đến rú Dung, núi đồi liên tiếp như bát úp, nổi lên có đỉnh Côn Vinh cao 188m, núi Nguộc (Ngọc Sơn) cao 109m.[4]
1.2.3 Khí hậu và thời tiết
Khí hậu: Thanh Chương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa và chịu ảnh hưởng chung của khí hậu Bắc Trung Bộ (nhiệt đới gió mùa)
- Chế độ nhiệt:
Trang 18Khí hậu Thanh Chương hình thành hai mùa rõ rệt: mùa nóng và mùa lạnh phù hợp với hai thời kỳ xâm nhập của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam:
+ Mùa nóng:
Mùa này tiết trời nóng nực, nhiệt độ trung bình là 30°C có khi lên tới 40°C Mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 9 dương lịch Gió Lào xuất hiện trong mùa này Mùa mưa bão thường bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10 dương lịch Mỗi năm bão đổ bộ lên đất liền vào khu vực Thanh Nho ít nhất cũng từ 1 đến 2 lần, năm nhiều nhất là 3 đến
4 lần trong hơn 10 cơn bão xuất hiện tại biển Đông Sức gió của các cơn bão thường
có cường độ lơn từ cấp 8, 9 đến cấp 10, 12 gây nhiều thiệt hại cho nhân dân Gió bão còn gây ra lũ lụt làm tổn hại nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống nhân dân
+ Mùa lạnh:
Từ tháng 10 đến tháng 3 dương lịch Mùa lạnh thường có gió mùa Đông Bắc Gió mùa này thường gây ra mưa phùn, lượng mưa không đáng kể Tuy lượng mưa ít nhưng bầu trời lại nhiều mây, về sáng nhiều ngày có sương mù u ám đến 9, 10 giờ mới tan Mùa này sâu hại dễ phát triển làm ảnh hưởng đến sản xuất vụ Đông Xuân
và Xuân Hè
- Chế độ mưa:
Lượng mưa bình quân 1.600 - 1.800 mm/năm nhưng phân bố không đều: Thời
kỳ mưa ít từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau chỉ chiếm khoảng 11% lượng mưa cả năm Đây là thời kỳ gây khô hạn trên những chân đất cao Mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10) lượng mưa chiếm tới 89% cả năm, tập trung vào các tháng 8, 9, 10 và có lúc lên tới 2.500-2.800mm dễ gây úng ngập ở những khu vực trũng thấp
- Lượng bốc hơi:
Lượng bốc hơi bình quân của vùng 986mm/năm Các tháng 12, 1, 2 và lượng bốc hơi lớn hơn lượng mưa từ 1.9 đến 2 lần gây khô hạn trong vụ Đông Xuân Các tháng 4, 5, 6 lượng bốc hơi tuy không lớn nhưng là thời kỳ có nhiệt độ cao và gió Tây Nam khô nóng, gây hạn trong vụ Xuân Hè
- Độ ẩm:
Độ ẩm không khí bình quân cả năm 85%, thời kỳ độ ẩm không khí thấp tập trung vào mùa khô và những ngày có gió Tây Nam khô nóng (độ ẩm không khí có thể xuống tới 56%) hạn chế khả năng sinh trưởng của cây trồng
- Chế độ gió bão:
+ Hứng chịu tác động của 2 hướng gió chủ đạo: Gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam Gió mùa Đông Bắc thịnh hành từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau kèm
Trang 19đầu tháng 9 với tần suất 85% số năm, kèm theo khô nóng, độ ẩm không khí thấp, mỗi đợt kéo dài 7-12 ngày.[4]
+ Nhìn chung, khí hậu xã khá thuận lợi cho một số lọai cây trồng phát triển tuy
có phần khắc nghiệt, đặc biệt là bão và gió Tây Nam gây trở ngại không nhỏ cho sự phát triển chung, nhất là sản xuất nông nghiệp
Khí hậu khắc nghiệt ở Thanh Chương có ảnh hưởng đáng kể đến sinh hoạt của con người và cây trồng, vật nuôi
Mặc dù thời tiết khí hậu khắc nghiệt, gây khó khăn trong sản xuất và đời sống nhưng với tính cần cù, nhẫn nại, nhân dân Thanh Chương đã tạo ra được những sản vật đặc trưng của từng vùng
bị úng lụt
Trang 20Việc tưới tiêu cũng là một bài toán khó cho các nhà quản lý vì nó ảnh hưởng đến sự phát triển và sản xuất nông nghiệp đảm bảo an ninh lương thực trên địa bàn huyện Trong những năm gần đây khi các công trình và hệ thống thủy lợi được xây dựng đã dần đáp ứng được nhu cầu tưới tiêu của nhiều hộ nông dân ở nơi đây
xã Tây Phú (Diễn Châu), và gần 20 nông trường quốc doanh, mỗi nông trường có
từ 9-14 đội sản xuất Thời bấy giờ, do chế độ bao cấp nên từ tỉnh, huyện, xã và nông lâm trường đều có các kho hóa chất BVTV để phòng chống dịch bệnh, bảo vệ mùa màng Ngoài ra một số cơ quan, đơn vị quân đội dùng hóa chất BVTV (chủ yếu là DDT, 666) đưa vào phòng chống mối ở các kho tàng lưu trữ hóa chất súng, hóa chất đạn, các bệnh viện và nhà ở Hiện nay sơ bộ đã thống kê được trên địa bàn tỉnh có hơn 50 địa điểm là kho, bãi chứa DDT, 666 trước đây Tập trung nhiều nhất là vùng huyện Nghi Lộc, Nghĩa Đàn vì nơi đây thời bao cấp có gần 10 nông trường chuyên trồng cây thông, và các loại cây cần sử dụng một lượng lớn các hóa chất BVTV Các huyện Đô Lương, Yên Thành, Nam Đàn có từ 3 đến 5 điểm kho chứa hóa chất BVTV, ngay các bệnh viện lao, giao thông thời kháng chiến chống Mỹ sơ tán về đây cũng có nơi cất giữ DDT, 666 nhưng sau chuyển đi, 30 số hóa chất vương vãi không được xử
lý Ngoài ra ở Nghệ An, những năm 60, 70 của thế kỷ trước, các huyện miền núi như Tương Dương, Thanh Chương, Anh Sơn, Con Cuông, Kỳ Sơn, Nghĩa Đàn, Quế phong bị dịch bệnh sốt rét hoành hành nên ngành y tế cũng đã sử dụng một khối lượng không nhỏ hóa chất BVTV để diệt côn trùng, phòng, chống sốt rét Do nhận thức, hiểu biết thời bấy giờ về mặt trái của hóa chất BVTV còn hạn chế nên hệ thống kho tàng lưu chứa hóa chất BVTV hầu hết được xây dựng một cách tạm bợ, không
có quy hoạch, khoanh vùng, nhiều kho nằm trong khu vực đông dân cư hoặc sản xuất nông nghiệp Trong quá trình phân phối, việc đổ vỡ, rơi vãi hóa chất BVTV ở các nền kho và khu vực lân cận kho diễn ra thường xuyên Mặt khác, vì chưa hiểu tác hại của hóa chất BVTV nên nhiều tổ chức, cá nhân còn xử lý hóa chất BVTV quá hạn sử dụng bằng cách chôn lấp tùy tiện [3]
Trang 21CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các loại hóa chất bảo vệ thực vật trên 4 xã tại địa bàn huyện Thanh Chương
2.2 Địa điểm nghiên cứu
Tại 4 xã thuộc huyện Thanh Chương – Tỉnh Nghệ An
2.4 Các phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Tìm hiểu tài liệu, thông tin, kiến thức từ các giáo trình, tạp chí, mạng intenet, các bài viết, báo cáo nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Điều tra các số liệu về tình hình sử dụng hóa chất BVTV từ nguồn: Phòng tài nguyên và môi trường, các kho dự trữ, buôn bán hoá chất tại huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An
2.4.2 Phương pháp thực tế
Ghi nhật ký, chụp ảnh
Điều tra trực tiếp người sử dụng theo phiếu điều tra thiết kế sẵn
Điều tra các vấn đề liên quan đến tình hình sử dụng hóa chất BVTV của người dân
Đối tượng được điều tra:
Người dân trên địa bàn huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An: 100 người
Chủ cửa hàng bán hóa chất BVTV: 35 người
Cán bộ trạm bảo vệ thực vật huyện Thanh Chương : 10 cán bộ
Tiến hành phỏng vấn:
Phỏng vấn trực tiếp các đối tượng trong khu vực nghiên cứu: phỏng vấn các vấn đề liên quan đến việc sử dụng hóa chất BVTV của người dân
Trang 22 Phỏng vấn chủ cửa hàng bán hóa chất BVTV trên địa bàn huyện
Thanh Chương về tình hình buôn bán, các loại hóa chất BVTV người dân quan tâm
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng phần mềm Microsofe Excell 2013 để xử lý số liệu
Trang 23CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1 Tình hình quản lý hóa chất BVTV tại huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An
Mỗi năm vào đầu vụ thì xã có kết hợp với trạm bảo vệ thực vật huyện và các trường đại học như: Đại học Nông Nghiệp 1 Hà Nội… về hướng dẫn cách thức trồng trọt và sử dụng một số loại hóa chất đặc trị cho từng loại bệnh cho cây trồng Tuy nhiên lớp học thường được giới hạn số lượng nên mức độ phổ biến rộng tới người dân đang còn ít Thỉnh thoảng có về trực tiếp tới các xóm nhưng mức độ tham gia nghe hướng dẫn của người dân còn ít, những người nghe chủ yếu là có thời gian rảnh hoặc ý thực được tầm quan trọng của nền nông nghiệp xã nhà, còn lại là không có thời gian hay họ cho rằng không cần thiết phải nghe khi họ đã có kinh nghiệm dùng một loại hóa chất từ trước
Khi phát hiện ra sâu bệnh xã thường xuyên tuyên truyền phát thanh tren toàn xã
về sâu bệnh, các loại hóa chất dặc trị sử dụng trong mùa vụ, và yêu cầu người dân nên tới hợp tác xã để mua hóa chất
Có chương trình khuyến khích người dân sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật ở hợp tác xã: hỗ trợ người dân khi xảy ra trường hợp xấu nhất với cây trồng, giảm giá
so với ngoài thị trường… Rất nhiều chương trình khuyến khích nhưng mức độ sử dụng của người dân vẫn thấp Về vấn đề quản lý môi trường đồng ruộng, chủ yếu quản lý bao bì vỏ hóa chất sau khi sử dụng: một số xã có đặt thùng bê tông để thu gom rác thải tại các cánh đồng Tuy nhiên, việc chấp hành bỏ rác, bỏ bao bì vỏ hóa chất bảo vệ thực vật đúng nơi quy định vẫn không triệt để, chỉ góp phần làm giảm tình trạng vứt rác
Như vậy có thể thấy công tác quản lý sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật của huyện Thanh Chương đang gặp nhiều khó khăn, tình trạng lạm dụng sử dụng hóa chất không theo liều lượng khuyến cáo đang bắt đầu diễn ra trên địa bàn và yêu cầu được khắc phục
Trang 24Hình 3.1: Sơ đồ quản lý hóa chất BVTV tại tỉnh Nghệ An
Hệ thống các cơ quan QLNN về hóa chất BVTV được thành lập từ Trung ương đến cấp xã phường Mỗi cơ quan trong hệ thống được phân công trách nhiệm cụ thể
về công tác quản lý, phối kết hợp với các cơ quan khác trong hệ thống Ngoài các cơ quan chuyên môn, UBND xã cùng với hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp là các tổ chức trực tiếp tham gia QLNN về hóa chất BVTV ở cơ sở Tuy nhiên, ở hầu hết các cấp công tác QLNN mới chỉ tập trung vào hoạt động kinh doanh, buôn bán, đóng gói mà chưa thực sự chú trọng đến việc sử dụng hóa chất BVTV
3.1.2 Văn bản quản lý pháp luật
Nghị định 92 CP của chính phủ ban hành năm 1993 được thay bằng Nghị định
58 ban hành năm 2002 về “Hướng dẫn thi hành pháp lệnh về Bảo vệ là Kiểm dịch thực vật”, trong đó có “Điều lệ Bảo vệ thực vật” (có điều qui định điều kiện người trực tiếp làm dịch vụ BVTV, có liên quan đến vấn đề kinh doanh hóa chất BVTV) và
“Điều lệ quản lý hóa chất BVTV” [1]
Nghị định 78 CP ngày 27/11/1996 và được điều chỉnh, bổ sung làm rõ hơn trong Nghị định số 26/2003/ND-CP “Qui định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BV-KDTV” Trong Nghị định số 26/2003/ND-CP có qui định phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, nguyên tắc xử phạt, những tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng, các hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả [1]
Trang 25Kèm theo Pháp lệnh, Điều lệ và các qui định trên của Nhà nước, Bộ Nông nghiệp
và CNTP (nay là Bộ Nông nghiệp & PTNT) đã ban hành những quy định của Bộ về công tác quản lý hóa chất BVTV như:
+ Quyết định số 100/NN-BVTV/QĐ ban hành ngày 23/02/1995 rồi Quyết định 165/1999/QĐ-BNN-BVTV và nay là Quyết định 145/2003 QĐ-BNN-BVTV về qui định thủ tục thẩm định sản xuất, gia công, đăng ký, xuất khẩu, nhập khẩu, buôn bán, lưu trữ, tiêu huỷ, nhãn hóa chất, bao bì đóng gói, hội thảo, quảng cáo hóa chất BVTV Đặc biệt trong quyết định 145/2003 QĐ-BNN-BVTV còn có mục IV qui định về việc
sử dụng hóa chất BVTV, trong đó qui định rõ trách nhiệm của người trực tiếp sử dụng, trách nhiệm của các cơ quan quản lý và đơn vị kinh doanh hóa chất BVTV [1] + Quyết định 91/2002/QĐ-BNN qui định về việc cấp chứng chỉ hành nghề sản xuất, gia công, sang chai đóng gói buôn bán hóa chất BVTV
+ Quyết định 150/NN-BVTV/QĐ rồi QĐ193/1998/QĐ,BNN-BVTV, tiếp đến QĐ 34/2001/QĐ-BNN-VP bị thay thế bằng Quyết định 50/QĐ/2003/QĐ-BNN qui định
về kiểm định chất lượng, dư lượng hóa chất BVTV và khảo nghiệm hóa chất BVTV
+ Để kiểm soát chặt chẽ hơn nữa chất lượng dư lượng hóa chất BVTV, Bộ Nông nghiệp & PTNT ngày 08/08/2003 ra Quyết định 79/2003/QĐ sửa đổi khoản 2 &3 điều 11 trong 50/QĐ/2003/QĐ-BNN qui định Kiểm định chất lượng dư lượng hóa chất BVTV nhằm mục đích đăng ký ở Việt Nam [1]
Để quản lý chặt chẽ hơn các loại hóa chất hạn chế sử dụng, Cục Bảo vệ thực vật
đã gửi công văn số 286/HD-BVTV ngày 19/04/2004 hướng dẫn sử dụng các loại hóa chất BVTV bị hạn chế dùng ở Việt Nam [1]
Để bảo đảm cho việc thi hành hệ thống pháp lý nói trên, ngày 18/12/1993, Bộ Nông Nghiệp và CNTP đã ra Quyết định số 703/NN-BVTV/QĐ về qui chế tổ chức
và hoạt động của Thanh tra chuyên ngành về công tác bảo vệ và kiểm dịch thực vật Trong văn bản này đã ghi rõ [1]:
Quyết định số 412/NN-BVTV/QĐ của Bộ Nông nghiệp & CNTP qui định rõ sắc phục, phù hiệu, cấp hiệu, thẻ thanh tra và chế độc ấp phát, sử dụng đối với viên chức thanh tra chuyên ngành BV và KDTV [1]
Ngày 08/06/2015 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Thông
tư 21/2015/TT-BNNPTNT về quản lý hóa chất bảo vệ thực vật (sau đây gọi tắt là Thông tư 21) Thông tư này quy định về quản lý hóa chất bảo vệ thực vật bao gồm: đăng ký; khảo nghiệm; sản xuất, buôn bán; xuất khẩu, nhập khẩu; kiểm tra chất lượng; chứng nhận hợp quy và công bố hợp quy; bảo quản, vận chuyển; sử dụng; ghi nhãn; bao gói; quảng cáo; thu hồi, tiêu hủy hóa chất bảo vệ thực vật ở Việt Nam Thông tư
Trang 26này áp dụng cho tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài có hoạt động liên quan đến hóa chất bảo vệ thực vật tại Việt Nam [1]
Ngày 21/04/2016, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ký Thông tư số 03/2016/TT-BNNPTNT ban hành Danh mục hóa chất bảo vệ thực vật được phép sử dụng, cấm sử dụng tại Việt Nam; công bố mã HS đối với hóa chất bảo
vệ thực vật được phép sử dụng, cấm sử dụng tại Việt Nam [1]
Ngày 01/07/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định số 66/2016/NĐ-CP Quy định điều kiện đầu tư kinh doanh về bảo vệ và kiểm dịch thực vật; giống cây trồng; nuôi động vật rừng thông thường; chăn nuôi; thủy sản; thực phẩm [1]
Ngày 11/11/2016, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 231/2016/TT-BTC quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thẩm định cấp giấy phép, giấy chứng nhận hóa chất bảo vệ thực vật; phí thẩm định công nhận hoặc chỉ định, giám sát phòng kiểm nghiệm, phòng thử nghiệm và phí kiểm dịch thực vật [1]
Ngày 03/01/2017, Bộ NN&PTNT đã ban hành Quyết định số BVTV về việc loại bỏ hóa chất BVTV chứa Carbendazim, Benomyl và Thiophanate-methyl ra khỏi Danh mục thuôc BVTV được phép sử dụng tại Việt Nam [1]
03/QĐ-BNN-Ban hành Phụ lục kèm theo Quyết định số 03/QĐ-BNN-BVTV là “Danh sách hóa chất bảo vệ thực vật chứa hoạt chất Carbendazim, Benomyl và Thiophanate-methyl loại bỏ ra khỏi Danh mục hóa chất bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam” [1]
Ngày 08/02/2017, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) đã ban hành Quyết định số 278/QĐ-BNN-BVTV loại bỏ hóa chất bảo vệ thực vật chứa hoạt chất 2.4D và Paraquat ra khỏi Danh mục hóa chất bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam, dựa trên các bằng chứng khoa học khẳng định các hoạt chấ t này gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, vật nuôi, hệ sinh thái, môi trường [1]
Theo Cục BVTV (Bộ NN&PTNT), hiện nay trong Danh mục hóa chất BVTV được phép sử dụng tại Việt Nam (Ban hành theo Thông tư số 03 /2016/TT-BNNPTNT của Bộ NN&PTNT ngày 21.4.2016), hóa chất BVTV có chứa hoạt chất 2.4D có tới 36 tên thương phẩm; hoạt chất Paraquat có tới 46 tên thương phẩm [2] Trong những văn bản nói trên đã chứng tỏ nhà nước ta rất coi trọng việc quản
lý hóa chất BVTV Đồng thời nhà nước ta cũng đòi hỏi các nhà sản xuất, kinh doanh lưu thông và người sử dụng (nông dân) hóa chất BVTV phải quán triệt để nghiêm chỉnh thực hiện [2]
Trang 273.2 Ảnh hưởng và nguyên tắc sử dụng hóa chất BVTV
3.2.1 Ảnh hưởng của hóa chất BVTV đến môi trường
3.2.1.1 Tác động đến hệ sinh thái
Suy giảm tính đa dạng của quần thể Trong hệ sinh thái, nhiều loài sinh vật có quan hệ qua lại lẫn nhau Bên cạnh quan hệ hỗ trợ, các loài này còn có mối quan hệ cạnh tranh đối kháng Các mối quan hệ này rất phức tạp, nhưng tạo thế cân bằng giữa các loài, không cho phép một loài nào đó trong hệ sinh thái phát triển quá mức, tạo nên những trận dịch Hệ sinh thái càng phức tạp, càng nhiều loài sinh vật thì hệ sinh thái càng bền vững Tính đa dạng trong hệ sinh thái nông nghiệp tuy không phong phú bằng hệ sinh thái tự nhiên, nhưng cũng rất phức tạp và luôn thay đổi dưới tác động của con người [13]
Hóa chất BVTV là một trong nhưng yếu tố quan trọng do con người tạo ra làm mất tính ổn định của quần thể sinh vật Theo Pimetel (1971), để chống lại 1000 loài sâu hại, hóa chất trừ sâu đã tác động đến khoảng 200 ngàn loài động thực vật khác nhau, trong đó có nhiều loài không những không phải là đối tượng phòng trừ mà còn rất cần cho sự tồn tại và phát triển của con người [13]
Hóa chất BVTV dùng trên qui mô càng lớn, thời gian dùng càng dài, số lần phun hóa chất càng nhiều, sẽ làm giảm càng mạnh số cá thể trong loài và giảm số loài trong quần thể Các hóa chất trừ sâu trước tiên làm giảm số lượng các loài côn trùng và nhện có ích (Crofts và Brown, 1975) Sau 8 năm dùng hóa chất DDT và Wofatox tỷ
lệ ong ký sinh trên sâu non sâu loang Earias fabia hại bông đã giảm từ 38.4% xuống còn 0.32% Ở Định Tường, khi dùng càng nhiều hỗn hợp DDT và Wofatox đã làm cho mật độ sâu xanh Heliothis armigera càng tăng và ngược lại mật độ ong ký sinh lưng cong càng giảm Các loài ký sinh thiên địch thường mẫn cảm với hóa chất trừ sâu hơn sâu và nhện gây hại vì: Sau mỗi lần dùng hóa chất, số côn trùng và nhện gây hại bị chết nhiều, làm cho ký sinh thiếu thức ăn, bị đói mà chết; phần còn sống, lại bị ngộ độc bởi các con mồi đã trúng hóa chất (Ahmed 1954), nên khả năng hồi phục số lượng quần thể chậm hơn dịch hại Các hóa chất trừ nấm trừ cỏ cũng ảnh hưởng đến
sự phát triển của côn trùng và nhện, trong một số trường hợp hóa chất tỏ ra rất độc với một số loài côn trùng có ích Nhưng những tác động này không mạnh bằng tác động của các hóa chất trừ sâu [13]
3.2.1.2 Tác động của hóa chất BVTV đến sức khỏe con người và một số loài động vật máu nóng
Hóa chất BVTV là một mối nguy hiểm cho con người, môi sinh và môi trường Mối nguy hiểm được định nghĩa:
Trang 28Mối nguy hiểm hay Nguy cơ ngộ độc hoặc Rủi ro ngộ độc (Hazard): là khả năng gây những tác động có hại (ngộ độc hoặc các sự nguy hiểm khác) có trong những điều kiện nhất định khi sử dụng hóa chất đó Một số chất có độ độc cao nhưng trong
sử dụng chúng lại có thể ít nguy hiểm hơn những chất kém độc Mối nguy hiểm phụ thuộc vào điều kiện sử dụng
Khi trực tiếp tiếp xúc (công nhân sản xuất hóa chất, thủ kho hóa chất BVTV )
và sử dụng (người đi phun hóa chất ), hóa chất BVTV dễ xâm nhập vào cơ thể người qua đường tiếp xúc, vị độc, xông hơi, gây nhiễm độc và ngộ độc hóa chất BVTV Những người ít hay không tiếp xúc với hóa chất BVTV cũng có thể bị nhiễm độc do
ăn, uống những nông sản, nước nguồn, nước mưa có dư lượng hóa chất BVTV Nhiễm độc: là khả năng nhiễm bẩn chất độc (hóa chất BVTV, chất độc do các sinh vật tiết ra, hoặc do các nguồn khác) khi chúng xâm nhập và lưu lại trong cơ thể sinh vật, môi trường có thể gây ra những tác hại trước mắt và lâu dài cho cơ thể sinh vật đó (kể cả thế hệ sau) và môi trường
Ví dụ: Nhiễm độc chất độc màu da cam; nguồn nước bị nhiễm độc bởi hóa chất BVTV; đất bị nhiễm kim loại nặng
Ngộ độc – Trúng độc (poison): Là kết quả của sự tương tác giữa chất độc và sinh vật Hiện tượng sinh vật bị trúng độc hóa chất BVTV hay chất độc, khi chúng xâm nhập vào cơ thể sinh vật qua ăn uống, hít thở hoặc bằng các con đường khác, làm cho sinh vật bị ốm, chết thậm chí làm chậm sự phát triển hay rút ngắn thời gian sống của sinh vật Tuỳ theo mức độ ngộ độc, chúng có thể gây:
Ngộ độc cấp tính (acute poisoning): Xảy ra khi chất độc xâm nhập vào cơ thể với liều lượng lớn, phá huỷ mạnh các chức năng sống, được thể hiện bằng các triệu chứng
rõ ràng, quyết liệt, đặc trưng của mỗi loại chất độc, thậm chí gây chết sinh vật
Ngộ độc mãn tính (chronic poisoning): Xảy ra khi chất độc xâm nhập vào cơ thể với liều lượng nhỏ, nhiều lần, trong thời gian dài, được tích luỹ lại trong cơ thể sinh vật (tích luỹ hoá học hay chức năng), những triệu chứng thể hiện chậm, lâu dài, gây tổn thương cho các cơ quan của cơ thể, làm cho sinh vật bị ốm, yếu (ảnh hưởng đến sức khoẻ của sinh vật, gây đột biến, ung thư, quái thai, thậm chí ảnh hưởng đến sự phát triển của thế hệ sau) và có thể dẫn đến tử vong
Nghiên cứu khả năng tích luỹ, sự trúng độc cấp tính có ý nghĩa rất lớn đến việc phòng chống độc hại cho người tiếp xúc trực tiếp với chất độc khi sản xuất, gia công, phân phối, bảo quản và sử dụng hóa chất BVTV Còn khả năng trúng độc mãn tính lại có ý nghĩa rất lớn đối với người sử dụng các nông sản Dư lượng hóa chất BVTV trên nông sản cao hơn MRL là điều hết sức nguy hiểm, dễ gây ngộ độc cho người sử