Bối cảnh
Báo cáo tóm tắt phục vụ các nhà hoạch định chính sách (SPM) trình bày các kết quả chính từ Báo cáo đặc biệt của Việt Nam về Quản lý rủi ro thiên tai và các hiện tượng cực đoan nhằm thúc đẩy thích ứng với biến đổi khí hậu (SREX Việt Nam) SREX Việt Nam được phát triển dựa trên Báo cáo đặc biệt của Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu về Quản lý rủi ro thiên tai và các hiện tượng cực đoan (IPCC, 2012a) SPM này cũng được xây dựng dựa trên SPM của báo cáo SREX (IPCC, 2012b).
SREX Việt Nam đã phân tích tình hình biến đổi khí hậu tại Việt Nam dựa trên báo cáo SREX toàn cầu, đánh giá các tài liệu liên quan đến hiện tượng thời tiết và khí hậu cực đoan Tổ chức này xem xét tác động của những hiện tượng này đối với xã hội và phát triển bền vững, đồng thời đánh giá sự tương tác giữa các yếu tố khí hậu, môi trường và con người, dẫn đến các tác động và thiên tai Mục tiêu là thúc đẩy thích ứng với biến đổi khí hậu và quản lý hiệu quả các hiện tượng cực đoan và thiên tai tại Việt Nam.
Một số khái niệm và các định nghĩa chính sử dụng trong SREX Việt Nam được trình bày trong Hộp SPM-1
Các tác động của cực đoan khí hậu phụ thuộc vào mức độ cực đoan, mức độ phơi bày trước hiểm họa và tính dễ bị tổn thương Những tác động bất lợi này được xem là thiên tai khi gây thiệt hại lớn và làm thay đổi nghiêm trọng chức năng của cộng đồng Các yếu tố như biến đổi khí hậu do con người, dao động khí hậu tự nhiên và phát triển kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến mức độ phơi bày và tính dễ bị tổn thương QLRRTT và thích ứng với biến đổi khí hậu tập trung vào việc giảm thiểu phơi bày và tăng khả năng chống chịu với tác động của cực đoan khí hậu, vì rủi ro không thể hoàn toàn loại bỏ Quản lý tốt hệ sinh thái và các quá trình phát triển khác có thể giúp giảm nhẹ rủi ro và tác động khi hiện tượng xảy ra.
Báo cáo này tổng hợp quan điểm từ các cộng đồng khác nhau ở Việt Nam, bao gồm các chuyên gia khí hậu, nhà nghiên cứu về tác động và thích ứng với biến đổi khí hậu, cùng cộng đồng QLRRTT Mỗi nhóm có những nhận thức và quan điểm riêng, và SREX Việt Nam hướng tới việc đạt được sự đồng thuận và thống nhất trong những quan điểm này.
Hộp SPM-1 Các khái niệm chính được sử dụng trong báo cáo SREX Vi ệ t Nam
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là sự thay đổi trong trạng thái khí hậu, được xác định qua các kiểm tra thống kê về giá trị trung bình và các thuộc tính của khí hậu trong thời gian dài, thường kéo dài vài thập kỷ hoặc hơn BĐKH có thể xảy ra do các quá trình tự nhiên hoặc do tác động từ bên ngoài, cũng như do sự thay đổi liên tục của con người đối với các thành phần của khí quyển và cách sử dụng đất.
Cực đoan khí hậu, hay còn gọi là hiện tượng khí hậu/thời tiết cực đoan, là sự xuất hiện của các giá trị vượt quá ngưỡng của một yếu tố khí hậu hoặc thời tiết, gần với giới hạn cao hoặc thấp của dãy giá trị quan trắc Để đơn giản, cả hai khái niệm thời tiết cực đoan và khí hậu cực đoan đều được gọi chung là khí hậu cực đoan.
Mức độ phơi bày trước hiểm họa đề cập đến sự hiện diện của con người, sinh kế, dịch vụ môi trường, tài nguyên, cơ sở hạ tầng và các tài sản kinh tế, xã hội hoặc văn hóa ở những khu vực có nguy cơ bị ảnh hưởng bởi các hiện tượng tự nhiên Điều này có thể dẫn đến tổn hại, mất mát và hư hỏng trong tương lai.
Tình trạng dễ bị tổn thương là xu hướng bị ảnh hưởng xấu, cấu thành từ các đặc tính nội tại của các yếu tố tác động Trong lĩnh vực rủi ro thiên tai, điều này liên quan đến đặc điểm của cá nhân hoặc nhóm, ảnh hưởng đến khả năng dự đoán, đối phó, chống lại và phục hồi trước các tác động tiêu cực của hiện tượng tự nhiên Tình trạng này phát sinh từ các nguồn tài lực xã hội, điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa, thể chế, tài nguyên thiên nhiên, môi trường và các quy trình liên quan.
Thiên tai là những hiểm họa tự nhiên có khả năng tương tác với các điều kiện dễ bị tổn thương của xã hội, gây ra sự thay đổi nghiêm trọng trong chức năng của cộng đồng Những tác động này dẫn đến ảnh hưởng bất lợi rộng khắp đối với con người, tài sản, kinh tế và môi trường Do đó, cần có sự ứng phó khẩn cấp để đáp ứng các nhu cầu cấp bách của con người, và thường thì sự hỗ trợ từ bên ngoài là cần thiết để phục hồi sau thiên tai (IPCC, 2012 trang 31).
QLRRTT được hiểu là quá trình xây dựng, thực hiện và đánh giá các chiến lược, chính sách nhằm nâng cao nhận thức về rủi ro thiên tai Mục tiêu của QLRRTT là thúc đẩy GNRRTT và thực hiện cải tiến liên tục trong công tác phòng chống, ứng phó và phục hồi sau thiên tai Qua đó, QLRRTT góp phần tăng cường an ninh cho con người, nâng cao hạnh phúc, cải thiện chất lượng cuộc sống và phát triển bền vững.
Trong hệ thống xã hội, thích ứng là quá trình điều chỉnh để hạn chế thiệt hại hoặc tận dụng cơ hội trong bối cảnh khí hậu thực tế hoặc dự tính Còn trong hệ thống tự nhiên, thích ứng liên quan đến việc điều chỉnh theo khí hậu hiện tại và các tác động của nó Con người có thể can thiệp để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình điều chỉnh này theo khí hậu dự tính (IPCC, 2012 trang 36).
Khả năng chống chịu là khả năng của hệ thống và các thành phần của nó trong việc phán đoán, hấp thụ, điều chỉnh và vượt qua các tác động của hiện tượng nguy hiểm một cách kịp thời và hiệu quả Điều này bao gồm khả năng duy trì, phục hồi và tăng cường các cấu trúc và chức năng cơ bản quan trọng của hệ thống (IPCC, 2012, trang 34).
Hình SPM-1 Minh họa các khái niệm chính của báo cáo SREX Vi ệ t Nam
Báo cáo đánh giá mức độ phơi bày trước hiểm họa và khả năng dễ bị tổn thương do các hiện tượng khí hậu cực đoan là yếu tố quyết định đến tác động và khả năng xảy ra thiên tai.
Hình SPM-2 Các cách tiếp cận thích ứng và QLRRTT trong điều kiện khí hậu đang biến đổi
Hiện tượng khí hậu / thời tiết cực đoan
Mức độ phơi bày trước hiểm họa
Tính dễ bị tổn thương
Quản lý rủi ro thiên tai
BĐKH do con người gây ra
Phát thải khí nhà kính
Chuẩn bị, Ứng phó và Phục hồi
Chuyển giao và chia sẻ rủi ro
Giảm tính dễ bị tổn thương
Giảm mức độ phơi bày trước hiểm họa
Tăng cường khả năng chống chịu để thay đổi rủi ro
Mức độ phơi bày trước hiểm họa và tính dễ bị tổn thương là yếu tố quyết định rủi ro thiên tai và tác động của chúng Ví dụ, cơn bão Linda năm 1997 đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho ĐBSCL do thời điểm và địa điểm đổ bộ Các hiện tượng thời tiết cực đoan có thể ảnh hưởng đến hệ thống nhân sinh và hệ sinh thái, trong khi các hiện tượng không cực đoan cũng có thể gây ra tác động nghiêm trọng nếu xảy ra ở vùng có mức độ phơi bày cao Sự kết hợp của nắng nóng kéo dài và thời tiết không mưa đã dẫn đến hạn hán và cháy rừng, gây thiệt hại lớn cho nông nghiệp và các lĩnh vực kinh tế - xã hội khác ĐBSCL đang chịu tác động “kép” từ biến đổi khí hậu và các hoạt động phát triển, như xây đập, dẫn đến tình trạng xâm nhập mặn ngày càng trầm trọng trong mùa khô do nước biển dâng và phát triển không hợp lý.
Các hiện tượng thời tiết và khí hậu cực đoan có tác động sâu sắc đến tính dễ tổn thương trong tương lai bằng cách thay đổi khả năng chống chịu và khả năng thích ứng của cộng đồng Tác động tích lũy của thiên tai ở cấp địa phương, như ở Đồng bằng sông Cửu Long, bao gồm lũ lụt, xâm nhập mặn và xói lở bờ sông, đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh kế, đe dọa tính mạng và tài sản của người dân, dẫn đến mất nơi cư trú và phải di dời đến các khu vực khác.
Quan trắc mức độ phơi bày trước hiểm họa, tính dễ bị tổn thương, cực đoan khí hậu, tác động và thiệt hại do thiên tai
tổn thương, cực đoan khí hậu, tác động và thiệt hại do thiên tai
Bảng SPM-1 cung cấp các ví dụ từ Việt Nam về việc quan sát và dự báo xu hướng liên quan đến mức độ phơi bày trước hiểm họa, tính dễ bị tổn thương và khí hậu cực đoan Những thông tin này đã được áp dụng để phát triển các chiến lược, chính sách và biện pháp quản lý rủi ro cũng như thích ứng hiệu quả.
Hậu quả của khí hậu cực đoan và nguy cơ tiềm tàng phụ thuộc vào từng hiện tượng khí hậu và mức độ phơi bày trước các hiểm họa, cùng với tình trạng dễ bị tổn thương của cộng đồng.
Tổn thương của con người và thiên nhiên do biến đổi khí hậu (BĐKH) gây ra ngày càng rõ rệt, phản ánh sự kết hợp giữa tác động của con người và dao động khí hậu tự nhiên Những thay đổi này làm gia tăng mức độ phơi bày trước các hiểm họa và tính dễ bị tổn thương của cộng đồng trước cả yếu tố khí hậu và phi khí hậu.
Hình SPM-3 Chỉ số rủi ro: khả năng đối phó với thiên tai (a) và hiểm họa tiềm tàng
M ức độ phơi bày trướ c hi ể m h ọ a và tính d ễ b ị t ổn thương
Mức độ phơi bày trước hiểm họa và tính dễ bị tổn thương thay đổi theo thời gian và không gian, phụ thuộc vào các yếu tố kinh tế, xã hội, địa lý, văn hóa, thể chế và quản trị Các cá nhân và cộng đồng trải qua sự phơi bày và tổn thương khác nhau do sự không đồng đều về giàu có, trình độ giáo dục, tình trạng sức khỏe, cũng như các yếu tố như giới tính, tuổi tác và tầng lớp xã hội.
Mô hình định cư và đô thị hóa đã làm gia tăng mức độ phơi bày trước hiểm họa và tính dễ bị tổn thương trước các cực đoan khí hậu Các khu định cư ven biển, như khu vực duyên hải miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long, cùng với các khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, đang đối mặt với những rủi ro này Sự tăng trưởng nhanh chóng của các thành phố và thị trấn, đặc biệt là tại thành phố Hồ Chí Minh, đã tạo ra các cộng đồng đô thị dễ bị tổn thương trước các tác động của biến đổi khí hậu.
C ực đoan khí hậu và các tác độ ng
Theo báo cáo SREX (IPCC, 2012b), hoạt động của con người đã làm gia tăng nồng độ khí nhà kính, ảnh hưởng đến sự thay đổi của một số hiện tượng khí hậu cực đoan.
Các hoạt động của con người đang góp phần làm tăng nhiệt độ tối cao và tối thấp toàn cầu, dẫn đến những biến đổi khí hậu rõ rệt Ngoài ra, con người cũng đã ảnh hưởng đến lượng mưa cực đoan trên toàn cầu Hơn nữa, các hoạt động này có khả năng tác động đến mức nước biển, làm gia tăng mực nước biển trung bình và ảnh hưởng đến mực nước cực đại ven biển.
Sự không chắc chắn trong tài liệu quan trắc về các cơn bão lịch sử và hiểu biết hạn chế về mối liên hệ giữa các thông số bão với biến đổi khí hậu (BĐKH) khiến việc khẳng định sự thay đổi thuộc tính hoạt động của bão do hoạt động con người trở nên khó khăn Việc xác định một hiện tượng cực đoan đơn lẻ là do BĐKH do con người gây ra cũng gặp nhiều thách thức.
Có những bằng chứng quan sát được về sự thay đổi các khí hậu cực đoan ở Việt Nam
Các hiện tượng khí hậu cực đoan hiếm gặp, dẫn đến việc thiếu dữ liệu để đánh giá sự thay đổi về tần suất và cường độ của chúng Sự hiếm hoi này làm cho việc xác định các thay đổi dài hạn trở nên khó khăn hơn Phần tiếp theo sẽ trình bày chi tiết về các hiện tượng khí hậu cực đoan cụ thể dựa trên các quan trắc tại Việt Nam (Chương 3).
Giữa giai đoạn 1961-2010, số ngày và đêm lạnh trên toàn quốc đã giảm đáng kể, đặc biệt ở miền Bắc và Tây Nguyên Dữ liệu từ 1981-2009 cho thấy hiện tượng sương muối xuất hiện muộn hơn, thời gian kéo dài ngắn hơn và số ngày có sương muối giảm nhanh chóng trong thập kỷ qua Số ngày rét đậm, rét hại cũng có xu hướng giảm, nhất là trong hai thập kỷ gần đây Tuy nhiên, số lượng các đợt rét đậm, rét hại lại biến động phức tạp và mạnh mẽ từ năm này qua năm khác, với những đợt rét đậm kéo dài kỷ lục và rét hại có nhiệt độ thấp trong những năm gần đây Hiện tượng băng tuyết xuất hiện ngày càng nhiều ở các vùng núi cao phía Bắc như Sa Pa, Mẫu Sơn.
Số ngày nóng đã gia tăng ở hầu hết các khu vực, đặc biệt là Đông Bắc, đồng bằng Bắc Bộ và Tây Nguyên, trong khi một số trạm ở Tây Bắc, Nam Trung Bộ và khu vực phía Nam ghi nhận sự giảm Mặt khác, số đợt nóng cũng tăng lên trên toàn quốc.
Mưa cực đoan đã có xu thế biến đổi rõ rệt từ năm 1961 đến 2010, với sự giảm sút ở hầu hết các trạm thuộc Tây Bắc, Đông Bắc và đồng bằng Bắc Bộ Ngược lại, các vùng khí hậu khác cho thấy xu thế tăng tại phần lớn các trạm Thời gian xảy ra mưa cực đoan thường rơi vào khoảng từ tháng Tư đến tháng Bảy, với sự xuất hiện sớm hơn ở phía Bắc và muộn hơn ở phía Nam.
Các vùng trên thế giới đã trải qua những đợt hạn hán cực kỳ khắc nghiệt và kéo dài, với độ tin cậy trung bình Tại Việt Nam, số ngày khô liên tục tăng lên ở miền Bắc trong giai đoạn 1961-2010, trong khi miền Nam lại ghi nhận sự giảm sút Tổng lượng mưa cũng có xu hướng giảm ở miền Bắc và tăng ở miền Nam.
2010, gió mùa mùa hè đến sớm hơn khoảng 10-15 ngày so với giai đoạn 1981-1995, dẫn tới ở phía Nam tăng lượng mưa trong tháng 5, nhưng lại giảm trong tháng 6 (Mục 3.4.1)
Rủi ro xâm nhập mặn đang gia tăng đáng kể, đặc biệt tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), do tác động của nước biển dâng và tình trạng hạn hán nghiêm trọng Số ngày khô liên tục ngày càng tăng, cùng với sự thay đổi nguồn nước ở thượng lưu do biến đổi khí hậu Tại hạ lưu các hệ thống sông như Hồng - Thái Bình, Đồng Nai và Mê Công, hiện tượng xâm nhập mặn đã diễn ra sâu hơn vào đất liền Dự báo đến cuối thế kỷ 21, độ sâu xâm nhập với độ mặn 1‰ có thể tăng lên trên 20 km tại các sông Đồng Nai, sông Tiền, sông Hậu, và khoảng 10 km tại sông Hồng - Thái Bình.
Hình SPM-4 ố lượng các đợt nắng nóng hàng năm trên cả nước
Mặc dù độ tin cậy thấp, cơn bão toàn cầu đang gia tăng về cường độ, tần suất và thời gian trong 40 năm qua Tại Việt Nam, từ 1961 đến 2010, không có bằng chứng rõ ràng về sự thay đổi tần suất của bão và áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào đất liền Tuy nhiên, số lượng bão mạnh đang gia tăng, trong khi bão trung bình có xu hướng giảm Ngoài ra, mùa mưa bão hiện nay kết thúc muộn hơn và nhiều cơn bão đã đổ bộ vào khu vực phía Nam trong những năm gần đây.
Quản lý rủi ro thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu: Kinh nghiệm với cực đoan khí hậu trong quá khứ
Kinh nghiệm với cực đoan khí hậu trong quá khứ
Kinh nghiệm từ các hiện tượng cực đoan khí hậu trong quá khứ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về các phương pháp quản lý rủi ro và thích ứng hiệu quả với những biến đổi khí hậu Những bài học này là cơ sở quan trọng cho việc áp dụng các chiến lược QLRRTT nhằm giảm thiểu tác động của khí hậu cực đoan.
Mức độ nghiêm trọng của tác động từ hiện tượng khí hậu cực đoan phụ thuộc vào mức độ phơi bày và tính dễ bị tổn thương của cộng đồng trước các hiểm họa này.
Nghiên cứu về bản chất đa diện của mức độ phơi bày trước hiểm họa và tính dễ bị tổn thương là điều kiện thiết yếu để xác định vai trò của thời tiết và khí hậu trong sự xuất hiện của thiên tai Điều này giúp xây dựng và thực hiện các chiến lược thích ứng và quản lý rủi ro thiên tai (QLRRTT) hiệu quả Giảm thiểu tính dễ bị tổn thương là yếu tố quan trọng trong QLRRTT tại Việt Nam, như thể hiện trong Chương trình Quốc gia QLRRTT dựa vào cộng đồng Đồng thời, giảm mức độ phơi bày trước hiểm họa cũng là một phần quan trọng trong chính sách hiện hành, chẳng hạn như việc tái định cư những người sống trong khu vực dễ bị ngập lụt hoặc xói lở.
Chính sách và kết quả phát triển đóng vai trò quan trọng trong việc xác định rủi ro thiên tai, đặc biệt là khi có sự phát triển sai lệch Mức độ phơi bày trước hiểm họa và tính dễ bị tổn thương cao thường xuất phát từ quá trình đô thị hóa nhanh chóng và không được quy hoạch, cùng với sự thiếu thốn các lựa chọn sinh kế cho người nghèo Do đó, các thị trấn và thành phố ven biển ở vùng đất thấp cần được xem xét để chuyển hướng phát triển đô thị sang các khu vực ít hiểm họa hơn Ngoài ra, nhiều khu tái định cư và người dân sẽ cần được tái định cư nếu các nơi ở mới không đảm bảo sinh kế bền vững.
Để đảm bảo sự phát triển bền vững trong môi trường sống không ổn định do thiên tai, cần lồng ghép quản lý rủi ro thiên tai (QLRRTT) và thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH) vào chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội quốc gia Việc triển khai các chiến lược này phải hỗ trợ các khu vực và nhóm dễ bị tổn thương, nhằm nâng cao khả năng chống chịu và giảm thiểu tác động của thiên tai.
Quản lý thiên tai và khí hậu cực đoan ở cấp địa phương đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao khả năng chống chịu và phục hồi Tuy nhiên, việc thiếu dữ liệu về thiên tai có thể cản trở nỗ lực giảm thiểu tính dễ bị tổn thương Các hệ thống quản lý thiên tai cần tích hợp dữ liệu và sự không chắc chắn về các thay đổi dự kiến liên quan đến mức độ phơi bày và tính dễ bị tổn thương Nhiều tỉnh đã xây dựng kế hoạch ứng phó với biến đổi khí hậu, lồng ghép vào quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội Chẳng hạn, An Giang đã thành công trong việc kết hợp quản lý thiên tai với chính sách phát triển, đặc biệt là chương trình xây dựng cụm tuyến dân cư vượt lũ Nghệ An cũng đã phát triển sổ tay Hướng dẫn thích ứng với biến đổi khí hậu, tập trung vào sử dụng đất và phát triển cộng đồng trong quy hoạch cấp xã.
Bất bình đẳng ảnh hưởng đến khả năng đối phó và thích ứng của địa phương, tạo ra thách thức cho quản lý rủi ro thiên tai và thích ứng từ cấp địa phương đến quốc gia Sự bất bình đẳng về kinh tế - xã hội, như sức khỏe và khả năng tiếp cận sinh kế, quyết định tính dễ bị tổn thương của hộ gia đình và cộng đồng Việt Nam đang đối mặt với thách thức trong việc đánh giá và ứng phó với các thay đổi khí hậu cực đoan, chưa tích hợp đầy đủ tính dễ bị tổn thương liên quan đến khí hậu vào các chính sách xóa đói giảm nghèo và hệ thống bảo trợ xã hội.
Phục hồi sau thiên tai và tái thiết là cơ hội để giảm rủi ro thiên tai liên quan đến thời tiết và khí hậu, đồng thời nâng cao khả năng thích ứng Các nỗ lực xây dựng lại nhà ở, cơ sở hạ tầng và phục hồi sinh kế cần được thực hiện một cách cẩn thận để tránh tái phơi bày trước những hiểm họa đã xảy ra, từ đó giảm thiểu tính dễ bị tổn thương của người dân và cộng đồng Điều này sẽ góp phần vào khả năng chống chịu lâu dài và phát triển bền vững.
Cơ chế chia sẻ rủi ro ở cấp địa phương, quốc gia và quốc tế có khả năng tăng cường sức chống chịu với biến đổi khí hậu Những cơ chế này bao gồm chia sẻ rủi ro truyền thống, bảo hiểm vi mô, bảo hiểm và tái bảo hiểm quốc tế Chúng liên kết với GNRRTT và thích ứng với biến đổi khí hậu thông qua việc cung cấp nguồn tài chính, phục hồi sinh kế và tái thiết, giảm thiểu độ dễ bị tổn thương, đồng thời cung cấp kiến thức và khuyến nghị nhằm giảm thiểu rủi ro.
Tính biến động về thời gian và không gian của mức độ phơi bày trước hiểm họa và tính dễ bị tổn thương là yếu tố quan trọng trong việc xây dựng và thực hiện các chiến lược thích ứng với biến đổi khí hậu và quản lý rủi ro thiên tai Điều này không chỉ giúp giảm thiểu rủi ro trong ngắn hạn mà còn cần phải tránh tăng mức độ phơi bày và tính dễ bị tổn thương trong dài hạn Chẳng hạn, hệ thống đê điều có thể bảo vệ trực tiếp và giảm thiểu thiệt hại do lũ, nhưng đồng thời cũng có thể dẫn đến tình trạng gia tăng lũ lụt ở những khu vực khác, như hiện tượng đang xảy ra ở Đồng bằng sông Cửu Long.
13 thống đê điều mang lại cảm giác an toàn, khuyến khích các mô hình định cư có thể làm tăng rủi ro dài hạn (Mục 2.6.2, 5.3.2)
QLRRTT và thích ứng với biến đổi khí hậu ở Việt Nam được triển khai theo chiều từ cấp Quốc gia xuống địa phương, đồng thời các phản ánh từ từng địa phương cũng được đưa lên cấp trên để điều chỉnh chiến lược Điều này giúp tăng cường mối quan hệ hai chiều, làm cho quá trình quản lý và thích ứng trở nên hiệu quả hơn.
Sự kết hợp chặt chẽ giữa quản lý rủi ro thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu, cùng với việc lồng ghép vào các chính sách và chương trình phát triển quốc gia và địa phương, mang lại lợi ích toàn diện Việc giải quyết an sinh xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống, cải thiện cơ sở hạ tầng và sinh kế, đồng thời áp dụng cách tiếp cận đa hiểm họa trong lập kế hoạch và hành động đối phó thiên tai ngắn hạn, sẽ tạo điều kiện cho việc thích ứng lâu dài với biến đổi khí hậu Các chiến lược và chính sách sẽ hiệu quả hơn khi nhận diện và chấp nhận các mâu thuẫn, giá trị ưu tiên khác nhau và mục tiêu chính sách cạnh tranh.
Hệ thống Quản lý Rủi ro Thiên tai (QLRRTT) của Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc ứng phó với các nguy cơ gia tăng từ khí hậu cực đoan và tính dễ bị tổn thương Hệ thống này bao gồm Ban chỉ đạo Phòng chống lụt bão Trung ương và các Ban chỉ huy phòng chống lụt bão địa phương, với sự tham gia của nhiều cơ quan chính phủ như Mặt trận Tổ quốc, Hội Liên hiệp Phụ nữ và Hội Chữ thập đỏ Việt Nam Để hiệu quả hơn, hệ thống cần hợp tác với các cơ quan bảo trợ xã hội, khu vực tư nhân, các tổ chức nghiên cứu và xã hội dân sự nhằm quản lý rủi ro một cách đồng bộ và hiệu quả.
Phối hợp thực hiện quản lý rủi ro thiên tai giữa các Bộ, ngành và địa phương hiện đang gặp nhiều khó khăn, thể hiện qua việc thiếu quy hoạch đồng bộ và sự chậm trễ trong điều chỉnh chính sách huy động nguồn lực Để nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai, cần tăng cường sự hợp tác giữa các cơ quan từ khâu xây dựng chính sách cho đến triển khai thực hiện.
Cực đoan khí hậu trong tương lai, tác động và những thiệt hại do thiên tai
thiệt hại do thiên tai
Những thay đổi về mức độ phơi bày trước hiểm họa, tính dễ bị tổn thương và các hiện tượng cực đoan khí hậu do dao động khí hậu tự nhiên, biến đổi khí hậu do con người gây ra và sự phát triển kinh tế - xã hội có thể làm thay đổi tác động của các hiện tượng cực đoan khí hậu lên hệ thống con người và tự nhiên, dẫn đến những thiên tai tiềm tàng.
C ực đoan khí hậu và các tác độ ng
Mức độ tin cậy của các dự đoán về sự thay đổi tần suất và cường độ cực đoan khí hậu chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như loại hình cực đoan, khu vực và mùa, cũng như số lượng và chất lượng dữ liệu quan sát Sự hiểu biết về các tiến trình khí hậu và độ tin cậy của các biến trong mô hình cũng đóng vai trò quan trọng Các dự đoán về cực đoan khí hậu sẽ thay đổi tùy theo các kịch bản phát thải khác nhau.
Trong hai đến ba thập kỷ qua, sự khác biệt về khí hậu thường không rõ rệt và giá trị thay đổi là tương đối nhỏ so với các dao động khí hậu tự nhiên Dự báo về những thay đổi vào cuối thế kỷ 21 đã được công bố, nhưng vẫn còn nhiều sự không chắc chắn liên quan đến mô hình và kịch bản phát thải Các đánh giá khí hậu dựa trên dữ liệu từ cuối thế kỷ 20 thường được áp dụng, chủ yếu thông qua các mô hình AGCM/MRI của cơ quan khí tượng Nhật Bản, mô hình PRECIS của Trung tâm Hadley - Vương quốc Anh và mô hình CCAM của Tổ chức Nghiên cứu Khoa học và Công nghiệp Liên bang Úc (CSIRO).
Số ngày và số đợt nắng nóng dự kiến sẽ tăng lên ở hầu hết các khu vực, đặc biệt là miền Trung Theo kịch bản cao RCP 8.5, đến giữa thế kỷ 21, số ngày nắng nóng ở Nam Bộ có thể tăng từ 20-30 ngày so với giai đoạn 1980-1999 Đến cuối thế kỷ 21, khu vực Đông Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ, Trung Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Nam Bộ có thể ghi nhận mức tăng khoảng 60-70 ngày Ngoài ra, số đợt nắng nóng kéo dài 3 ngày liên tiếp dự kiến cũng gia tăng trên toàn quốc, với Nam Bộ và Nam Tây Nguyên có thể tăng từ 6 đến 10 đợt, trong khi các khu vực khác ghi nhận mức tăng từ 2 đến 6 đợt.
Hình SPM-5 Dự tính biến đổi số ngày nắng nóng thời kỳ giữa (trái) và cuối (phải) thế kỷ
21 so với trung bình thời kỳ 1980-1999 theo kịch bản trung bình
Tần suất mưa lớn ở Việt Nam dự kiến sẽ tăng trong thế kỷ 21, đặc biệt làm gia tăng rủi ro sạt lở đất tại các khu vực miền núi Dữ liệu quan trắc cho thấy hiện tượng mưa lớn diện rộng có xu hướng gia tăng mạnh mẽ Trong khi số ngày mưa lớn có xu hướng giảm ở các vùng phía Bắc, thì lại tăng nhẹ ở Nam Bộ, và tăng đáng kể ở Trung Nam Bộ và Tây Nguyên Dự báo trong tương lai, số ngày có lượng mưa lớn hơn 50mm sẽ gia tăng.
Khu vực miền Bắc và miền Nam, đặc biệt là vùng núi Tây Bắc, có 15 tính tăng, trong khi miền Trung có xu hướng giảm nhẹ Các mô hình khu vực dự đoán rằng lượng mưa 1 ngày lớn nhất (Rx1day) sẽ tăng ở hầu hết Tây Bắc, Đông Bắc Bộ, phía nam Tây Nguyên và ĐBSCL, nhưng giảm ở Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ Mặc dù mức độ biến đổi trung bình trên toàn vùng là tương đối nhỏ, lượng mưa 5 ngày lớn nhất (Rx5day) lại tăng ở Nam Tây Nguyên Tuy nhiên, việc dự đoán mưa lớn vẫn gặp nhiều khó khăn, dẫn đến nhiều điểm chưa chắc chắn trong kết quả tính toán hiện tại.
Hình SPM-6 Dự tính biến đổi của số ngày có mưa trên 50 mm vào giữa (a) và cuối (b) thế kỷ 21 a) b)
Sự thay đổi về lượng mưa và nhiệt độ dự kiến sẽ dẫn đến những biến động trong tình hình lũ lụt, mặc dù mức độ tin cậy về điều này còn thấp Những thay đổi này có thể được xem là hệ quả của biến đổi khí hậu cực đoan, cùng với các yếu tố kinh tế - xã hội như việc xây dựng đập, ảnh hưởng đến mức độ xả lũ Lũ lụt ở nước ta đang trở nên thường xuyên, ác liệt và bất thường hơn, gây ra những tác động rộng lớn, thậm chí có thể bao trùm cả một khu vực hoặc miền của đất nước.
Hạn hán dự kiến sẽ gia tăng trong thế kỷ 21 tại nhiều vùng khí hậu của Việt Nam do lượng mưa giảm và quá trình bốc hơi tăng Các đợt hạn nặng, đặc biệt là hạn cực khắc nghiệt, đang trở nên phổ biến hơn, với tần suất cao chủ yếu trong các tháng vụ đông xuân (từ tháng 1 đến tháng 4) và vụ hè thu (từ tháng 5 đến tháng 8) Theo mô hình kịch bản phát thải khí nhà kính cao RCP 8.5, hạn hán có khả năng xuất hiện nhiều hơn và kéo dài hơn trong tương lai.
Hình SPM-7 Dự tính biến đổi lượng mưa 1 ngày lớn nhất (a), 5 ngày lớn nhất (b) vào cuối thể kỷ 21 theo kịch bản cao RCP 8.5 (%)
Dự báo số lượng bão hoạt động ở Biển Đông và tác động đến Việt Nam vào giữa và cuối thế kỷ 21 vẫn còn nhiều điều chưa chắc chắn Tuy nhiên, có một điều gần như chắc chắn là số lượng bão mạnh có xu hướng gia tăng.
El Nino/ La Nina tác động mạnh m đến thời tiết, khí hậu Việt Nam Theo diễn biến lịch
Trong 100 năm qua, tần suất và cường độ của hiện tượng El Nino và La Nina đã có xu hướng tăng Dự báo trong thế kỷ 21, tần suất hoạt động của El Nino, với sự gia tăng nhiệt độ mặt nước biển dương tại khu vực trung tâm xích đạo Thái Bình Dương, sẽ tiếp tục tăng lên.
Sự dâng lên của mực nước biển trung bình có khả năng góp phần vào xu hướng gia tăng mực nước cực đoan ven biển trong tương lai Những khu vực hiện đang phải đối mặt với các vấn đề như xói lở bờ biển và ngập lụt sẽ tiếp tục chịu ảnh hưởng tiêu cực do mực nước biển tăng lên Điều này có thể làm gia tăng mực nước ven biển cực đoan và gia tăng tốc độ gió tối đa của các cơn bão, tạo ra mối đe dọa nghiêm trọng cho các vùng ven biển.
Tác độ ng c ủa con ngườ i và nh ữ ng thi ệ t h ạ i do thiên tai
Hiện tượng cực đoan có ảnh hưởng sâu sắc đến các lĩnh vực liên quan mật thiết đến khí hậu, bao gồm nước, nông nghiệp, an ninh lương thực, lâm nghiệp, y tế và du lịch.
BĐKH là một trong những yếu tố thúc đẩy thay đổi trong tương lai, nhưng không phải lúc nào cũng là động lực chính ở quy mô địa phương Các hiện tượng khí hậu cực đoan dự kiến sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ đến cơ sở hạ tầng, mặc dù việc phân tích chi tiết vẫn cần được thực hiện.
17 tiết về các thiệt hại tiềm tàng và các dự tính vẫn còn hạn chế ở Việt Nam (Mục 4.3.4, 5.2.3, 5.3.2)
Sự gia tăng thiệt hại kinh tế trong tương lai do cực đoan khí hậu chủ yếu bắt nguồn từ các yếu tố kinh tế - xã hội Mặc dù cực đoan khí hậu là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro, nhưng vẫn thiếu các nghiên cứu định lượng cụ thể về tác động của thay đổi dân số, mức độ phơi bày của con người và tài sản, cũng như tính dễ bị tổn thương Tuy nhiên, xu hướng thương vong và tổn thất kinh tế do thiên tai trong những năm qua đã chỉ ra mức độ nghiêm trọng của tình trạng thiên tai tại Việt Nam.
Tăng cường độ phơi bày trước các hiểm họa thiên nhiên sẽ dẫn đến thiệt hại kinh tế nghiêm trọng hơn từ các cơn bão Mức độ thiệt hại này còn phụ thuộc vào sự thay đổi trong tần suất và cường độ của bão trong tương lai.
Những thiệt hại do lũ lụt trong tương lai ở nhiều nơi s tăng nếu không có thêm các biện pháp bảo vệ khác (Chương 3, 4, 5)
Quản lý thay đổi rủi ro cực đoan khí hậu và thiên tai
Thích ứng với biến đổi khí hậu và quản lý rủi ro thiên tai là những phương pháp hỗ trợ lẫn nhau trong việc quản lý các rủi ro khí hậu cực đoan Việc mở rộng cái nhìn về những thách thức phát triển bền vững sẽ nâng cao hiệu quả trong việc áp dụng và kết hợp các phương pháp này.
Các biện pháp ít hối tiếc là rất quan trọng trong việc mang lại lợi ích dưới tác động của khí hậu hiện tại và các kịch bản biến đổi khí hậu trong tương lai Những biện pháp này giúp giải quyết các xu hướng dự đoán về mức độ phơi bày trước hiểm họa, tính dễ bị tổn thương và các hiện tượng khí hậu cực đoan.
Nhiều chiến lược ít hối tiếc mang lại lợi ích đồng thời trong việc đạt được các mục tiêu phát triển, như cải thiện sinh kế, sức khỏe con người và bảo tồn đa dạng sinh học, đồng thời giảm thiểu các biện pháp thích ứng sai Các biện pháp này bao gồm tăng cường hệ thống cảnh báo sớm, truyền thông rủi ro, quản lý đất đai bền vững, quy hoạch sử dụng đất, và phục hồi hệ sinh thái Ngoài ra, cải thiện giám sát y tế, cấp nước, vệ sinh môi trường, hệ thống tưới tiêu và thoát nước, cơ sở hạ tầng chống chịu với khí hậu, phát triển và thực thi tiêu chuẩn xây dựng, cùng với giáo dục và nâng cao nhận thức cũng là những biện pháp quan trọng.
Quản lý rủi ro hiệu quả đòi hỏi một loạt các hành động nhằm giảm thiểu, chia sẻ và ứng phó với các hiện tượng cực đoan và thiên tai, thay vì chỉ tập trung vào một hành động cụ thể Phương pháp tiếp cận tích hợp mang lại hiệu quả cao hơn khi được áp dụng vào các hoàn cảnh địa phương cụ thể Một chiến lược thành công cần kết hợp các giải pháp cứng về cơ sở hạ tầng với các giải pháp mềm như xây dựng năng lực cá nhân và thể chế, cũng như ứng phó dựa trên hệ sinh thái.
Cách tiếp cận quản lý rủi ro đa hiểm họa giúp giảm thiểu các hiểm họa phức tạp bằng cách xem xét nhiều dạng hiểm họa khác nhau Việc này không chỉ giảm thiểu rủi ro cho một loại hiểm họa mà còn hạn chế mức độ phơi bày và tính dễ bị tổn thương trước các hiểm họa khác trong hiện tại và tương lai.
Các cơ chế và chính sách hỗ trợ quốc tế và khu vực tạo ra cơ hội cho Việt Nam trong việc thực hiện quản lý rủi ro thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu Tuy nhiên, vẫn tồn tại nhiều rào cản như luật pháp, tài chính, chuyển giao công nghệ, chia sẻ rủi ro thiên tai và phổ biến kiến thức Việc đánh giá các cơ hội, hạn chế và thách thức từ luật quốc tế và tài chính quốc tế sẽ cung cấp cái nhìn tổng quát về những rào cản và lựa chọn cho các hoạt động này tại Việt Nam.
Việc hợp tác giữa các cơ quan quản lý rủi ro thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu là rất quan trọng trong việc xây dựng các chính sách và chiến lược phù hợp cho Việt Nam Ban chỉ đạo Phòng chống Lụt bão Trung ương, với Bộ NN&PTNT là cơ quan thường trực, phụ trách QLRRTT, trong khi Bộ TN&MT là cơ quan đầu mối cho ứng phó với BĐKH Cần tích hợp QLRRTT và thích ứng BĐKH vào các chính sách và quy hoạch, đồng thời nghiên cứu để hài hòa lợi ích quốc tế, quốc gia, ngành và địa phương.
Có nhiều cơ hội để tạo ra sức mạnh tổng hợp trong tài chính quốc tế cho quản lý rủi ro thiên tai (QLRRTT) và thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH), nhưng chưa được khai thác đầy đủ Tài trợ quốc tế cho GNRRTT vẫn còn thấp so với nhu cầu ứng phó nhân đạo quốc tế, và QLRRTT chưa nhận được phần lớn kinh phí từ Chương trình Hỗ trợ ứng phó với BĐKH (SP-RCC) tại Việt Nam Việc chuyển giao công nghệ và hợp tác để thúc đẩy GNRRTT và thích ứng với BĐKH là rất cần thiết Tuy nhiên, sự phối hợp trong chuyển giao công nghệ và hợp tác giữa QLRRTT và thích ứng với BĐKH còn thiếu, dẫn đến việc thực hiện các chương trình này một cách rời rạc.
Những nỗ lực quốc tế không luôn mang lại kết quả nhanh chóng ở cấp địa phương, nhưng có cơ hội cải thiện tích hợp từ quốc tế đến địa phương Việc kết hợp kiến thức địa phương với khoa học và kỹ thuật có thể nâng cao khả năng ứng phó với rủi ro thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu Phân tích ứng phó với khí hậu tại địa phương giúp xác định năng lực và thiếu sót trong cộng đồng Các tổ chức phi chính phủ và Liên Hợp Quốc tại Việt Nam đang hỗ trợ thích ứng dựa vào cộng đồng, với chương trình quốc gia QLRRTT-DVC Tuy nhiên, cần cải thiện nguồn nhân lực, tài chính và thông tin về rủi ro thiên tai để tăng cường khả năng thích ứng của cộng đồng.
Truyền thông rủi ro kịp thời và thích hợp là yếu tố then chốt cho việc thích ứng và quản lý rủi ro thiên tai hiệu quả Do tính phức tạp và không chắc chắn, việc tăng cường truyền thông rủi ro là cần thiết Một hệ thống truyền thông rủi ro hiệu quả cần dựa trên sự trao đổi và chia sẻ kiến thức về các rủi ro khí hậu giữa các nhóm liên quan Nhận thức về nguy cơ của các cá nhân và nhóm chịu ảnh hưởng được hình thành bởi các yếu tố tâm lý, văn hóa, giá trị và niềm tin.
Quá trình lặp đi lặp lại bao gồm giám sát, nghiên cứu, đánh giá, học tập và đổi mới có thể giúp giảm thiểu rủi ro thiên tai, đồng thời thúc đẩy quản lý thích ứng trong bối cảnh khí hậu cực đoan.
Các nỗ lực thích ứng với biến đổi khí hậu được củng cố nhờ vào các chiến lược quản lý rủi ro lặp đi lặp lại, do tính phức tạp và không chắc chắn của vấn đề này Việc cải thiện quan sát và nghiên cứu nhằm giải quyết những lỗ hổng kiến thức có thể giảm thiểu sự không chắc chắn, từ đó giúp xây dựng các chiến lược thích ứng và quản lý rủi ro hiệu quả Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển bền vững.
Để tăng cường xã hội, kinh tế và môi trường bền vững, cần áp dụng các phương pháp quản lý rủi ro và thích ứng với biến đổi khí hậu Những khu vực dễ bị tổn thương và có khả năng thích ứng thấp sẽ gặp khó khăn trong việc duy trì sự bền vững trước những thay đổi khí hậu cực đoan Tính dễ bị tổn thương thường phổ biến ở các cộng đồng nghèo, nhưng cũng có thể xuất hiện ở các khu vực nông thôn và đô thị Để đạt được sự bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu, cần giải quyết các nguyên nhân gốc rễ của tính dễ bị tổn thương, bao gồm bất bình đẳng và hạn chế tiếp cận tài nguyên Việc lồng ghép quản lý rủi ro và thích ứng với biến đổi khí hậu vào tất cả các lĩnh vực chính sách xã hội, kinh tế và môi trường là rất quan trọng Ở cấp vĩ mô, cần tích hợp vấn đề này vào phát triển bền vững, trong khi ở cấp vi mô, các dự án phát triển và quản lý tài nguyên thiên nhiên nên áp dụng các phương pháp dựa vào cộng đồng.
Các hành động thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm thiểu rủi ro thiên tai hiệu quả nhất không chỉ mang lại lợi ích phát triển ngắn hạn mà còn giúp giảm thiểu tính dễ bị tổn thương trong dài hạn Tuy nhiên, có sự đánh đổi giữa quyết định hiện tại và mục tiêu dài hạn, liên quan đến các giá trị, lợi ích và ưu tiên khác nhau cho tương lai Việc hòa hợp giữa quan điểm ngắn hạn và dài hạn trong quản lý rủi ro thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu là một thách thức, đòi hỏi phải khắc phục sự không kết nối giữa các hoạt động quản lý rủi ro ở cấp địa phương và các khung thể chế, pháp lý, chính sách cũng như lập kế hoạch ở cấp quốc gia.
Để giải quyết hiệu quả rủi ro thiên tai và biến đổi khí hậu, cần tham gia tích cực vào chiến lược phát triển, kết hợp nhiều khía cạnh và tổ chức các mối quan hệ xã hội một cách hài hòa.