1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu hiện trạng quản lý rác thải, tình hình môi trường tại các chợ trên địa bàn thành phố đà nẵng

62 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Hiện Trạng Quản Lý Rác Thải, Tình Hình Môi Trường Tại Các Chợ Trên Địa Bàn Thành Phố Đà Nẵng
Tác giả Phùng Thị Kim Quyên
Người hướng dẫn T.S Lê Bảo
Trường học Trường Đại Học
Thể loại Chuyên Đề Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 520,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dự án vệ sinh thành phố Đà Nẵng lần thứ nhất đã góp phần rất lớn cải thiện điều kiện vệ sinh thành phố, tăng cường năng lực quản lý chất thải rắn và đặc biệt hiệu quả trong công tác thu

Trang 1

SVTH: Phùng Thị Kim Quyên - 1 -

LỜI MỞ ĐẦU Hoạt động bảo vệ môi trường trong công nghiệp và thương mại là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, phòng ngừa, hạn chế tác động xấu của các hoạt động công nghiệp và thương mại tới môi trường, ứng phó với sự cố môi trường, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường, khai thác sử dụng hợp lý và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên trong hoạt động công nghiệp và thương mại

Trong những năm qua Thành phố Đà Nẵng có bước phát triển rất mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực Sự tăng trưởng kinh tế, du lịch và dịch vụ của thành phố dự kiến sẽ tiếp tục giữ ở mức cao và nó cũng sẽ đặt ra những thách thức nhất định đối với sự phát triển của các đơn vị dịch vụ công trong những năm tới, trong đó bao gồm cả lĩnh vực quản lý chất thải rắn

Trong thời gian gần đây sự gia tăng dân số và tăng trưởng kinh tế, tốc độ phát triển

đô thị cao đã làm cho tải lượng ô nhiễm tăng nhanh chóng Dự án vệ sinh thành phố Đà Nẵng lần thứ nhất đã góp phần rất lớn cải thiện điều kiện vệ sinh thành phố, tăng cường năng lực quản lý chất thải rắn và đặc biệt hiệu quả trong công tác thu gom và vận chuyển chất thải góp phần bảo vệ môi trường và môi sinh của thành phố đặc biệt là ở các chợ trên địa bàn thành phố Hiện nay tốc độ phát triển đô thị và gia tăng dân số của thành phố cao nên hệ thống quản lý chất thải rắn của thành phố chưa đáp ứng được đầy đủ dịch vụ quản

lý khối lượng và các loại chất thải phát sinh trên địa bàn, cụ thể là: phương tiện thu gom, vận chuyển chất thải và các trang thiết bị còn thiếu, rác thải nguy hại không được tách riêng và xử lý đặc biệt theo quy định, hậu quả nghiêm trọng là gây ô nhiễm môi trường đất, môi trường nước, môi trường không khí và ảnh hưởng tới cảnh quan và sức khoẻ của cộng đồng dân cư địa phương

Theo dự báo chất thải rắn phát sinh trong địa bàn thành phố Đà Nẵng đến năm 2010

sẽ tăng tới 1000 -1100 tấn/ngày và đến năm 2020 sẽ tăng lên tới 1.500 đến 1.800 tấn/ngày nên thành phố Đà Nẵng cần được tăng cường các thiết bị, phương tiện thu gom, vận chuyển và xử lý các loại chất thải rắn phát sinh ,đảm bảo vệ sinh tại các chợ trên địa bàn thành phố, đặc biệt là các chất thải độc hại, lây nhiễm một cách hữu hiệu, hợp vệ sinh để bảo vệ môi trường thành phố Xanh Sạch và Đẹp hơn, góp phần thu hút đầu tư trong nước

và quốc tế, đẩy mạnh sự phát triển kinh tế xã hội, từ đó nâng cao điều kiện sống của người dân thúc đẩy quá trình hội nhập với các nước trong khu vực và quốc tế

Trang 2

Chương 3: Một số kiến nghị,đề xuất để bảo vệ môi trường tại các chợ trên địa bàn Thành Phố Đà Nẵng

Để hoàn thành chuyên đề này em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các anh chị

ở phòng Kỹ thuật an toàn môi trường – Sở Công Thương thành phố Đà Nẵng và đặc biệt là

sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy giáo tiến sĩ Lê Bảo Em xin chân thành cảm ơn thầy và các anh chị

Với vốn kiến thức còn hạn chế, đề tài sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô, các anh chị và quý bạn đọc để đề tài được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Mục tiêu đề tài

- Nghiên cứu hiện trạng quản lý rác thải, tình hình môi trường tại các chợ trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng

- Đánh giá ảnh hưởng của rác thải, nước thải đến chất lượng môi trường Tp Đà Nẵng

- Xây dựng các giải pháp quản lý rác thải, vệ sinh môi trường tại các chợ trên địa bàn thành phố nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường

PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Các chợ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Đối tượng nghiên cứu : tìm hiểu thực trạng và đưa ra một số giải pháp nhằm bảo vệ môi trường ở các chợ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Phương pháp nghiên cứu: : phương pháp được sử dụng để nghiên cứu chuyên đề là phương pháp thu thập số liệu, phương pháp phân tích số liệu và phương pháp so sánh

Trang 3

1.1 Những vấn đề cơ bản về kinh tế học môi trường

1.1.1 Khái niệm về môi trường:

Môi trường là tổng hợp tất cả điều kiện xung quanh một điểm trong không gian và thời gian.môi trường là tổng hợp tất cả các ngoại lực,ảnh hưởng,điều kiện tác động lên đời

sống,tính chất,hành vi và sự sinh trưởng,phát triển và trưởng thành của cơ thể sống

1.1.2 Chất lượng môi trường:

Nhìn chung ,chất lượng môi trường thành phố Đà Nẵng trong 10 năm qua có nhiều chuyển biến tích cực song cũng tồn tại những vấn đề môi trường chưa được giải quyết triệt để,cục

bộ còn ô nhiễm,nẩy sinh những điểm ô nhiễm mới và dự báo sẽ có nguy cơ ô nhiễm cao do tốc độ đô thị hóa nhanh

1.2 Tổng quan về điều kiện tự nhiên,tài nguyên thiên nhiên ,kinh tế xã hội trên địa

Trang 4

Nà ở độ cao gần 1.500m, nhiệt độ trung bình khoảng 200C

1.2.2 Tài nguyên thiên nhiên:

1.2.2.1 Tài nguyên nước:

Nguồn nước cung cấp cho thành phố Đà Nẵng chủ yếu từ ccác sông Cu Đê,Cẩm Lệ, Cầu Đỏ,Vĩnh Điện, tuy nhiên nguồn nước này bị hạn chế do ảnh hưởng của thủy triều(vào mùa khô, tháng 5 và tháng 6) Các tháng khác nhìn chung đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh

tế và sinh hoạt của người dân Nước ngầm của vùng khá đa dạng, các khu vực có triển

vọng khai thác là nguồn nước ngầm tệp đá vôi Hòa Hải-Hòa Quý ở chiều sâu tầng nước 50-60m, khu Hòa Khánh có nguồn nước ở độ sâu 30-90m

1.2.2.2 Tài nguyên đất:

Diện tích toàn thành phhố Đà Nẵng là 1.256,54 km2 (năm 2006) với các loại đất : cồn cát

và đất cát ven biển, đất mặn, đất phèn, đất phù sa, đất xám bạc màu và đất xám, đất đen, đất đỏ vàng, đất mùn đỏ vàng Trong đó, quan trọng là nhóm đất phù sa ở vùng đồng

bằng ven biển thích hợp với thâm canh lúa, trồng rau và hoa quả ven đô; đất đỏ vàng ở vùng đồi núi thích hợp với các loại cây công nghiệp dài ngày, cây đặc sản, dược liệu, chăn nuôi gia súc và có kết cấu vững chắc thuận lợi cho việc bố trí các cơ sở công trình hạ tầng

kỹ thuật

1.2.3 Tài nguyên rừng:

Diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn thành phố là 67.148 ha, tập trung chủ yếu ở phía Tây

và Tây Bắc thành phố, bao gồm 3 loại rừng: Rừng đặc dụng: 22.745 ha, trong đó đất có rừng là 15.933 ha; Rừng phòng hộ: 20.895 ha, trong đó đất có rừng là 17.468 ha; Rừng sản xuất: 23.508 ha, trong đó, đất có rừng là 18.176 ha Rừng ở Đà Nẵng tập trung chủ yếu ở cánh Tây huyện Hòa Vang, một số ít ở quận Liên Chiểu, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn Tỷ lệ che phủ là 49,6%, trữ lượng gỗ khoảng 3 triệu m3 Phân bố chủ yếu ở nơi có độ dốc lớn,

Trang 5

SVTH: Phùng Thị Kim Quyên - 5 -

địa hình phức tạp Rừng của thành phố ngoài ý nghĩa kinh tế còn có ý nghĩa phục vụ

nghiên cứu khoa học, bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển du lịch Thiên nhiên đã ưu đãi ban cho thành phố các khu bảo tồn thiên nhiên đặc sắc như: Khu bảo tồn thiên nhiên Bà

Nà, Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà và Khu văn hóa lịch sử môi trường Nam Hải Vân

1.2.3.1 Tài nguyên biển,ven biển

Vùng biển Đà Nẵng có ngư trường rộng trên 15.000 km², có các động vật biển phong phú trên 266 giống loài, trong đó hải sản có giá trị kinh tế cao gồm 16 loài Tổng trữ lượng hải sản các loại là 1.136.000 tấn Hàng năm có khả năng khai thác 150.000 – 200.000 tấn.Đà Nẵng còn có một bờ biển dài với nhiều bãi tắm đẹp như Non Nước, Mỹ Khê, Thanh Khê, Nam Ô với nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú Quanh khu vực bán đảo Sơn Trà có những bãi san hô lớn, thuận lợi trong việc phát triển các loại hình kinh doanh, dịch vụ, du lịch biển Ngoài ra vùng biển Đà Nẵng đang được tiến hành thăm dò dầu khí, chất đốt…

2 Vai trò của chợ đối với tăng trưởng ngành thương mại và phát triển kinh

tế xã hội của thành phố

Chức năng chính của chợ là nơi diễn ra hoạt động mua bán hay trao đổi các sản phẩm,

hàng hóa khác nhau Hàng hóa trong chợ rất đa dạng, từ những loại sản phẩm dùng trong cuộc sống hàng ngày của mỗi người đến các chủng loại sản phẩm khác.Chợ kinh doanh theo kiểu vừa bán sỉ, vừa bán lẻ nên lượng khách thường đông vào các ngày cuối tuần Chợ

có vị trí, vai trò quan trọng trong nền kinh tế nói chung và phát triển ngành thương mại của thành phố nói riêng Nó góp phần thúc đẩy sản xuất, lưu thông, phân phối hàng hóa, thúc đẩy thương mại hàng hóa phát triển trong phạm vi quốc gia cũng như quốc tế Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động thương mại là cầu nối quan trọng, sống còn giữa nhà sản xuất

và người tiêu dùng Phát triển cơ sở hạ tầng thương mại nói chung ,hệ thống các chợ nói riêng sẽ tạo điều kiện phát triển dịch vụ - thương mại chính là cầu nối giữa các yếu tố “đầu vào” và “đầu ra” trong quá trình sản xuất hàng hóa, tiêu thụ sản phẩm, tạo điều kiện để thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển Thông qua đó các chủ thể kinh doanh, người tiêu dùng mua bán được sản phẩm, góp phần tạo ra quá trình tái sản xuất được tiến hành liên tục và như vậy các dịch vụ sẽ lưu thông, và được thông suốt Chợ là cầu nối hữu hiệu giữa các nhà kinh doanh với nhau, giữa các nhà kinh doanh với người tiêu dùng Nó không chỉ

Trang 6

SVTH: Phùng Thị Kim Quyên - 6 -

đơn thuần là cung cấp hàng hóa đến tận tay người tiêu dùng, mà còn cung cấp cho nhà sản xuất và người tiêu dùng các hoạt động dịch vụ bổ sung như: địa điểm thuận lợi, thông tin

về sản phẩm và môi trường kinh doanh

Sự phát triển hệ thống chợ trên địa bàn thành phố đã góp phần không nhỏ vào phát triển kinh tế của thành phố, đó là tạo ra doanh thu của hoạt động thương mại, bên cạnh đó còn giải quyết khối lượng lớn việc làm cho lao động Ngoài ra từ các chợ, lượng hàng hóa luân chuyển là rất lớn do tập trung rất đông các doanh nghiệp, các hộ kinh doanh.Vì vậy mà số lượng thuế VAT và thuế thu nhập doanh nghiệp thu được từ các thành phần kinh tế này là rất lớn ,tăng nguồn thu ngân sách cho nhà nước

Chợ giữ vai trò ngày càng quan trọng trong quá trình tái sản xuất mở rộng xã hội, là động lực thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển và đem lại lợi ích to lớn cho người tiêu

dùng.Cung cấp cho người tiêu dùng đúng chủng loại hàng hoá mà họ cần, đúng thời gian, tại một địa điểm và ở mức giá mà người tiêu dùng chấp nhận được Khi nhu cầu của người tiêu dùng biến đổi không ngừng, mạng lưới bán lẻ này có những thông tin phản hồi từ

người tiêu dùng để đặt hàng đáp ứng những thay đổi đó, nó cũng có thể tác động tới việc tạo nhu cầu mới cho người tiêu dùng thông qua việc bổ sung vào tập hợp hàng hóa Nó giúp người sản xuất định hướng vào nhu cầu thị trường, thúc đẩy phương thức kinh doanh theo nhu cầu của nền kinh tế thị trường, trên cơ sở đó mà tăng cường thương mại hàng hoá, phát triển thị trường cho các ngành kinh tế và sản phẩm có lợi thế, cũng như mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế đất nước

Hệ thống chợ ngày càng phát triển đã thúc đẩy cho dịch vụ bán buôn, bán lẻ ngày càng phát triển về quy mô cũng như năng lực lưu chuyển hàng hóa đã đóng góp lớn vào quá trình phát luồng những hàng hóa chủ lực của thành phố ra thị trường trong nước cũng như nước ngoài như: thuỷ sản đông lạnh; dệt may,da giày; thiết bị điện, đồ uống (bia, các sản phẩm từ sữa); sợi các loại,thực phẩm hàng ngày…, góp vai trò hết sức quan trọng vào sự tăng trưởng và phát triển của ngành thương mại Hệ thống chợ có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển kinh tế xã hội, doanh số bán từ chợ, siêu thị và trung tâm thương mại

Trang 7

Những năm gần đây do đầu tư hàng loạt các cửa hàng, siêu thị xung quanh chợ và đặc biệt

là khu vực chợ tự phát trên các tuyến đường Mặc dù các cấp chính quyền nơi đây đã tích cực giải toả song các tuyến đường này vẫn tụ tập hoạt động vào buổi chiều tối, đã ảnh

hưởng đến sức mua của các hàng trong chợ Bên cạnh đó, thói quen của tiểu thương

thường nói thách quá cao, lôi kéo khách hàng, lấn chiếm diện tích lối đi đã ảnh hưởng

không nhỏ đến hiệu quả kinh doanh, kể cả an ninh trật tự tại khu vực chợ

Hầu hết các chợ đều được nhà nước đầu tư xây dựng từ lâu nên về cơ sở hạ tầng kỹ thuật

đã bị xuống cấp ,hệ thống cấp nước, công trình vệ sinh, xử lý nước thải, rác thải, các thiết

bị về phòng cháy chống cháy nổ chưa được đầu tư đúng mức nên điều kiện vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm, công tác phòng cháy chữa cháy chưa được đảm bảo

Tại hầu hết các chợ, mặt bằng bố trí kinh doanh quá nhỏ, chợ phát triển không đủ sức chứa chưa đáp ứng nhu cầu của các hộ kinh doanh.Tuy nhiên cũng có chợ do địa thế mặt bằng của chợ không thuận lợi, xa khu dân cư, ít khách vãng lai nên hoạt động kinh doanh cầm chừng, khai thác lo quầy so với chức năng thiết kế chưa cao

Các chợ hiện nay chưa được đầu tư đồng bộ, điều kiện cơ sở hạ tầng chưa được sạch sẽ, thoáng mát.các lối ra vào chợ thường bị lấn chiếm bởi những hộ kinh doanh không cố

định, việc phối hợp giữa các đơn vị liên quan lập lại trật tự bên ngoài chợ chưa thường xuyên, gây tâm lý chợ trong chợ ngoài

Do nhiều khu vực chưa thực hiện chỉnh trang đô thị nên nhiều chợ tạm vẫn tồn tại, hình thành và phát triển tự phát để đáp ứng nhu cầu mua bán, tiêu dùng của nhân dân Các chợ này gây ô nhiễm môi trường, ùn tắc giao thông và mất cảnh quan đô thị, cần sớm được di dời giải tỏa

Trang 8

SVTH: Phùng Thị Kim Quyên - 8 -

Các hộ tiểu thương chưa nghiêm chỉnh chấp hành nội quy phòng cháy chữa cháy, hiện

tượng đốt hương đèn vẫn còn phổ biến, cần sớm chấn chỉnh.Một số kiốt kinh doanh không đúng ngành nghề quy định theo phương án sắp xếp chợ đã được phê duyệt

4 Các điều kiện và nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển hệ thống chợ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Thành phố Đà Nẵng là thành phố trực thuộc Trung ương, nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, có vị trí địa lý - kinh tế thuận lợi cho phát triển thương mại, dịch vụ du lịch, tài chính ngân hàng, bưu chính viễn thông, vận tải nhìn chung tình hình kinh tế - xã hội thành phố năm 2010 có những chuyển biến tích cực và tăng trưởng khá trên các lĩnh vực: xuất khẩu, thương mại, du lịch, vận tải, ngân hàng, công nghiệp, đầu tư… Tổng sản phẩm nội địa đạt 10.400 tỷ tăng 12,6% so với năm 2009 Giá trị sản xuất các ngành dịch

vụ ước đạt 9.630 tỷ tăng 15% Giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng ước đạt 16.715 tỷ tăng 19,6%

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ ước đạt 1.219 triệu USD, tăng 35,2% trong đó xuất khẩu hàng hóa ước đạt 679 triệu USD tăng 42,5%.Trong năm 2011, thành phố sẽ tập trung đẩy mạnh công tác đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầng, chỉnh trang đô thị và đẩy nhanh tiến độ các công trình trọng điểm, nâng tổng sản phẩm nội địa tăng 13 - 14,0% so với ước thực hiện năm 2010 Hệ thống hạ tầng thương mại được tập trung đầu tư phát triển đa

dạng, mạng lưới rộng khắp, với nhiều đại lý của các nhà phân phối, siêu thị lớn, các Hội chợ quốc gia, khu vực và quốc tế Các thành phần kinh tế phát triển khá, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thành phố, đến nay thành phố

đã có 10.118 doanh nghiệp tư nhân, với tổng vốn đăng ký 22.800 tỷ đồng, gấp 16,1 lần về

số lượng doanh nghiệp, tăng 316,7% về số vốn đầu tư; có 23.690 hộ kinh doanh cá thể với tổng vốn đăng ký 970 tỷ đồng, tăng 1,1 lần về số hộ kinh doanh và tăng 15,6% về số vốn

so với năm 1997 Kinh tế tư nhân đóng góp 33% về giá trị sản xuất công nghiệp, tăng bình quân trên 33,4%/năm trong 5 năm 2004-2009; đóng góp trên 82% tổng mức bán lẻ hàng hóa; doanh thu dịch vụ tăng bình quân trên 20%/năm; đóng góp 33,6% trong tổng kim

ngạch xuất khẩu hàng hóa và tăng bình quân 16,3%/năm

Hai yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới quyết định mua hàng là dân số và lối sống, tập quán tiêu dùng Quy mô, đặc điểm và tốc độ tăng dân số của thành phố là một trong những yếu tố

Trang 9

SVTH: Phùng Thị Kim Quyên - 9 -

ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của chợ Hiện nay, với dân số khoảng gần 1 triệu người (cả khách vãng lai, sinh viên, công nhân, quân đội) và dự kiến đến năm 2020 khoảng 1,4 triệu người, đây là yếu tố cung cấp nguồn lao động, vừa quyết định nhu cầu mức tiêu dùng,

cơ cấu dân số trẻ chiếm tỷ trọng lớn, sức tiêu dùng cao so với các tỉnh miền Trung - Tây Nguyên, đang tỏ ra có sức hấp dẫn lớn đến sự phát triển của dịch vụ bán buôn, bán lẻ

Thành phố Đà Nẵng, là thành phố năng động, quá trình đô thị hóa phát triển rất nhanh,

không gian đô thị được mở rộng gấp 3 lần chỉ sau ngày thành phố trực thuộc TW (13 năm) Nét văn hóa đặc trưng là cởi mở, lịch thiệp, mến khách, năng động và sáng tạo đã ảnh

hưởng đến nhận thức, hành vi và thái độ trong việc lựa chọn, quyết định tiêu dùng với yêu cầu đa dạng về chủng loại và chất lượng hàng hóa, luôn có yêu cầu cao hơn so với thôn quê, do đó luôn thích các kênh phân phối hiện đại

Về các yếu tố cơ sở hạ tầng, Đà Nẵng đã tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, nâng cấp và chỉnh trang đô thị, nhiều công trình trọng điểm về kinh tế - xã hội đã đầu tư xây dựng và đưa vào sử dụng, như: đường ven biển Sơn Trà - Điện

Ngọc, nút giao thông Hoà Cầm, đường Trường Sa, Dự án Thoát nước và Vệ sinh môi

trường, Trung tâm Hội chợ triển lãm, Cầu Thuận Phước… và các dự án thương mại đã và đang thực hiện như: Indochina, Vinacapital, Viễn Đông Meridan, Coopmart sẽ tạo cho Đà Nẵng bộ mặt đô thị mới ngày một khang trang, hiện đại

5 Đánh giá chung về những cơ hội và thách thức trong phát triển hệ chợ của thành phố

Hiện nay nền kinh tế mở cửa, với các chính sách ưu đãi đầu tư, thành phố Đà Nẵng là điểm đầu tư hấp dẫn của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, trong thời gian tới sẽ có nhiều dự

án đầu tư cho việc phát triển chợ nhằm đáp ứng nhu cầu ngày cang cao của người tiêu

dùng

Việc mở cửa thị trường bán buôn, bán lẻ khuyến khích cạnh tranh lành mạnh, tạo động lực cho sự phát triển của thị trường phân phối việt Nam, hứa hẹn sự phát triển năng động và thịnh vượng của thị trường Việt Nam nói chung, Đà Nẵng nói riêng với sự tăng cường

tham gia của các khu vực kinh tế, nhất là khu vực doanh nghiệp FDI (như Metro Cash & Carry, Bourbon Espace - Big C, Parkson, Dairy Farm đã có mặt ở Việt Nam, và sắp tới là Wal-mart, Carrefour, Tesco-Lotus ) và các doanh nghiệp dân doanh

Trang 10

Các tác động tiêu cực về mặt xã hội có thể đến từ việc các hộ kinh doanh trên mặt tiền phố, tiểu thương, người thân kinh doanh tại các chợ trên địa bàn thành phố) với hàng chục ngàn

hộ kinh doanh nhỏ lẻ, hàng trăm ngàn người đang hoạt động trong lĩnh vực thương mại dịch vụ khi phải đối mặt với cuộc cạnh tranh không cân sức của các công ty bán buôn, bán lẻ lớn của nước ngoài như Wal-mart (Mỹ), Carefour (Pháp), Tesco (Anh)

Các tác động tiêu cực về an ninh, môi trường do lợi dụng tự do hóa thương mại và mở cửa thị trường nên hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại quốc tế sẽ thâm nhập thị trường: buôn bán vận chuyển vũ khí, ma túy, các chất độc hại, hàng nhái, hàng giả Đồng thời, việc mở cửa thị trường sẽ kích thích tâm lý sính hàng ngoại, kích thích hình thành một xã hội tiêu dùng mới chưa phù hợp với điều kiện và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của thành phố

chương II :Đánh giá tình hình môi trường tại các chợ trên địa

bàn Thành Phố Đà Nẵng

1 Thực trạng hoạt động các chợ lớn trên địa bàn Thành Phố Đà Nẵng

1.1 khái niệm và phân loại chợ:

Trang 11

phẩm dùng trong cuộc sống hàng ngày của mỗi người đến các chủng loại sản phẩm khác

Trang 12

Về cơ cấu tổ chức quản lý các chợ: đối cới 05 chợ lớn trên địa bàn thành phố gồm chợ

Cồn, chợ Hàn, chợ Đống Đa, chợ khu B Siêu thị, chợ Đầu Mối Hòa Cường hiện nay do công ty quản lý hội chợ triển lãm và các chợ Đà Nẵng quản lý

Các chợ còn lại thuộc sự quản lý của phòng kinh tế các quận huyện

Để tổng quan được tình hình vệ sinh môi trường tại các chợ trên địa bàn thành phố , đặc biệt là các chợ có qui mô và diịen tích kinh doanh lớn, lưư lượng hàng hóa luân chuyển nhiều, số lượng người tham gia kinh doanh đông cho nên đối tượng được chọn phân tích trong chuyên đề là 05 chợ lớn tại công ty quản lý Hội chợ triển lãm và các chợ Đà Nẵng quản lý

1.2.1.1 Chợ Cồn

Là khu chợ nằm ở trung tâm thành phố Đà Nẵng, đã có thời kỳ đây là chợ bán sỉ và lẻ lớn nhất của Đà Nẵng và miền Trung Việt Nam.Cái tên “chợ Cồn” có từ thập niên40, do chợ nằm trên một cồn đất cao giữa lòng thành phố nên người dân địa phương quen miệng gọi thành tên Thánh 12 năm 1984, chợ đã được xây dựng lại3 tầng với diện tích 14.000m2 và

có tên chính thức là Thương Nghiệp Đà Nẵng Nhưng người dân Đà Nẵngvẫn quen gọi là “ chợ Cồn” thay vì tên chính thức

1.2.1.1.1 Diện tích

Diện tích tổng thể : 13.804m2

Diện tích xây dựng : 12.643m2

Trang 13

Hộ hàng rong thường xuyên và không thường xuyên khoảng : 634 hộ

Lưu lượng người ra vào chợ: ngày bình thường khoảng 10.000 lượt người/ngày, các ngày cao điểm như lễ, tết, lưu lượng khách có thể tăng lên đến 15.000 lượt người/ngày

1.2.1.1.3 Lượng điện tiêu thụ

Đơn vị, hộ kinh doanh có hợp đồng sử dụng điện : 1194 hộ

Tổng công suất sử dụng: 144kw

Điện năng tiêu thụ trung bình: 48.900 kw/tháng

1.2.1.1.4 Lượng nước sử dụng tại chợ

Trang 14

SVTH: Phùng Thị Kim Quyên - 14 -

Hộ mặt bằng cố định: 576 hộ

Hộ hàng rong thường xuyên và không thường xuyên khoảng : 262 hộ

Lưu lượng người ra vào chợ: ngày bình thường khoảng 7.000 lượt người/ngày, các ngày cao điểm như lễ, tết, lưu lượng khách có thể tăng lên đến 10.000 lượt người/ngày

1.2.1.2.3 Lượng điện tiêu thụ tại chợ

Đơn vị, hộ kinh doanh có hợp đồng sử dụng điện : 662 hộ

Tổng công suất sử dụng: 60 kw

Điện năng tiêu thụ trung bình: 21.000 kw/tháng

1.2.1.2.4 Lượng nước sử dụng tại chợ

Hộ hàng rong thường xuyên và không thường xuyên khoảng : 327 hộ

Lưu lượng người ra vào chợ: ngày bình thường khoảng 4.000 lượt người/ngày, các ngày cao điểm như lễ, tết, lưu lượng khách có thể tăng lên đến 6.000 lượt người/ngày

1.2.1.3.3 Lượng điện tiêu thụ tại chợ

Đơn vị, hộ kinh doanh có hợp đồng sử dụng điện : 487 hộ

Tổng công suất sử dụng: 20 kw

Trang 15

SVTH: Phùng Thị Kim Quyên - 15 -

Điện năng tiêu thụ trung bình: 10.500 kw/tháng

1.2.1.3.4 Lượng nước sử dụng tại chợ

Nước thủy cục: 335 m3 /tháng

Nước ngầm: 800 m3 /tháng

1.2.1.3.5 Lượng rác thải hàng ngày: từ 1,8 tấn /ngày đến 2,1 tấn/ngày

1.2.1.4 Chợ Đầu Mối Hòa Cường

Hộ hàng rong thường xuyên và không thường xuyên khoảng : 669 hộ

Lưu lượng người ra vào chợ: ngày bình thường khoảng 5.000 lượt người/ngày, các ngày cao điểm như lễ, tết, lưu lượng khách có thể tăng lên đến 10.000 lượt người/ngày

1.2.1.4.3 Lượng điện tiêu thụ tại chợ

Đơn vị, hộ kinh doanh có hợp đồng sử dụng điện : 617 hộ

Tổng công suất sử dụng: 22 kw

Điện năng tiêu thụ trung bình: 8.800 kw/tháng

1.2.1.4.4 Lượng nước sử dụng tại chợ

Nước thủy cục: 1.000 m3 /tháng

Nước ngầm: 370 m3 /tháng

1.2.1.4.5 Lượng rác thải hàng ngày: từ 6 tấn /ngày đến 6,8 tấn/ngày

1.2.1.5 Chợ siêu thị Đà Nẵng

Trang 16

Hộ hàng rong thường xuyên và không thường xuyên khoảng : 30 hộ

Lưu lượng người ra vào chợ: ngày bình thường khoảng 4.000 lượt người/ngày, các ngày cao điểm như lễ, tết, lưu lượng khách có thể tăng lên đến 6.000 lượt người/ngày

1.2.1.5.3 Lượng điện tiêu thụ tại chợ

Đơn vị, hộ kinh doanh có hợp đồng sử dụng điện : 496 hộ

Tổng công suất sử dụng: 12 kw

Điện năng tiêu thụ trung bình: 12.800 kw/tháng

1.2.1.5.4 Lượng nước sử dụng tại chợ

Nước thủy cục: 735 m3 /tháng

Nước ngầm: 105 m3 /tháng

1.2.1.5.5 Lượng rác thải hàng ngày: từ 0,8 tấn /ngày đến 1 tấn/ngày

1.2.2 Thực trạng phát triển mạng lưới chợ truyền thống

Hiện nay hệ thống chợ đã phát triển và phân bố rộng khắp trên toàn thành phố và phân bố đều theo quy mô dân số của từng Quận, Huyện.Toàn thành phố có 85 chợ gồm 83 chợ bán

lẻ và 2 chợ cả bán buôn và bán lẻ Tỷ trọng phân phối hàng tiêu dùng qua chợ chiếm

Ngũ Hành Sơn

Liên Chiểu

Cẩm

Lệ

Hòa Vang

Trang 17

10579 người/ 1 chợ, Sơn Trà 11142 người/ 1 chợ, Ngũ Hành Sơn 11028 người/ 1 chợ, Liên Chiểu 12506 người/ 1 chợ, Cẩm Lệ 8756 người/1chợ, và Hòa Vang là 5412 người/1chợ (Bảng 1)

Biểu đồ 1:Tỷ lệ phân bố chợ theo quận huyện

Trang 18

Sơn trà, 11

Hải châu Thanh Khê Sơn trà Ngũ Hành Sơn Liên Chiểu Cẩm Lệ Hòa Vang

Trang 19

Hình thức kinh doanh

Tổng số quầy sạp

Tổng

số tiểu thương

Trang 20

24 Chợ Lệ Trạch Hòa Vang 2 Tạp hoá, rau, cá,

Trang 24

SVTH: Phùng Thị Kim Quyên - 24 -

bán lẻ

buôn và bán lẻ

Qua bảng số liêu ta thấy, tổng số quầy sạp, tổng số tiểu thương tại chợ là rất lớn, điều này cho thấy lực lượng lao động làm việc tại các chợ là không nhỏ Trong tất cả cả các chợ trên địa bàn thành phố có 3177 quầy sạp và 3111 tiểu thương Tương đương với số quầy sạp và tiểu thương này thì số lao động làm việc tại đây khoảng hơn 6000 người, đóng góp một phần không nhỏ việc làm cho lao động của thành phố Không những thế, đây cũng là đóng góp rất lớn cho sự phát triển ngành thương mại của thành phố

Trong các chợ, số lượng hàng hoá cũng không ngừng tăng lên, có 37 chợ kinh doanh tổng hợp chiếm 43,5% trong tổng số, còn lại là kinh doanh tạp hoá, rau, cá thịt cho thấy mức

độ phát triển kinh tế xã hội của thành phố, nhu cầu tiêu dùng hàng hoá tăng cao không chỉ

về ăn uống mà đang phát triển về mọi mặt

Hình thức kinh doanh chủ yếu là bán lẻ, phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người dân địa

phương Có 2 chợ vừa bán buôn vừa bán lẻ, đây không chỉ là phục vụ tiêu dùng cho người dân đại phương và là đầu mối cho các chợ khác mà còn là nơi cung cấp hàng cho các vùng khác lân cận

Hiện nay, việc các siêu thị lớn lần lượt ra đời với quy mô lớn kèm theo những đợt khuyến mãi hoành tráng cộng với hệ thống siêu thị trước đó đã có mặt trên thành phố như: Co-

opmart, Metro, BigC, Intimex càng khiến cho bà con tiểu thương bán buôn, bán lẻ ở các chợ trên địa bàn thành phố thêm khó khăn

Nếu như những năm trước, những ngày cuối của tháng Chạp, tháng cao điểm kinh doanh của mùa Tết thì lượng khách tập trung về các chợ Cồn, chợ Hàn và các chợ lớn khác trên

Trang 25

SVTH: Phùng Thị Kim Quyên - 25 -

địa bàn thành phố đã đông để mua sắm, bán buôn bán lẻ thì một hai năm gần đây khách đổ

về các chợ có xu hướng giảm dần

Nhìn chung có một số nguyên nhân dẫn đến việc các chợ bán hàng ít khách dần như: Các

hệ thống siêu thị trên thành phố khai trương nhiều với những chiêu thức quảng bá, khuyến mãi hấp dẫn, nên đã thu hút lượng khách rất lớn ở thành phố lẫn khách các địa phương khác đến mua sắm Hơn nữa, ở các siêu thị tiện lợi, thứ gì cũng có, mà lại không phải trả giá nên rất thu hút người tiêu dùng

Vấn đề quan trọng nữa chính là yếu tố chất lượng hàng hóa và an toàn vệ sinh thực phẩm ở các chợ rất đáng báo động mà các phương tiện thông tin đại chúng, báo chí liên tục đưa tin trong thời gian qua như hạt dưa, ớt có sử dụng chất rhodamine B gây ung thư, và hàng loạt các loại thực phẩm không đủ chất lượng, hàng giả, hàng nhái, dẫn đến tâm lý người tiêu dùng thận trọng hơn khi chọn mua các sản phẩm ở các chợ Thay vào đó người tiêu dùng chọn mua hàng hóa ở các siêu thị vì ở đây hàng hóa có nhãn mác, có thương hiệu; giá cả thì niêm yết không phải trả, đặc biệt là việc quản lý chất lượng tốt hơn Vì vậy hàng hóa ở siêu thị gây thiện cảm hơn cho người tiêu dùng là điều dễ hiểu

Đây cũng là bài toán nan giải cho thành phố, không chỉ trước mắt mà là tương lai, bởi chợ không chỉ là nơi mua sắm mà còn là nơi gắn với giá trị văn hóa đặc trưng riêng của từng địa phương Chợ là một trong những nơi phản ánh chính xác và đầy đủ nhất tập quán, lối sống của một đô thị Bởi vậy, rất cần thiết phải xây dựng hệ thống chợ ở Đà Nẵng ngày càng phát triển Theo đó, cần phải có chính sách phát triển mô hình kinh tế chợ bền vững làm thế nào để chợ không có hoặc ít hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng nghĩa là văn hóa tiêu dùng trung thực trong kinh doanh tại chợ được tạo lập

Mặt khác, chợ sạch sẽ, đẹp và được cấu trúc, sắp xếp một cách khoa học, hiện đại còn

chứng tỏ rất rõ năng lực quản lý, tổ chức cuộc sống tốt đẹp của một miền đất, một thành phố văn minh theo đúng chủ trương mà thành phố đã đề ra, như thế mới làm yên lòng

người tiêu dùng, du khách, hấp dẫn mọi người từ khắp nơi tìm đến là lẽ đương nhiên Làm được những điều này mới hy vọng việc mưu sinh của hàng ngàn hộ kinh doanh cá thể vốn

từ lâu đã gắn chặt với chợ mới có cơ hội phát triển trước cơn bão đầu tư của các chuỗi siêu thị

Trang 26

SVTH: Phùng Thị Kim Quyên - 26 -

2 Đánh giá tác động môi trường từ hoạt động của chợ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

2.1 Hiện trạng về rác thải rắn tại các chợ

2.1.1 Nguồn phát sinh rác thải rắn tại chợ

Trong quá trình hoạt động, toàn bộ rác thải rắn từ chợ gồm 2 nguồn: rác thải rắn phát sinh

do hoạt động buôn bán và rác thải rắn phát sinh từ các rác thải sinh hoạt, thực phẩm dư thừa Rác thải phát sinh là do tồn trữ rác thải tại các cơ quan, phòng làm việc và trong hoạt động kinh doanh tại chợ Chất thải rắn tại các cơ quan với số lượng nhân viên thường

xuyên làm việc trong cả ngày và đêm Lượng rác này thường lưu chứa trong các thùng

chứa có nắp đậy và đảm bảo vệ sinh.tại các phòng ban đều có các thùng rác riêng, thường

là các thùng nhựa có nắp đậy với dung tích từ 10-15l Chất thải sau khi được chứa trong các thùng nhỏ tại mỗi phòng làm việc cuối ngày sẽ được nhân viên tạp vụ của cơ quan đưa

ra thùng rác lớn để cho đơn vị thu gom đến vận chuyển đưa đi xử lý Số lượng và kích cỡ thùng tùy thuộc vào lượng rác thải ra mỗi ngày của từng đơn vị Ngoài ra do đặc thù hoạt động kinh doanh tại các chợ chủ yếu phục vụ nhu cầu tự sản, tự tiêu cho dân cư địa

phương, đa số các mặt hàng, sản phẩm đem đến chợ để trao đổi kinh doanh đa phần được đem đến đều chưa qua xử lý các thành phần thô của sản phẩm Ví dụ đối với ngành rau củ quả, hoa tươi, trái cây, hàng tươi sống khi đã được đư tới chợ thì vẫ phải được qua một vài lần làm sạch vỏ, cắt gọt tỉa trước khi đên tay người tiêu dùng ; nếu sản phẩm bị hư hỏng do không bán hết trong ngày sẽ trở thành nguồn rác thải tại chợ Đây chính là một trong những nguyên nhân làm cho khối lượng rác thải hàng ngày tại chợ rất lớn

2.1.2 Khối lượng rác thải

Rác thải rắn do hoạt động kinh doanh:theo số liệu rác thải thực tế trong năm qua, tính bình quân lượng thải từ sản phẩm kinh doanh của mỗi hộ kinh doanh hơn 3kg/ngày Đặc biệt đối với các hộ bán sỉ trái cây, rau hành tại chợ Đầu Mối Hòa cường từ 50kg/ngày/hộ đến 200kg/ngày/hộ Số liệu khảo sát tại các chợ thì khối lượng rác thải rắn phát sinh do hoạt động kinh doanh các mặt hàng tươi sống khoảng 5kg/ngày cho 1 quầy hàng có diện tích khoảng 4m2 .Hoạt động kinh doanh các mặt hàng như yếu phẩm khô, các mặt hàng tạp hóa

Trang 27

SVTH: Phùng Thị Kim Quyên - 27 -

khác khoảng 1kg/ngày cho 1 quầy hàng có diện tích khoảng 4m2 Ngoài ra khối lượng rác thải rắn còn còn được thải ra do sinh hoạt được tính trung bình khoảng 0,3 đến 0,5

kg/người/ngày đêm.Từ đó có thể dự đoán được lượng rác thải sinh hoạt đối với lượng

người tham gia kinh doanh tại các chợ(ước tính gần 5.000 hộ kinh doanh và lực lượng

tham gia vận chuyển hàng hóa hàng ngày tại chợ)với mức tối thiểu như sau:

6.000 người

Bảng 3 : Diện tích thu gom và khối lượng rác thải năm 2010

ngày thực hiện trong năm

Diện tích quét thu gom

Khối lượng rác thu gom Ha/năm m2/ngày Tấn/

năm

Tấn/ ngày

1 Chợ Đầu mối

a Diện tích quét thu gom rác 363 323,7 8916,0

a Diện tích quét thu gom rác 363 109,4 3013,8

a Diện tích quét thu gom rác 363 326,6 8997,0

4 Chợ Đống Đa

a Diện tích quét thu gom rác 363 82,3 2268,0

5 Chợ siêu thị

a Diện tích quét thu gom rác 363 120,0 3305,8

Trang 28

SVTH: Phùng Thị Kim Quyên - 28 -

Thành phần thải rắn bao gồm: chất thải thực phẩm,giấy catton, chất dẻo, vải vụn, cao su, thủy tinh, bao nylon, sản phẩm vườn, thủy tinh, sành sứ

Tình hình thu gom và quét dọn rác thải trong năm 2010 tại các chợ do công ty quản lý

được thể hiện như bảng ở trên.Diện tích mặt bằng phải thường xuyên duy trì vệ sinh và quét dọn, gom rác tại các chợ khoảng: 26.500 m2/ngày

Chợ Đầu Mối Hòa Cường : 8916m2/ngày chiếm 34% tổng diện tích

Chợ Hàn : 3013 m2/ngày chiếm 11% tổng diện tích

Chợ Cồn : 8997 m2/ngày chiếm 34% tổng diện tích

Chợ Đống Đa : 2268 m2/ngày chiếm 9% tổng diện tích

Chợ Siêu Thị : 3305 m2/ngày chiếm 12% tổng diện tích

Biểu đồ 2: Tỷ lệ quét thu gom rác thải tại chợ

Tỷ lệ quét,thu gom rác thải tại chợ

Chợ Đầu Mối Hòa Cường, 34%

Chợ Đầu Mối Hòa Cường chợ Hàn Chợ Cồn Chợ Đống Đa

Chợ siêu thị

Biểu đồ thể hiện tỷ lệ diệ tích quét thu gom rác giữa các chợ(tính bằng đơn vị m2/ngày) Khối lượng rác thải từ hoạt động kinh doanh buôn bán dịch vụ…tại các chợ hàng ngày rất lớn Lượng rác thải phải thu gom, vận chuyển tăng dần qua các năm từ 5.300 tấn(năm

2007)đến 5.700 tấn(năm 2010).Bình quân lượng rác thải thu gom như sau:

Năm 2008 :14,1 tấn/ngày

Năm 2009 : 15,2 tấn/ngày

Năm 2010 : 15,7 tấn/ngày

Trang 29

SVTH: Phùng Thị Kim Quyên - 29 -

Khối lượng rác xử lý hàng ngày tại các chợ trong năm 2010:

Chợ Đầu Mối Hòa Cường :6,3 tấn/ngày chiếm 40% tổng khối lượng rác

Chợ Hàn :2,3 tấn/ngày chiếm 14% tổng khối lượng rác

Chợ Cồn :4,2 tấn/ngày chiếm 27% tổng khối lượng rác

Chợ Đống Đa :2 tấn/ngày chiếm 13% tổng khối lượng rác

Chợ Siêu Thị :1 tấn/ngày chiếm 6% tổng khối lượng rác

Biểu đồ 3:Tỷ lệ khối lượng rác tại các chợ

Tỷ lệ khối lượng rác tại các chợ

Chợ Đầu Mối Hòa Cường, 40%

Chợ Đầu Mối Hòa Cường chợ Hàn Chợ Cồn Chợ Đống Đa Chợ siêu thị

Biểu đồ thể hiện tỷ lệ thu gom rác vận chuyển đi xử lý giữa các chợ(tấn/ngày)

2.1.3 Các nguồn ô nhiễm do chất thải rắn

2.1.3.1 Ô nhiễm do chất thải rắn phát ra từ khu vực mua bán rau quả ,thực

phẩm tươi sống và khu vực hàng ăn uống

Khu vực mua bán rau quả và thực phẩm tươi sống là nơi phát sinh rác thải nhiều nhất trong quá trình hoạt động của các khu thương mại, siêu thị và các chợ Rác chủ yếu được thải ra

từ hàng nông sản với thành phần chủ yếu là phế thải nông nghiệp như rau củ quả, trái cây, rơm rạ , phế thải trong quá trình giết mổ như lông, gia,phân, nội tạng không sử dụng Ngoài ra còn có thể có thực phẩm không đạt tiêu chuẩn vệ sinh thú y Rác thải loại này chứa nhiều chất hữu cơ nếu không được thu gom và xử lý trong ngày sẽ bốc mùi hôi thối,

Trang 30

SVTH: Phùng Thị Kim Quyên - 30 -

đặc biệt là vào những ngày nắng nóng, gây ô nhiễm môi trường không khí khu vực các khu thương mại , siêu thị và chợ Ngoài ra rác thải từ khu vực hàng ăn uống bao gồm các thực phẩm rau quả, thức ăn dư thừa và bị hư, rác thải trong quá trình chế biến thức ăn, các bao

bì đựng và gói thực phẩm.Rác thải loại này cần được thu gom và xử lý để hạn chế ảnh

hưởng tới môi trường xung quanh

2.1.3.2 Ô nhiễm do chất thải rắn phát sinh từ các khu vực khác

Ngoài nguồn chât thải rắn nêu trên còn có một nhỏ lượng chất thải rắn phát sinh từ khu vực bán quần áo, khu vực các cửa hàng điện tử , khu vực cửa hàng đồ nhựa, sành sứ, thủy tinh Chất thải rắn phát sinh chủ yếu bao gồm túi nylon, giấy các loại, thủy tinh sành sứ Ngoài

ra còn có thể phát sinh một lượng nhỏ đồ điện tử hỏng, không còn dùng được.Đây là loại chất thải khó phân hủy trong môi trường,ảnh hưởng tới cảnh quan khu vực và gây ô nhiễm môi trường

2.1.4 Tác động của rác rắn

2.1.4.1 Ảnh hưởng tới môi trường không khí

Nguồn rác thải từ khu vực các chợ thải ra chiếm tỷ lệ cao trong toàn bộ khối lượng rác thải

ra của thành phố Khí hậu nhiệt đới nóng ẩm và mưa nhiều ở nước ta là điều kiện thuận lợi cho các thành phần hữu cơ phân hủy, thúc đẩy nhanh quá trình lên men, thối rửa và tạo nên mùi khó chịu cho con người Các chất thải khí phát ra từ các quá trình này thường là H2S,

NH3, CH4, SO2, CO2

2.1.4.2 Ảnh hưởng tới môi trường nước

Theo thói quen, nhiều người thường đổ rác tại các bờ sông, hồ, ao, cống rãnh gần các chợ Lượng rác này sau khi bị phân hủy sẽ tác động trực tiếp đến chất lượng nước mặt, nước ngầm trong khu vực Rác có thể bị cuốn trôi theo nước mưa xuống ao, hồ, sông ngòi, kênh rạch, sẽ làm nguồn nước mặt bị nhiễm bẩn Mặt khác, lâu dần những đống rác này sẽ làm giảm diện tích ao hồ, giảm khả năng tự làm sạch của nước gây cản trở các dòng chảy, tắc cống rãnh thoát nước Hậu quả của hiện tượng này là hệ sinh thái nước trong các ao hồ bị hủy diệt Việc ô nhiễm các nguồn nước mặt này cũng là một trong những nguyên nhân gây

Trang 31

SVTH: Phùng Thị Kim Quyên - 31 -

các bệnh tiêu chảy, tả, lị trực khuẩn, thương hàn, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng

2.1.4.3 ảnh hưởng tới môi trường đất

Trong thành phần rác thải có chứa nhiều chất độc Do đó, khi rác thải được đưa vào môi trường thì các chất độc xâm nhập vào đất sẽ tiêu diệt nhiều loài sinh vật có ích cho đất như: giun, vi sinh vật, nhiều loài động vật không xương sống, làm cho môi trường đất bị giảm tính đa dạng và phát sinh nhiều sâu bọ phá hoại cây trồng Đặc biệt hiện nay việc sử dụng tràn lan các loại túi nilon trong sinh hoạt và đời sống, khi xâm nhập vào đất, nilon cần tới

50 – 60 năm mới phân hủy hết và do đó chúng tạo thành các “bức tường ngăn cách” trong đất hạn chế mạnh quá trình phân hủy, tổng hợp các chất dinh dưỡng, làm cho đất giảm độ phì nhiêu, đất bị chua và năng suất cây trồng giảm sút

2.1.4.4 ảnh hưởng tới sức khỏe con người

Trong thành phần của rác thải, thông thường hàm lượng hữu cơ chiếm tỉ lệ lớn Loại rác này rất dễ bị phân hủy, lên men và bốc mùi hôi thối Rác thải không được thu gom, tồn tại trong không khí, lâu ngày sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe con người sống xung quanh Chẳng hạn, những người tiếp xúc thường xuyên với rác như những người làm công việc thu nhặt các phế liệu từ bãi rác, dễ mắc các bệnh như viêm phổi, sốt rét, các bệnh về mắt, tai, mũi, họng, ngoài da và phụ khoa Hàng năm, theo Tổ chức Y tế Thế giới, trên thế giới có 5 triệu người chết và có gần 40 triệu trẻ em mắc các bệnh có liên quan đến rác thải, đặc biệt là những xác động vật bị thối rửa, trong hơi thối có chất amin và các chất dẫn xuất sunfua hydro hình thành từ sự phân hủy rác thải, kích thích sự hô hấp của con người, kích thích nhịp tim đập nhanh gây ảnh hưởng xấu đến những người mắc bệnh tim mạch Ngoài ra, trong các bãi rác thường chứa nhiều loại vi trùng gây bệnh thật sự phát huy tác dụng khi có các vật chủ trung gian gây bệnh tồn tại trong bãi rác như chuột, ruồi, muỗi và nhiều loại ký sinh trùng gây bệnh cho người và gia súc, một số bệnh điển hình do các trung gian truyền bệnh như: chuột truyền bệnh dịch hạch, bệnh sốt vàng da do xoắn trùng, ruồi, gián truyền bệnh đường tiêu hóa, muỗi truyền bệnh sốt rét, sốt xuất huyết

2.1.4.5 Ảnh hưởng đến cảnh quan đô thị

Ngày đăng: 08/07/2021, 15:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w