Phương pháp nghiên cứu
Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm chung của tỉnh Thái Bình
Thái Bình là một tỉnh đồng bằng nằm ở phía nam châu thổ sông Hồng, cách Hà Nội 110 km và Hải Phòng 70 km Tỉnh này có ba mặt giáp sông và một mặt giáp biển, cụ thể phía Đông giáp vịnh Bắc Bộ, phía Tây giáp tỉnh Hà Nam, phía Nam giáp tỉnh Nam Định, và phía Bắc giáp tỉnh Hưng Yên, Hải Dương cùng thành phố Hải Phòng.
Hìnhe3.1 Bản đồ hành chính tỉnh Thái Bình
Thái Bình, với diện tích tự nhiên 153.780,47 ha, nằm trong vùng tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh Tỉnh có lợi thế về giao thông nhờ tiếp giáp với biển và hệ thống đường sông, đường bộ thuận lợi, gần các trung tâm đô thị lớn và vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội và khoa học kỹ thuật của Thái Bình Ngoài ra, tỉnh còn sở hữu nguồn khoáng sản phong phú như đất sét, khí đốt, nước khoáng và than nâu, đã được thăm dò và khai thác.
3.1.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội của tỉnh Thái Bình
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu và trong nước gặp nhiều khó khăn, cùng với thiên tai và dịch bệnh diễn biến phức tạp, việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế trở nên thách thức Tuy nhiên, giai đoạn 2015 – 2017, Thái Bình đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế khá và cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực.
Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội của tỉnh Thái Bình giai đoạn 2015-2017
2 Cơ cấu kinh tế ngành 100,00 100,00 100,00 -
(theo giá hiện hành) triệu đồng 26,5 30,15 33,5 112,43
Theo Cục Thống kê tỉnh Thái Bình, trong giai đoạn 2015 - 2017, tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân đạt 8,52% Cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch tích cực với tỷ trọng nông, lâm, thủy sản giảm, trong khi tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ tăng Đồng thời, thu nhập bình quân đầu người cũng tăng từ 26,5 triệu đồng năm 2015 lên 33,5 triệu đồng năm 2017, với tốc độ tăng trưởng đạt 12,43%.
Chương trình cải cách thủ tục hành chính giai đoạn 2011 – 2020 và Đề án 30 của Chính phủ đã mang lại hiệu quả tích cực, với việc rà soát và bãi bỏ nhiều thủ tục không cần thiết, rút ngắn 40% thời gian thực hiện Tại Thái Bình, công tác cải cách đã đạt được mục tiêu giảm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp trong thực hiện thủ tục hành chính, đặc biệt là thủ tục thuế Cải cách này cũng tạo mối quan hệ gắn kết giữa các sở, ban ngành, quy rõ trách nhiệm quản lý của cơ quan nhà nước, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý doanh nghiệp và kiểm soát chặt chẽ hơn.
3.1.2 Khái quát về Cục Thuế tỉnh Thái Bình
3.1.2.1 Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức
Cục thuế Tỉnh Thái Bình được thành lập theo Quyết định số 14/TC/QĐ/TCCB ngày 21/08/1990 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, với cơ cấu tổ chức bao gồm 01 Cục trưởng, 02 Phó Cục trưởng, 8 chi cục thuế huyện, thành phố và 10 phòng chức năng thuộc văn phòng Cục Thuế Theo Quyết định số 728/QĐ-TCT ngày 18/6/2007 của Tổng Cục trưởng Tổng cục Thuế, Cục Thuế tỉnh Thái Bình là tổ chức trực thuộc Tổng cục Thuế, có nhiệm vụ quản lý thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác của ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật.
Để giúp doanh nghiệp (DN) tuân thủ pháp luật thuế, cần đảm bảo và tạo thuận lợi thông qua công tác tuyên truyền, hỗ trợ, hướng dẫn và giải thích chính sách pháp luật thuế Đồng thời, việc công khai và cải cách thủ tục hành chính thuế cũng rất quan trọng.
Để hỗ trợ doanh nghiệp, cần giải quyết các quyền lợi như miễn, giảm và hoàn thuế, gia hạn nộp tờ khai và thuế, xóa nợ thuế và tiền phạt Đồng thời, cần giữ bí mật thông tin của doanh nghiệp và xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ thuế của họ.
- Giám sát sự tuân thủ pháp luật thuế của DN: Yêu cầu DN, Ngân hàng,
Cơ quan quản lý Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin cần thiết cho quản lý thu thuế, bao gồm việc quản lý thông tin người nộp thuế và xây dựng hệ thống dữ liệu liên quan Ngoài ra, việc thanh tra và kiểm tra thuế cũng được thực hiện nhằm giám sát quá trình kê khai, xác định nghĩa vụ thuế và hoàn thuế của doanh nghiệp.
Các hoạt động như ấn định thuế, cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế và công khai danh tính doanh nghiệp không tuân thủ chính sách thuế trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm đảm bảo việc tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế ngày càng được cải thiện.
Từ ngày 01/07/2007, Cục Thuế tỉnh Thái Bình đã tiến hành sắp xếp lại cơ cấu tổ chức bộ máy để phù hợp với yêu cầu của Luật Quản lý Thuế, theo Quyết định số 49/2007/QĐ-BTC ban hành ngày 15/6/2007 bởi Bộ trưởng.
Bộ Tài chính hiện có lãnh đạo Cục thuế gồm 1 cục trưởng và 2 phó cục trưởng, trong đó cục trưởng chịu trách nhiệm toàn diện trước Bộ Tài chính, còn phó cục trưởng chịu trách nhiệm trước cục trưởng về các công việc được giao Cục thuế bao gồm 8 chi cục thuế tại các huyện, thành phố và 15 phòng chức năng thuộc văn phòng Cục Thuế, được tổ chức theo sơ đồ 3.1 nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý thuế tự tính, tự khai và tự nộp.
- Mười lăm (15) phòng chức năng gồm:
+ Phòng Tuyên truyền Hỗ trợ NNT
+ Phòng Kê khai và kế toán thuế
+ Phòng Quản lý thuế Thu nhập cá nhân
+ Phòng Quản lý các khoản thu từ đất
+ Các phòng Kiểm tra thuế
+ Các phòng Thanh tra thuế
+ Phòng Kiểm tra nội bộ
+ Phòng Quản lý nợ và Cưỡng chế nợ thuế
+ Phòng Tổng hợp – Nghiệp vụ - Dự toán
+ Phòng Tổ chức cán bộ
+ Phòng Hành chính- Quản trị - Tài vụ - Ấn chỉ
- Tám (08) Chi cục thuế huyện, thành phố gồm:
+ Chi cục thuế Thành Phố Thái Bình
+ Chi cục thuế huyện Vũ Thư
+ Chi cục thuế huyện Đông Hưng
+ Chi cục thuế huyện Quỳnh Phụ
+ Chi cục thuế huyện Hưng Hà
+ Chi cục thuế huyện Thái Thụy
+ Chi cục thuế huyện Kiến Xương
+ Chi cục thuế huyện Tiền Hải
Sơ đồa3.1 Tổ chức bộ máy Cục Thuế tỉnh Thái Bình
– Hỗ trợ người nộp thuế
Kê khai và Kế toán thuế
Phòng thanh tra thuế (số 1, số 2)
Phòng Quản lý các khoản thu từ đất
Phòng Kiểm tra thuế (số 1, số 2, số 3)
Phòng Quản lý nợ và Cưỡng chế nợ thuế
Phòng Tổng hợp - Nghiệp vụ -
Phòng Hành chính- Quản trị - Tài vụ
Phòng Kiểm tra nội bộ
Phòng Quản lý thuế Thu nhập cá nhân
Phó Cục trưởng 1 Phó Cục trưởng 2
8 Chi cục Thuế huyện, Thành phố
3.1.2.2 Đội ngũ cán bộ, người lao động
Chất lượng nguồn nhân lực của Cục Thuế tỉnh Thái Bình đáp ứng hiệu quả cho công tác quản lý thuế, với hơn 96% cán bộ có trình độ đại học và cao học Số lượng cán bộ thuế có trình độ chuyên môn ngày càng tăng, tính đến ngày 31/12/2017.
25 người có bằng thạc sỹ và trên 20 người đang theo học cao học các chuyên ngành quản lý kinh tế, kế toán, tài chính – ngân hàng
Cơ cấu lao động theo độ tuổi đã đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong lĩnh vực tài chính kinh tế phức tạp, đòi hỏi kinh nghiệm từ cán bộ thuế lâu năm và trình độ chuyên môn về tin học để phục vụ cho việc sử dụng ứng dụng, phân tích và đối chiếu số liệu hiệu quả.
Bảnga3.2 Tổng hợp trình độ cán bộ của Cục Thuế TỈNH Thái Bình ĐVT: người
Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017 So sánh (%)
Nguồn: Báo cáo nguồn nhân lực - Cục Thuế tỉnh Thái Bình
Trong giai đoạn 2015-2017, Cục Thuế Thái Bình ghi nhận sự giảm 4,4% về số lượng lao động do một số cán bộ nghỉ hưu mà không có tuyển dụng mới theo chính sách tinh giảm biên chế Mặc dù vậy, chất lượng đội ngũ công chức đã được cải thiện rõ rệt, với số lượng cán bộ có trình độ cao học tăng trung bình 58,1% và số lượng cán bộ có trình độ trung cấp giảm 22,5% Đội ngũ công chức tại Cục Thuế Thái Bình cũng có sự phân bổ đồng đều theo độ tuổi, cho thấy sự cân bằng trong lực lượng lao động.
2017 tập trung ở lứa tuổi từ 30-dưới 40 và trên 50 tuổi Đây vừa là lợi thế vừa là bất lợi cho Cục Thuế trong công tác quản lý thu thuế
3.1.2.3 Cơ sở vật chất, trang thiết bị
Thực hiện chiến lược cải cách thuế của Tổng cục Thuế giai đoại 2011 –
Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp khảo sát và thu thập số liệu
3.2.1.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ nhiều nguồn tài liệu đáng tin cậy, bao gồm báo cáo của Cục Thuế tỉnh Thái Bình, Niên giám thống kê của Tổng cục Thống kê, và các báo cáo từ các ban, ngành tỉnh Thái Bình Ngoài ra, thông tin cũng được lấy từ trang web của Tổng cục thuế và Cục thuế Thái Bình, cũng như các tạp chí thuế và các công trình khoa học uy tín Tất cả dữ liệu này được tổng hợp, phân tích một cách có chọn lọc và được trích dẫn đầy đủ.
3.2.1.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp
Dữ liệu sơ cấp cho nghiên cứu về tính tuân thủ pháp luật thuế TNDN được thu thập thông qua khảo sát thực tế 75 doanh nghiệp đăng ký kê khai nộp thuế tại Cục Thuế tỉnh Thái Bình Các dữ liệu này được thu thập qua bảng câu hỏi và phỏng vấn trực tiếp các cán bộ chủ chốt tại Cục Thuế, cùng với việc phỏng vấn kế toán và giám đốc của các doanh nghiệp được chọn mẫu đại diện theo loại hình doanh nghiệp và cán bộ thuế trong phạm vi nghiên cứu.
Mẫu điều tra được tổng hợp theo Bảng 3.5:
Sau khi phân loại theo hình thức sở hữu vốn, chúng tôi đã chọn ra 75 doanh nghiệp dựa trên số liệu thống kê từ các loại hình doanh nghiệp khác nhau, bao gồm doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, công ty TNHH, công ty cổ phần, hợp tác xã và các tổ chức kinh tế khác.
Số mẫu thuộc 5 nhóm đối tượng được phân bổ như bảng 3.5 theo số lượng
Tại Văn phòng cục Thuế Thái Bình, nhóm công ty TNHH và công ty cổ phần chiếm tỷ trọng lớn (66,63%) trong tổng số doanh nghiệp kê khai nộp thuế, do đó số lượng doanh nghiệp trong nhóm này được lựa chọn nhiều hơn Các nhóm doanh nghiệp còn lại có số lượng ít hơn do tổng số doanh nghiệp đăng ký kê khai nộp thuế tại địa bàn nghiên cứu thấp hơn.
Trong bài viết này, chúng tôi tiến hành phỏng vấn trực tiếp một số cán bộ chủ chốt tại các phòng, bộ phận có trách nhiệm tiếp xúc với người nộp thuế trong công tác quản lý thu thuế TNDN Những cuộc phỏng vấn này nhằm thu thập thông tin quý giá về quy trình và phương pháp quản lý thuế, từ đó nâng cao hiệu quả công tác thu thuế TNDN.
Bảngc3.4 Phân bổ m u điều tra thực tế Đối tƣợng điều tra
Tỷ lệ m u trên tổng số (%)
Phỏng vấn trực tiếp thông qua dùng bảng biểu, phiếu điều tra được chuẩn bị sẵn
Phỏng vấn trực tiếp thông qua dùng bảng biểu, phiếu điều tra được chuẩn bị sẵn
Phỏng vấn trực tiếp thông qua dùng bảng biểu, phiếu điều tra được chuẩn bị sẵn
Phỏng vấn trực tiếp thông qua dùng bảng biểu, phiếu điều tra được chuẩn bị sẵn
5 HTX, tổ chức kinh tế khác DN 7 0,37
Phỏng vấn trực tiếp thông qua dùng bảng biểu, phiếu điều tra được chuẩn bị sẵn
6 Cán bộ thuế Người 10 7,81 Phỏng vấn sâu
3.2.2 Phương pháp phân tích số liệu
3.2.2.1 Phương pháp thống kê mô tả
Phương pháp này được áp dụng để phân tích các đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Bình, cũng như nguồn lực và năng lực hoạt động của Cục Thuế tỉnh Nó còn giúp thu thập dữ liệu nghiên cứu về hoạt động doanh nghiệp, tình hình kê khai và kết quả thu thuế TNDN Bên cạnh đó, phương pháp này cũng đánh giá vai trò của cơ quan Thuế trong quản lý thu, đồng thời nhận diện các khó khăn và hạn chế trong việc nâng cao tính tuân thủ pháp luật thuế TNDN.
So sánh định lượng là phương pháp phân tích sự diễn tiến của sự việc theo thời gian, nhằm đánh giá sự thay đổi về số thu thuế TNDN và kết quả chấp hành chính sách thuế TNDN của các doanh nghiệp dưới sự quản lý của Văn phòng Cục Thuế.
So sánh định tính là phương pháp đánh giá dựa trên các chỉ tiêu xã hội và môi trường Trong bài viết này, tôi áp dụng phương pháp này để phân tích tác động của những thay đổi trong chính sách thuế đối với việc thực hiện chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) của các doanh nghiệp.
3.2.2.3 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo
Đề tài nghiên cứu phương pháp xác định nguyên nhân dẫn đến việc doanh nghiệp chưa thực hiện đúng thủ tục hành chính thuế Bên cạnh đó, bài viết cũng tham khảo các giải pháp nhằm tăng cường quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp, từ đó nâng cao tính tuân thủ pháp luật thuế của các doanh nghiệp.
3.2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu
3.2.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá tính tuân thủ nghĩa vụ trong đăng ký thuế
Số lượng đăng ký thuế là chỉ tiêu phản ánh số lượng người nộp thuế đã thực hiện đăng ký trong một năm, cho thấy quy mô doanh nghiệp tham gia vào hệ thống thuế.
Tỷ lệ đăng ký thuế (%) là chỉ số phản ánh mức độ thực hiện nghĩa vụ đăng ký mã số thuế của doanh nghiệp trong năm so với tổng số doanh nghiệp cần đăng ký Chỉ tiêu này càng gần 100% thì cho thấy mức độ tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp càng cao.
Tỷ lệ đăng ký thuế (%) = Số doanh nghiệp đã đăng ký thuế x 100
Số doanh nghiệp phải đăng kýthuế
3.2.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá tính tuân thủ nghĩa vụ trong khai thuế
Tỷ lệ nộp hồ sơ quyết toán thuế (%) là chỉ tiêu quan trọng phản ánh mức độ tuân thủ pháp luật thuế của doanh nghiệp, được tính bằng tỷ lệ giữa số hồ sơ quyết toán thuế đã nộp trong năm so với tổng số hồ sơ cần nộp Chỉ tiêu này càng gần 100% thì chứng tỏ doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế tốt hơn.
Tỷ lệ nộp hồ sơ khai QT thuế (%) = Số hồ sơ QT cơ quan thuế nhận đƣợc x 100 Tổng số hồ sơ QT phải nộp
Số hồ sơ khai quyết toán thuế đã nộp là chỉ tiêu tổng hợp trong một năm, phản ánh tổng số hồ sơ khai quyết toán thuế mà cơ quan thuế đã tiếp nhận Chỉ tiêu này thể hiện quy mô doanh nghiệp trong việc thực hiện nghĩa vụ khai thuế.
Tỷ lệ hồ sơ khai quyết toán thuế nộp quá hạn (%) là chỉ tiêu phản ánh tỷ lệ hồ sơ khai quyết toán thuế doanh nghiệp nộp muộn trong một năm so với tổng số hồ sơ đã nộp Chỉ tiêu này càng gần 0% thì chứng tỏ doanh nghiệp tuân thủ pháp luật thuế càng tốt.
Tỷ lệ hồ sơ QT nộp quá hạn (%) = Số hồ sơ QT nộp quá hạn x 100 Tổng số hồ sơ QT cơ quan thuế nhận đƣợc
Số hồ sơ QT nộp quá hạn là chỉ tiêu phản ánh tổng số hồ sơ khai thuế QT nộp muộn trong một năm, cho thấy quy mô của doanh nghiệp liên quan đến việc nộp hồ sơ khai thuế không đúng thời hạn.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Đặc điểm doanh nghiệp trên địa bàn thuộc sự quản lý của văn phòng cục thuế tỉnh thái bình
LÝ CỦA VĂN PHÒNG CỤC THUẾ TỈNH THÁI BÌNH
4.1.1 Tình hình phát triển của các doanh nghiệp và phân cấp quản lý của Cục Thuế tỉnh Thái Bình
Trong những năm gần đây, tỉnh Thái Bình đã chứng kiến sự hội nhập và phát triển kinh tế mạnh mẽ Chính sách mở cửa kinh tế của Nhà nước đã tạo điều kiện cho hàng trăm doanh nghiệp mới ra đời mỗi năm, đồng thời có sự chuyển dịch rõ nét trong cơ cấu doanh nghiệp Số lượng doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tập thể đang giảm, trong khi đó, doanh nghiệp thuộc khu vực dân doanh phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ.
Thái Bình hiện có khoảng 4.000 doanh nghiệp với các ngành nghề đa dạng, tập trung vào những lĩnh vực mạnh như dệt may, sản xuất vật liệu xây dựng, xây dựng công trình, cơ khí, vận tải biển và nông nghiệp Các doanh nghiệp này đóng góp quan trọng vào sự tăng trưởng GDP của tỉnh, đạt trên 8% trong những năm qua, đồng thời tạo ra hơn 8.000 tỷ đồng cho ngân sách và hàng vạn việc làm Nhiều doanh nghiệp lớn duy trì tốc độ sản xuất và nộp ngân sách tăng, như Tập đoàn Hương Sen nộp 703 tỷ đồng năm 2017, tăng 76 tỷ đồng so với năm 2016, và Công ty Hải Hà nộp 239 tỷ đồng, tăng so với năm 2013.
Trong năm 2017, tỉnh Thái Bình ghi nhận nhiều đóng góp tài chính đáng kể từ các doanh nghiệp, với tổng số tiền nộp lên tới 213 tỷ đồng Trong đó, Chi nhánh Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân tại Thái Bình đã nộp 60 tỷ đồng, trong khi Công ty Cổ phần Bia Hà Nội - Thái Bình cũng đóng góp 71 tỷ đồng, tăng 5 tỷ đồng so với năm trước Đặc biệt, hai dự án Nhiệt điện 1 và 2 đã nộp hơn 200 tỷ đồng, góp phần quan trọng vào ngân sách tỉnh.
Tính đến ngày 31/12/2017, tỉnh Thái Bình có 1.867 doanh nghiệp (DN) được quản lý bởi Văn phòng Cục thuế, chiếm khoảng 23,97% tổng số DN trên toàn tỉnh Số lượng DN đã tăng trưởng mạnh mẽ trong những năm gần đây, với tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2015 - 2017 đạt 4,42%, trong đó DN do Văn phòng Cục thuế quản lý tăng 3,97% Điều này cho thấy sự phát triển tích cực của các DN tại tỉnh Thái Bình.
Bảngd4.1 Số lƣợng DN trên địa bàn tỉnh Thái Bình theo cơ quan thuế quản lý
Cơ quan thuế quản lý
Số doanh nghiệp (DN) So sánh (%)
VP Cục Thuế tỉnh 1.727 1.784 1.867 103,30 104,45 103,97 CCT Thành phố 11.976 12.440 13.271 103,87 106,26 105,27 CCT Quỳnh Phụ 3.207 3.430 3.536 106,95 103,00 105,00
CCT Thái Thụy 5.080 5.243 5.409 103,21 103,07 103,19 CCT Đông Hưng 5.409 5.760 5.880 106,49 102,04 104,26
Nguồn: Cục Thuế tỉnh Thái Bình
Bảnge4.2 Số lƣợng doanh nghiệp theo hình thức sở hữu do Văn phòng Cục
Thuế tỉnh Thái Bình quản lý
Loại hình Số doanh nghiệp So sánh (%)
Trong những năm tới, số lượng doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Bình, do Cục thuế quản lý, dự kiến sẽ tăng nhanh hơn nhờ vào sự ổn định trong tăng trưởng kinh tế và xu hướng hội nhập Giai đoạn 2015-2017, số lượng doanh nghiệp do văn phòng Cục thuế quản lý đã tăng mạnh, đặc biệt là các công ty TNHH với tỷ lệ tăng 5,49% và doanh nghiệp nhà nước với tỷ lệ 5,44% Sự tăng trưởng này mở ra cơ hội cho ngành thuế tỉnh Thái Bình, giúp mở rộng cơ sở thuế tiềm năng và gia tăng nguồn thu cho ngân sách địa phương.
Sự gia tăng nhanh chóng về số lượng doanh nghiệp và thuế thu được từ các doanh nghiệp đang tạo ra thách thức lớn cho công tác quản lý thuế Tuy nhiên, đây chỉ là một khía cạnh phức tạp về số lượng và giá trị Trong hiện tại và tương lai, ngành thuế Thái Bình còn phải đối mặt với sự đa dạng của doanh nghiệp theo nhiều tiêu chí khác nhau, đặc biệt là sự khác biệt về quy mô doanh nghiệp.
4.1.2 Kết quả thu thuế TNDN từ các doanh nghiệp do Văn phòng Cục thuế tỉnh quản lý
Trong những năm qua, ngành thuế Thái Bình đã đối mặt với nhiều khó khăn trong việc thực hiện dự toán thu ngân sách, đặc biệt là trong bối cảnh sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ, phục hồi chậm Mặc dù số doanh nghiệp ngừng hoạt động và tạm nghỉ vẫn cao, một số nguồn thu lớn cũng sụt giảm Tuy nhiên, nhờ sự lãnh đạo sâu sát từ Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, và các cấp chính quyền địa phương, cùng với nỗ lực vượt khó của doanh nghiệp và quyết tâm của cán bộ ngành thuế, nhiệm vụ công tác thuế giai đoạn 2015 - 2017 đã đạt được những kết quả nhất định.
Tổng số thu ngân sách năm 2016 đạt 8.245.612 triệu đồng, tăng so với 4.667.263 triệu đồng năm 2015 Năm 2017, tỷ lệ tăng thu ngân sách của tỉnh đạt 87,7% so với năm 2016, vượt dự toán Bộ Tài chính giao 961,1 tỷ đồng Từ 2015 đến 2017, số thu ngân sách tăng với tốc độ bình quân hàng năm là 22,97% Tuy nhiên, số thu từ khối doanh nghiệp nhà nước giảm 10,75%, trong khi số thu của DNNN do văn phòng cục thuế quản lý cũng giảm 10,83%, với thuế TNDN giảm 13,15% Ngược lại, doanh nghiệp đầu tư nước ngoài do văn phòng cục thuế quản lý có số thu ngân sách tăng 12,78%, mặc dù thuế TNDN lại giảm 0,22%.
Trong kỳ, mặc dù số lượng doanh nghiệp tăng, nhưng thu ngân sách năm 2017 lại giảm so với năm 2016 Nguyên nhân chính là do sự giảm sút trong các khoản thu đột biến từ thuế nhà thầu của dự án Nhà máy nhiệt điện Thái Bình và thuế bảo vệ môi trường từ một số doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp vẫn chưa có ý thức tuân thủ pháp luật thuế cao, dẫn đến tốc độ tăng thu ngân sách không tương xứng với số lượng doanh nghiệp tăng lên.
Bảngf4.3 Tổng hợp kết quả thực hiện thu ngân sách tỉnh Thái Bình
Chỉ tiêu Thu ngân sách các năm (tr.đ) So sánh
I Thu nội địa do ngành thuế quản lý 4.381.738 7.692.606 6.830.915 124,86
1 Khu vực Doanh nghiệp Nhà nước 406.860 525.666 324.088 89,25
1.1 DNNN do trung ương quản lý 145.696 161.567 77.398 72,89
1.2 DNNN do địa phương quản lý 261.164 364.098 246.690 97,19
2 Thu từ DN có vốn ĐTNN 218.152 459.661 277.483 112,78
3 Thu từ xổ số kiến thiết 35.164 37.040 38.223 104,26
4 Thuế Công thương nghiệp dịch vụ
9 Thuế bảo vệ môi trường 575.420 3.013.256 1.757.105 174,75
Nguồn: Cục thuế tỉnh Thái Bình
Theo thống kê của Cục thuế Thái Bình, tính đến ngày 31/12/2017, có 45.990 doanh nghiệp đăng ký kê khai nộp thuế, trong đó Văn phòng Cục Thuế có 1.867 doanh nghiệp Mặc dù số lượng doanh nghiệp lớn, nhưng phần lớn là nhỏ và rất nhỏ, dẫn đến hiệu quả quản lý tuân thủ thuế chưa cao Tỷ trọng số thu ngân sách Nhà nước trên mỗi doanh nghiệp thấp, do vốn ít, trình độ quản lý và tiếp cận công nghệ hạn chế Nhiều doanh nghiệp thường bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng và thanh toán bằng tiền mặt, sử dụng sổ sách kế toán đơn giản hoặc không sử dụng Nghiên cứu cho thấy, doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân có mức độ tuân thủ pháp luật thấp, nhưng chi phí cho việc tuân thủ về thời gian và tiền bạc lại cao hơn so với doanh nghiệp quy mô lớn.
Từ số liệu tổng hợp ở Bảng 4.4, tổng số thu nộp NSNN từ các doanh nghiệp do Văn phòng Cục Thuế tỉnh quản lý đã tăng bình quân 11,1%/năm trong giai đoạn 2015-2017 Trong đó, tỷ lệ thuế TNDN đạt 12,5% (Bảng 4.5), cho thấy sự phát triển ổn định của doanh nghiệp về số lượng và tổng thu nộp NSNN, đặc biệt là thuế TNDN, luôn có xu hướng tăng qua từng năm.
Bảngg4.4 Tổng hợp kết quả thu ngân sách của các DN thuộc VP Cục quản lý
TT Chia theo loại hình DN
Số thu các năm của VP Cục thuế
3 DN ngoài quốc doanh 918.796 1.126.437 1.305.828 122,60 115,93 119,22 a Công ty TNHH 417.297 520.233 611.343 124,67 117,51 121,04 b Công ty Cổ phần 289.755 350.496 402.671 120,96 114,89 117,89 c HTX, tổ chức khác 211.744 255.708 291.814 120,76 114,12 117,39
Nguồn: Báo cáo các khoản thu trên phần mềm báo cáo Thuế năm 2015-2017
Bảngh4.5: Tổng hợp kết quả thu thuế TNDN của các DN thuộc VP Cục quản lý
TT Chia theo loại hình DN
Số thu thuế TNDN các năm của VP Cục thuế (tr.đ) So sánh (%)
3 DN Ngoài quốc doanh 95.877 132.888 173.760 138,60 130,76 134,62 a Công ty TNHH 43.545 61.373 81.348 140,94 132,55 136,68 b Công ty Cổ phần 30.236 41.349 53.581 136,75 129,58 133,12 c HTX, tổ chức khác 22.096 30.166 38.831 136,52 128,72 132,57
Nguồn: Báo cáo các khoản thu trên phần mềm báo cáo Thuế - Cục thuế tỉnh Thái Bình
4.2 THỰC TRẠNG TUÂN THỦ PHÁP LUẬT THUẾ TNDN CỦA DOANH NGHIỆP TẠI CỤC THUẾ TỈNH THÁI BÌNH
4.2.1 Đánh giá chung về tính tuân thủ pháp luật thuế Để đánh giá khách quan về thực trạng của DN, về nhận thức đối với sự tuân thủ pháp luật thuế hiện nay, ta có thể xem xét qua Bảng 4.6 bên dưới, trên cơ sở tổng hợp các thông số cơ bản về nhận thức của DN trên một số nhóm, hành vi; sự đánh giá của chính DN đối với cơ quan thuế qua cách tiếp cận qua chất lượng phục vụ về tiếp xúc làm việc (Thu thuế, hướng dẫn, tuyên truyền, hỗ trợ về thuế, qua công tác kiểm tra thuế )
Bảngi4.6 Tỷ lệ DN ở từng cấp độ tuân thủ thuộc các nhóm doanh nghiệp có đặc điểm hoạt động khác nhau Đặc điểm Doanh nghiệp
Tổng hợp theo các chỉ tiêu (%)
Miễn cƣỡng Từ chối Tổng
Hiểu đầy đủ 1,33 52,00 16,00 10,67 100,00 Hiểu chưa đầy đủ 6,67 26,67 64,00 2,67 100,00 Khó trả lời - 36,00 54,67 9,33 100,00
2- Đặc điểm kế toán thuế
Tuyển dụng dài hạn 4,67 32,00 49,33 4,00 100,00 Thuê khi cần thiết 8,00 32,00 52,00 8,00 100,00 Không có kế toán - 30,67 50,67 18,67 100,00
Từ 5 – 10 năm 10,67 34,67 50,67 4,00 100,00 ít hơn 5 năm 9,33 32,00 49,33 9,33 100,00
4- Chi phí tuân thủ pháp luật thuế
Chi phí hợp lý 14,67 62,67 20,00 2,67 100,00 Chi phí quá cao 8,00 13,33 69,33 9,33 100,00
Nguồn: Tổng hợp các Mục, Phần III theo phiếu khảo sát, điều tra, năm 2017
Nhận thức về sự tuân thủ pháp luật thuế hiện nay còn yếu, với tỷ lệ cam kết thực hiện dưới 15% và tỷ lệ miễn cưỡng lên tới 69,33% Sự tuân thủ phụ thuộc vào tính dài hạn và ngắn hạn của doanh nghiệp, cũng như hoạt động kinh tế hiện tại Hiểu biết về pháp luật thuế chưa đồng đều, dẫn đến nhiều hạn chế trong việc tuân thủ Để nâng cao tính tuân thủ pháp luật thuế của doanh nghiệp, các nội dung liên quan sẽ được trình bày trong các phần tiếp theo.
4.2.2 Tuân thủ việc đăng ký thuế của doanh nghiệp Đối với DN trên địa bàn nghiên cứu vẫn còn tình trạng DN đã được cấp đăng ký kinh doanh, đã đăng ký thuế nhưng thay đổi địa điểm trụ sở, địa điểm kinh doanh hoặc kinh doanh nhưng không kê khai nộp thuế, bỏ trốn khỏi địa bàn mà cơ quan thuế không kiểm soát được Thực trạng trên được thấy qua số liệu thống kê ở Bảng 4.7 số lượng DN đã thực hiện nộp bản đăng ký thuế giai đoạn 2015-2017
Bảngj4.7 Số hồ sơ đăng ký thuế đƣợc tiếp nhận qua cơ quan thuế
TT Tên loại HS tiếp nhận
1 Hồ sơ đăng ký thuế 1.574 1.622 1.718 103,05 105,92 104,47
2 Hồ sơ sửa thông tin đăng ký thuế 38 45 20 118,42 44,44 72,55
3 Hồ sơ điều chỉnh vốn 61 55 38 90,16 69,09 78,93
4 Hồ sơ đăng ký thuế chuyển địa điểm KD 6 5 8 83,33 160,00 115,47
5 Hồ sơ đăng ký thuế mới 48 57 83 118,75 145,61 131,50
Nguồn: Báo cáo thống kê trên phần mềm tiếp nhận hồ sơ kê khai thuế - Cục thuế TB
Số liệu từ Bảng 4.7 cho thấy, trong giai đoạn 2015 - 2017, số lượng hồ sơ đăng ký thuế của doanh nghiệp (DN) tăng trung bình gần 4,5% mỗi năm, trong khi số hồ sơ sửa thông tin đăng ký thuế giảm 27,45% và điều chỉnh vốn giảm 21,07% Điều này phản ánh sự nâng cao chất lượng tuân thủ pháp luật thuế trong việc đăng ký thuế, cũng như sự hiểu biết về pháp luật thuế và hiệu lực thực thi của các văn bản liên quan Tuy nhiên, vẫn còn nhiều DN chưa chấp hành tốt, với tính tuân thủ còn mang tính tự phát và chưa nhận thức đầy đủ về nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật thuế hiện hành.
Các yếu tố ảnh hưởng đến tính tuân thủ pháp luật thuế tndn của doanh nghiệp75 1 Yếu tố khách quan
4.3.1.1 Nhóm yếu tố về tình hình kinh tế - xã hội
Trong bối cảnh kinh tế - xã hội đất nước và tỉnh đang dần cải thiện, đời sống nhân dân được nâng cao, các điều kiện kinh tế vĩ mô ổn định với tỷ lệ lạm phát và lãi suất ngân hàng hợp lý, đã tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh Các cơ chế thu hút đầu tư của tỉnh đã góp phần tích cực vào việc nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật thuế của doanh nghiệp Theo khảo sát, 21,33% doanh nghiệp cho rằng tình hình kinh tế gần đây quá khó khăn, ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh, trong khi 2,67% doanh nghiệp nhận định rằng các chuẩn mực xã hội, dư luận và danh tiếng là yếu tố quan trọng tác động đến việc tuân thủ pháp luật thuế.
4.3.1.2 Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý trên địa bàn
Sự phối hợp trong quản lý thu thuế giữa các cơ quan hữu quan ngày càng chặt chẽ, đặc biệt là trong việc cung cấp và trao đổi thông tin Điều này giúp CQT vận hành bộ máy quản lý hiệu quả hơn Hiện nay, việc trao đổi thông tin trực tuyến với Sở Kế hoạch và Đầu tư về thông tin NNT trong cơ chế “một cửa” liên thông, cũng như việc trao đổi chứng từ qua hệ thống TABMIS giữa thuế và kho bạc, và thông tin xuất nhập khẩu cùng nợ thuế với Cục Hải quan, là những ví dụ điển hình cho sự cải tiến này.
Hộpa4.1 Tác động của xã hội đến thực hiện nghĩa vụ với ngân sách
Hiện nay, các doanh nghiệp lớn và uy tín trên thị trường thường là những đơn vị nộp thuế đúng hạn, nhờ vào kinh nghiệm tuân thủ lâu năm và tỷ lệ đóng góp cao vào ngân sách nhà nước Để duy trì hình ảnh tích cực trong mắt người tiêu dùng và cơ quan thuế, các doanh nghiệp này lựa chọn tuân thủ pháp luật Việc không tuân thủ luật thuế có thể mang lại lợi ích ngắn hạn, nhưng nếu bị phát hiện, doanh nghiệp sẽ mất đi lòng tin từ cơ quan thuế và khách hàng sẽ tránh xa sản phẩm của họ Do đó, chuẩn mực xã hội có ảnh hưởng lớn đến tính tuân thủ thuế, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp quy mô lớn.
Bà Nguyễn Thị Thủy - Phó trưởng Phòng Kê khai - Kế toán thuế, Cục Thuế tỉnh Thái Bình
4.3.1.3 Yếu tố chính trị, luật pháp
Cải cách chính sách thuế ở Việt Nam trong những năm qua đã đạt nhiều thành tựu quan trọng, nhưng vẫn tồn tại hạn chế ảnh hưởng đến tính tuân thủ của doanh nghiệp Hệ thống pháp luật thuế hiện nay chưa đảm bảo công bằng xã hội về nghĩa vụ thuế, với quy định phức tạp và thường xuyên thay đổi, gây khó khăn trong việc áp dụng thực tiễn Điều này dẫn đến tình trạng doanh nghiệp phải "rượt đuổi theo văn bản" Do đó, việc đơn giản hóa các văn bản pháp luật và thủ tục tuân thủ thuế là vấn đề cần được ưu tiên trong cải cách thuế hiện nay.
Hộpb4.2 Sự phối hợp với các sở ban ngành trong quản lý thu
Việc thực hiện quy chế phối hợp “một cửa” liên thông với Sở Kế hoạch và Đầu tư trong cấp mã số doanh nghiệp đã giúp tăng tốc độ cấp mã số thuế cho doanh nghiệp mới, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng Tuy nhiên, sự không nhất quán trong việc cập nhật dữ liệu giữa cơ quan thuế và Sở Kế hoạch và Đầu tư, như vấn đề về vốn đăng ký và ngày hoạt động, đang gây khó khăn cho người nộp thuế trong việc thực hiện nghĩa vụ khai thuế.
Hộpc4.3 Ảnh hưởng của nhân tố chính sách, pháp luật
Ưu đãi thuế TNDN cho các nhóm đối tượng chính sách xã hội như doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động là người dân tộc thiểu số, người tàn tật, thương bệnh binh và lao động nữ cần được xem xét lại, vì việc miễn giảm thuế không mang lại kết quả như mong muốn và có thể gây phức tạp trong thực thi chính sách Thực tế cho thấy, miễn giảm thuế chỉ có ý nghĩa khi doanh nghiệp có nghĩa vụ nộp thuế, còn khi không phát sinh thuế hoặc có mức thuế khác nhau, sự ưu đãi sẽ không công bằng Hệ thống chính sách thuế hiện tại chưa bao quát hết đối tượng chịu thuế, dẫn đến tình trạng một số doanh nghiệp cho rằng việc đánh thuế chưa chính xác và công bằng, khi những người nộp thuế có thu nhập tương đương lại phải nộp số thuế khác nhau, gây ra hành vi không tuân thủ ngày càng gia tăng.
Bà Nguyễn Thị Hoa - Trưởng Phòng TTHT, Cục Thuế tỉnh Thái Bình
4.3.1.4 Sự phát triển của dịch vụ liên quan đến quá trình tuân thủ pháp luật thuế TNDN Để hiểu một cách cặn kẽ và thực hiện đúng đắn các quy định của chính sách thuế là một vấn đề không phải đơn giản đối với các đối tượng nộp thuế Hiện nay, các cơ quan thuế đều đã cung cấp các dịch vụ công tuyên truyền hỗ trợ NNT miễn phí Tuy nhiên do là dịch vụ công nên chỉ dừng ở mức hỗ trợ, với NNT cần cụ thể và chi tiết hơn thì cần phải có dịch vụ tư vấn thuế do các tổ chức tư nhân cung cấp nhằm giúp hỗ trợ các đối tượng nộp thuế từ khâu đăng ký, kê khai nộp thuế, lập sổ sách kế toán, chứng từ hóa đơn về thuế, tính toán mức thuế và các khoản thuế phải nộp Trên địa bàn nghiên cứu hiện nay đã có một số DN làm dịch vụ tư vấn thuế, chủ yếu là phục vụ các DN tư nhân, công ty TNHH có quy mô nhỏ, không có kế toán mà chỉ có cán bộ thống kê Hoạt động của các DN làm công tác tư vấn thuế cũng góp phần nâng cao ý thức chấp hành chính sách pháp luật, chấp hành nghĩa vụ thuế với Nhà nước của các đối tượng nộp thuế, góp phần nâng cao tính khả thi của chính sách thuế
4.3.2.1 Về phía doanh nghiệp a Quy mô, loại hình sở hữu và thời gian hoạt động
Quy mô và loại hình sở hữu doanh nghiệp ảnh hưởng lớn đến mức độ tuân thủ pháp luật thuế Tại Thái Bình, phần lớn doanh nghiệp thuộc nhóm vừa và nhỏ, đây là nhóm có mức độ quản lý kinh tế và tuân thủ pháp luật thuế còn hạn chế.
Hộpd4.4 Sai sót trong kê khai quyết toán thuế TNDN
Sai sót trong kê khai quyết toán thuế hiện nay chủ yếu không phải do cố ý của doanh nghiệp, mà do hiểu biết chưa đầy đủ về thuế TNDN, dẫn đến việc kê khai doanh thu và chi phí không chính xác, đặc biệt là với các nghiệp vụ không thường xuyên Tại Thái Bình, nhiều doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ có kế toán với trình độ hạn chế và thường kiêm nhiệm nhiều công việc, trong khi dịch vụ tư vấn thuế giá cả hợp lý chưa phát triển Ví dụ, doanh nghiệp mua tài sản cố định từ nước ngoài nhưng không kê khai thuế TNDN đối với nhà thầu nước ngoài do không biết quy định này Hơn nữa, doanh nghiệp thường ngại hoặc không muốn nhận hỗ trợ từ cơ quan thuế và gặp khó khăn trong việc tìm kiếm dịch vụ tư vấn thuế Ông Nguyễn Cảnh Tĩnh, Trưởng Phòng Kiểm tra 1, Cục Thuế tỉnh Thái Bình, cho biết rằng hoạt động kinh doanh còn nhỏ lẻ và có những hạn chế về hiểu biết nghĩa vụ thuế, dẫn đến khó khăn trong việc tuân thủ pháp luật thuế.
Các doanh nghiệp có chu kỳ hoạt động dài thường tuân thủ tốt hơn so với những doanh nghiệp ngắn hạn, nhờ vào việc tích lũy kiến thức và có hoạt động kế toán chuẩn xác Những doanh nghiệp lâu năm đã xây dựng được lợi thế thương mại, khiến họ không dễ dàng đánh đổi cho một vi phạm có thể ảnh hưởng đến chu kỳ sống của mình Điều này cho thấy rằng, các doanh nghiệp lâu năm thường có tính tuân thủ cao hơn so với các doanh nghiệp mới thành lập Hơn nữa, mức độ hiểu biết về luật thuế, tuân thủ pháp luật thuế, và khả năng đánh giá kế toán thuế của họ cũng được nâng cao.
Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, không có bộ phận kế toán riêng biệt chỉ để ghi nhận và hạch toán các nghiệp vụ kinh tế Thay vào đó, kế toán thường kiêm nhiệm nhiều công việc khác nhau hoặc thuê kế toán ngắn hạn, cũng như sử dụng dịch vụ hỗ trợ kê khai từ các công ty cung cấp dịch vụ kế toán.
Nhiều doanh nghiệp mong muốn tuân thủ pháp luật thuế nhưng gặp khó khăn do năng lực kế toán thuế hạn chế và thiếu thông tin về chính sách thuế Việc nâng cao nhận thức và kiến thức về thuế sẽ giúp doanh nghiệp cải thiện sự tuân thủ pháp luật thuế, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các yêu cầu quản lý thuế một cách đầy đủ và kịp thời Kiến thức về thuế và kế toán thuế cũng sẽ giảm thiểu tình trạng không tuân thủ, cả dự tính và không dự tính.
Hộpe4.5 Ảnh hưởng của quy mô, thời gian hoạt động của doanh nghiệp
Doanh nghiệp nhỏ và mới thường có tư duy ngắn hạn, dẫn đến hành vi và nhận thức bộc phát, bị ảnh hưởng bởi lợi ích ngắn hạn Điều này có thể gây ra sự không tuân thủ trong hoạt động kinh doanh, đặc biệt là trong lĩnh vực kế toán, do thiếu kiến thức và kinh nghiệm tích lũy.
Hiện nay, nhiều doanh nghiệp nhỏ, đặc biệt là công ty TNHH và công ty CP, chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của bộ phận kế toán và kế toán thuế Họ thường coi kế toán chỉ là một công cụ đơn giản, dẫn đến việc ghi chép không khách quan và thiếu chính xác các nghiệp vụ kinh tế Theo khảo sát, 24% doanh nghiệp cho rằng năng lực của bộ phận kế toán còn hạn chế trong việc thực hiện các thủ tục thuế như đăng ký mã số, kê khai và nộp thuế, cùng với yêu cầu lưu giữ sổ sách kế toán, ảnh hưởng đến tính tuân thủ pháp luật thuế.
Bảng 4.22 Yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế
TT Yếu tố ảnh hưởng Tỉ lệ số DN
1 Tình hình kinh tế trong những năm gần đây quá khó khăn, dẫn đến tình hình SXKD của DN gặp nhiều bất lợi 21,33
2 Do những chuẩn mực xã hội, dư luận, danh tiếng tác động 2,67
3 Do chính sách thuế quá rườm rà, phức tạp dẫn đến chi phí tuân thủ thuế cao 17,33
Bộ phận kế toán của doanh nghiệp hiện vẫn còn hạn chế trong năng lực kê khai và thực hiện các thủ tục tuân thủ thuế, bao gồm việc đăng ký mã số thuế, kê khai và nộp thuế, cũng như các yêu cầu về lưu giữ sổ sách kế toán.
5 Số thuế phải nộp cộng với chi phí tuân thủ thuế quá lớn, trở thành gánh nặng tài chính cho đơn vị 14,67
6 Trình độ, chất lượng công tác quản lý thuế của Nhà nước chưa cao, cán bộ thuế chưa đối xử công bằng với 6,67
Nguồn: Số liệu điều tra (2017) c Chi phí cần thiết để tuân thủ pháp luật thuế của DN
Chi phí tuân thủ pháp luật thuế cao là tình trạng xảy ra phổ biến ở các
Một số giải pháp nhằm nâng cao tính tuân thủ pháp luật thuế của các doanh nghiệp tại cục thuế tỉnh thái bình
4.4.1 Đánh giá chung về tuân thủ thuế của doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Thái Bình
Năm 2017, mặc dù tình hình kinh tế – chính trị thế giới phức tạp ảnh hưởng đến tăng trưởng và hiệu quả sản xuất, ngành thuế Thái Bình đã nỗ lực hoàn thành vượt mức nhiệm vụ công tác thuế Tổng thu ngân sách nội địa đạt 7.057 tỷ đồng, vượt 116,52% dự toán (dự toán tỉnh giao: 6.057 tỷ đồng) Văn phòng Cục Thuế cũng đạt tổng thu 4.675 tỷ đồng, vượt 102,77% dự toán (dự toán tỉnh giao: 4.549 tỷ đồng), góp phần tích cực vào cân đối thu chi của tỉnh.
Ngành thuế Thái Bình đã đạt nhiều chỉ tiêu vượt mức cao, như thu tiền sử dụng đất đạt 183,76%, thuế phi nông nghiệp 219,57%, tiền thuê đất 200,24%, và thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản 451,59% Tuy nhiên, một số chỉ tiêu vẫn không hoàn thành kế hoạch, cụ thể thuế bảo vệ môi trường chỉ đạt 93,46% và thuế thu nhập doanh nghiệp đạt 90,06% so với dự toán được giao.
Có được kết quả trên là do một số nguyên nhân sau:
Nhờ vào các chính sách tích cực của Nhà nước và sự chỉ đạo sát sao từ Bộ Tài chính cùng Tổng cục Thuế, công tác quản lý thu đã được cải thiện đáng kể Sự phối hợp hiệu quả giữa HĐND, UBND và các sở, ban ngành địa phương cũng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả quản lý thu ngân sách.
Năm 2017, cán bộ thuế đã nỗ lực làm việc một cách khoa học, tập trung vào quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp với mục tiêu rõ ràng và tính thống nhất Họ đã cập nhật đầy đủ thông tin về vốn, ngành nghề kinh doanh và số lao động của các doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả quản lý thuế Đồng thời, việc triển khai công nghệ thông tin và thực hiện quy trình kê khai, nộp thuế được chú trọng, đặc biệt là công tác kiểm tra và giám sát Cán bộ thuế cũng tăng cường thu hồi nợ thuế, phát động phong trào thi đua và tuyên truyền chính sách thuế, hỗ trợ người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ với nhà nước Họ phối hợp chặt chẽ với các ban ngành như sở kế hoạch - đầu tư, sở tài nguyên môi trường và kho bạc để quản lý hiệu quả các nguồn thu phát sinh.
- Ý thức chấp hành luật thuế của NNT: Việc chấp hành luật thuế TNDN ở các
DN năm 2017 nói chung có phần khởi sắc Một số doanh nghiệp khi bị phát hiện vi phạm đã nhanh chóng chấp hành những quyết định xử lý do cơ quan thuế ban hành và không có biểu hiện chống đối, tái phạm
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác quản lý hoạt động thu thuế đối với các DN do Cục thuế quản lý còn có những tồn tại nhất định Cụ thể:
Một trong những hạn chế của công tác lập dự toán thu là chưa phản ánh sát với biến động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, dẫn đến sự không chính xác trong dự báo nguồn thu Bên cạnh đó, công tác chỉ đạo và quản lý nguồn thu cũng còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn Điều này đòi hỏi cần có sự điều chỉnh và cải thiện để nâng cao hiệu quả của công tác lập dự toán thu và quản lý nguồn thu.
- Trong điều kiện các DN luôn tìm cách trốn thuế, nợ thuế, không chấp hành nghiêm chỉnh nghĩa vụ thuế thì hoạt động cưỡng chế thuế lại kém hiệu quả do cưỡng chế nợ thuế hiện nay được quy định có 7 biện pháp tại điểm 26 Điều 1 Luật số 21/2012/QH13 là khó thực hiện vì phải thực hiện lần lượt các biện pháp
- Việc đăng ký thuế, quản lý thông tin người nộp thuế còn gặp một số khó khăn: Phần lớn các DN khi có thay đổi thông tin đăng ký thuế không đến cơ quan chức năng để khai bổ sung thông tin Có hiện tượng các DN cố tình chậm đăng ký nộp thuế so với quy định hoặc chưa đăng ký thuế nhưng vẫn tiến hành sản xuất kinh doanh và có lợi nhuận
- Về kê khai nộp thuế TNDN: Nhìn chung các DN tại văn phòng Cục đều chấp hành việc nộp tờ khai thuế đúng hạn, tuy nhiên vẫn còn tình trạng nộp chậm tờ khai thuế, cá biệt có trường hợp không nộp và khi được nhắc nhở, đôn đốc thì mới nộp một lúc nhiều tờ khai thuế, gây khó khăn cho các cán bộ thuế trong thực hiện quy trình quản lý thu thuế như: ra thông báo thuế, đôn đốc nộp thuế, kiểm tra, thanh tra thuế
Các doanh nghiệp có các chi nhánh thực hiện hạch toán phụ thuộc thì chi nhánh đó không phải nộp thuế TNDN ở địa bàn hoạt động mà nộp thuế TNDN ở công ty mẹ, vì thế cán bộ thuế sẽ không có điều kiện để đi sâu, đi sát kiểm tra tính trung thực của các số liệu được kê khai, ảnh hưởng trực tiếp tới thu nhập chịu thuế
Sự phối hợp giữa các phòng ban tại văn phòng Cục thuế vẫn còn hạn chế, dẫn đến tình trạng đùn đẩy trách nhiệm và bỏ sót nguồn thu Nguyên nhân chính là do sự phân chia quản lý theo lĩnh vực, khiến cho các đơn vị không có sự liên kết chặt chẽ, gây ra lỗ hổng trong quản lý thuế Điều này đòi hỏi cần có sự cải thiện và tăng cường phối hợp giữa các phòng ban để đảm bảo thu đúng, thu đủ và chống thất thu thuế.
Hoạt động tuyên truyền, tư vấn và hỗ trợ người nộp thuế đang gặp phải một số hạn chế, đặc biệt là trình độ của cán bộ tư vấn còn chưa đáp ứng được nhu cầu tư vấn ngày càng lớn của doanh nghiệp Đồng thời, trách nhiệm pháp lý của cán bộ tư vấn khi cung cấp thông tin sai lệch cho doanh nghiệp vẫn chưa được quy định rõ ràng, gây khó khăn cho cả hai bên.
- Những năm gần đây thanh tra, kiểm tra tại Văn phòng Cục đã được tăng cường nhưng số lượng DN được thanh tra, kiểm tra còn ít, chất lượng thanh tra còn hạn chế Việc kết hợp giữa kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm về thuế với giáo dục, tuyên truyền, tư vấn thuế chưa được coi trọng Bên cạnh đó, thông tin về dữ liệu
DN, tình hình chấp hành pháp luật thuế của DN, trang thiết bị phục vụ cho thanh tra kiểm tra còn thiếu
Công nghệ tin học phục vụ quản lý thuế đã được tăng cường, tuy nhiên trình độ của cán bộ trong việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý thuế vẫn còn hạn chế Điều này dẫn đến nhiều khâu quản lý thuế vẫn còn thực hiện thủ công, trùng lặp và cần được hiện đại hóa, đổi mới để nâng cao hiệu quả và hiệu suất quản lý thuế.