1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công đoàn cơ sở trên địa bàn thành phố sông công, tỉnh thái nguyên

107 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • TRANG BÌA

  • MỤC LỤC

  • TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

  • PHẦN 1. MỞ ĐẦU

    • 1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

    • 1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

      • 1.2.1. Mục tiêu chung

      • 1.2.2. Mục tiêu cụ thể

    • 1.3. ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

      • 1.3.1. Đối tượng nghiên cứu

      • 1.3.2. Phạm vi nghiên cứu.

    • 1.4. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC

  • PHẦN 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

    • 2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN

      • 2.1.1. Các khái niệm

        • 2.1.1.1. Khái niệm Công đoàn

        • 2.1.1.2. Cán bộ Công đoàn cơ sở

        • 2.1.1.3. Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ CĐCS

      • 2.1.2. CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ

        • 2.1.2.1. Quan điểm xác định chất lượng cán bộ CĐCS

        • 2.1.2.2. Căn cứ xác định tiêu chuẩn cán bộ CĐCS

      • 2.1.3. NỘI DUNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ CĐCS

        • 2.1.3.1. Về nhận thức chính trị, phẩm chất đạo đức

        • 2.1.3.2. Về trình độ chuyên môn

        • 2.1.3.3. Về kỹ năng nghề nghiệp

        • 2.1.3.4. Về kinh nghiệm kỹ năng thực hiện nhiệm vụ

        • 2.1.3.5. Về sức khỏe

        • 2.1.3.6. Về mức độ đảm nhận công việc của cán bộ công đoàn

      • 2.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cán bộ công đoàn

        • 2.1.4.1. Các yếu tố khách quan

        • 2.1.4.2. Các nhân tố chủ quan

    • 2.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN

      • 2.2.1. Kinh nghiệm nâng cao chất lượng cán bộ CĐCS ở một số địa phương

        • 2.2.1.1. Kinh nghiệm của tỉnh Vĩnh Phúc

        • 2.2.1.2. Kinh nghiệm của tỉnh Quảng Ninh

      • 2.2.2. Bài học kinh nghiệm rút ra cho Thành phố Sông Công

  • PHẦN 3. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    • 3.1. KHÁI QUÁT VỀ THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG

      • 3.1.1. Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội

      • 3.1.2. Đặc điểm, tình hình lao động trên địa bàn thành phố Sông Công

    • 3.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

      • 3.2.1. Phương pháp thu thập tài liệu

      • 3.2.2. Phương pháp xử lỷ và phân tích số liệu

        • 3.2.2.1. Phương pháp thống kê mô tả

        • 3.2.2.2. Phương pháp so sánh

        • 3.2.2.3 Thu thập tài liệu

        • 3.2.2.4 Xử lý tài liệu

      • 3.2.3. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu

  • PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

    • 4.1. THỰC TRẠNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ CĐCS TẠITHÀNH PHỐ SÔNG CÔNG

      • 4.1.1. Thực trạng tổ chức của Liên đoàn Lao động TP. Sông Công

      • 4.1.2. Thực trạng chất lượng cán bộ CĐCS Thành phố Sông Công

        • 4.1.2.1. Thực trạng số lượng cán bộ CĐCS Thành phố Sông Công

        • 4.1.2.2. Thực trạng chất lượng cán bộ CĐCS Thành phố Sông Công

        • 4.1.2.3. Thực trạng về chất lượng đảm nhận công việc của Cán bộ Công đoàn

      • 4.1.3. Đánh giá chung về thực trạng nâng cao chất lượng cán bộ CĐCS thànhphố Sông Công

        • 4.1.3.1. Đánh giá chất lượng cán bộ CĐCS thành phố Sông Công

    • 4.2. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNGCÁN BỘ CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG

      • 4.2.1. Ảnh hưởng của các nhân tố khách quan

      • 4.2.2. Ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan

    • 4.3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ CĐCS THÀNHPHỐ SÔNG CÔNG TRONG THỜI GIAN TỚI

      • 4.3.1. Quan điểm nâng cao chất lượng cán bộ CĐCS thành phố Sông Công

      • 4.3.2. Định hướng nâng cao chất lượng cán bộ CĐCS thành phố Sông Công

      • 4.3.3. Mục tiêu nâng cao chất lượng cán bộ CĐCS thành phố Sông Công

      • 4.3.4. Giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ CĐCS thành phố Sông Công

        • 4.3.4.1. Hoàn thiện tiêu chuẩn cho chức danh cán bộ CĐCS thành phốSông Công

        • 4.3.4.2. Nâng cao chất lượng quy hoạch cán bộ CĐCS làm căn cứ cho đào tạo,bồi dưỡng, đánh giá cán bộ CĐCS

        • 4.3.4.3. Nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ công đoàncho cán bộ CĐCS

        • 4.3.4.4.Các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có chính sách bố trí sử dụng hợplý và quỹ thời gian hoạt động cho cán bộ CĐCS

        • 4.3.4.5. Hoàn thiện chế độ đãi ngộ và công tác khen thưởng với cán bộ CĐCS

  • PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

    • 5.1. KẾT LUẬN

    • 5.2. KIẾN NGHỊ

      • 5.2.1. Kiến nghị với nhà nước

      • 5.2.2. Kiến nghị với tỉnh Thái Nguyên

      • 5.2.3. Kiến nghị đề xuất với lãnh đạo thành phố Sông Công

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • PHỤ LỤC

Nội dung

Kết quả chính và kết luận Nghiên cứu góp phần hệ thống hóa các lý luận, phân tích, đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ CĐCS thành phố Sông Công, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

CƠ SỞ LÝ LUẬN

Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (Điều 10, Hiến pháp 2013)

Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động, được thành lập trên cơ sở tự nguyện, là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đại diện cho cán bộ, công chức, viên chức, công nhân và những người lao động khác (sau đây gọi chung là người lao động), cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội, tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp; tuyên truyền, vận động người lao động học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (Điều 1 Luật công đoàn năm 2012)

2.1.1.2 Cán bộ Công đoàn cơ sở

* Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cán bộ công đoàn

Cán bộ công đoàn là người đem chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước tuyên truyền cho nhân dân, cán bộ, đoàn viên, hội viên hiểu rõ và thi hành, đồng thời tập hợp những vướng mắc của đông đảo nhân dân, đoàn viên, hội viên phản ánh lại cho Đảng và Nhà nước để Đảng và Nhà nước định ra chính sách cho đúng Cán bộ đóng vai trò then chốt trong việc thực hiện đường lối và nhiệm vụ chính trị

Là người sớm tham gia phong trào công nhân, dày công nghiên cứu phong trào công đoàn, Bác Hồ đã cụ thể hóa phương pháp hoạt động công đoàn bằng phương châm dễ nhớ, dễ làm “ Cán bộ công đoàn phải cùng ăn, ở, làm việc và bàn bạc với công nhân” Đó là phong cách cần có của cán bộ công đoàn mà Bác đã rút ra từ thực tiễn đào tạo, rèn luyện cán bộ cách mạng, cán bộ làm công tác vận động quần chúng Bởi theo Bác “Cán bộ công đoàn phải nắm vững chính sách của Đảng, đi đúng đường lối quần chúng, lãnh đạo phải dân chủ, phải cùng công nhân đồng cam cộng khổ, phải hòa mình với công nhân thành một khối, phải gương mẫu Cán bộ công đoàn phải hiểu biết sản xuất, đời sống, nguyện vọng của công nhân, lao động, phải hiểu biết chính sách của Đảng, phải hiểu quản lý kinh tế, khoa học kỹ thuật…” Mọi việc công đoàn làm phải vì lợi ích của người lao động, mục đích của công đoàn là phải cải thiện dần đời sống công nhân, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa của giai cấp công nhân nói riêng và nhân dân lao động nói chung Lời chỉ dẫn ân cần của Bác với cán bộ công đoàn cần: Phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm, chứ không phải nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh (Hồ Chí Minh Toàn tập, NXB CTQG, H.2000, Tập 12, trang 568)

Chính vì vậy, Bác quan niệm cán bộ công đoàn “Phải giỏi cả về chính trị, thành thạo về kinh tế” thì mới lãnh đạo được đội ngũ công nhân ngày càng phát triển lại có trình độ cả về tư tưởng văn hóa, kỹ thuật “Cán bộ công đoàn phải tham gia lao động gần gũi công nhân, viên chức”, phải biết dựa vào quần chúng, phát huy sức sáng tạo của quần chúng, học tập kinh nghiệm của quần chúng… thì mới làm tròn được nhiệm vụ của mình Cán bộ công đoàn là trung tâm của đoàn kết, phải có trách nhiệm cao, vì lợi ích giai cấp, vì lợi ích cách mạng “ Muốn giáo dục tốt công nhân, trước hết đội ngũ cán bộ công đoàn phải đoàn kết nhất trí Phải kiên quyết xây dựng cho được sự đoàn kết nhất trí trong hệ thống Công đoàn…” (Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG, H.2000, Tập 12, trang 568, 569 )

Cán bộ công đoàn cần phải tích cực không ngừng để nâng cao trình độ về mọi mặt Người nói: “Kinh tế của nước ta ngày càng phát triển, hàng ngũ công nhân ngày càng đông Muốn làm tròn nhiệm vụ của mình thì cán bộ công đoàn phải cố gắng học tập vươn lên để không ngừng tiến bộ Có học tập mới hiểu được khoa học, có hiểu được khoa học mới tổ chức được phong trào” (Phạm Thị Tuyết Minh, năm 2016)

Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, Nhà nước đã ban hành các chính sách, luật pháp liên quan đến giai cấp công nhân, tổ chức Công đoàn và cán bộ công đoàn như: Luật Lao động, Luật Công đoàn Trong đó xác định rõ cán bộ công đoàn

* Theo Điều 5, Điều lệ Công đoàn Việt Nam: “Cán bộ công đoàn là người đảm nhiệm chức danh từ tổ phó công đoàn trở lên thông qua bầu cử tại đại hội hoặc hội nghị công đoàn; được cấp công đoàn có thẩm quyền chỉ định, công nhận, bổ nhiệm vào các chức danh cán bộ công đoàn hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ chức Công đoàn” (Điều lệ Công đoàn Việt Nam, Nhà xuất bản lao động, Hà Nội, 2014)

Hướng dẫn thi hành Điều lệ Công đoàn Việt Nam khóa XI xác định: “Cán bộ công đoàn bao gồm: Tổ trưởng, tổ phó công đoàn, ủy viên ban chấp hành công đoàn, ủy viên ủy ban kiểm tra công đoàn, ủy viên các ban quần chúng công đoàn các cấp thông qua kết quả bầu cử; hoặc cấp công đoàn có thẩm quyền chỉ định; cán bộ, công chức làm công tác chuyên môn nghiệp vụ trong bộ máy của tổ chức công đoàn các cấp” (Hướng dẫn thi hành Điều lệ Công đoàn Việt Nam, Nhà xuất bản lao động, Hà Nội, 2014)

Như vậy cán bộ công đoàn cơ sở: là những cán bộ đảm nhiệm chức danh từ

Tổ trưởng, tổ phó công đoàn, ủy viên ban chấp hành công đoàn, ủy viên ủy ban kiểm tra công đoàn, thông qua kết quả bầu cử hoặc cấp công đoàn có thẩm quyền chỉ định

Vậy những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cán bộ công đoàn và quy định của Điều lệ Công đoàn về cán bộ công đoàn không chuyên trách (cán bộ CĐCS) đến nay vẫn là định hướng quý báu cho sự phát triển của tổ chức Công đoàn và việc xây dựng đội ngũ cán bộ CĐCS nước ta

* Cơ cấu cán bộ công đoàn cơ sở:

Chủ tịch Công đoàn Cơ sở Phó chủ tịch Công đoàn Cơ sở Ban chấp hành Công đoàn Cơ sở

UB kiểm tra CĐCS (Trường hợp trên 30 đoàn viên) Các Công đoàn bộ phận và tổ Công đoàn

Sơ đồ 2.1 Cơ cấu cán bộ CĐCS

Nguồn: Văn phòng LĐLĐ TP

* Phân loại và đặc điểm của cán bộ CĐCS:

Cán bộ công đoàn chuyên trách Cán bộ công đoàn không Chuyên trách

* Giống nhau: Cán bộ công đoàn chuyên trách và không chuyên trách công đoàn do tổ chức công đoàn ra quyết định công nhận (theo phân cấp đối với từng cấp công đoàn)

- Cán bộ công đoàn chuyên trách hưởng lương từ ngân sách công đoàn

- Cán bộ công đoàn không chuyên trách không hưởng lương ngân sách công đoàn

- Do công đoàn trực tiếp quản lý và thực hiện chính sách cán bộ theo quy định và phân cấp của Trung ương và của Tổng

- Việc quản lý và thực hiện chính sách cán bộ do tổ chức công đoàn và doanh nghiệp, đơn vị cùng phối hợp thực hiện theo nguyên tắc: Doanh nghiệp, đơn vị thực hiện trả lương, nâng ngạch, bậc lương và các chế độ, chính sách quản lý cán bộ theo quy định chung của doanh nghiệp, đơn vị Công đoàn cấp trên chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về nghiệp vụ và nội dung hoạt động công đoàn; giám sát việc thực hiện chính sách đối với cán bộ công đoàn theo quy định của pháp luật và chế độ phụ cấp theo quy định của Tổng Liên đoàn

(Nguồn: Hướng dẫn thi hành Điều lệ Công đoàn Việt Nam 2014)

Như vậy, việc quản lý và thực hiện chính sách cán bộ do tổ chức công đoàn và doanh nghiệp phối hợp thực hiện Cán bộ CĐCS do Công đoàn cấp trên (LĐLĐ thành phố, huyện) ra quyết định công nhận và chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn nghiệp vụ, nội dung hoạt động công đoàn, giám sát việc thực hiện chính sách đối với cán bộ CĐCS theo quy định của Tổng Liên đoàn Cán bộ CĐCS được hưởng lương từ doanh nghiệp, đơn vị chi trả và các chế độ chính sách khác được thực hiện theo quy định chung của doanh nghiệp, đơn vị Chính vì thế, cán bộ

CĐCS có một số đặc điểm sau:

Thứ nhất: Cán bộ CĐCS là đoàn viên công đoàn, được lựa chọn thông qua bầu cử tại đại hội hoặc hội nghị công đoàn

Thứ hai: Cán bộ CĐCS đều là không chuyên trách cùng đồng thời vừa làm nhiệm vụ chuyên môn của mình, vừa làm công tác công đoàn và phần lớn trưởng thành từ phong trào quần chúng, hiểu biết quần chúng, gắn bó với lợi ích của quần chúng, lấy việc vận động, thuyết phục làm phương pháp hoạt động chủ yếu, nên hầu hết cán bộ CĐCS đều là những người nhiệt tình trong công tác, có kinh nghiệm vận động, tổ chức hoạt động, có uy tín với CNVCLĐ

CƠ SỞ THỰC TIỄN

2.2.1 Kinh nghiệm nâng cao chất lượng cán bộ CĐCS ở một số địa phương 2.2.1.1 Kinh nghiệm của tỉnh Vĩnh Phúc

Hiện nay, toàn tỉnh có tổng số 4.979 cán bộ công đoàn, trong đó có 107 cán bộ công đoàn chuyên trách cấp trên cơ sở; 01 cán bộ công đoàn chuyên trách cơ sở và 4862 cán bộ công đoàn không chuyên trách Những năm qua, đội ngũ

CBCĐ trên toàn tỉnh đã thể hiện được bản lĩnh chính trị vững vàng, sự năng động và sáng tạo; kiến thức, trình độ và năng lực hoạt động thực tiễn; đóng vai trò then chốt thúc đẩy các hoạt động công đoàn

Tuy nhiên, cùng với quá trình đổi mới và hội nhập của đất nước đòi hỏi đội ngũ CBCĐ phải không ngừng nâng cao năng lực, trình độ để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới Đặc biệt là đối với các cơ sở công đoàn thuộc khu vực kinh tế ngoài Nhà nước; Số lượng, chất lượng lao động, ngành nghề lao động luôn có sự biến động; quan hệ lao động có xu hướng phức tạp; nhiều vấn đề liên quan trực tiếp, cụ thể đến quyền, lợi ích, những bức xúc của người lao động Bên cạnh đó, đa phần CBCĐ cơ sở đều là kiêm nhiệm nên sự nhiệt tình, trách nhiệm, phương pháp, kỹ năng trong tổ chức hoạt động, trong tham gia, phối hợp, trong thương lượng, đại diện bảo vệ quyền và lợi ích cho người lao động cũng như kỹ năng tuyên truyền, vận động, thuyết phục người lao động còn rất nhiều hạn chế Nhiều CBCĐ còn lúng túng khi tổ chức hoạt động; chưa tự tin, có bản lĩnh để trao đổi, thương lượng với người sử dụng lao động trong xây dựng thỏa ước lao động tập thể, yêu cầu doanh nghiệp phải thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật lao động đối với người lao động; chưa phát huy được vai trò đối với người lao động; chưa tạo được sức hút, sự tin tưởng, tham gia của người lao động vào các hoạt động công đoàn cũng như sự tạo điều kiện và thực hiện trách nhiệm của doanh nghiệp đối với tổ chức Công đoàn…

Xác định xây dựng đội ngũ CBCĐ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước có vai trò quan trọng, đảm bảo thành công của hoạt động công đoàn, thời gian qua, các cấp công đoàn trên toàn tỉnh đã triển khai nhiều hoạt động thiết thực nhằm bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ CBCĐ Hàng năm, BTV Liên đoàn Lao động tỉnh đều xây dựng kế hoạch về công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCĐ với các nhiệm vụ, mục tiêu cụ thể và triển khai kế hoạch đến toàn bộ LĐLĐ các huyện, thành, thị, các công đoàn ngành, công đoàn cơ sở trực thuộc nhằm tổ chức thực hiện có hiệu quả các chỉ tiêu đề ra

Căn cứ vào kế hoạch của LĐLĐ tỉnh, các công đoàn cấp dưới đều xây dựng kế hoạch đào tạo cụ thể, đảm bảo đào tạo đúng mục đích, đúng đối tượng, nội dung phù hợp với từng đối tượng, đúng yêu cầu cần đào tạo, tránh lãng phí về thời gian và kinh phí Các lớp huấn, bồi dưỡng đều được LĐLĐ tỉnh phân công cán bộ theo dõi, chỉ đạo sát sao; coi đây là tiêu chí đánh giá, xếp loại cuối năm đối với công đoàn các cấp Cùng với đó, công tác tuyên truyền được chú trọng thường xuyên nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp công đoàn về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và khuyến khích CBCĐ phấn đấu tự học tập, rèn luyện, trau dồi kiến thức, chuyên môn nghiêp vụ, bản lĩnh chính trị Đồng thời, các cấp công đoàn luôn chú trọng kiện toàn đội ngũ giảng viên kiêm chức cấp tỉnh; huyện, ngành Các giảng viên được cử đi đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên nhằm nâng cao khả năng chuyên môn, phương pháp giảng dạy và được đảm bảo điều kiện cần thiết để thực hiện tốt nhiệm vụ Phương pháp giảng dạy thường xuyên được đổi mới, hướng tới những nội dung thiết thực, cấp thiết mà cơ sở đang cần; không chỉ ở trên lớp mà còn thông qua nhiều hình thức như: Toạ đàm, hội thảo, hoạt động liên kết, kết nghĩa, tham quan mô hình thực tế Nội dung các chương trình bồi dưỡng, tập huấn cho CBCĐ chú trọng vào những điều CBCĐ cần nắm vững như: Tổ chức Công đoàn Việt Nam (sự hình thành, quá trình phát triển, chức năng nhiệm vụ, mối quan hệ, nguyên tắc hoạt động của tổ chức công đoàn ); hoạt động của công đoàn cơ sở (chức năng nhiệm vụ, nội dung hoạt động của CĐCS, nhiệm vụ và phương pháp làm việc của chủ tịch CĐCS, hoạt động của Tổ công đoàn ); công tác thi đua, tuyên giáo, nữ công, kiểm tra công đoàn, giải quyết khiếu nại tố cáo; kiến thức pháp luật liên quan đến người lao động, nhiệm vụ của tổ chức công đoàn trong nội dung về hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể, giải quyết tranh chấp lao động và đình công… Nguồn tài chính cho công tác đào tạo hàng năm luôn được công đoàn các cấp quan tâm dành kinh phí thực hiện, trong năm 2014, tổng kinh phí dành cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn toàn tỉnh là 1.630 triệu đồng Trong năm

2014, LĐLĐ tỉnh đã mở các lớp tập huấn về điều lệ và hướng dẫn thi hành Điều lệ Công đoàn Việt Nam khóa XI cho 105 cán bộ chuyên trách công đoàn; tập huấn về nghiệp vụ công tác tổ chức, chính sách – pháp luật, tuyên giáo, nữ công, công tác kiểm tra và tài chính cho 130 cán bộ CĐCS; mở 70 lớp tập huấn về chính sách - pháp luật cho 10.500 cán bộ, đoàn viên công đoàn cơ sở trong các doanh nghiệp; phối hợp với trường Chính trị tỉnh mở 3 lớp tập huấn lý luận chính trị và nghiệp vụ cho 450 Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Uỷ viên UBKT, Trưởng Ban Nữ công CĐCS; các công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở tổ chức được 15 lớp tập huấn nghiệp vụ cho 1.850 CBCĐ cơ sở… Qua các lớp tập huấn, CBCĐ được trang bị những kiến thức cần thiết và vận dụng vào thực tiễn để nâng cao chất lượng hoạt động công đoàn; phát huy tốt hơn vai trò của tổ chức công đoàn trong bảo vệ quyền lợi, lợi ích hợp pháp cho người lao động Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ CBCĐ, nâng cao vai trò, vị trí và uy tín của đội ngũ cán bộ công đoàn, tổ chức công đoàn đối với đoàn viên, CNVCLĐ và xã hội, thời gian tới, LĐLĐ tỉnh sẽ tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp, ngành về công tác tập huấn, bồi dưỡng đội ngũ CBCĐ, đặc biệt là tại các CĐCS trong doanh nghiệp Đồng thời, tiếp tục kiện toàn đội ngũ giảng viên kiêm chức; tranh thủ sự hỗ trợ của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, LĐLĐ Việt Nam trong công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCĐ; nghiên cứu đổi mới về nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức tập huấn, bồi dưỡng để đạt hiệu quả tốt hơn

2.2.1.2 Kinh nghiệm của tỉnh Quảng Ninh

Hiện LĐLĐ tỉnh đang quản lý trực tiếp 2.140 công đoàn cơ sở (CĐCS), tương ứng có 2.140 chủ tịch CĐCS; trong số đó, chỉ có 5 người là CBCĐ chuyên trách, còn lại là kiêm nhiệm Với vai trò “2 trong 1”, các chủ tịch CĐCS này gặp rất nhiều khó khăn, thách thức Những năm qua, đội ngũ CBCĐ toàn tỉnh đã thể hiện được bản lĩnh chính trị vững vàng, năng động và sáng tạo; kiến thức, trình độ và năng lực hoạt động thực tiễn; đóng vai trò then chốt thúc đẩy phong trào CNVC-LĐ, hoạt động công đoàn và xây dựng tổ chức công đoàn ngày càng vững mạnh

Hiện nay trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, hoạt động công đoàn ở cơ sở gặp rất nhiều khó khăn, đòi hỏi CBCĐ phải nỗ lực nhiều hơn nữa để đáp ứng được nhiệm vụ trong tình hình mới Tại các doanh nghiệp dân doanh, tư nhân, công ty cổ phần, doanh nghiệp FDI, CBCĐ luôn phải đối mặt với những áp lực diễn ra hàng ngày, trực tiếp hoà giải mọi xung đột trong quan hệ lao động, can thiệp, giải quyết mọi quyền và lợi ích chính đáng của CNLĐ Ở rất nhiều doanh nghiệp thuộc các loại hình này, CĐCS không chỉ khó khăn do kinh phí hạn hẹp, cơ sở vật chất không được đầu tư, trang bị, mà còn khó cả về thời gian cho CBCĐ, thời gian cho đoàn viên tham gia hoạt động, sinh hoạt; trong khi cơ chế bảo vệ CBCĐ thì chưa có

CBCĐ ở cơ sở chủ yếu là kiêm nhiệm, lại hưởng lương do giới chủ trả, nên có những hạn chế nhất định trong việc đứng ra bảo vệ NLĐ Nhiều CBCĐ còn lúng túng khi tổ chức hoạt động; chưa tự tin, bản lĩnh để trao đổi, thương lượng với người sử dụng lao động trong xây dựng thoả ước lao động tập thể, yêu cầu doanh nghiệp phải thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật lao động đối với NLĐ; chưa tạo được sức hút, sự tin tưởng, tham gia của NLĐ vào các hoạt động công đoàn, cũng như sự tạo điều kiện và thực hiện trách nhiệm của doanh nghiệp đối với tổ chức công đoàn… Những điều đó đang đặt ra cho tổ chức công đoàn phải xây dựng đội ngũ CBCĐ chuyên trách có bản lĩnh, năng lực để bảo vệ CNLĐ Để đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, đòi hỏi người thủ lĩnh công đoàn, nhất là ở cơ sở phải có rất nhiều tố chất, tiêu chuẩn: Nhiệt tình, say mê, tâm huyết, phẩm chất, bản lĩnh chính trị vững vàng, được quần chúng tín nhiệm, có năng lực Năng lực ở đây được thể hiện ở cả 3 khía cạnh: Kiến thức chuyên môn, lý luận; phương pháp tổ chức; kinh nghiệm hoạt động Để có được những chủ tịch CĐCS có trình độ, năng lực đáp ứng yêu cầu, việc đào tạo, tập huấn nghiệp vụ cho họ phải được coi như một giải pháp cấp thiết, tiên quyết Vì vậy mà những năm qua, LĐLĐ tỉnh luôn xác định khâu then chốt là tập trung đào tạo, nâng cao năng lực, trình độ, bản lĩnh cho đội ngũ CBCĐ

Ngay sau Đại hội XII Công đoàn Quảng Ninh, BCH LĐLĐ tỉnh đã ban hành Chương trình đào tạo, bồi dưỡng xây dựng đội ngũ CBCĐ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; xây dựng kế hoạch tổ chức triển khai, hướng dẫn thực hiện chương trình Trong hơn nửa nhiệm kỳ 2013-2018, LĐLĐ tỉnh đã tổ chức nhiều lớp đào tạo công đoàn, đào tạo chuyên ngành luật, tập huấn triển khai nghị quyết Đại hội XI Công đoàn Việt Nam, các chương trình nhiệm kỳ, nghiệp vụ công tác kiểm tra; tài chính công đoàn; kỹ năng tham gia tố tụng tại toà án lao động, giải quyết khiếu nại, tố cáo và tư vấn pháp luật của các cấp công đoàn Đồng thời tổ chức các lớp đào tạo chủ tịch CĐCS khu vực ngoài nhà nước; cán bộ công đoàn xã, phường, thị trấn; tập huấn cán bộ các nghiệp đoàn nghề cá, nghiệp đoàn xe ôm Các LĐLĐ huyện, thị xã, thành phố, công đoàn ngành tổ chức gần 100 lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, tập huấn Điều lệ Công đoàn Việt Nam cho hàng nghìn lượt uỷ viên ban chấp hành CĐCS; tuyên truyền pháp luật cho trên 2.000 lượt cán bộ CĐCS và 6.000 lượt CNVCLĐ Các cấp công đoàn được trang bị tài liệu liên quan đến công đoàn, pháp luật lao động Các giáo án, giáo trình tập huấn cho CBCĐ được biên soạn lại, đội ngũ giảng viên được lựa chọn chuyên nghiệp hơn, phương pháp giảng dạy tích cực hướng tới những nội dung thiết thực, cấp thiết mà cơ sở đang cần Nội dung, cách thức giảng dạy đều được đổi mới, không chỉ trên lớp tập huấn, mà thông qua nhiều hình thức như toạ đàm, hội thảo, hoạt động liên kết, kết nghĩa, tham quan mô hình thực tế để đào tạo và chủ yếu là tập huấn theo cách “cầm tay chỉ việc” Qua đào tạo, đã giúp cán bộ CĐCS xác định rõ vai trò của công đoàn, từ đó chọn nội dung hoạt động có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp đặc thù của đơn vị để tổ chức hoạt động; xây dựng được các quy chế hoạt động ở cơ sở, kỹ năng thương lượng, ký kết thoả ước lao động tập thể, biết xử lý mối quan hệ trong cơ quan, doanh nghiệp, từ đó phát huy tính chủ động, sáng tạo của mỗi CĐCS

2.2.2 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Thành phố Sông Công

Từ thực tế và những bài học kinh nghiệm quý báu của các địa phương khác đã rút ra bài học đối với công đoàn thành phố Sông Công như sau:

- Cần quan tâm hơn nữa hoạt động bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ CBCĐ không chỉ là cán bộ công đoàn cơ sở mà còn ở cấp cơ sở, cần đổi mới phương pháp tập huấn, tuyên truyền, bồi dưỡng kiến thức không chỉ về chuyên môn mà cả về nghiệp vụ công đoàn cho CBCĐ Trang bị đầy đủ cho CBCĐ kiến thức về kinh tế, chính trị, xã hội và pháp luật…

- Mỗi CBCĐ cần phải có kế hoạch tự học tập, bồi dưỡng, rèn luyện nâng cao nhận thức chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ văn hoá, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ… đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới

- Cần đổi mới phương thức hoạt động, làm phong phú thêm các loại hình hoạt động ở cơ sở, tự giác, tự nhận thức và tự chủ động trong cách làm việc, nhiệt tình hơn trong công tác

- Giữ mối liên hệ chặt chẽ với CĐ cấp trên, người lao động và cả người sử dung lao động

- Đảm bảo dân chủ, công khai, minh bạch trong công tác cán bộ và bầu cử BCH công đoàn nhất là ở cơ sở.

ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Ngày đăng: 08/07/2021, 14:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w