Những bệnh sinh sản thường gặp trên lợn nái ngoại - Đàn lợn nái sinh sản nuôi tại một số trang trại tại tỉnh Bắc Giang mắc các bệnh sinh sản thông thường, trong đó bệnh viêm tử cung có
Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên lợn nái ngoại giống Landrace và Yorkshire nuôi tại một số hộ gia đình chăn nuôi và trang trại quy mô nhỏ thuộc tỉnh Bắc Giang.
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Huyện Việt Yên, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 9 năm 2016 đến tháng 5 năm 2017.
Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Xác định một số chỉ tiêu sinh sản trên đàn lợn nái ngoại giống Landrace và Yorkshire
+ Tuổi phối giống lần đầu
+ Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ
+ Thời gian động dục lại sau khi cai sữa
+ Số lứa đẻ/nái/năm
+ Số con sinh ra trung bình trên ổ, khối lượng sơ sinh trung bình trên con, số con sơ sinh còn sống trung bình trên ổ, khối lượng sơ sinh còn sống trung bình trên ổ
+ Số con cai sữa trung bình trên ổ, khối lượng cai sữa trung bình trên con, khối lượng cai sữa trung bình/ổ Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa
3.3.2 Theo dõi một số bệnh sản khoa thường gặp trên lợn ngoại và phương pháp điều trị
Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu sinh sản
Theo dõi các chỉ tiêu sinh sản bằng phương pháp quan sát trực tiếp và thông qua sổ sách ghi chép của gia đình và trang trại
- Chỉ tiêu về khối lượng được cân trực tiếp trên cân đĩa
- Tuổi phối lần đầu: là thời gian tính từ lúc con vật sinh ra cho tới khi phối giống lần đầu tiên (thời gian tính bằng ngày)
- Tuổi đẻ lứa đầu: là thời gian tính từ lúc con vật sinh ra cho tới khi đẻ lần đầu tiên (thời gian tính bằng ngày)
- Thời gian mang thai: là thời gian tính từ lúc phối giống thành công tới khi đẻ ra (thời gian tính bằng ngày)
- Số con trung bình trên lứa: là số con bình quân đẻ ra của một lợn nái trong một lứa (tính bằng con)
- Tỷ lệ lợn con sơ sinh sống đến 24 giờ (Loại 1): là tỷ lệ lợn con đẻ ra sống đến tới 24 giờ (tính bằng %)
- Số lứa/nái/năm: là số lứa mà lợn đẻ được trong một năm (tính bằng lứa)
- Thời gian động dục lại sau khi cai sữa lợn con: là thời gian mà lợn nghỉ đế hồi phục, tính từ khi lợn tác con (trung bình 21 ngày) đến ngày động dục lần đầu (thời gian tính bằng ngày)
3.4.2 Theo dõi theo dõi một số bệnh sản khoa thường gặp trên đàn nái sinh sản nuôi tại hộ gia đình và trại chăn nuôi quy mô nhỏ huyện Việt Yên và Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
- Theo dõi các bệnh thường xảy ra trên đàn lợn ngoại ở các lứa tuổi bằng phương pháp phỏng vấn kỹ thuật viên trại chăn nuôi kết hợp theo dõi trực tiếp các trường hợp cần thiết và thông qua sổ sách ghi chép của trang trại
3.4.3 Điều trị bệnh viêm tử cung ở lợn nái
+ Lợn nái bị viêm tử cung ngoài việc được tiêm dưới da 1 mũi 2 ml Lutalyse (dẫn xuất tương tự như PGF2α) 25mg, thụt vào tử cung 100ml dung dịch Lugol 0,1% và sau đó là 100ml dung dịch neomycin (5 mg/kg), việc thụt rửa được tiến hành ngày 1 lần Sau khi tiêm thuốc và thụt rửa, lợn được theo dõi 2 lần /ngày, nếu sau 2 lần theo dõi liên tục mà không có dich viêm chảy ra thì được coi như khỏi Nếu lợn chưa khỏi thì liệu trình được tiếp tục cho đến hết ngày thứ 7 Đến hết ngày thứ 8 mà lợn không khỏi thì được coi là không khỏi
+ Theo dõi lợn động dục lại sau khi tách con, phối giống và theo dõi có chửa
Lợn nái sau khi tách con được theo dõi các biểu hiện động dục hàng ngày Khi lợn còn các biểu hiện động dục và chịu đực thì sẽ được phối giống Sau khi theo dõi trong vòng 30 ngày, nếu không cò biểu hiện động dục thì được coi là có thai và ngược lại Việc theo dõi 30 ngày tức là vượt quá 1 chu kì động dục để đảm bảo không bỏ sót những con có thể có chu kì dài hơn 18-24 ngày
3.4.4.Thử nghiệm một số biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất sinh sản của đàn lợn nái
+ Dồn đuổi lợn nái: Tiêm 10ml vitamin tổng hợp ADE và được nghỉ ngơi một ngày, sau đó dồn đuổi 9 - 10 nái vào chuồng ép lợn có chiều rộng 7 m2 kết hợp kích động của công nhân và dồn ép lẫn nhau tạo nên stress và sự vận động rất mạnh, thời gian mỗi lần ép lợn không quá 10 phút, ngày ép một lần và kéo dài trong 3 ngày liên tục
+ Sử dụng nước tiểu lợn đực nhỏ vào gáy lợn nái: Nước tiểu thu được sau khi thu được đem pha loãng với nước lã tỷ lệ 1:1 và được phun vào gáy lợn nái sau khi cai sữa, làm liên tục trong 4 ngày kể từ ngày cai sữa
+ Dùng lợn đực thí tình tiếp xúc với lợn nái: Tiêm 10ml vitamin tổng hợp ADE và được nghỉ ngơi một ngày, sau đó đưa lợn đực vào chuồng lợn nái hoặc ngược lại, để lợn đực tiếp xúc trực tiếp với lợn nái thời gian 5-10 phút tùy thuộc vào số lượng lợn cái, tần xuất là 2 lần/ ngày, sáng và chiều, liệu trình 3 ngày liên tục.
Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu thu được trong quá trình nghiên cứu được tập hợp và xử lý theo phương pháp thống kê sinh học bằng phần mềm Excel 2007.
Kết quả thảo luận
Kết quả nghiên cứu xác định một số chỉ tiêu sinh sản trên đàn lợn nái giống landrace và yorkshire nuôi tại tỉnh Bắc Giang
4.1.1 Tuổi phối giống lần đầu
Tuổi phối giống lần đầu của lợn nái được tính từ khi sinh ra đến khi cho phối lần đầu tiên Lợn nái sau khi đã thành thục về tính, đạt khối lượng khoảng trên 90kg, qua 1 - 2 lần động dục được đưa vào phối giống Tuổi phối giống lần đầu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giống, chế độ dinh dưỡng, trình độ quản lý và đặc biệt là việc theo dõi phát hiện lợn nái động dục Tuổi phối giống lần đầu là một trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn tới hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn nái sinh sản
Chúng tôi tiến hành theo dõi 286 nái giống Landrace và 271 nái giống Yorkshire Những nái giống theo dõi có độ tương đồng về chế độ chăm sóc nuôi dưỡng cũng như quy trình vệ sinh, phòng bệnh Kết quả thu được bày tại bảng 4.1 và biểu diễn trên Hình 4.1
Bảng 4.1 Tuổi phối giống lần đầu
Số nái phối giống lần đầu (con)
Số nái phối giống lần đầu (con)
Hình 4.1 Tuổi phối giống lần đầu Bảng 4.1 và hình 4.1 cho thấy tuổi phối giống lần đầu của Landrace là 243,26 ngày và của Yorkshire là 242,79 ngày Theo nghiên cứu của Nguyễn Đắc Xông, Đặng Vũ Bình, Đinh Văn Chỉnh (1995) cho biết: Tuổi phối giống của lợn Yorkshire là 252 ngày với chu kỳ động dục là 20 ngày Tác giả Phan Xuân Hảo và cs (2006), công bố tuổi phối giống lần đầu của Landrace là 243,56 ±3,70 ngày và của Yorkshire là 242,15 ±2,49 ngày
Như vậy kết quả nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đắc Xông, Đặng Vũ Bình, Đinh Văn Chỉnh và tương đương so với kết quả nghiên cứu của tác giả Phan Xuân Hảo
Tuổi đẻ lứa đầu phụ thuộc vào tuổi phối giống lứa đầu, kết quả phối giống lần đầu của nái hậu bị, các yếu tố ngoại cảnh bất lợi đều làm thay đổi tuổi đẻ lứa đầu Chỉ tiêu này có ảnh hưởng rất lớn tới năng suất sinh sản của lợn nái Nếu đưa vào khai thác quá sớm khi thể vóc phát triển chưa hoàn thiện số trứng rụng sẽ ít, dẫn tới số con đẻ ra ít, khối lượng sơ sinh thấp, dễ bị tác động của các yếu tố ngoại cảnh và dễ nhiễm bệnh nên số con sinh ra có tỷ lệ chết cao Hơn nữa sự hao hụt của lợn nái lớn ảnh hưởng đến lứa đẻ tiếp theo Nếu đưa vào khai thác quá muộn, lúc này cơ thể đã phát triển hoàn thiện nhưng lại mất nhiều thời gian nái không sản xuất, thời gian sản xuất ngắn vì vậy ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng lợn nái
Chúng tôi tiến hành theo dõi trên 195 nái giống Landrace và 208 nái giống Yorkshire, kết quả theo dõi được trình bày tại bảng 4.2 và biểu diễn trên hình 4.2
Bảng 4.2 Tuổi đẻ lứa đầu
Số nái đẻ lần đầu (Nái) Tỷ lệ (%) Số nái đẻ lần đầu
Hình 4.2 Tuổi đẻ lứa đầu Bảng 4.2 và Hình 4.2 cho thấy tuổi đẻ của nái hậu bị Landrace trung bình là 372,61 ngày và của Yorkshire là 368,97 ngày Kết quả Phùng Thị Vân và ctv
(2002), nghiên cứu tuổi đẻ lứa đầu của lợn Landrace là 389,42 ngày, của lợn Yorkshire là 400 ngày; Nguyễn Khắc Tích và ctv (1993), công bố tuổi đẻ lứa đầu ở lợn cái hậu bị Landrace là 373,42 ngày và ở giống Yorkshire là 369,9 ngày Như vậy kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đương với kết quả của tác giả Nguyễn Khắc Tích và thấp hơn so với kết quả của tác giả Phùng Thị Vân
Thời gian mang thai là thời gian tính từ khi phối giống có kết quả đến khi lợn đẻ Hiểu rõ về thời gian mang thai của lợn có ý nghĩa quan trọng để đề ra kế hoạch chăm sóc nuôi dưỡng lợn mẹ nhằm nâng cao năng suất sinh sản và lập kế hoạch sản xuất Chúng tôi đã tiến hành theo dõi chỉ tiêu thời gian mang thai trên
265 nái giống Landrace và 281 nái giống Yorkshire Kết quả được trình bày tại bảng 4.3 và biểu diễn trên hình 4.3
Bảng 4.3 Thời gian mang thai
Số nái mang thai (con)
Số nái mang thai (con)
Hình 4.3 Thời gian mang thai Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Khắc Tích và cs (1995), công bố thời gian mang thai của lợn Landrace là 114,7 ngày và của lợn Yorkshire là 114,76 ngày
Theo Phan Xuân Hảo và cs (2006) thì chỉ tiêu này ở lợn Landrace là 114,2 ngày và của lợn Yorkshire là 114,40 ngày
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy với lợn nái Landrace có thời gian mang thai là 114,55 ngày và của lợn Yorkshire là 114,39 Như vậy kết quả nghiên cứu của chúng tôi về thời gian mang thai của lợn nái Landrace và
Yorkshire tương đương với các kết quả nghiên cứu của các tác giả trên và phù hợp với các đặc điểm sinh lý bình thường của lợn nái Thời gian mang thai của lợn giao động từ 110 - 118 ngày
Khoảng cách giữa các lứa đẻ được tính bằng: Thời gian mang thai cộng với thời gian nuôi con và thời gian chờ phối Rút ngắn thời gian chờ phối có ý nghĩa lớn với hiệu quả chăn nuôi vì sẽ tăng được số lứa/nái/năm Giảm số ngày nuôi con và thời gian chờ phối sau khi cai sữa là biện pháp rút ngắn khoảng cách giữa các lứa đẻ vì thời gian mang thai là ít thay đổi Chúng tôi đã tiến hành khảo sát khoảng cách lứa đẻ của 220 giống lợn Landrace và 278 giống Yorshire Kết quả được trình bày tại bảng 4.4 và biểu diễn trên hình 4.4
Bảng 4.4 Khoảng cách giữa các lứa đẻ
Khoảng cách giữa các lứa đẻ (Ngày)
Số nái đẻ (con) Tỷ lệ (%) Số nái đẻ (con) Tỷ lệ
Hình 4.4 Khoảng cách giữa các lứa đẻ
Qua kết quả bảng 4.4 và hình 4.4 cho kết quả nghiên cứu của chúng tôi khoảng cách giữa các lứa đẻ của lợn Landrace trung bình là 156,68 ngày và của lợn Yorkshire là 157,34 ngày
Theo tài liệu tập huấn “Quản lý chăn nuôi lợn’’ của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (1997) cho biết khoảng cách giữa các lứa đẻ của đàn lợn nái tại các nước Anh, Mỹ, Canada lần lượt là 151 - 160 ngày, 148 - 157 ngày, 150 -
161 ngày, như vậy kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với các kết quả nghiên cứu trên
4.1.5 Thời gian động dục lại sau khi cai sữa
Thời gian động dục lại sau khi cai sữa là thời gian mà lợn nghỉ đế hồi phục sau đẻ đến ngày động dục lần đầu Sau khi tách con lợn nái sẽ động dục trở lại, tùy vào giống, kỹ thuật chăn nuôi, điều kiện môi trường mà thời gian động dục lại sau khi tách con dài hay ngắn Rút ngắn được thời gian động dục lại là rút ngắn khoảng cách giữa các lứa đẻ, tăng số lứa đẻ/nái/năm, giảm số ngày nuôi từ đó tiết kiệm được thức ăn và công chăm sóc Tạo stress cho lợn bằng cách đuổi ép lợn sau khi tách con và tăng khẩu phần ăn lên mức ăn không hạn chế là biện pháp thường được áp dụng nhất hiện nay tại các cơ sở chăn nuôi Chúng tôi đã tiến hành theo dõi thời gian động dục lại sau khi đẻ của hai giống lợn Landrace và giống Yorkshire Chúng tôi đã tiến hành theo dõi chỉ tiêu thời gian động dục lại sau khi cai sữa của 218 lợn nái giống Landrace và 268 lợn nái giống Yorkshire Những lợn được theo dõi có mức tương đồng về chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, quy trình vệ sinh phòng bệnh cũng như số ngày cai sữa của lợn con là 21 ngày Kết quả được trình bày tại bảng 4.5 và hình 4.5
Bảng 4.5 Thời gian động dục lại sau khi cai sữa
Số ngày chờ phối (ngày)
Số nái lên giống sau khi cai sữa (con) Tỷ lệ (%)
Số nái lên giống sau khi cai sữa (con)
Hình 4.5 Thời gian động dục lại sau khi cai sữa
Kết quả theo dõi một số bệnh sản khoa thường gặp trên đàn nái sinh sản nuôi tại tỉnh Bắc Giang
Để đánh giá khả năng thích nghi của đàn lợn nuôi theo hình thức công nghiệp nuôi tại một số trại ở tỉnh Bắc Giang, song song với nghiên cứu các chỉ tiêu sinh sản, chúng tôi tiến hành nghiên cứu các bệnh sản khoa thường gặp trên đàn nái sinh sản và đưa ra phác đồ điều trị hiệu quả nhất nhằm điều trị kịp thời đem lại hiệu quả trong chăn nuôi, nâng cao năng suất sinh sản của đàn lợn nái
Bảng 4.9 Các bệnh sản khoa thường gặp trên đàn lợn nái (n = 420)
Bệnh Số lợn nái mắc
Nghiên cứu vấn đề bệnh sản khoa thường gặp trên đàn lợn nái nuôi tại một số trại ở tính Bắc Giang chúng tôi có kết quả được trình bày ở bảng 4.9 và biểu diễn trên hình 4.7 như sau:
Hình 4.7 Các bệnh sản khoa thường gặp trên đàn lợn nái
Kết quả bảng 4.9 và hình 4.7 cho thấy bệnh chậm lên giống , sảy thai, viêm tử cung, viêm vú, mất sữa và đẻ khó là những bệnh sản khoa được phát hiện thấy ở đàn lợn nái ngoại nuôi tại một số địa phương thuộc tỉnh Bắc Giang Trong đó bệnh viêm tử cung mắc với tỷ lệ 27,62%, chậm lên giống 15,71%, viêm vú 12,14%, đẻ khó 10,48% và sảy thai 7,14% Nhìn vào kết quả này cho thấy bệnh viêm tử cung là bệnh phổ biến chiếm tỷ lệ cao nhất Theo Nguyễn Văn Thanh
(2003) cho biết, tỉ lệ viêm tử cung sau đẻ ở lợn nái tại khu vực đồng bằng sông Hồng là 23,65% Trong một nghiên cứu thực hiện tại Tiên Du, Bắc Ninh, Trịnh Đình Thâu và Nguyễn Văn Thanh (2010), công bố rằng, tỉ lệ viêm tử cung sau đẻ ở lợn nái là 39,54% Tỉ lệ viêm tử cung của lợn nái tại Anh được cho là biến động từ 1,1 - 37,2% theo công bố của Kirwood, 1999 Theo Ivashkevich et al
(2011), tỉ lệ viêm tử cung ở lợn nái ở Belarus vào khoảng 33,6 - 55,0% Như vậy, kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp và nằm trương khoảng dao động của các tác giả nghiên cứu ở trên.
Kết quả điều trị viêm tử cung, thời gian động dục lại sau cai sữa và tỉ lệ có chửa sau phối giống
Tử cung là bộ phận quan trọng của cơ quan sinh dục, nơi thai làm tổ và được đảm bảo mọi điều kiện để thai phát triển Mọi quá trình bệnh lý ở tử cung đều ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản Viêm tử cung là bệnh thường gặp nhất trong các bệnh sinh sản ở các cơ sở trang trại chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi theo hình thức công nghiệp Nếu không điều trị bệnh viêm tử cung kịp thời sẽ ảnh hưởng tới thời gian động dục trở lại sau khai sửa và tỷ lệ có chửa sau phối giống Từ đó ảnh hưởng tới thiệt hại kinh kế cho người chăn nuôi, vì vậy điều trị khỏi triệt để bệnh viêm tử cung trong chăn nuôi lợn nái là vô cùng quan trọng Chúng tôi tiến hành tiến hành điều trị 36 lợn bị viêm tử cung đồng thời theo dõi
36 lợn nái không bị viêm tử cung về các chỉ tiêu thời gian động dục lại sau cai sữa và tỉ lệ có chửa sau phối giống Kết quả được trình bày tại bảng 4.10 và biểu diễn trên hình 4.8 như sau:
Bảng 4.10 Kết quả điều trị viêm tử cung, thời gian động dục lại sau cai sữa và tỉ lệ có chửa sau phối giống (n = 36)
Chỉ tiêu theo dõi Đơn vị Kết quả
Tỉ lệ điều trị khỏi viêm tử cung % 100 (36/36)
Thời gian điều trị viêm tử cung Ngày 4,45 ± 1,46
Thời gian động dục lại sau tách con ở lợn không viêm tử cung Ngày 6,37 ± 1,24 Thời gian động dục lại sau tách con ở lợn viêm tử cung Ngày 8,56 ± 2,15
Tỉ lệ có chửa sau phối giống ở lợn không viêm tử cung % 88,89 (32/36)
Tỉ lệ có chửa sau phối giống ở lợn viêm tử cung % 72,22 (26/36)
Hình 4.8 Kết quả điều trị viêm tử cung và tỉ lệ có chửa sau phối giống Qua kết quả bảng 4.10 và hình 4.8 chúng tôi có nhận xét như sau:
Hiệu quả điều trị bệnh viêm tử cung ở lợn nái khi sử dụng phác đồ: tiêm dưới da 1 mũi 2ml Lutalyse (dẫn xuất tương tự như PGF2α) 25mg, thụt vào tử cung 100ml dung dịch Lugol 0,1% và sau đó là 100ml dung dịch neomycin
(5 mg/kg), thụt rửa ngày 1 lần liệu trình tối đa đa 7 ngày mang lại hiệu quả cao tỷ lệ khỏi bệnh đạt 100% Theo chúng tôi sở dĩ phác đồ điều trị nêu trên đạt tỷ lệ khỏi cao như vậy đó là do chế phẩm Lutalyze có chứa hoạt chất PGF2α có tác dụng kích thích tử cung co bóp, tống hết dịch viêm ra ngoài, đồng thời có tác dụng phá vỡ thể vàng, kích thích nang trứng phát triển gây hiện tượng động dục Lugol có chứa nguyên tố Iod có tác dụng sát trùng, đồng thời thông qua niêm mạc tử cung cơ thể hấp thu được dung dịch Iod giúp cho cơ quan sinh dục mau chóng hồi phục làm xuất hiện chu kỳ sinh dục sớm hơn Nhận xét của chúng tôi phù hợp với báo cáo của tác giả Hoàng Kim Giao và Nguyễn Thanh Dương
(1997), Nguyễn Văn Thanh (2007); Trịnh Đình Thâu và Nguyễn Văn Thanh (2010); Trần thị Thùy Anh (2014) Theo các tác giả này, dùng PGF2α điều trị viêm tử cung có tác dụng làm tử cung nhu động đẩy hết các chất bẩn từ bên trong tử cung ra ngoài, đồng thời giúp cho cơ quan sinh dục mau chóng hồi phục và trở lại hoạt động bình thường
Bệnh viêm tử cung mặc dù sau khi đã điều trị khỏi vẫn ảnh hưởng tới khả năng sinh sản của lợn nái mẹ thể hiện ở các tiêu chí thời gian động dục lại sau tách con ở lợn nái bị viêm tử cung 8,56 ± 2,15 ngày dài hơn ở lợn không viêm tử cung 6,37 ± 1,24 ngày, tỉ lệ thụ thai sau phối giống ở lợn nái bị viêm tử cung
72,22 % thấp hơn ở lợn không bị viêm tử cung 88,89%, sự sai khác này có ý nghĩa thống kê (P < 0,01) Nhận xét của chúng tôi tương đồng với thông báo của tác giả Waller et al., (2002): Lợn mẹ bị viêm tử cung có tỉ lệ thụ thai và số con sinh ra ở lứa sau thấp hơn so với lợn mẹ không bị viêm, không những vậy, viêm tử cung ở lợn mẹ còn làm tăng nguy cơ mắc tiêu chảy ở đàn lợn con theo (Nguyễn Văn Thanh, (2007).
Kết quả thử nghiệm một số biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất sinh sản của đàn lợn nái nuôi tại nuôi tại một số trại tỉnh Bắc Giang
Lợn nái sau thời gian nuôi con, đến ngày cai sữa được tách con và lợn mẹ được đuổi về chuồng chờ phối, sau một thời gian dài nuôi con cơ thể lợn mẹ bị suy kiệt về thể trạng vì phải tiết sữa nuôi con và chăm sóc con Sau khi tách con lợn mẹ được tiêm 10ml ADE/con và được ăn với khẩu phần ăn tự do và giàu chất dinh dưỡng, đến ngày thứ 2 lợn mẹ được áp dụng các biện pháp kỹ thuật khác nhau để rút ngắn thời gian lên giống sau khi cai sữa
Bảng 4.11 Kết quả thử nghiệm một số biện pháp nâng cao khả năng sinh sản của đàn lợn nái (n = 28)
Lô thí nghiệm Lô đối chứng
Số nái động dục trước 7 ngày kể từ ngày cai sữa
Số nái động dục trước 7 ngày kể từ ngày cai sữa
Số nái động dục trước 7 ngày kể từ ngày cai sữa
Số nái động dục trước 7 ngày kể từ ngày cai sữa
Gây stress cho lợn nái bằng cách dồn đuổi lợn nái sau khi cai sữa 25 89,29 26 92,86 20 71,43 21 75,00
Dùng nước tiểu lợn đực nhỏ vào gáy lợn nái sau khi cai sữa 23 82,14 25 89,29 22 78,57 19 67,86 Đuổi lợn nái sau khi cai sữa vào chuồng lợn đực thí tình, dùng lợn đực thí tình kích thích lợn nái
4.4.1 Biện pháp gây stress cho lợn nái bằng cách dồn đuổi lợn nái sau khi cai sữa
Mỗi nái sau khi cai sữa được tiêm 10ml ADE và được nghỉ ngơi một ngày, sang ngày thứ 2 chúng tôi tiến hành ép lợn nái bằng cách dồn đuổi 9 - 10 nái vào chuồng ép lợn có chiều rộng 7 m 2 , với số lượng lợn được cho vào trong một khoảng không gian nhỏ, hẹp như trên kết hợp với sự kích thích của công nhân ở phía ngoài chuồng lợn sẽ bị kích động và dồn ép lẫn nhau tạo nên stress và sự vận động rất mạnh, thời gian mỗi lần ép lợn không quá 10 phút, ngày ép một lần và kéo dài trong 3 ngày liên tục Mục đích là làm cho con mẹ vận động mạnh làm tăng cường trao đổi chất, tăng số trứng rụng trong lần động dục tiếp theo và stress mạnh cũng làm cho lợn nái nhanh chóng quên con nên sớm xuất hiện phản xạ động dục Thí nghiệm của chúng tôi tiến hành trên 56 nái cai sữa được tách thành 2 nhóm; nhóm đối chứng và nhóm thí nghiệm với điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và môi trường sống hoàn toàn giống nhau, kết quả sau khi áp dụng biện pháp ép lợn số nái lên giống trước 7 ngày lô thí nghiệm của 2 giống Landrace và Yorkshire lần lượt là đạt 89,29 % và 92,86 trong khi đó ở lô đối chứng là 71,43% và 75,00% Như vậy áp dụng biện pháp ép lợn đã làm tăng tỷ lệ động dục trước 7 ngày hơn so với lô đối chứng là lô không tác động một biện pháp kỹ thuật nào
4.4.2 Dùng nước tiểu lợn đực nhỏ vào gáy lợn nái sau khi cai sữa
Nguyên lý của biện pháp này là lợi dụng mùi của nước tiểu lợn đực, thông qua khứu giác của lợn nái, kích thích lên hệ thống thần kinh trung ương làm xuất hiện phản xạ sinh dục của lợn nái, cách làm được tiến hành như sau: lợn nái sau khi cai sữa được tách thành hai lô làm thí nghiệm và lô đối chứng; hai lô được chăm sóc nuôi dưỡng và môi trường sống hoàn toàn giống nhau về mọi mặt, đối với lô thí nghiệm dùng cốc hứng lấy nước tiểu của lợn đực có tuổi giao động từ
18 - 36 tháng bằng cách bóp mạnh vào phần bao qui đầu lợn đực khi khai thác tinh, phần nước tiểu thu được đem pha loãng với nước lã tỷ lệ 1:1 và được phun vào gáy lợn nái sau khi cai sữa, làm liên tục trong 4 ngày kể từ ngày cai sữa Kết quả của chúng tôi thu được cho thấy đối với lô thí nghiệm tỷ lệ nái động dục trong vòng 7 ngày đạt 82,14% (Landrace) và 89,29% (Yorkshire) lô đối chứng không tác động một biện pháp nào thì tỷ lệ trên đạt 78,57% (Landrace) và 67,86% (Yorkshire), như vậy cách dùng nước tiểu lợn đực có tác dụng kích thích lợn nái lên giống, rút ngắn thời gian động dục của lợn nái sau khi cai sữa so với lô đối chứng
4.4.3 Đuổi lợn nái vào chuồng lợn đực thí tình, dùng lợn đực thí tình kích thích lợn nái
Lợn nái sau khi cai sữa được 1 ngày, được nghỉ ngơi và tiêm ADE được đưa vào chuồng lợn đực thí tình, phương pháp này kết hợp cả kích thích của lợn đực thí tình, mùi lợn đực và làm xuất hiện phản xạ sinh dục và đây là biện pháp kỹ thuật tối ưu nhất hiện nay để rút ngắn thời gian chờ phối của lợn nái sau khi cai sữa
Kết quả khi áp dụng biện pháp trên của chúng tôi đã tăng tỷ lệ lợn nái động dục sau khi cai sữa của 2 giống lần lượt là 92,86% và 96,43% so với lô đối chứng là 75,00% và 78,57% Như vậy trong 3 phương pháp trên thì phương pháp đuổi lợn nái sau khi cai sữa vào chuồng đực thí tình và dùng lợn đực thí tình kích thích có tỷ lệ lợn động dục trước 7 ngày là cao nhất và đây là cách dùng hiệu quả nhất hiện nay.