1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh sản và bệnh sản khoa thường gặp ở đàn lợn nái ngoại nuôi tại tỉnh bắc giang

71 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • TRANG BÌA

  • MỤC LỤC

  • TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

  • PHẦN 1. MỞ ĐẦU

    • 1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ

    • 1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

    • 1.3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

  • PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

    • 2.1. VAI TRÒ SINH SẢN CỦA LỢN NÁI

    • 2.2. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ SINH SẢN

      • 2.2.1. Khái quát về sinh sản

      • 2.2.2. Cơ chế điều hòa sinh sản

      • 2.2.3. Chu kỳ tính (chu kỳ sinh dục)

      • 2.2.4. Cơ chế động dục

      • 2.2.5. Thời điểm phối giống thích hợp

      • 2.2.6. Sinh lý đẻ

      • 2.2.7. Sự điều tiết thần kinh thể dịch tới hoạt động sinh dục

    • 2.3. ĐẶC ĐIỂM QUÁ TRÌNH RỤNG TRỨNG THỤ TINH VÀ NUÔI THAI

      • 2.3.1. Đặc điểm quá trình rụng trứng

      • 2.3.2. Đặc điểm của quá trình thụ tinh

      • 2.3.3. Đặc điểm sinh lý của quá trình mang thai

    • 2.4. QUÁ TRÌNH ĐẺ

    • 2.5. MỘT SỐ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA LỢN NÁI

    • 2.6. BỆNH VIÊM TỬ CUNG Ở LỢN NÁI (MESTRITI

      • 2.6.1. Nguyên nhân gây viêm tử cung

      • 2.6.2. Hậu quả của bệnh viêm tử cung

      • 2.6.3. Triệu chứng của bệnh viêm tử cung

      • 2.6.4. Chẩn đoán viêm tử cung ở lợn nái

    • 2.7. NGUỒN GỐC ĐẶC ĐIỂM CỦA HAI GIỐNG LỢN LANDRACE VÀYORKSHIRE

      • 2.7.1. Giống lợn Landrace

      • 2.7.2. Giống lợn Yorkshire

    • 2.8. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

      • 2.8.1. Tình hình nghiên cứu trong nước

      • 2.8.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

  • PHẦN 3. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    • 3.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

    • 3.2. ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

    • 3.3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

      • 3.3.1. Xác định một số chỉ tiêu sinh sản trên đàn lợn nái ngoại giốngLandrace và Yorkshire

      • 3.3.2. Theo dõi một số bệnh sản khoa thường gặp trên lợn ngoại và phươngpháp điều trị

    • 3.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

      • 3.4.1. Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu sinh sản

      • 3.4.2. Theo dõi theo dõi một số bệnh sản khoa thường gặp trên đàn nái sinhsản nuôi tại hộ gia đình và trại chăn nuôi quy mô nhỏ huyện Việt Yên vàLạng Giang, tỉnh Bắc Giang

      • 3.4.3. Điều trị bệnh viêm tử cung ở lợn nái

      • 3.4.4.Thử nghiệm một số biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất sinh sảncủa đàn lợn nái

    • 3.5. PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU

  • PHẦN 4. KẾT QUẢ THẢO LUẬN

    • 4.1. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH SẢNTRÊN ĐÀN LỢN NÁI GIỐNG LANDRACE VÀ YORKSHIRE NUÔI TẠITỈNH BẮC GIANG

      • 4.1.1. Tuổi phối giống lần đầu

      • 4.1.2. Tuổi đẻ lứa đầu

      • 4.1.3. Thời gian mang thai

      • 4.1.4. Khoảng cách lứa đẻ

      • 4.1.5. Thời gian động dục lại sau khi cai sữa

      • 4.1.6. Số lứa đẻ/nái/năm

      • 4.1.7. Số con sinh ra trung bình/ổ, khối lượng sơ sinh trung bình/con, số consơ sinh còn sống trung bình/ổ, khối lượng sơ sinh còn sống trung bình/ổ

      • 4.1.8. Số con cai sữa trung bình/ổ, khối lượng cai sữa trung bình/con, khốilượng lợn con cai sữa trung bình/ổ, tỷ lệ nuôi sống lợn con

    • 4.2. KẾT QUẢ THEO DÕI MỘT SỐ BỆNH SẢN KHOA THƯỜNG GẶPTRÊN ĐÀN NÁI SINH SẢN NUÔI TẠI TỈNH BẮC GIANG

    • 4.3. KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ VIÊM TỬ CUNG, THỜI GIAN ĐỘNG DỤC LẠISAU CAI SỮA VÀ TỈ LỆ CÓ CHỬA SAU PHỐI GIỐNG

    • 4.4. KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT NÂNGCAO NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA ĐÀN LỢN NÁI NUÔI TẠI NUÔI TẠIMỘT SỐ TRẠI TỈNH BẮC GIANG

      • 4.4.1. Biện pháp gây stress cho lợn nái bằng cách dồn đuổi lợn nái sau khicai sữa

      • 4.4.2. Dùng nước tiểu lợn đực nhỏ vào gáy lợn nái sau khi cai sữa

      • 4.4.3. Đuổi lợn nái vào chuồng lợn đực thí tình, dùng lợn đực thí tình kíchthích lợn nái

  • PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

    • 5.1. KẾT LUẬN

      • 5.1.1. Một số chỉ tiêu sinh sản của lợn nái ngoại

      • 5.1.2. Những bệnh sinh sản thường gặp và thử nghiệm điều trị bệnh sinh sảntrên lợn nái ngoại

    • 5.2. ĐỀ NGHỊ

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

    • Tiếng Việt

    • Tiếng Anh

Nội dung

Những bệnh sinh sản thường gặp trên lợn nái ngoại - Đàn lợn nái sinh sản nuôi tại một số trang trại tại tỉnh Bắc Giang mắc các bệnh sinh sản thông thường, trong đó bệnh viêm tử cung có

Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Đề tài được thực hiện trên lợn nái ngoại giống Landrace và Yorkshire nuôi tại một số hộ gia đình chăn nuôi và trang trại quy mô nhỏ thuộc tỉnh Bắc Giang.

Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm: Huyện Việt Yên, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang

- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 9 năm 2016 đến tháng 5 năm 2017.

Nội dung nghiên cứu

3.3.1 Xác định một số chỉ tiêu sinh sản trên đàn lợn nái ngoại giống Landrace và Yorkshire

+ Tuổi phối giống lần đầu

+ Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ

+ Thời gian động dục lại sau khi cai sữa

+ Số lứa đẻ/nái/năm

+ Số con sinh ra trung bình trên ổ, khối lượng sơ sinh trung bình trên con, số con sơ sinh còn sống trung bình trên ổ, khối lượng sơ sinh còn sống trung bình trên ổ

+ Số con cai sữa trung bình trên ổ, khối lượng cai sữa trung bình trên con, khối lượng cai sữa trung bình/ổ Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa

3.3.2 Theo dõi một số bệnh sản khoa thường gặp trên lợn ngoại và phương pháp điều trị

Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu sinh sản

Theo dõi các chỉ tiêu sinh sản bằng phương pháp quan sát trực tiếp và thông qua sổ sách ghi chép của gia đình và trang trại

- Chỉ tiêu về khối lượng được cân trực tiếp trên cân đĩa

- Tuổi phối lần đầu: là thời gian tính từ lúc con vật sinh ra cho tới khi phối giống lần đầu tiên (thời gian tính bằng ngày)

- Tuổi đẻ lứa đầu: là thời gian tính từ lúc con vật sinh ra cho tới khi đẻ lần đầu tiên (thời gian tính bằng ngày)

- Thời gian mang thai: là thời gian tính từ lúc phối giống thành công tới khi đẻ ra (thời gian tính bằng ngày)

- Số con trung bình trên lứa: là số con bình quân đẻ ra của một lợn nái trong một lứa (tính bằng con)

- Tỷ lệ lợn con sơ sinh sống đến 24 giờ (Loại 1): là tỷ lệ lợn con đẻ ra sống đến tới 24 giờ (tính bằng %)

- Số lứa/nái/năm: là số lứa mà lợn đẻ được trong một năm (tính bằng lứa)

- Thời gian động dục lại sau khi cai sữa lợn con: là thời gian mà lợn nghỉ đế hồi phục, tính từ khi lợn tác con (trung bình 21 ngày) đến ngày động dục lần đầu (thời gian tính bằng ngày)

3.4.2 Theo dõi theo dõi một số bệnh sản khoa thường gặp trên đàn nái sinh sản nuôi tại hộ gia đình và trại chăn nuôi quy mô nhỏ huyện Việt Yên và Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang

- Theo dõi các bệnh thường xảy ra trên đàn lợn ngoại ở các lứa tuổi bằng phương pháp phỏng vấn kỹ thuật viên trại chăn nuôi kết hợp theo dõi trực tiếp các trường hợp cần thiết và thông qua sổ sách ghi chép của trang trại

3.4.3 Điều trị bệnh viêm tử cung ở lợn nái

+ Lợn nái bị viêm tử cung ngoài việc được tiêm dưới da 1 mũi 2 ml Lutalyse (dẫn xuất tương tự như PGF2α) 25mg, thụt vào tử cung 100ml dung dịch Lugol 0,1% và sau đó là 100ml dung dịch neomycin (5 mg/kg), việc thụt rửa được tiến hành ngày 1 lần Sau khi tiêm thuốc và thụt rửa, lợn được theo dõi 2 lần /ngày, nếu sau 2 lần theo dõi liên tục mà không có dich viêm chảy ra thì được coi như khỏi Nếu lợn chưa khỏi thì liệu trình được tiếp tục cho đến hết ngày thứ 7 Đến hết ngày thứ 8 mà lợn không khỏi thì được coi là không khỏi

+ Theo dõi lợn động dục lại sau khi tách con, phối giống và theo dõi có chửa

Lợn nái sau khi tách con được theo dõi các biểu hiện động dục hàng ngày Khi lợn còn các biểu hiện động dục và chịu đực thì sẽ được phối giống Sau khi theo dõi trong vòng 30 ngày, nếu không cò biểu hiện động dục thì được coi là có thai và ngược lại Việc theo dõi 30 ngày tức là vượt quá 1 chu kì động dục để đảm bảo không bỏ sót những con có thể có chu kì dài hơn 18-24 ngày

3.4.4.Thử nghiệm một số biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất sinh sản của đàn lợn nái

+ Dồn đuổi lợn nái: Tiêm 10ml vitamin tổng hợp ADE và được nghỉ ngơi một ngày, sau đó dồn đuổi 9 - 10 nái vào chuồng ép lợn có chiều rộng 7 m2 kết hợp kích động của công nhân và dồn ép lẫn nhau tạo nên stress và sự vận động rất mạnh, thời gian mỗi lần ép lợn không quá 10 phút, ngày ép một lần và kéo dài trong 3 ngày liên tục

+ Sử dụng nước tiểu lợn đực nhỏ vào gáy lợn nái: Nước tiểu thu được sau khi thu được đem pha loãng với nước lã tỷ lệ 1:1 và được phun vào gáy lợn nái sau khi cai sữa, làm liên tục trong 4 ngày kể từ ngày cai sữa

+ Dùng lợn đực thí tình tiếp xúc với lợn nái: Tiêm 10ml vitamin tổng hợp ADE và được nghỉ ngơi một ngày, sau đó đưa lợn đực vào chuồng lợn nái hoặc ngược lại, để lợn đực tiếp xúc trực tiếp với lợn nái thời gian 5-10 phút tùy thuộc vào số lượng lợn cái, tần xuất là 2 lần/ ngày, sáng và chiều, liệu trình 3 ngày liên tục.

Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu thu được trong quá trình nghiên cứu được tập hợp và xử lý theo phương pháp thống kê sinh học bằng phần mềm Excel 2007.

Kết quả thảo luận

Kết quả nghiên cứu xác định một số chỉ tiêu sinh sản trên đàn lợn nái giống landrace và yorkshire nuôi tại tỉnh Bắc Giang

4.1.1 Tuổi phối giống lần đầu

Tuổi phối giống lần đầu của lợn nái được tính từ khi sinh ra đến khi cho phối lần đầu tiên Lợn nái sau khi đã thành thục về tính, đạt khối lượng khoảng trên 90kg, qua 1 - 2 lần động dục được đưa vào phối giống Tuổi phối giống lần đầu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giống, chế độ dinh dưỡng, trình độ quản lý và đặc biệt là việc theo dõi phát hiện lợn nái động dục Tuổi phối giống lần đầu là một trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn tới hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn nái sinh sản

Chúng tôi tiến hành theo dõi 286 nái giống Landrace và 271 nái giống Yorkshire Những nái giống theo dõi có độ tương đồng về chế độ chăm sóc nuôi dưỡng cũng như quy trình vệ sinh, phòng bệnh Kết quả thu được bày tại bảng 4.1 và biểu diễn trên Hình 4.1

Bảng 4.1 Tuổi phối giống lần đầu

Số nái phối giống lần đầu (con)

Số nái phối giống lần đầu (con)

Hình 4.1 Tuổi phối giống lần đầu Bảng 4.1 và hình 4.1 cho thấy tuổi phối giống lần đầu của Landrace là 243,26 ngày và của Yorkshire là 242,79 ngày Theo nghiên cứu của Nguyễn Đắc Xông, Đặng Vũ Bình, Đinh Văn Chỉnh (1995) cho biết: Tuổi phối giống của lợn Yorkshire là 252 ngày với chu kỳ động dục là 20 ngày Tác giả Phan Xuân Hảo và cs (2006), công bố tuổi phối giống lần đầu của Landrace là 243,56 ±3,70 ngày và của Yorkshire là 242,15 ±2,49 ngày

Như vậy kết quả nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đắc Xông, Đặng Vũ Bình, Đinh Văn Chỉnh và tương đương so với kết quả nghiên cứu của tác giả Phan Xuân Hảo

Tuổi đẻ lứa đầu phụ thuộc vào tuổi phối giống lứa đầu, kết quả phối giống lần đầu của nái hậu bị, các yếu tố ngoại cảnh bất lợi đều làm thay đổi tuổi đẻ lứa đầu Chỉ tiêu này có ảnh hưởng rất lớn tới năng suất sinh sản của lợn nái Nếu đưa vào khai thác quá sớm khi thể vóc phát triển chưa hoàn thiện số trứng rụng sẽ ít, dẫn tới số con đẻ ra ít, khối lượng sơ sinh thấp, dễ bị tác động của các yếu tố ngoại cảnh và dễ nhiễm bệnh nên số con sinh ra có tỷ lệ chết cao Hơn nữa sự hao hụt của lợn nái lớn ảnh hưởng đến lứa đẻ tiếp theo Nếu đưa vào khai thác quá muộn, lúc này cơ thể đã phát triển hoàn thiện nhưng lại mất nhiều thời gian nái không sản xuất, thời gian sản xuất ngắn vì vậy ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng lợn nái

Chúng tôi tiến hành theo dõi trên 195 nái giống Landrace và 208 nái giống Yorkshire, kết quả theo dõi được trình bày tại bảng 4.2 và biểu diễn trên hình 4.2

Bảng 4.2 Tuổi đẻ lứa đầu

Số nái đẻ lần đầu (Nái) Tỷ lệ (%) Số nái đẻ lần đầu

Hình 4.2 Tuổi đẻ lứa đầu Bảng 4.2 và Hình 4.2 cho thấy tuổi đẻ của nái hậu bị Landrace trung bình là 372,61 ngày và của Yorkshire là 368,97 ngày Kết quả Phùng Thị Vân và ctv

(2002), nghiên cứu tuổi đẻ lứa đầu của lợn Landrace là 389,42 ngày, của lợn Yorkshire là 400 ngày; Nguyễn Khắc Tích và ctv (1993), công bố tuổi đẻ lứa đầu ở lợn cái hậu bị Landrace là 373,42 ngày và ở giống Yorkshire là 369,9 ngày Như vậy kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đương với kết quả của tác giả Nguyễn Khắc Tích và thấp hơn so với kết quả của tác giả Phùng Thị Vân

Thời gian mang thai là thời gian tính từ khi phối giống có kết quả đến khi lợn đẻ Hiểu rõ về thời gian mang thai của lợn có ý nghĩa quan trọng để đề ra kế hoạch chăm sóc nuôi dưỡng lợn mẹ nhằm nâng cao năng suất sinh sản và lập kế hoạch sản xuất Chúng tôi đã tiến hành theo dõi chỉ tiêu thời gian mang thai trên

265 nái giống Landrace và 281 nái giống Yorkshire Kết quả được trình bày tại bảng 4.3 và biểu diễn trên hình 4.3

Bảng 4.3 Thời gian mang thai

Số nái mang thai (con)

Số nái mang thai (con)

Hình 4.3 Thời gian mang thai Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Khắc Tích và cs (1995), công bố thời gian mang thai của lợn Landrace là 114,7 ngày và của lợn Yorkshire là 114,76 ngày

Theo Phan Xuân Hảo và cs (2006) thì chỉ tiêu này ở lợn Landrace là 114,2 ngày và của lợn Yorkshire là 114,40 ngày

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy với lợn nái Landrace có thời gian mang thai là 114,55 ngày và của lợn Yorkshire là 114,39 Như vậy kết quả nghiên cứu của chúng tôi về thời gian mang thai của lợn nái Landrace và

Yorkshire tương đương với các kết quả nghiên cứu của các tác giả trên và phù hợp với các đặc điểm sinh lý bình thường của lợn nái Thời gian mang thai của lợn giao động từ 110 - 118 ngày

Khoảng cách giữa các lứa đẻ được tính bằng: Thời gian mang thai cộng với thời gian nuôi con và thời gian chờ phối Rút ngắn thời gian chờ phối có ý nghĩa lớn với hiệu quả chăn nuôi vì sẽ tăng được số lứa/nái/năm Giảm số ngày nuôi con và thời gian chờ phối sau khi cai sữa là biện pháp rút ngắn khoảng cách giữa các lứa đẻ vì thời gian mang thai là ít thay đổi Chúng tôi đã tiến hành khảo sát khoảng cách lứa đẻ của 220 giống lợn Landrace và 278 giống Yorshire Kết quả được trình bày tại bảng 4.4 và biểu diễn trên hình 4.4

Bảng 4.4 Khoảng cách giữa các lứa đẻ

Khoảng cách giữa các lứa đẻ (Ngày)

Số nái đẻ (con) Tỷ lệ (%) Số nái đẻ (con) Tỷ lệ

Hình 4.4 Khoảng cách giữa các lứa đẻ

Qua kết quả bảng 4.4 và hình 4.4 cho kết quả nghiên cứu của chúng tôi khoảng cách giữa các lứa đẻ của lợn Landrace trung bình là 156,68 ngày và của lợn Yorkshire là 157,34 ngày

Theo tài liệu tập huấn “Quản lý chăn nuôi lợn’’ của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (1997) cho biết khoảng cách giữa các lứa đẻ của đàn lợn nái tại các nước Anh, Mỹ, Canada lần lượt là 151 - 160 ngày, 148 - 157 ngày, 150 -

161 ngày, như vậy kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với các kết quả nghiên cứu trên

4.1.5 Thời gian động dục lại sau khi cai sữa

Thời gian động dục lại sau khi cai sữa là thời gian mà lợn nghỉ đế hồi phục sau đẻ đến ngày động dục lần đầu Sau khi tách con lợn nái sẽ động dục trở lại, tùy vào giống, kỹ thuật chăn nuôi, điều kiện môi trường mà thời gian động dục lại sau khi tách con dài hay ngắn Rút ngắn được thời gian động dục lại là rút ngắn khoảng cách giữa các lứa đẻ, tăng số lứa đẻ/nái/năm, giảm số ngày nuôi từ đó tiết kiệm được thức ăn và công chăm sóc Tạo stress cho lợn bằng cách đuổi ép lợn sau khi tách con và tăng khẩu phần ăn lên mức ăn không hạn chế là biện pháp thường được áp dụng nhất hiện nay tại các cơ sở chăn nuôi Chúng tôi đã tiến hành theo dõi thời gian động dục lại sau khi đẻ của hai giống lợn Landrace và giống Yorkshire Chúng tôi đã tiến hành theo dõi chỉ tiêu thời gian động dục lại sau khi cai sữa của 218 lợn nái giống Landrace và 268 lợn nái giống Yorkshire Những lợn được theo dõi có mức tương đồng về chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, quy trình vệ sinh phòng bệnh cũng như số ngày cai sữa của lợn con là 21 ngày Kết quả được trình bày tại bảng 4.5 và hình 4.5

Bảng 4.5 Thời gian động dục lại sau khi cai sữa

Số ngày chờ phối (ngày)

Số nái lên giống sau khi cai sữa (con) Tỷ lệ (%)

Số nái lên giống sau khi cai sữa (con)

Hình 4.5 Thời gian động dục lại sau khi cai sữa

Kết quả theo dõi một số bệnh sản khoa thường gặp trên đàn nái sinh sản nuôi tại tỉnh Bắc Giang

Để đánh giá khả năng thích nghi của đàn lợn nuôi theo hình thức công nghiệp nuôi tại một số trại ở tỉnh Bắc Giang, song song với nghiên cứu các chỉ tiêu sinh sản, chúng tôi tiến hành nghiên cứu các bệnh sản khoa thường gặp trên đàn nái sinh sản và đưa ra phác đồ điều trị hiệu quả nhất nhằm điều trị kịp thời đem lại hiệu quả trong chăn nuôi, nâng cao năng suất sinh sản của đàn lợn nái

Bảng 4.9 Các bệnh sản khoa thường gặp trên đàn lợn nái (n = 420)

Bệnh Số lợn nái mắc

Nghiên cứu vấn đề bệnh sản khoa thường gặp trên đàn lợn nái nuôi tại một số trại ở tính Bắc Giang chúng tôi có kết quả được trình bày ở bảng 4.9 và biểu diễn trên hình 4.7 như sau:

Hình 4.7 Các bệnh sản khoa thường gặp trên đàn lợn nái

Kết quả bảng 4.9 và hình 4.7 cho thấy bệnh chậm lên giống , sảy thai, viêm tử cung, viêm vú, mất sữa và đẻ khó là những bệnh sản khoa được phát hiện thấy ở đàn lợn nái ngoại nuôi tại một số địa phương thuộc tỉnh Bắc Giang Trong đó bệnh viêm tử cung mắc với tỷ lệ 27,62%, chậm lên giống 15,71%, viêm vú 12,14%, đẻ khó 10,48% và sảy thai 7,14% Nhìn vào kết quả này cho thấy bệnh viêm tử cung là bệnh phổ biến chiếm tỷ lệ cao nhất Theo Nguyễn Văn Thanh

(2003) cho biết, tỉ lệ viêm tử cung sau đẻ ở lợn nái tại khu vực đồng bằng sông Hồng là 23,65% Trong một nghiên cứu thực hiện tại Tiên Du, Bắc Ninh, Trịnh Đình Thâu và Nguyễn Văn Thanh (2010), công bố rằng, tỉ lệ viêm tử cung sau đẻ ở lợn nái là 39,54% Tỉ lệ viêm tử cung của lợn nái tại Anh được cho là biến động từ 1,1 - 37,2% theo công bố của Kirwood, 1999 Theo Ivashkevich et al

(2011), tỉ lệ viêm tử cung ở lợn nái ở Belarus vào khoảng 33,6 - 55,0% Như vậy, kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp và nằm trương khoảng dao động của các tác giả nghiên cứu ở trên.

Kết quả điều trị viêm tử cung, thời gian động dục lại sau cai sữa và tỉ lệ có chửa sau phối giống

Tử cung là bộ phận quan trọng của cơ quan sinh dục, nơi thai làm tổ và được đảm bảo mọi điều kiện để thai phát triển Mọi quá trình bệnh lý ở tử cung đều ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản Viêm tử cung là bệnh thường gặp nhất trong các bệnh sinh sản ở các cơ sở trang trại chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi theo hình thức công nghiệp Nếu không điều trị bệnh viêm tử cung kịp thời sẽ ảnh hưởng tới thời gian động dục trở lại sau khai sửa và tỷ lệ có chửa sau phối giống Từ đó ảnh hưởng tới thiệt hại kinh kế cho người chăn nuôi, vì vậy điều trị khỏi triệt để bệnh viêm tử cung trong chăn nuôi lợn nái là vô cùng quan trọng Chúng tôi tiến hành tiến hành điều trị 36 lợn bị viêm tử cung đồng thời theo dõi

36 lợn nái không bị viêm tử cung về các chỉ tiêu thời gian động dục lại sau cai sữa và tỉ lệ có chửa sau phối giống Kết quả được trình bày tại bảng 4.10 và biểu diễn trên hình 4.8 như sau:

Bảng 4.10 Kết quả điều trị viêm tử cung, thời gian động dục lại sau cai sữa và tỉ lệ có chửa sau phối giống (n = 36)

Chỉ tiêu theo dõi Đơn vị Kết quả

Tỉ lệ điều trị khỏi viêm tử cung % 100 (36/36)

Thời gian điều trị viêm tử cung Ngày 4,45 ± 1,46

Thời gian động dục lại sau tách con ở lợn không viêm tử cung Ngày 6,37 ± 1,24 Thời gian động dục lại sau tách con ở lợn viêm tử cung Ngày 8,56 ± 2,15

Tỉ lệ có chửa sau phối giống ở lợn không viêm tử cung % 88,89 (32/36)

Tỉ lệ có chửa sau phối giống ở lợn viêm tử cung % 72,22 (26/36)

Hình 4.8 Kết quả điều trị viêm tử cung và tỉ lệ có chửa sau phối giống Qua kết quả bảng 4.10 và hình 4.8 chúng tôi có nhận xét như sau:

Hiệu quả điều trị bệnh viêm tử cung ở lợn nái khi sử dụng phác đồ: tiêm dưới da 1 mũi 2ml Lutalyse (dẫn xuất tương tự như PGF2α) 25mg, thụt vào tử cung 100ml dung dịch Lugol 0,1% và sau đó là 100ml dung dịch neomycin

(5 mg/kg), thụt rửa ngày 1 lần liệu trình tối đa đa 7 ngày mang lại hiệu quả cao tỷ lệ khỏi bệnh đạt 100% Theo chúng tôi sở dĩ phác đồ điều trị nêu trên đạt tỷ lệ khỏi cao như vậy đó là do chế phẩm Lutalyze có chứa hoạt chất PGF2α có tác dụng kích thích tử cung co bóp, tống hết dịch viêm ra ngoài, đồng thời có tác dụng phá vỡ thể vàng, kích thích nang trứng phát triển gây hiện tượng động dục Lugol có chứa nguyên tố Iod có tác dụng sát trùng, đồng thời thông qua niêm mạc tử cung cơ thể hấp thu được dung dịch Iod giúp cho cơ quan sinh dục mau chóng hồi phục làm xuất hiện chu kỳ sinh dục sớm hơn Nhận xét của chúng tôi phù hợp với báo cáo của tác giả Hoàng Kim Giao và Nguyễn Thanh Dương

(1997), Nguyễn Văn Thanh (2007); Trịnh Đình Thâu và Nguyễn Văn Thanh (2010); Trần thị Thùy Anh (2014) Theo các tác giả này, dùng PGF2α điều trị viêm tử cung có tác dụng làm tử cung nhu động đẩy hết các chất bẩn từ bên trong tử cung ra ngoài, đồng thời giúp cho cơ quan sinh dục mau chóng hồi phục và trở lại hoạt động bình thường

Bệnh viêm tử cung mặc dù sau khi đã điều trị khỏi vẫn ảnh hưởng tới khả năng sinh sản của lợn nái mẹ thể hiện ở các tiêu chí thời gian động dục lại sau tách con ở lợn nái bị viêm tử cung 8,56 ± 2,15 ngày dài hơn ở lợn không viêm tử cung 6,37 ± 1,24 ngày, tỉ lệ thụ thai sau phối giống ở lợn nái bị viêm tử cung

72,22 % thấp hơn ở lợn không bị viêm tử cung 88,89%, sự sai khác này có ý nghĩa thống kê (P < 0,01) Nhận xét của chúng tôi tương đồng với thông báo của tác giả Waller et al., (2002): Lợn mẹ bị viêm tử cung có tỉ lệ thụ thai và số con sinh ra ở lứa sau thấp hơn so với lợn mẹ không bị viêm, không những vậy, viêm tử cung ở lợn mẹ còn làm tăng nguy cơ mắc tiêu chảy ở đàn lợn con theo (Nguyễn Văn Thanh, (2007).

Kết quả thử nghiệm một số biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất sinh sản của đàn lợn nái nuôi tại nuôi tại một số trại tỉnh Bắc Giang

Lợn nái sau thời gian nuôi con, đến ngày cai sữa được tách con và lợn mẹ được đuổi về chuồng chờ phối, sau một thời gian dài nuôi con cơ thể lợn mẹ bị suy kiệt về thể trạng vì phải tiết sữa nuôi con và chăm sóc con Sau khi tách con lợn mẹ được tiêm 10ml ADE/con và được ăn với khẩu phần ăn tự do và giàu chất dinh dưỡng, đến ngày thứ 2 lợn mẹ được áp dụng các biện pháp kỹ thuật khác nhau để rút ngắn thời gian lên giống sau khi cai sữa

Bảng 4.11 Kết quả thử nghiệm một số biện pháp nâng cao khả năng sinh sản của đàn lợn nái (n = 28)

Lô thí nghiệm Lô đối chứng

Số nái động dục trước 7 ngày kể từ ngày cai sữa

Số nái động dục trước 7 ngày kể từ ngày cai sữa

Số nái động dục trước 7 ngày kể từ ngày cai sữa

Số nái động dục trước 7 ngày kể từ ngày cai sữa

Gây stress cho lợn nái bằng cách dồn đuổi lợn nái sau khi cai sữa 25 89,29 26 92,86 20 71,43 21 75,00

Dùng nước tiểu lợn đực nhỏ vào gáy lợn nái sau khi cai sữa 23 82,14 25 89,29 22 78,57 19 67,86 Đuổi lợn nái sau khi cai sữa vào chuồng lợn đực thí tình, dùng lợn đực thí tình kích thích lợn nái

4.4.1 Biện pháp gây stress cho lợn nái bằng cách dồn đuổi lợn nái sau khi cai sữa

Mỗi nái sau khi cai sữa được tiêm 10ml ADE và được nghỉ ngơi một ngày, sang ngày thứ 2 chúng tôi tiến hành ép lợn nái bằng cách dồn đuổi 9 - 10 nái vào chuồng ép lợn có chiều rộng 7 m 2 , với số lượng lợn được cho vào trong một khoảng không gian nhỏ, hẹp như trên kết hợp với sự kích thích của công nhân ở phía ngoài chuồng lợn sẽ bị kích động và dồn ép lẫn nhau tạo nên stress và sự vận động rất mạnh, thời gian mỗi lần ép lợn không quá 10 phút, ngày ép một lần và kéo dài trong 3 ngày liên tục Mục đích là làm cho con mẹ vận động mạnh làm tăng cường trao đổi chất, tăng số trứng rụng trong lần động dục tiếp theo và stress mạnh cũng làm cho lợn nái nhanh chóng quên con nên sớm xuất hiện phản xạ động dục Thí nghiệm của chúng tôi tiến hành trên 56 nái cai sữa được tách thành 2 nhóm; nhóm đối chứng và nhóm thí nghiệm với điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và môi trường sống hoàn toàn giống nhau, kết quả sau khi áp dụng biện pháp ép lợn số nái lên giống trước 7 ngày lô thí nghiệm của 2 giống Landrace và Yorkshire lần lượt là đạt 89,29 % và 92,86 trong khi đó ở lô đối chứng là 71,43% và 75,00% Như vậy áp dụng biện pháp ép lợn đã làm tăng tỷ lệ động dục trước 7 ngày hơn so với lô đối chứng là lô không tác động một biện pháp kỹ thuật nào

4.4.2 Dùng nước tiểu lợn đực nhỏ vào gáy lợn nái sau khi cai sữa

Nguyên lý của biện pháp này là lợi dụng mùi của nước tiểu lợn đực, thông qua khứu giác của lợn nái, kích thích lên hệ thống thần kinh trung ương làm xuất hiện phản xạ sinh dục của lợn nái, cách làm được tiến hành như sau: lợn nái sau khi cai sữa được tách thành hai lô làm thí nghiệm và lô đối chứng; hai lô được chăm sóc nuôi dưỡng và môi trường sống hoàn toàn giống nhau về mọi mặt, đối với lô thí nghiệm dùng cốc hứng lấy nước tiểu của lợn đực có tuổi giao động từ

18 - 36 tháng bằng cách bóp mạnh vào phần bao qui đầu lợn đực khi khai thác tinh, phần nước tiểu thu được đem pha loãng với nước lã tỷ lệ 1:1 và được phun vào gáy lợn nái sau khi cai sữa, làm liên tục trong 4 ngày kể từ ngày cai sữa Kết quả của chúng tôi thu được cho thấy đối với lô thí nghiệm tỷ lệ nái động dục trong vòng 7 ngày đạt 82,14% (Landrace) và 89,29% (Yorkshire) lô đối chứng không tác động một biện pháp nào thì tỷ lệ trên đạt 78,57% (Landrace) và 67,86% (Yorkshire), như vậy cách dùng nước tiểu lợn đực có tác dụng kích thích lợn nái lên giống, rút ngắn thời gian động dục của lợn nái sau khi cai sữa so với lô đối chứng

4.4.3 Đuổi lợn nái vào chuồng lợn đực thí tình, dùng lợn đực thí tình kích thích lợn nái

Lợn nái sau khi cai sữa được 1 ngày, được nghỉ ngơi và tiêm ADE được đưa vào chuồng lợn đực thí tình, phương pháp này kết hợp cả kích thích của lợn đực thí tình, mùi lợn đực và làm xuất hiện phản xạ sinh dục và đây là biện pháp kỹ thuật tối ưu nhất hiện nay để rút ngắn thời gian chờ phối của lợn nái sau khi cai sữa

Kết quả khi áp dụng biện pháp trên của chúng tôi đã tăng tỷ lệ lợn nái động dục sau khi cai sữa của 2 giống lần lượt là 92,86% và 96,43% so với lô đối chứng là 75,00% và 78,57% Như vậy trong 3 phương pháp trên thì phương pháp đuổi lợn nái sau khi cai sữa vào chuồng đực thí tình và dùng lợn đực thí tình kích thích có tỷ lệ lợn động dục trước 7 ngày là cao nhất và đây là cách dùng hiệu quả nhất hiện nay.

Ngày đăng: 08/07/2021, 14:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị Thùy Anh 2014: “Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh sản và bệnh sản khoa thường gặp ở đàn lợn nái ngoại nuôi tại tỉnh Bình Phước”. Luận Văn Thạc sỹ.Trường Đại học Tây Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh sản và bệnh sản khoa thường gặp ở đàn lợn nái ngoại nuôi tại tỉnh Bình Phước
2. Đặng Vũ Bình (1999). “ Phân tích một số nhân tố ảnh hưởng đến các tính trạng năng suất sinh sản trong một lứa đẻ của lợn nái ngoại”. Kết quả nghiên cứu khoa học chăn nuôi thú y (1996 - 1998). NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích một số nhân tố ảnh hưởng đến các tính trạng năng suất sinh sản trong một lứa đẻ của lợn nái ngoại
Tác giả: Đặng Vũ Bình
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1999
3. Đinh Văn Chỉnh và ctv (2001). “Đánh giá khả năng sinh sản của lợn Landrace và lợn Yorkshire nuôi tại Trung tâm giống Phú Lãm - Hà Tây”, Kết quả nghiên cứu KHKT khoa chăn nuôi thú y (1991 - 1995), Trường Đại Học Nông nghiệp I Hà Nội, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá khả năng sinh sản của lợn Landrace và lợn Yorkshire nuôi tại Trung tâm giống Phú Lãm - Hà Tây
Tác giả: Đinh Văn Chỉnh và ctv
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2001
5. Trần Văn Chính (2001). “Khảo sát năng suất của một số nhóm lợn lai tại Trường Đại học Nông lâm Thành phố Hồ Chí Minh”, Tạp chí KHKT Chăn nuôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát năng suất của một số nhóm lợn lai tại Trường Đại học Nông lâm Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Trần Văn Chính
Năm: 2001
8. Cù Xuân Dần, Nguyễn Xuân Tịnh, Tiết Hồng Ngân, Nguyễn Bá Mùi và Lê Mộng Loan (1996). “Sinh lý học gia súc”. NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý học gia súc
Tác giả: Cù Xuân Dần, Nguyễn Xuân Tịnh, Tiết Hồng Ngân, Nguyễn Bá Mùi và Lê Mộng Loan
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1996
17. Trần Quang Hân và cs. (2002). “Kiểm tra năng suất nái sinh sản và con lai của giống lợn Yorkshire và Landrace”, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm tra năng suất nái sinh sản và con lai của giống lợn Yorkshire và Landrace
Tác giả: Trần Quang Hân và cs
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2002
18. Phan Xuân Hảo và cs. (2006). “Đánh giá khả năng sản xuất của lợn ngoại đời bố mẹ và con lai nuôi thịt”, Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá khả năng sản xuất của lợn ngoại đời bố mẹ và con lai nuôi thịt
Tác giả: Phan Xuân Hảo và cs
Năm: 2006
19. Trần Minh Hoàng (2001). “Nghiên cứu các chỉ tiêu năng suất sinh sản của đàn lợn nái Landrace và Yorkshire nuôi tại cơ sở giống ở các tỉnh phía Bắc”, Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các chỉ tiêu năng suất sinh sản của đàn lợn nái Landrace và Yorkshire nuôi tại cơ sở giống ở các tỉnh phía Bắc
Tác giả: Trần Minh Hoàng
Năm: 2001
21. Trịnh Xuân Lương (1998). “Nghiên cứu đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái ngoại nhân giống thuần nuôi tại xí nghiệp lợn giống Thiệu Yên - Thanh hóa”. Kết quả nghiên cứu khoa học viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái ngoại nhân giống thuần nuôi tại xí nghiệp lợn giống Thiệu Yên - Thanh hóa
Tác giả: Trịnh Xuân Lương
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1998
23. Tài liệu tập huấn “Quản lý chăn nuôi lợn” (1997). Bộ Nông nghiệp &amp; PTNT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý chăn nuôi lợn
Tác giả: Tài liệu tập huấn “Quản lý chăn nuôi lợn”
Năm: 1997
24. Nguyễn Văn Thanh (1999). “Một số chỉ tiêu sinh sản và bệnh đường sinh dục cái thường gặp ở đàn trâu các tỉnh phía bắc Việt Nam”. Luận án Tiến sỹ Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chỉ tiêu sinh sản và bệnh đường sinh dục cái thường gặp ở đàn trâu các tỉnh phía bắc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh
Năm: 1999
25. Nguyễn Văn Thanh (2003). “Khảo sát tỉ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại đồng bằng sông Hồng và thử nghiệm điều trị” Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, 10: 11-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tỉ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại đồng bằng sông Hồng và thử nghiệm điều trị
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh
Năm: 2003
26. Nguyễn Văn Thanh (2007). “Mối liên hệ giữa bệnh viêm tử cung của lợn nái với hội chứng tiêu chảy ở lợn con bú mẹ và thử nghiệm biện pháp phòng trị”. Tạp chí Khoa học kỹ thuật nông nghiệp, X(5) : 11-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối liên hệ giữa bệnh viêm tử cung của lợn nái với hội chứng tiêu chảy ở lợn con bú mẹ và thử nghiệm biện pháp phòng trị
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh
Năm: 2007
27. Trịnh Đình Thâu và Nguyễn Văn Thanh (2010). “Tình hình bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại và các biện pháp phòng trị”. Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, XVII(7) : 72-76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại và các biện pháp phòng trị
Tác giả: Trịnh Đình Thâu và Nguyễn Văn Thanh
Năm: 2010
28. Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2005). “So sánh khả năng sinh sản của lợn nái lai F 1 (Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc và Pietrain” Tạp chí KHKT nông nghiệp – Trường Đại học Nông nghiệp I Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh khả năng sinh sản của lợn nái lai F1 (Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc và Pietrain
Tác giả: Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình
Năm: 2005
29. Nguyễn Thiện và cộng sự (1995). “ Kết quả nghiên cứu và phát triển lợn lai có năng suất và chất lượng cao ở Việt Nam”, Viện chăn nuôi 50 năm xây dựng và phát triển 1952 - 2002, NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu và phát triển lợn lai có năng suất và chất lượng cao ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thiện và cộng sự
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1995
31. Nguyễn Khắc Tích và ctv (1995). “Nghiên cứu đặc điểm sinh lý sinh dục, khả năng sinh sản của đàn lợn nái ngoại nuôi tại Xí nghiệp giống vật nuôi Mỹ Văn – Hưng Yên”. Kết quả nghiên cứu khoa học CNTY (1993 – 1995), NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm sinh lý sinh dục, khả năng sinh sản của đàn lợn nái ngoại nuôi tại Xí nghiệp giống vật nuôi Mỹ Văn – Hưng Yên
Tác giả: Nguyễn Khắc Tích và ctv
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1995
32. Đoàn Xuân Trúc và ctv (2000). “Nghiên cứu chọn lọc xây dựng đàn nái hạt nhân giống vật nuôi Mỹ Văn - Hưng Yên”, Tạp chí Khoa học công nghệ và quản lý kinh tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chọn lọc xây dựng đàn nái hạt nhân giống vật nuôi Mỹ Văn - Hưng Yên
Tác giả: Đoàn Xuân Trúc và ctv
Năm: 2000
34. Phùng Thị Vân và ctv (2001). “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng của lợn nái Landrace và Yorkshire phối chéo giống, đặc điểm sinh trưởng, khả năng sinh sản của lợn nái lai F1 (LY) và Duroc”, Báo cáo khoa học khoa Chăn nuôi thú y 1999 – 2000, Viện Chăn nuôi Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng sinh trưởng của lợn nái Landrace và Yorkshire phối chéo giống, đặc điểm sinh trưởng, khả năng sinh sản của lợn nái lai F1 (LY) và Duroc
Tác giả: Phùng Thị Vân và ctv
Năm: 2001
35. Phùng Thị Vân và ctv (2002). “Nghiên cứu khả năng sinh sản, cho thịt của lợn nái sinh sản, cho thịt của lợn lai và ảnh hưởng của hai chế độ nuôi tới khả năng cho thịt của lợn nái ngoại có tỷ lệ trên 52%”, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn - Vụ khoa học công nghệ và chất lượng sản phẩm, Kết quả Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng sinh sản, cho thịt của lợn nái sinh sản, cho thịt của lợn lai và ảnh hưởng của hai chế độ nuôi tới khả năng cho thịt của lợn nái ngoại có tỷ lệ trên 52%
Tác giả: Phùng Thị Vân và ctv
Năm: 2002

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w