1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải rắn, nước thải tại các doanh nghiệp trong khu công nghiệp phú thị gia lâm hà nội

99 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 3,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • trang bìa

  • MỤC LỤC

  • TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

  • PHẦN 1. MỞ ĐẦU

    • 1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

    • 1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

    • 1.3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU

    • 1.4. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC HOẶC THỰC TIỄN

  • PHẦN 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

    • 2.1. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAMVÀ TRÊN THẾ GIỚI

      • 2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển các khu công nghiệp

      • 2.1.2. Vai trò của khu công nghiệp với sự phát triển kinh tế xã hội

      • 2.1.3. Những vấn đề môi trường phát sinh từ khu công nghiệp

    • 2.2. THỰC TRẠNG PHÁT SİNH CHẤT THẢI RẮN, NƯỚC THẢI CÔNGNGHIỆP Ở VIỆT NAM

      • 2.2.1. Thực trạng phát sinh chất thải rắn công nghiệp

      • 2.2.2. Thực trạng phát sinh nước thải công nghiệp

      • 2.2.3. Thực trạng phát sinh khí thải công nghiệp

    • 2.3. TÁC HẠI CỦA CHẤT THẢI RẮN VÀ NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆPĐẾN MÔI TRƯỜNG

      • 2.3.1. Tác hại của chất thải rắn công nghiệp đến môi trường

      • 2.3.2. Tác hại của nước thải công nghiệp đến môi trường

    • 2.4. CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN, NƯỚC THẢI TẠI CÁCKHU CÔNG NGHIỆPTRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

      • 2.4.1. Công tác quản lý chất thảı rắn tạı các khu công nghiệp trên thế giới vàViệt Nam

      • 2.4.2. Công tác quản lý nước thải tạı các khu công nghiệp Việt Nam

    • 2.5. CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN, NƯỚC THẢI TẠI CÁCKHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI

      • 2.5.1. Công tác quản lý chất thải rắn tại các khu công nghiệp trên địa bànHà Nội

      • 2.5.2. Công tác quản lý nước thải công nghiệp trên địa bàn Hà Nội

  • PHẦN 3. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    • 3.1. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

    • 3.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

    • 3.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

      • 3.3.1. Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp

      • 3.3.2. Phương pháp kế thừa các tài liệu có liên quan tới đề tài

      • 3.3.3. Phương pháp khảo sát hiện trường

      • 3.3.4. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

      • 3.3.5. Phương pháp thống kê và xử lý số liệu

  • PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

    • 4.1 GIỚİ THIỆU VỀ KHU CÔNG NGHIỆP PHÚ THỊ, HUYỆN GIA LÂM

      • 4.1.1. Giới thiệu chung về khu công nghiệp

      • 4.1.2. Cơ sở hạ tầng và cảnh quan môi trường

      • 4.1.3. Cơ cấu tổ chức

      • 4.1.4. Các ngành nghề chính, các sản phẩm hàng hóa

    • 4.2. HIỆN TRẠNG CHẤT THẢI RẮN KHU CÔNG NGHIỆP PHÚ THỊ,HUYỆN GIA LÂM

    • 4.3. HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN KHU CÔNG NGHIỆPPHÚ THỊ, HUYỆN GIA LÂM

      • 4.3.1. Công tác thu gom, phân loại chất thải rắn

      • 4.3.2. Các hình thức xử lý, tái chế chất thải rắn

    • 4.4. HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ NƯỚC THẢI KHU CÔNG NGHIỆP PHÚTHỊ, HUYỆN GIA LÂM

      • 4.4.1. Nguồn phát sinh nước thải khu công nghiệp

      • 4.4.2. Lưu lượng xả thảicủa các doanh nghiệp thuộc KCN Phú Thị

      • 4.4.3. Kết quả phân tích chất lượng nước thải đầu vào khu công nghiệpPhú Thị

    • 4.5. CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC THẢI TẠI KHU CÔNG NGHIỆPPHÚ THỊ

    • 4.6. KẾT QUẢ PHÂN TÍCH CHẤT LƯỢNG NƯỚC THẢI CỦA TRẠMXỬ LÝ NƯỚC THẢI KHU CÔNG NGHIỆP

    • 4.7. NHẬN XÉT CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN,NƯỚC THẢI TẢI KHU CÔNG NGHIỆP PHÚ THỊ

      • 4.7.1. Công tác quản lý chất thải rắn tại khu công nghiệp Phú Thị

      • 4.7.2. Công tác quản lý nước thải tại khu công nghiệp Phú Thị

    • 4.8. ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI, NƯỚCTHẢI CÔNG NGHIỆP NHẰM GIẢM THIỂU Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNGTẠI KCN PHÚ THỊ, HUYỆN GIA LÂM

      • 4.8.1. Giải pháp về quản lý chất thải rắn công nghiệp

      • 4.8.2. Giải pháp về quản lý nước thải công nghiệp

  • PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

    • 5.1. KẾT LUẬN

    • 5.2. KIẾN NGHỊ

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

    • Tiếng Việt

    • Tiếng Anh

Nội dung

Tổng quan nghiên cứu

Tình hình phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam và trên thế giới

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển các khu công nghiệp

Khu công nghiệp là khu vực tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và cung cấp dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, được xác định bởi ranh giới địa lý cụ thể và không có dân cư sinh sống Khu công nghiệp được thành lập theo quyết định của chính phủ hoặc thủ tướng chính phủ, và có thể bao gồm các doanh nghiệp chế xuất.

Kể từ khi Nghị định 322/HĐBT về quy chế Khu chế xuất (KCX) được ban hành vào ngày 18 tháng 10 năm 1991, Chính phủ đã phát hành 3 Nghị định quan trọng: Nghị định 322/HĐBT quy định về KCX, Nghị định 192/CP về quy chế Khu công nghiệp (KCN) vào ngày 18 tháng 12 năm 1994, và Nghị định 36/CP vào ngày 24 tháng 4 năm 1997, quy định về KCN và KCX, thay thế cho hai Nghị định trước đó là 322/HĐBT và 192/CP.

Ngày 21/8/2006, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch phát triển các khu công nghiệp (KCN) ở Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 Quy hoạch này nhằm hình thành hệ thống KCN chủ đạo, thúc đẩy phát triển công nghiệp quốc gia và tạo điều kiện cho các địa phương có tỷ trọng công nghiệp trong GDP thấp Mục tiêu là nâng tỷ lệ đóng góp của các KCN vào tổng giá trị sản xuất công nghiệp từ 24% hiện nay lên 39-40% vào năm 2010 và trên 60% trong giai đoạn tiếp theo Đồng thời, tỷ lệ xuất khẩu hàng công nghiệp từ các KCN cũng được đặt mục tiêu tăng từ 19,2% giá trị xuất khẩu toàn quốc hiện tại lên khoảng 40% vào năm 2010 và cao hơn trong các giai đoạn tiếp theo.

Tính đến tháng 3/2011, cả nước có 260 khu công nghiệp (KCN) được thành lập, với tổng diện tích hơn 71.000 ha, trong đó 173 KCN đã đi vào hoạt động và 87 KCN đang trong quá trình giải phóng mặt bằng và xây dựng Đặc biệt, 105 KCN đã hoàn thành công trình xử lý nước thải tập trung, chiếm 60% tổng số KCN hoạt động Đến tháng 12/2011, số KCN có hệ thống xử lý nước thải tập trung tăng lên 118, chiếm 65% tổng số KCN đã vận hành, cùng với hơn 30 KCN đang xây dựng công trình này Đến tháng 9/2012, cả nước đã có 283 KCN, với tổng diện tích đất tự nhiên đạt 80.100 ha.

Số lượng KCN Diện tích KCN

Số lượng KCN (khu) Diện tích KCN (ha)

Nguồn: Bộ tài nguyên và môi trường, (2009)

Hình 2.1 Tình hình phát triển khu công nghiệp ở Việt Nam

Các khu công nghiệp (KCN) đã được thành lập tại 58 tỉnh, thành phố trên toàn quốc, phân bố hợp lý dựa trên lợi thế địa kinh tế và tiềm năng của các vùng kinh tế trọng điểm Một số KCN cũng được đặt ở các khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn nhằm thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp địa phương Quy mô của các KCN và khu chế xuất (KCX) rất đa dạng, với quy mô trung bình đạt 268ha tính đến tháng 12/2011 Tuy nhiên, các vùng khó khăn như Trung du miền núi phía Bắc và Tây Nguyên có quy mô KCN trung bình thấp hơn, lần lượt là 154,9 ha và 157,6 ha, trong khi Đông Nam Bộ có quy mô KCN trung bình cao nhất, đạt 378,3 ha.

Tỷ lệ lấp đầy của các khu công nghiệp (KCN) trên cả nước khá đồng đều, với tỷ lệ chung cho các KCN đã vận hành và đang xây dựng dao động từ 50-60% Riêng đối với các KCN đã đi vào hoạt động, tỷ lệ này đạt mức 65-75% Những vùng phát triển KCN lâu đời như Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long có tỷ lệ lấp đầy cao, với Đông Nam Bộ (bao gồm cả Long An) và đồng bằng sông Hồng đều đạt 73%, trong khi đồng bằng sông Cửu Long đạt tới 89% (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2009).

2.1.2 Vai trò của khu công nghiệp với sự phát triển kinh tế xã hội

Trong 18 năm qua, các KCN đóng vai trò quan trọng trong hình thành lực lượng công nghiệp mạnh cho phát triển kinh tế đất nước Các khu công nghiệp đã và đang tạo nhân tố chủ yếu trong việc tăng trưởng công nghiệp theo quy hoạch, tạo việc làm và hạn chế tình trạng ô nhiễm do chất thải công nghiệp gây ra Chính sự phát triển của khu công nghiệp đã thúc đây việc phát truển các đô thị mới, phát triển các cơ sở phụ trợ và dịch vụ, tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế xã hội nói chung Vai trò tích cực tác động của khu công nghiệp có thể xác định rõ trên một số khía cạnh chủ yếu như:

Năm 2008, tổng giá trị sản xuất công nghiệp của các khu công nghiệp (KCN) đạt 33,2 tỷ USD, chiếm 38% GDP cả nước, và đóng góp khoảng 20% vào tổng kim ngạch xuất khẩu Mỗi ha đất công nghiệp cho thuê tạo ra giá trị xuất khẩu khoảng 700.000 USD, với giá trị xuất khẩu của KCN liên tục tăng từ 8 tỷ USD năm 2006 lên 16,2 tỷ USD năm 2008, chiếm 25,8% tổng giá trị xuất khẩu Các doanh nghiệp KCN đã nộp vào ngân sách nhà nước khoảng 2,6 tỷ USD trong năm 2008, và giá trị sản xuất kinh doanh trên 1 ha đất công nghiệp cho thuê đạt 1,68 triệu USD/năm.

KCN đã có những đóng góp quan trọng trong việc thu hút đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài, với bình quân khoảng 3,8 triệu USD cho mỗi ha đất công nghiệp cho thuê Đến cuối năm 2008, cả nước đã thu hút 3.564 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký 42,7 tỷ USD và 3.588 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký 251.542 tỷ đồng (tương đương 14,8 tỷ USD) Riêng trong năm 2008, KCN đã thu hút gần 59.200 tỷ đồng đầu tư trong nước, bao gồm 524 dự án mới với tổng vốn đăng ký 53.255 tỷ đồng và điều chỉnh 173 dự án với tổng vốn đầu tư tăng thêm 5.945 tỷ đồng.

Bảng 2.1 Sự phát triển của khu công nghiêp ở nước ta

Nội dung Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008

Tổng số dự án nước ngoài 2.433 3.020 3.564

Số dự án nước ngoài mở mới 356 605 540

Tổng vốn đầu tư nước ngoài cấp mới

Tỷ lệ so với tổng số vốn đầu tư nước ngoài đăng ký cả nước (%) 56 42,3 38

Số dự án nước ngoài tăng vốn 337 459 537

Tổng vốn đầu tư nước ngoài xin tăng

Tổng số dự án trong nước 2623 3070 3588

Số sự án trong nước mở mới 300 468 524

Tổng vốn đầu tư trong nước

Bên cạnh việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài, một trong những đóng góp quan trọng là việc tiếp thu công nghệ hiện đại Qua quá trình làm việc trực tiếp với các đối tác nước ngoài, các chuyên gia, kỹ sư và công nhân Việt Nam có cơ hội học hỏi kinh nghiệm về tổ chức quản lý và điều hành sản xuất tiên tiến.

KCN và KCX đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra công ăn việc làm cho người lao động Hoạt động của các khu công nghiệp này yêu cầu một lực lượng lao động lớn, mang đến nhiều cơ hội việc làm cho cộng đồng Hơn nữa, việc xây dựng các xí nghiệp sản xuất và dịch vụ hỗ trợ xung quanh cũng đã giúp giải quyết việc làm cho một số lượng lớn lao động từ các vùng lân cận.

Các KCN, KCX đang trở thành động lực quan trọng trong phát triển kinh tế và công nghiệp của Việt Nam, đặc biệt tại những khu vực kinh tế - xã hội còn khó khăn Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, giá trị sản xuất công nghiệp hàng năm của các KCN, KCX đạt 20 - 25 tỷ USD, với tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp của doanh nghiệp trong KCN, KCX tăng từ 17% năm 2001 lên khoảng 30% năm 2010 Hiện nay, các KCN, KCX cũng đang tạo ra gần 1,5 triệu việc làm cho người lao động.

Quá trình phát triển các khu công nghiệp (KCN) ở Việt Nam đã mang lại những tác động tích cực cho nền kinh tế, đặc biệt trong công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa KCN đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển các ngành có năng lực cạnh tranh Đồng thời, KCN cũng thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghệ cao, chuyển giao công nghệ tiên tiến, nâng cao kỹ năng quản lý và đào tạo tay nghề cho người lao động Việt Nam.

2.1.3 Những vấn đề môi trường phát sinh từ khu công nghiệp

Việc tập trung các cơ sở sản xuất trong khu công nghiệp (KCN) giúp sử dụng hợp lý tài nguyên và năng lượng, đồng thời khoanh vùng sản xuất công nghiệp, nâng cao hiệu quả xử lý nước thải và chất thải rắn Điều này không chỉ giảm chi phí đầu tư cho hệ thống xử lý mà còn giảm chi phí xử lý môi trường trên mỗi đơn vị chất thải Hơn nữa, công tác quản lý môi trường tại các cơ sở sản xuất trong KCN cũng trở nên thuận lợi hơn, góp phần bảo vệ cộng đồng dân cư xung quanh.

Mặc dù khu công nghiệp (KCN) mang lại nhiều lợi ích, nhưng việc xây dựng và hoạt động của chúng cũng gặp phải không ít thách thức về môi trường KCN thường phát triển với nhiều ngành nghề khác nhau, dẫn đến tính phức tạp cao trong công tác xây dựng, thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và giám sát môi trường Điều này tạo ra khó khăn trong việc đảm bảo chất lượng công trình và công nghệ xử lý nước thải đồng bộ Tại nhiều KCN, chất lượng nước thải sau xử lý vẫn chưa đạt tiêu chuẩn môi trường và thường không ổn định.

Thực trạng phát sýnh chất thải rắn, nước thải công nghiệp ở Việt Nam

Hoạt động sản xuất tại các khu công nghiệp (KCN) tạo ra một lượng lớn chất thải, trong đó có một phần không nhỏ là rác thải nguy hại Theo báo cáo của Vụ Quản lý KCN&KCX, tổng lượng rác thải trung bình hàng ngày của cả nước đã tăng từ 25.000 tấn (năm 1999) lên khoảng 30.000 tấn, với rác thải công nghiệp chiếm khoảng 20%, chủ yếu tập trung tại các KCN, KCX ở vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và Nam Hệ thống giao thông và cây xanh tại nhiều KCN chưa được quy hoạch hợp lý, với cây xanh chủ yếu mang tính đối phó và thiếu các cây tạo bóng mát, ảnh hưởng đến khả năng bảo vệ môi trường.

Sự phát triển của khu công nghiệp (KCN) đã tạo ra áp lực đáng kể lên môi trường và cuộc sống của người lao động cũng như cộng đồng xung quanh, điều này ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển bền vững của đất nước.

2.2 THỰC TRẠNG PHÁT SİNH CHẤT THẢI RẮN, NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM

2.2.1 Thực trạng phát sinh chất thải rắn công nghiệp

Chất thải rắn từ các khu công nghiệp bao gồm cả CTR sinh hoạt và CTR công nghiệp, trong đó CTR công nghiệp được phân thành CTR thông thường và chất thải rắn nguy hại Lượng CTR phát sinh phụ thuộc vào diện tích cho thuê, diện tích sử dụng, và đặc điểm của loại hình công nghiệp trong khu vực Hiện tại, tính chất và mức độ phát thải trên đơn vị diện tích chưa ổn định do tỷ lệ lấp đầy thấp và sự biến động lớn trong quy mô cũng như loại hình doanh nghiệp.

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các khu công nghiệp (KCN) Việt Nam hiện nay thải ra khoảng 8.000 tấn chất thải rắn (CTR) mỗi ngày, tương đương gần 3 triệu tấn mỗi năm Lượng CTR này đang gia tăng cùng với tỷ lệ lấp đầy các KCN Từ năm 2005-2006, trung bình 1ha đất cho thuê phát sinh khoảng 134 tấn CTR/năm, đến năm 2008-2009 con số này đã tăng lên 204 tấn/năm, tương đương mức tăng 50% trong ba năm, tức trung bình 10% mỗi năm Sự gia tăng phát thải trên đơn vị diện tích phản ánh sự thay đổi trong cơ cấu sản xuất công nghiệp, với sự xuất hiện của các ngành có mức phát thải cao và quy mô lớn hơn tại các KCN Ba vùng kinh tế trọng điểm chiếm khoảng 80% tổng lượng CTR công nghiệp, trong đó vùng kinh tế trọng điểm phía Nam là lớn nhất.

Theo kết quả tính, tổng phát thải CTR từ các KCN năm 2015 sẽ vào khoảng 6 – 7,5 triệu tấn/năm, và đạt khoảng 9 – 13,5 triệu tấn/năm vào năm

Theo các chuyên gia, vào năm 2020, thành phần chất thải rắn tại các khu công nghiệp có xu hướng gia tăng các chất độc hại Điều này là hệ quả của việc gia tăng mức độ công nghiệp hóa và sự sử dụng hóa chất ngày càng nhiều.

Bảng 2.2 Ước tính và dự báo CTR các KCN của Việt Nam đến 2020

Tổng diện tích quy hoạch(ha)

Tổng diện tích sử dụng(ha)

Tổng diện tích cho thuê(ha)

Lượng CTR Phương án 1 ( tấn/năm)

Lượng CTR Phương án 2 (tấn/năm)

Nguồn: Viện nghiên cứu Chiến lược và Chính sách Công nghiệp, Bộ Công thương (2011)

Phương án 1 cho mức phát thải lần lượt là 134 tấn/ha/năm vào năm 2005, 200 tấn/ha/năm vào năm 2010, và duy trì ở mức 200 tấn/ha/năm cho các năm 2015 và 2020 Trong khi đó, Phương án 2 ghi nhận mức phát thải tăng dần từ 134 tấn/ha/năm năm 2005 lên 200 tấn/ha/năm năm 2010, và đạt 250 tấn/ha/năm vào năm 2015, trước khi tăng lên 300 tấn/ha/năm vào năm 2020 Diện tích tính dự báo bao gồm diện tích cho thuê có hoạt động sản xuất, với công thức tính tổng CTR là mức phát thải hàng năm của mỗi ha (tấn/ha/năm) nhân với tổng diện tích cho thuê.

Hoạt động sản xuất tại các khu công nghiệp (KCN) đã tạo ra một lượng chất thải rắn và chất thải nguy hại đáng kể, với thành phần và khối lượng phụ thuộc vào loại hình công nghiệp Theo khảo sát, tỷ lệ chất thải nguy hại trong chất thải rắn của các KCN thường chiếm dưới 20% nếu được phân loại tốt, trong khi tỷ lệ chất có thể tái chế hoặc tái sử dụng, như kim loại và hóa chất, cũng khá cao Mặc dù vậy, cần lưu ý rằng ở một số KCN mới, đặc biệt là trong ngành điện tử, tỷ lệ chất thải nguy hại có thể vượt quá 20%.

Tổng lượng chất thải rắn ở Việt Nam đã tăng từ 25.000 tấn/ngày vào năm 1999 lên khoảng 30.000 tấn/ngày vào năm 2005, với sự gia tăng đáng kể từ hoạt động công nghiệp, chủ yếu tập trung tại các khu công nghiệp (KCN) ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và Nam Bộ Trong những năm gần đây, sự mở rộng của các KCN đã dẫn đến sự gia tăng lượng chất thải rắn, đặc biệt là chất thải nguy hại Theo số liệu, chất thải rắn phát sinh từ các KCN phía Nam chiếm tỷ trọng lớn nhất toàn quốc, đạt gần 3.000 tấn/ngày, trong khi lượng chất thải nguy hại ở vùng này cao gấp nhiều lần so với các khu vực khác.

3 lần lượng chất thải nguy hại phát sinh ở vùng KTTĐ Bắc Bộ và nhiều gấp khoảng 20 lần lượng chất thải nguy hại phát sinh ở vùng KTTĐ miền Trung [12]

Bảng 2.3 Khối lượng chất thải rắn từ các khu công nghiêp phía Nam, 2008

Tỉnh/Thành phố Khối lượng chất thải rắn công nghiệp (tấn/ngày)

Không nguy hại Nguy hại Đồng Nai 329 55

11 tỉnh ĐBSCL (không kể Long

Nguồn: Trung tâm Công nghệ môi trường ENTEC (tháng 5/2009)

Phần lớn chất thải nguy hại phát sinh từ các hoạt động sản xuất công nghiệp, với tổng lượng chất thải này được quản lý bởi Công ty Môi trường đô thị URENCO.

Trong tháng 1 năm 2009, Hà Nội đã thu gom khoảng 2.700 tấn chất thải, trong đó 2.100 tấn là chất thải nguy hại từ các hoạt động sản xuất công nghiệp như dầu thải, dung môi, bùn thải và bao bì hóa chất Điều này cho thấy tỷ lệ chất thải nguy hại phát sinh từ ngành công nghiệp, bao gồm điện tử, sản xuất hóa chất và lắp ráp thiết bị cao cấp, cao hơn nhiều so với các lĩnh vực khác.

Tại tỉnh Bắc Ninh, lượng chất thải công nghiệp phát sinh ước tính khoảng 450 tấn/ngày, trong đó chất thải nguy hại chiếm khoảng 10,7% với 48 tấn/ngày Hầu hết các khu công nghiệp trong tỉnh chưa có khu vực tập kết và trung chuyển chất thải tập trung.

Theo ước tính năm 2010, Việt Nam sẽ phát sinh 4,8 triệu tấn chất thải rắn công nghiệp mỗi năm, trong đó có 630.000 tấn là chất thải nguy hại Khu vực Đông Nam Bộ, đặc biệt là phía Nam, hiện đang là nơi phát sinh nhiều chất thải rắn công nghiệp nhất Hà Nội và TP Hồ Chí Minh là hai địa phương đứng đầu về lượng chất thải rắn công nghiệp.

Bảng 2.4 Tổng lượng chất thải rắn ở một số tỉnh Nam Việt Nam

Tỉnh/Thành phố Khối lượng chất thải rắn công nghiệp (tấn/ngày)

Không nguy hại Nguy hại Đồng Nai 1301 325

11 tỉnh ĐBSCL (không kể Long

Nguồn: Trung tâm công nghệ Môi trường ENTEC (tháng 5/2009)

2.2.2 Thực trạng phát sinh nước thải công nghiệp

Trong những năm gần đây, lượng nước thải từ các khu công nghiệp (KCN) đã gia tăng đáng kể, với tốc độ tăng trưởng vượt xa so với tổng lượng nước thải từ các lĩnh vực khác trên toàn quốc Khu vực Đông Nam Bộ là nơi phát sinh lượng nước thải lớn nhất, chiếm tới 49% tổng lượng nước thải của các KCN, trong khi khu vực Tây Nguyên chỉ chiếm 2%.

Tính đến tháng 6 năm 2015, trong số 214 khu công nghiệp (KCN) hoạt động, 166 KCN đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung, chiếm 78%, trong khi 24 KCN đang xây dựng hệ thống này Chất lượng nước thải đầu ra phụ thuộc vào việc xử lý, nhưng nhiều KCN vẫn chưa triển khai hoặc có tỷ lệ đấu nối thấp Hệ thống xử lý nước thải cục bộ ở một số doanh nghiệp không được vận hành hiệu quả, dẫn đến ô nhiễm nghiêm trọng tại các sông, hồ Cụ thể, kênh Bàu Lăng đã trở thành kênh nước thải do tiếp nhận nước từ KCN Quảng Phú, và sông Hoài đã biến thành màu đen do nước thải từ KCN Điện Nam – Điện Ngọc Ô nhiễm không chỉ xảy ra ở hạ lưu mà còn lan lên thượng lưu các con sông, với chất lượng nước tại ba lưu vực sông Đồng Nai, Nhuệ - Đáy và Cầu đều bị suy giảm mạnh Đặc biệt, sông Cầu qua Thái Nguyên và sông Cà Lô không đạt tiêu chuẩn QCVN, cho thấy mức độ ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng do nước thải từ KCN và cơ sở sản xuất không qua xử lý.

Trước đây, một số đoạn sông, đặc biệt là sông Thi Vải, bị ô nhiễm nghiêm trọng do nước thải từ các khu công nghiệp (KCN) Tuy nhiên, nhờ vào việc áp dụng các biện pháp kiểm soát ô nhiễm bắt buộc cho các doanh nghiệp, chất lượng nước đã có sự cải thiện Dữ liệu quan trắc từ năm 2006 đến 2008 cho thấy mức độ ô nhiễm của sông Thi Vải rất cao Nhưng từ cuối năm 2008 đến đầu năm 2009, sau khi xử lý vi phạm xả thải của công ty Vedan, việc tuân thủ pháp luật của các KCN đã được tăng cường, dẫn đến sự cải thiện đáng kể tình trạng ô nhiễm của sông này.

Tác hại của chất thải rắn và nước thải công nghiệp đến môi trường 2.4 Công tác quản lý chất thải rắn, nước thải tại các khu công nghiệp trên thế giới và Việt Nam

2.3.1 Tác hại của chất thải rắn công nghiệp đến môi trường

Quản lý chất thải rắn không hợp lý và xử lý không đúng kỹ thuật là nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí, ảnh hưởng đến sức khỏe con người và sự phát triển kinh tế - xã hội.

Tại Việt Nam, hoạt động phân loại chất thải rắn (CTR) tại nguồn còn hạn chế do cơ sở vật chất và trang thiết bị kỹ thuật không đầy đủ Phần lớn phương tiện thu gom CTR không đạt tiêu chuẩn kỹ thuật và không đảm bảo vệ sinh môi trường, trong khi các điểm tập kết CTR chưa được đầu tư đúng mức, dẫn đến tình trạng mất vệ sinh Hệ thống vận chuyển CTR không đáp ứng đủ nhu cầu hàng ngày, gây ra tình trạng tồn đọng CTR trong khu dân cư Tất cả các giai đoạn quản lý CTR từ thu gom, vận chuyển đến xử lý đều gây ô nhiễm môi trường.

* Ô nhiễm môi trường không khí

CTR hữu cơ, đặc biệt là CTR hữu cơ tự nhiên, chịu ảnh hưởng của nhiệt độ, độ ẩm và các vi sinh vật Quá trình phân hủy CTR hữu cơ dẫn đến việc sản sinh ra các khí như CH4 (63.8%) và CO2.

Khí thải từ bãi rác, chủ yếu là CH4 và CO2, chiếm từ 3-19% và tăng cao vào mùa hè do ảnh hưởng của nhiệt độ Khoảng 30% khí phát sinh từ quá trình phân hủy rác có thể thoát lên mặt đất mà không cần tác động Quá trình vận chuyển và lưu giữ chất thải rắn (CTR) gây ô nhiễm không khí với mùi khó chịu từ các hợp chất hữu cơ như amoniac, hydrosunfur, và phenol Việc đốt rác cũng góp phần vào ô nhiễm không khí, phát sinh khói và các khí độc hại như CO, oxit nitơ, dioxin và furan, đặc biệt nếu nhiệt độ lò đốt không đủ cao Các kim loại nặng cũng có thể phát tán vào môi trường qua tro bụi Tác động của khí thải từ bãi rác bao gồm nguy cơ cháy nổ, thiệt hại mùa màng, khó chịu do mùi hôi, tiếng ồn từ máy móc, và hiệu ứng nhà kính do phát sinh CH4 và CO2.

Chất thải rắn (CTR) nếu không được thu gom và xử lý đúng cách sẽ gây ô nhiễm môi trường nước, làm tắc nghẽn hệ thống lưu thông nước và giảm lượng oxy hòa tan (DO) trong nước Sự phân hủy của chất thải hữu cơ trong nước không chỉ tạo ra mùi hôi mà còn làm phú dưỡng nguồn nước, dẫn đến suy thoái sinh vật thủy sinh Nước thải từ các bãi chôn lấp không đạt tiêu chuẩn vệ sinh thường rò rỉ ra môi trường, gây ô nhiễm nghiêm trọng Tại Nghệ An, nước bẩn từ bãi rác và nhà máy xử lý rác đã làm ô nhiễm hồ Bảy Mẫu, ảnh hưởng đến sinh hoạt của 120 hộ dân Tại Quảng Trị, bãi rác tràn ra đường gây mùi hôi khó chịu, trong khi nước mưa từ bãi rác chảy vào hồ Tích Tường, nguồn nước cung cấp cho người dân Các sự cố trong quá trình vận hành nhà máy của Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh cũng đã gây ô nhiễm biển, làm chết hải sản tại nhiều tỉnh.

Chất thải rắn, đặc biệt là chất thải xây dựng như gạch, thủy tinh và kim loại nặng, có thể tích lũy dưới đất và gây ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trường Các kim loại như chì, kẽm và cadimi thường xuất hiện ở khu vực khai thác mỏ và công nghiệp, tích lũy trong đất và xâm nhập vào chuỗi thức ăn, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người Ngoài ra, các chất tẩy rửa, phân bón và hóa chất từ ngành công nghiệp cũng góp phần làm ô nhiễm đất Nghiên cứu từ Viện Y học Lao động và Vệ sinh Môi trường chỉ ra rằng đất tại bãi rác Lạng Sơn và Nam Sơn bị ô nhiễm vi sinh vật Chất thải nguy hại chứa độc tố nếu không được xử lý đúng cách sẽ làm tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường đất Trong khai thác khoáng sản, việc thải quặng đuôi trực tiếp xuống đất cũng gây tác động tiêu cực đến chất lượng đất.

* Ảnh hưởng tới đời sống, sức khỏe người dân

Quản lý và xử lý CTR không hợp lý gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người, đặc biệt là những người sống gần khu vực làng nghề, khu công nghiệp và bãi chôn lấp chất thải Người dân sống gần bãi rác không hợp vệ sinh có tỷ lệ mắc bệnh da liễu, viêm phế quản và đau xương khớp cao hơn so với những khu vực khác Nghiên cứu tại Lạng Sơn cho thấy tỷ lệ người mắc các bệnh như tiêu chảy, da liễu và hô hấp ở khu vực chịu ảnh hưởng của bãi rác cao hơn rõ rệt Hiện tại, chưa có số liệu đầy đủ về tác động của bãi chôn lấp đến sức khỏe của những người làm nghề nhặt rác thải, những người này thường xuyên phải đối mặt với bụi, mầm bệnh, chất độc hại, côn trùng và hơi khí độc trong quá trình làm việc.

Các chứng bệnh phổ biến ở những người làm nghề nhặt rác bao gồm cúm, lỵ, giun, lao, dạ dày, tiêu chảy và các vấn đề về đường ruột khác Bãi chôn lấp rác tiềm ẩn nhiều nguy cơ cho sức khỏe, với các vật sắc nhọn, thủy tinh vỡ và bơm kim tiêm cũ có thể gây lây nhiễm bệnh truyền nhiễm như AIDS Đặc biệt, phụ nữ và trẻ em, chiếm tỷ lệ lớn trong nghề này, là nhóm dễ bị tổn thương Một sự cố đáng chú ý là vụ vỡ đập chắn nước thải tại xí nghiệp khai thác quặng sắt Nà Lũng, gây ngập bùn khoảng 4ha diện tích lúa, gây thiệt hại lớn cho người dân Cao Bằng.

2.3.2 Tác hại của nước thải công nghiệp đến môi trường

Ô nhiễm nguồn nước gây ra những tác hại nghiêm trọng đối với sức khỏe con người, làm gia tăng tỷ lệ bệnh tật cấp và mãn tính như tiêu chảy và ung thư da Sự gia tăng nhanh chóng của công nghiệp hóa, đô thị hóa và dân số đang tạo áp lực lớn lên tài nguyên nước Nhiều khu vực đô thị, khu công nghiệp và làng nghề đang phải đối mặt với ô nhiễm nước nghiêm trọng từ nước thải, khí thải và chất thải rắn Tại các thành phố đông dân, rác thải sinh hoạt cũng là một nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường nước, trong khi ô nhiễm từ sản xuất công nghiệp đang ở mức rất cao.

Trong ngành công nghiệp dệt may, giấy và bột giấy, nước thải thường có pH từ 9-11, với chỉ số BOD và COD cao, lần lượt lên đến 700mg/l và 2.500mg/l, cùng với hàm lượng chất rắn lơ lửng vượt mức cho phép Nước thải từ các ngành này chứa xyanua (CN-) vượt 84 lần, H2S vượt 4,2 lần và NH3 vượt 84 lần tiêu chuẩn, gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước bề mặt trong khu vực dân cư Tại KCN thủy sản Thọ Quang, trong số 10 doanh nghiệp hoạt động, có đến 7 doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường Hàng ngàn mét khối nước thải ô nhiễm từ các nhà máy chế biến đổ ra sông Hàn, gây mùi hôi thối nồng nặc, trong khi việc chế biến thức ăn gia súc cũng góp phần làm ô nhiễm không khí Hàng trăm hộ dân gần KCN Thọ Quang đã phản ứng dữ dội trước tình trạng nhà máy chế biến thức ăn A Zet xả khói trắng và mùi hôi ra môi trường, ảnh hưởng đến 400 hộ dân xung quanh.

Theo báo cáo môi trường quốc gia năm 2009, Việt Nam đang đối mặt với thách thức lớn về ô nhiễm do chất thải từ các khu công nghiệp (KCN), ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng và phát triển kinh tế Khoảng 70% nước thải từ KCN được xả thẳng ra môi trường mà không qua xử lý, trong khi 57% KCN chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung Tính đến tháng 10/2009, cả nước có 223 KCN, trong đó 171 KCN đã hoạt động, nhưng tỷ lệ xây dựng hệ thống xử lý nước thải còn thấp Ô nhiễm từ các KCN không chỉ ảnh hưởng đến môi trường mà còn gây thiệt hại cho nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản Tình trạng ô nhiễm không khí và chất thải rắn tại các KCN cũng đang gia tăng, trong khi công tác quản lý môi trường còn nhiều bất cập Tổng cục môi trường đã tiến hành thanh tra tại các KCN để ngăn chặn ô nhiễm nguồn nước.

2.4 CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN, NƯỚC THẢI TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆPTRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

2.4.1 Công tác quản lý chất thảı rắn tạı các khu công nghiệp trên thế giới và Việt Nam

Các quốc gia tiên tiến như Châu Âu, Mỹ, Nhật Bản và Úc đang hoàn thiện luật bảo vệ môi trường, đặc biệt là quy chế quản lý chất thải nguy hại Mặc dù có sự khác biệt trong các điều khoản giữa các quốc gia, nhưng nhìn chung, các bộ luật này thể hiện sự quan tâm của nhà nước đối với quản lý chất thải nguy hại Bên cạnh đó, các công ước quốc tế về quản lý chất thải nguy hại đã ra đời, phản ánh mối quan tâm toàn cầu đối với các chất thải nguy hiểm đang đe dọa cuộc sống Quản lý chất thải, đặc biệt là chất thải nguy hại, là một vấn đề nhạy cảm tại Việt Nam và nhiều quốc gia khác, do lượng chất thải ngày càng tăng, trong đó có nhiều chất thải nguy hại Các hóa chất độc hại từ chiến tranh và thuốc bảo vệ thực vật không còn giá trị sử dụng vẫn tồn đọng, đòi hỏi phải có biện pháp xử lý hiệu quả, trong khi năng lực quản lý chất thải nguy hại của chúng ta còn hạn chế.

Trong nhiều năm qua, công tác quản lý chất thải rắn (CTR) đã được Đảng và Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm, thể hiện qua các chính sách và pháp luật như Luật Bảo vệ môi trường 1994, Luật Bảo vệ môi trường 2005, cùng với Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 Cụ thể, Chiến lược quản lý CTR tại các đô thị và khu công nghiệp (KCN) ở Việt Nam cũng đã được xây dựng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ môi trường.

Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp CTR đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050 đã thay thế cho chiến lược cũ, đồng thời kết hợp với Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.

Các chiến lược quản lý chất thải rắn (CTR) hiện nay đã xác định các mục tiêu cụ thể, tuy nhiên, kết quả thực tế vẫn chưa đáp ứng yêu cầu đề ra Việc triển khai và hoàn thành các mục tiêu quản lý CTR gặp nhiều khó khăn Theo Báo cáo môi trường quốc gia hàng năm, hầu hết các chỉ tiêu bảo vệ môi trường liên quan đến CTR theo Chiến lược và Nghị định số 59/2007/NĐ-CP đều không đạt yêu cầu.

Công tác quản lý chất thải rắn, nước thải tại các khu công nghiệp trên địa bàn Hà Nội

2.5.1 Công tác quản lý chất thải rắn tại các khu công nghiệp trên địa bàn

Hà Nội hàng năm phát sinh hơn 164.250 tấn chất thải công nghiệp, nhưng vào năm 2005, Công ty Môi trường đô thị Hà Nội chỉ thu gom và xử lý được 11.000 tấn, tương đương 6,7% Hơn 93% lượng chất thải, khoảng 153.000 tấn, vẫn chưa được quản lý hoặc thu gom xử lý theo quy định.

Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Môi trường Đô thị Hà Nội (URENCO

Hà Nội xử lý khoảng 40.000 tấn chất thải công nghiệp mỗi năm, bao gồm 22.500 tấn chất thải thông thường và 17.500 tấn chất thải nguy hại Công ty Môi trường Đô thị Hà Nội (URENCO) đã đầu tư công nghệ hiện đại để xây dựng khu xử lý chất thải công nghiệp tại Khu liên hiệp xử lý chất thải Nam Sơn - Sóc Sơn Tuy nhiên, mỗi năm, URENCO chỉ xử lý được từ 5-10% lượng rác thải công nghiệp phát sinh tại địa bàn.

Bảng 2.8 Khối lượng chất thải công nghiệp tại một số KCN, Hà Nội năm 2009 Đơn vị: tấn/ngày

Khối lượng CTR công nghiệp Chất thải nguy hại

Chất thải không nguy hại

KCN Hà Nội – Đài Trung 1,63 4,88 6,50

Theo báo cáo của Chi cục Bảo vệ môi trường Hà Nội (2009), các khu công nghiệp (KCN) có những hình thức thu gom chất thải rắn công nghiệp (CR) khác nhau, nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn chưa tuân thủ quy định về điểm thu gom Khảo sát của JICA (2011) cho thấy, 74,2% doanh nghiệp ký hợp đồng thu gom hoặc xử lý chất thải không nguy hại, trong khi 18% doanh nghiệp bán chất thải và một số thực hiện nghiền nát để sử dụng làm nguyên liệu Các phương pháp tái chế tại chỗ, tái sử dụng và trao đổi chất thải vẫn chưa phổ biến Đối với chất thải công nghiệp nguy hại, 58,4% doanh nghiệp chọn ký hợp đồng thu gom hoặc xử lý, không có doanh nghiệp nào tự đốt, ủ hoặc chôn lấp, và 37% doanh nghiệp lựa chọn lưu trữ tạm thời chất thải tại cơ sở.

Chất thải nguy hại (CTNH) chiếm 15% - 20% tổng lượng chất thải rắn công nghiệp, tạo ra nguy cơ ô nhiễm môi trường và sức khỏe cộng đồng Tại Hà Nội, chỉ có 327 cơ sở được cấp Sổ đăng ký chủ nguồn thải CTNH, chủ yếu là các cơ sở sản xuất lớn và vừa, con số này vẫn còn thấp so với thực tế Chỉ 14,7% cơ sở thực hiện báo cáo định kỳ về quản lý CTNH theo Thông tư 12/2006/TT-BTNMT Trong khu vực Thành phố Hà Nội cũ, tổng lượng CTR công nghiệp phát sinh tại các khu công nghiệp khoảng 750 tấn/ngày, nhưng chỉ thu gom được 637 – 675 tấn/ngày Trong đó, CTNH khoảng 97 – 112 tấn/ngày, với tỷ lệ thu gom chỉ đạt 60 – 70%.

Bảng 2.9 Lượng chất thải công nghiệp xử lý bởi URENCO Hà Nội

Loại chất thải ( Tấn/năm) 2007 2008 2009

Chất thải công nghiệp thông thường 16000 25000 22500 Chất thải công nghiệp nguy hại 16000 25000 17500

2.5.2 Công tác quản lý nước thải công nghiệp trên địa bàn Hà Nội

Thành phố Hà Nội đang đối mặt với nhiều thách thức trong quản lý và quy hoạch các khu công nghiệp (KCN), phần lớn được hình thành trước khi Quy chế quản lý KCN được ban hành Đầu tư xây dựng KCN tại địa phương mang tính tự phát, với doanh nghiệp chủ yếu được giao đất để xây dựng trụ sở mà không chú trọng đến hạ tầng kỹ thuật như giao thông, cây xanh và phòng cháy chữa cháy Điều này dẫn đến khó khăn cho các doanh nghiệp khi hoạt động, đặc biệt là những cụm đã lấp đầy Chỉ một số ít trong tổng số 42 KCN hoạt động ổn định có hệ thống xử lý nước thải tập trung, trong khi tổng lượng nước thải từ các KCN năm 2009 lên tới 36.577 m³/ngày với nhiều chất ô nhiễm đáng lo ngại Việc lập quy hoạch và xác định chủ đầu tư không được thực hiện chặt chẽ đã gây khó khăn trong công tác quản lý sau đầu tư.

Thời gian qua, thành phố Hà Nội đã có nhiều nỗ lực thu gom, xử lý rác thải, nhưng việc xử lý nước thải lại chưa được quan tâm đúng mức Phần lớn nước thải trong các khu, khu công nghiệp chưa qua xử lý, xả trực tiếp ra môi trường, đe dọa nghiêm trọng tới sức khỏe cộng đồng.Tại Khu công nghiệp Thạch Thất - Quốc Oai, trạm xử lý nước thải đang hoạt động có công suất 1.500 m 3 /ngày đêm.Trong khi đó, tổng lượng nước thải của cả khu công nghiệp là 10.000 m 3 /ngày đêm.Khu công nghiệp Quang Minh (huyện Mê Linh) chỉ có một trạm xử lý nước thải công suất ba nghìn m 3 /ngày đêm.Nhưng trạm này cũng chưa hoạt động hết công suất, bởi nhiều doanh nghiệp không thực hiện đấu nối đường ống thoát nước của nhà máy vào hệ thống xử lý nước thải này KCN Nội Bài (huyện Sóc Sơn) lại có tình trạng nước thải sinh hoạt được thu gom xử lý tập trung, còn nước thải sản xuất có chứa nhiều dầu mỡ, kim loại nặng thì lại do các nhà máy tự thu gom, xử lý và thải ra môi trường Việc này dẫn đến tình trạng nhiều nhà máy xả trộm nước thải sản xuất chưa xử lý hoặc xử lý chưa đạt tiêu chuẩn ra môi trường, chế độ vận hành hệ thống xử lý không nghiêm túc, không được kiểm soát chặt chẽ và cũng khó kiểm soát đầu tháng 2-2008, các chỉ số ô nhiễm nước thải của KCN Sài Đồng B đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố Theo số liệu này, ô nhiễm nước thải tại đây đã ở mức báo động So sánh với TCVN 5945-2005 cho thấy: thông số ô nhiễm BOD5 (nhu cầu oxi sinh hóa) vượt 11,2 lần; COD (nhu cầu oxi hóa học) vượt 12,9 lần; SS (cặn lơ lửng) vượt 1,9 lần; Fe (hàm lượng sắt) vượt 3,02 lần , đặc biệt là Coliform (vi sinh vật có hại) vượt 1.100 lần mức cho phép Cũng theo số liệu của Bộ TNMT, mỗi ngày KCN Sài Đồng B thải ra môi trường từ 2.000m 3 - dưới 5.000m 3 nước thải chưa qua xử lý (http://anninhthudo.vn)

Nhiều nhà máy và cơ sở vẫn xả thải nước chưa qua xử lý ra môi trường, gây ô nhiễm nghiêm trọng Để khắc phục tình trạng này, Hà Nội đã nỗ lực quản lý các khu công nghiệp (KCN) trên địa bàn một cách chặt chẽ hơn Công tác quản lý KCN được tập trung dưới sự giám sát của Ban quản lý đầu tư phát triển cụm, điểm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp thuộc Sở Công Thương Thành phố cũng đã sử dụng ngân sách để hỗ trợ xây dựng hệ thống xử lý nước thải, nhằm bảo vệ môi trường.

Tính đến nay, thành phố đã có 23/42 khu công nghiệp (KCN) được trang bị hệ thống xử lý nước thải tập trung Một số KCN như Sài Đồng, Gia Lâm đã hoàn thành và đưa vào hoạt động hệ thống xử lý nước thải từ tháng 11/2012, với công suất 3200 m³/ngày KCN Hà Nội – Đài Tư cũng có trạm xử lý công suất 2000 m³/ngày đêm, trong khi KCN Quất Động tại huyện Thường Tín có hệ thống thu gom và xử lý nước thải tương tự Đặc biệt, vào tháng 11/2015, KCN Phú Thị, huyện Gia Lâm đã hoàn thành hệ thống xử lý nước thải với công suất 1000 m³/ngày đêm.

Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Ngày đăng: 08/07/2021, 14:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
29. George T. Chobanoglous, Hilary Theisen, Samuel Vigil (1993), “Intergrated solid waste Management – Engineering Principles and Management issues”, International Editions Sách, tạp chí
Tiêu đề: Intergrated solid waste Management – Engineering Principles and Management issues
Tác giả: George T. Chobanoglous, Hilary Theisen, Samuel Vigil
Năm: 1993
[1]. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008), Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia Việt Nam, Môi trường khu công nghiệp, Hà Nội Khác
[2]. Bộ Tài nguyên và Môi trường, (2010), Báo cáo môi trường quốc gia 2009 – Môi trường khu công nghiệp Việt Nam, Hà Nội Khác
[3]. Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội (2014), Báo cáo quan trắc môi trường khu công nghiệp, cụm khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội Khác
[4]. Luật Bảo vệ Môi trường năm 2008 và Nghị định hướng dẫn thi hành. Nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Khác
[5]. UBND huyện Gia Lâm, Báo cáo tổng hợp quy hoạch tổng thể phát triểnkinh tế - xã hội huyện Gia Lâm và vùng phụ cận đến năm 2020 Khác
[6]. Chi cục môi trường – Báo cáo về quan trắc môi trường khu công nghiệptrên địa bàn huyện Gia Lâm TP Hà Nội, năm 2012,2013,2014 Khác
[7]. Phòng Tài Nguyên và Môi Trường huyện Gia Lâm, Báo cáo Hiện trạng Môi Trường huyện Gia Lâm năm 2013, 2014 Khác
[8]. Trịnh Quang Huy và cs (2014). Bài giảng xử lý phế thải rắn nâng cao Khác
[9]. Nguyễn Xuân Thành và cs (2014). Bài giảng Công nghệ sinh học xử lý phế và nước thải công nghiệp chống ô nhiễm môi trường Khác
[10]. Nguyễn Xuân Thành và cs. (2015). Bài giảng: Công nghệ sinh học trong bảo vệ môi trường (dành cho hệ Cao học). NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác
[11]. GS.TSKH. Phạm Ngọc Đăng (2000). Quản lý môi trường đô thị và khu công nghiệp. NXXB Xây dựng, Hà Nội Khác
[12]. Trần Văn Nhân và Ngô Thị Nga (2006). Công nghệ xử lý nước thải. NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Khác
[13]. Sở khoa học công nghệ môi trường thành phố Hồ Chí Minh, sổ tay hướng dẫn xử lý môi trường trong sản xuất tiểu thủ công nghiệp – tập 7 Khác
[14]. Trung tâm Đào tạo ngành nước và Môi trường (1999). Sổ tay xử lý nước tập 1 &2, Nhà xuất bản Xây dựng, Hà Nội Khác
[15]. Hoảng Huệ (2001). Giáo trình xử lý nước thải. Nhà xuất bản Đại học Kiến trúc Hà Nội Khác
[16]. Trịnh Xuân Lai (2000). Tính toán thiết kế các công trình xử lý nước thải. NXB Xây dựng, Hà Nội Khác
[17]. Trần Văn Nhân (2001). Giáo trình công nghệ xử lý nước thải. NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Khác
[18].Trần Hiếu Nhuệ (1996). Quá trình vi sinh vật trong công trình cấp thoát nước. NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Khác
[19]. Lương Đức Phẩm (2007). Công nghệ xử lý nước thải bằng biện pháp sinh học. NXB Giáo dục, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w