Phương pháp nghiên cứu
Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm chung của tỉnh Thái Bình
Thái Bình là tỉnh đồng bằng nằm ở phía nam châu thổ sông Hồng, cách Hà Nội 110 km và Hải Phòng 70 km Tỉnh này ba mặt giáp sông và một mặt giáp biển, phía Đông giáp vịnh Bắc Bộ, phía Tây giáp tỉnh Hà Nam, phía Nam giáp tỉnh Nam Định, và phía Bắc giáp tỉnh Hưng Yên, Hải Dương cùng thành phố Hải Phòng.
Hình 3.1 Bản đồ hành chính tỉnh Thái Bình
Thái Bình, với diện tích tự nhiên 153.780,47 ha, nằm trong tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh Tỉnh có vị trí giao thông thuận lợi, tiếp giáp với biển và sở hữu hệ thống giao thông đường sông, đường bộ phát triển, gần các trung tâm đô thị lớn và vùng kinh tế trọng điểm.
Thái Bình, nằm trong số 33 tỉnh phía Bắc, được hưởng lợi từ sự phát triển kinh tế xã hội và khoa học kỹ thuật Tỉnh này sở hữu nguồn khoáng sản phong phú, bao gồm đất sét, khí đốt, nước khoáng và than nâu, đã được thăm dò và khai thác hiệu quả.
3.1.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội của tỉnh Thái Bình
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu và nội địa gặp nhiều khó khăn, cùng với thiên tai và dịch bệnh diễn biến phức tạp, việc đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế trở nên thách thức Tuy nhiên, từ năm 2015 đến 2017, Thái Bình đã ghi nhận tốc độ tăng trưởng kinh tế khả quan, với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực.
Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội của tỉnh Thái Bình giai đoạn 2015-2017
2 Cơ cấu kinh tế ngành
Nông, lâm, thủy sản Công nghiệp - xây dựng Dịch vụ
Theo Cục Thống kê tỉnh Thái Bình, trong giai đoạn 2015 - 2017, tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân đạt 8,52% Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực với tỷ trọng nông, lâm, thủy sản giảm, trong khi tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ tăng lên Đồng thời, thu nhập bình quân đầu người cũng tăng từ 26,5 triệu đồng năm 2015 lên 33,5 triệu đồng năm 2017, đạt mức tăng trưởng 12,43%.
Chương trình cải cách thủ tục hành chính giai đoạn 2011 – 2020 và Đề án 30 của Chính phủ đã mang lại hiệu quả thiết thực trong việc đơn giản hóa thủ tục hành chính Các cấp, ngành đã tiến hành rà soát và bãi bỏ những thủ tục không cần thiết, giúp rút ngắn 40% thời gian thực hiện Công tác cải cách tại Thái Bình đã đạt được mục tiêu giảm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính thuế nhằm tăng cường mối quan hệ giữa các sở, ban ngành trong tỉnh, đồng thời quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước Việc quản lý kinh tế và doanh nghiệp được thực hiện hệ thống và kiểm soát chặt chẽ hơn, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.
3.1.2 Khái quát về Cục Thuế tỉnh Thái Bình
3.1.2.1 Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức
Cục thuế Tỉnh Thái Bình được thành lập theo Quyết định số 14/TC/QĐ/TCCB ngày 21/08/1990 và có cơ cấu tổ chức bao gồm 01 Cục trưởng, 02 Phó Cục trưởng, 8 chi cục thuế huyện, thành phố cùng 10 phòng chức năng thuộc văn phòng Cục Thuế Theo Quyết định số 728/QĐ-TCT ngày 18/6/2007, Cục Thuế tỉnh Thái Bình hoạt động dưới sự quản lý của Tổng cục Thuế, với nhiệm vụ chính là thực hiện công tác quản lý thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác của ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh theo quy định pháp luật.
Để đảm bảo doanh nghiệp tuân thủ pháp luật thuế, cần tăng cường công tác tuyên truyền và hỗ trợ, hướng dẫn, giải thích các chính sách pháp luật thuế Đồng thời, việc công khai và cải cách thủ tục hành chính thuế cũng là yếu tố quan trọng giúp tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.
Để hỗ trợ doanh nghiệp, cần giải quyết các quyền lợi như miễn, giảm, hoàn thuế, gia hạn nộp tờ khai và thuế, xóa nợ thuế và tiền phạt Đồng thời, giữ bí mật thông tin của doanh nghiệp và xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ thuế cũng là những yếu tố quan trọng.
- Giám sát sự tuân thủ pháp luật thuế của DN: Yêu cầu DN, Ngân hàng,
Cơ quan quản lý Nhà nước cần cung cấp thông tin kịp thời để quản lý thu thuế và thông tin người nộp thuế Việc xây dựng hệ thống dữ liệu về người nộp thuế là rất quan trọng Đồng thời, cần thực hiện thanh tra và kiểm tra thuế nhằm giám sát việc kê khai, xác định nghĩa vụ thuế và hoàn thuế cho doanh nghiệp.
Các hoạt động như ấn định thuế, cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế và công khai danh tính doanh nghiệp không tuân thủ chính sách thuế trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm mục đích nâng cao sự tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế ngày càng hiệu quả hơn.
Từ ngày 01/07/2007, Cục Thuế tỉnh Thái Bình đã tiến hành sắp xếp lại cơ cấu tổ chức bộ máy nhằm đáp ứng yêu cầu của Luật Quản lý Thuế.
Theo Quyết định số 49/2007/QĐ-BTC ngày 15/6/2007 của Bộ Tài chính, lãnh đạo Cục thuế bao gồm 1 cục trưởng và 2 phó cục trưởng, trong đó cục trưởng chịu trách nhiệm toàn diện trước Bộ Tài chính, còn các phó cục trưởng chịu trách nhiệm trước cục trưởng về các nhiệm vụ được giao Cục thuế có 8 chi cục thuế tại các huyện, thành phố và 15 phòng chức năng thuộc văn phòng Cục Thuế, được tổ chức theo Sơ đồ 3.1 nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý thuế tự tính, tự khai và tự nộp.
- Mười lăm (15) phòng chức năng gồm:
+ Phòng Tuyên truyền Hỗ trợ NNT.
+ Phòng Kê khai và kế toán thuế.
+ Phòng Quản lý thuế Thu nhập cá nhân.
+ Phòng Quản lý các khoản thu từ đất.
+ Các phòng Kiểm tra thuế.
+ Các phòng Thanh tra thuế.
+ Phòng Kiểm tra nội bộ.
+ Phòng Quản lý nợ và Cưỡng chế nợ thuế.
+ Phòng Tổng hợp – Nghiệp vụ - Dự toán.
+ Phòng Tổ chức cán bộ.
+ Phòng Hành chính- Quản trị - Tài vụ - Ấn chỉ.
-Tám (08) Chi cục thuế huyện, thành phố gồm: + Chi cục thuế Thành Phố Thái Bình.
+ Chi cục thuế huyện Vũ Thư.
+ Chi cục thuế huyện Đông Hưng
+ Chi cục thuế huyện Quỳnh Phụ.
+ Chi cục thuế huyện Hưng Hà.
+ Chi cục thuế huyện Thái Thụy +
Chi cục thuế huyện Kiến Xương +
Chi cục thuế huyện Tiền Hải.
Phòng Kiểm tra thuế (số 1, số 2, số 3)
8 Chi cục Thuế huyện, Thành phố
Sơ đồ 3.1 Tổ chức bộ máy Cục Thuế tỉnh Thái Bình
3.1.2.2 Đội ngũ cán bộ, người lao động
Chất lượng nguồn nhân lực tại Cục Thuế tỉnh Thái Bình đáp ứng hiệu quả cho công tác quản lý thuế, với hơn 96% cán bộ có trình độ đại học và cao học Số lượng cán bộ thuế có trình độ chuyên môn cao đã gia tăng đáng kể, tính đến ngày 31/12/2017.
25 người có bằng thạc sỹ và trên 20 người đang theo học cao học các chuyên ngành quản lý kinh tế, kế toán, tài chính – ngân hàng
Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp khảo sát và thu thập số liệu
3.2.1.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ nhiều nguồn tài liệu đáng tin cậy như báo cáo của Cục Thuế tỉnh Thái Bình, Niên giám thống kê của Tổng cục Thống kê, và các báo cáo từ các ban, ngành tỉnh Thái Bình Ngoài ra, thông tin cũng được lấy từ trang web của Tổng cục Thuế, Cục Thuế Thái Bình, cùng với các tạp chí thuế và công trình khoa học uy tín Tất cả dữ liệu này được tổng hợp, phân tích, sử dụng có chọn lọc và trích dẫn đầy đủ để đảm bảo tính chính xác và đáng tin cậy.
3.2.1.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp
Dữ liệu sơ cấp cho nghiên cứu về tính tuân thủ pháp luật thuế TNDN được thu thập thông qua khảo sát 75 doanh nghiệp đăng ký kê khai nộp thuế tại VP Cục Thuế tỉnh Thái Bình Quá trình này bao gồm việc sử dụng bảng câu hỏi và phỏng vấn trực tiếp các cán bộ chủ chốt tại Cục Thuế, cũng như các kế toán và giám đốc của các doanh nghiệp được chọn mẫu theo các loại hình khác nhau Dữ liệu được thu thập bằng phương pháp điều tra chọn mẫu đại diện nhằm đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của thông tin.
Mẫu điều tra được tổng hợp theo Bảng 3.5:
Sau khi thực hiện phân loại theo hình thức sở hữu vốn, 75 doanh nghiệp đã được chọn dựa trên số liệu thống kê từ các loại hình doanh nghiệp khác nhau, bao gồm doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, công ty TNHH, công ty cổ phần, hợp tác xã và các tổ chức kinh tế khác.
Số mẫu thuộc 5 nhóm đối tượng được phân bổ như bảng 3.5 theo số lượng
Tại Văn phòng Cục Thuế Thái Bình, nhóm công ty TNHH và công ty cổ phần chiếm tỷ trọng lớn (66,63%) trong tổng số doanh nghiệp kê khai nộp thuế, cho thấy sự ưu tiên của các loại hình doanh nghiệp này Các nhóm doanh nghiệp khác có số lượng phỏng vấn ít hơn do số lượng doanh nghiệp đăng ký kê khai nộp thuế tại khu vực nghiên cứu thấp hơn.
Phỏng vấn trực tiếp các cán bộ chủ chốt tại các phòng, bộ phận có liên quan đến việc tiếp xúc với người nộp thuế là một bước quan trọng trong công tác quản lý thu thuế TNDN Việc này giúp thu thập thông tin quý giá và cải thiện quy trình quản lý thuế, đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả trong việc thu hồi thuế từ doanh nghiệp.
Bảng 3.4 Phân bổ m u điều tra thực tế Đối tƣợng điều tra
5 HTX, tổ chức kinh tế khác
Phỏng vấn trực tiếp thông qua dùng bảng biểu, phiếu điều tra được chuẩn bị sẵn Phỏng vấn sâu
3.2.2 Phương pháp phân tích số liệu
3.2.2.1 Phương pháp thống kê mô tả
Phương pháp này được áp dụng để phân tích các đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Bình, cũng như nguồn lực và năng lực hoạt động của Cục Thuế tỉnh Nó bao gồm việc thu thập dữ liệu phục vụ nghiên cứu về hoạt động của doanh nghiệp, tình hình kê khai và kết quả thu thuế TNDN trên địa bàn Thêm vào đó, phương pháp còn giúp đánh giá vai trò của cơ quan Thuế trong công tác quản lý thu, đồng thời nhận diện các khó khăn và hạn chế ảnh hưởng đến việc nâng cao tính tuân thủ pháp luật thuế TNDN.
So sánh định lượng là phương pháp phân tích diễn biến sự việc theo thời gian, nhằm đánh giá sự thay đổi về số thu thuế TNDN Đặc biệt, trong bài viết này, nó được áp dụng để xem xét kết quả thực hiện chính sách thuế TNDN của các doanh nghiệp dưới sự quản lý của Văn phòng Cục Thuế.
- So sánh định tính: Sử dụng những chỉ tiêu về mặt xã hội và môi trường
Trong bài viết này, tôi sẽ đánh giá những ảnh hưởng của các thay đổi trong chính sách thuế đối với việc thực hiện chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) của các doanh nghiệp.
3.2.2.3 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo
Đề tài này nghiên cứu nguyên nhân dẫn đến việc doanh nghiệp không tuân thủ thủ tục hành chính thuế, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) và nâng cao mức độ tuân thủ pháp luật thuế của doanh nghiệp.
3.2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu
3.2.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá tính tuân thủ nghĩa vụ trong đăng ký thuế
Số lượng đăng ký thuế là một chỉ tiêu quan trọng, phản ánh tổng số người nộp thuế đã thực hiện đăng ký trong một năm Chỉ tiêu này cho thấy quy mô của doanh nghiệp trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế.
Tỷ lệ đăng ký thuế (%) là chỉ tiêu phản ánh mức độ doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ đăng ký mã số thuế trong năm so với tổng số doanh nghiệp cần đăng ký Chỉ tiêu này càng gần 100% thì cho thấy tính tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp càng cao.
Số doanh nghiệp đã đăng ký thuế
= x 100 Số doanh nghiệp phải đăng kýthuế
3.2.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá tính tuân thủ nghĩa vụ trong khai thuế
Tỷ lệ nộp hồ sơ quyết toán thuế (%) là chỉ tiêu quan trọng thể hiện mức độ tuân thủ pháp luật thuế của doanh nghiệp Chỉ tiêu này được tính bằng tỷ lệ giữa số hồ sơ quyết toán thuế đã nộp trong năm và tổng số hồ sơ phải nộp Khi tỷ lệ này gần 100%, điều đó cho thấy doanh nghiệp thực hiện tốt nghĩa vụ thuế của mình.
Tỷ lệ nộp hồ sơ khai QT thuế (%)
Tổng số hồ sơ QT phải nộp
Số hồ sơ khai quyết toán thuế đã nộp là chỉ tiêu thể hiện tổng số hồ sơ khai quyết toán thuế mà cơ quan thuế đã tiếp nhận trong một năm, phản ánh quy mô doanh nghiệp trong việc thực hiện nghĩa vụ khai thuế.
Tỷ lệ hồ sơ khai quyết toán thuế nộp quá hạn (%) là chỉ tiêu phản ánh tỷ lệ hồ sơ khai quyết toán thuế doanh nghiệp nộp trễ trong năm so với tổng số hồ sơ đã nộp Tỷ lệ này càng gần 0% cho thấy doanh nghiệp tuân thủ pháp luật thuế tốt hơn.
Tỷ lệ đăng ký thuế (%)
Tỷ lệ hồ sơ QT nộp quá hạn (%)
Số hồ sơ QT nộp quá hạn là chỉ tiêu phản ánh tổng số hồ sơ khai thuế QT được nộp muộn trong một năm Chỉ tiêu này cho thấy quy mô của doanh nghiệp khi nộp hồ sơ khai thuế QT không đúng thời hạn quy định.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Đặc điểm doanh nghiệp trên địa bàn thuộc sự quản lý của văn phòng cục thuế tỉnh thái bình
LÝ CỦA VĂN PHÒNG CỤC THUẾ TỈNH THÁI BÌNH
4.1.1 Tình hình phát triển của các doanh nghiệp và phân cấp quản lý của Cục Thuế tỉnh Thái Bình
Trong những năm gần đây, tỉnh Thái Bình đã chứng kiến sự hội nhập và phát triển kinh tế mạnh mẽ Nhờ vào chính sách mở cửa của Nhà nước, hàng năm có hàng trăm doanh nghiệp mới được thành lập Cơ cấu doanh nghiệp cũng đang có sự chuyển dịch rõ rệt, với số lượng doanh nghiệp nhà nước và tập thể giảm dần, trong khi doanh nghiệp tư nhân lại phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ.
Thái Bình hiện có khoảng 4.000 doanh nghiệp với nhiều ngành nghề kinh doanh đa dạng, tập trung vào các lĩnh vực mạnh như dệt may, sản xuất vật liệu xây dựng, xây dựng công trình, cơ khí, vận tải biển, và nông nghiệp Những doanh nghiệp này đã đóng góp quan trọng vào sự tăng trưởng GDP của tỉnh, đạt trên 8% trong những năm qua, đồng thời đóng góp hơn 8.000 tỷ đồng vào tổng thu ngân sách và tạo ra hàng vạn việc làm Nhiều doanh nghiệp lớn vẫn duy trì tốc độ sản xuất và nộp ngân sách tăng trưởng qua các năm, như Tập đoàn Hương Sen nộp 703 tỷ đồng năm 2017, tăng 76 tỷ đồng so với năm 2016, và Công ty Hải Hà nộp 239 tỷ đồng, tăng so với năm 2013.
Năm 2017, tổng số tiền nộp ngân sách tại Thái Bình đạt 213 tỷ đồng, trong đó Chi nhánh Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đóng góp 60 tỷ đồng và Cty Cổ phần Bia Hà Nội - Thái Bình nộp 71 tỷ đồng, tăng 5 tỷ đồng so với năm trước Ngoài ra, hai dự án Nhiệt điện 1 và 2 cũng đã nộp trên 200 tỷ đồng.
Tính đến ngày 31/12/2017, tỉnh Thái Bình có 1.867 doanh nghiệp (DN) thuộc sự quản lý của Văn phòng Cục thuế, chiếm khoảng 23,97% tổng số DN toàn tỉnh Số lượng DN đã tăng trưởng đáng kể trong những năm gần đây, với tốc độ tăng trung bình giai đoạn 2015 - 2017 đạt 4,42%, trong đó DN do Văn phòng Cục thuế quản lý tăng 3,97% Thông tin này giúp hình dung rõ hơn về hoạt động của các DN trên địa bàn tỉnh Thái Bình.
Bảng 4.1 Số lƣợng DN trên địa bàn tỉnh Thái Bình theo cơ quan thuế quản lý
Cơ quan thuế quản lý
Nguồn: Cục Thuế tỉnh Thái Bình
Bảng 4.2 Số lƣợng doanh nghiệp theo hình thức sở hữu do Văn phòng Cục
Thuế tỉnh Thái Bình quản lý
Trong giai đoạn 2015-2017, số lượng doanh nghiệp do Cục thuế Thái Bình quản lý đã tăng mạnh, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh với tốc độ tăng trưởng 5,49% Doanh nghiệp nhà nước cũng ghi nhận tốc độ tăng 5,44% Dự báo trong những năm tới, số lượng doanh nghiệp trên địa bàn sẽ tiếp tục tăng nhanh, nhờ vào sự ổn định của nền kinh tế và xu hướng hội nhập quốc tế.
Ngành thuế tỉnh Thái Bình, đặc biệt là văn phòng Cục Thuế Thái Bình, đang hướng tới việc mở rộng cơ sở thuế tiềm năng nhằm tăng cường nguồn thu ngân sách cho địa phương.
Sự gia tăng nhanh chóng về số lượng doanh nghiệp và số thuế thu được từ các doanh nghiệp đang tạo ra thách thức lớn cho quản lý thuế tại Thái Bình Tuy nhiên, đây không chỉ là vấn đề phức tạp về số lượng mà còn liên quan đến giá trị và sự đa dạng của các doanh nghiệp Trong hiện tại và tương lai, ngành thuế Thái Bình cần phải đối mặt với những thách thức phức tạp hơn, đặc biệt là sự đa dạng về quy mô doanh nghiệp.
4.1.2 Kết quả thu thuế TNDN từ các doanh nghiệp do Văn phòng Cục thuế tỉnh quản lý
Trong những năm qua, ngành thuế Thái Bình và Văn phòng Cục thuế tỉnh đã đối mặt với nhiều khó khăn trong việc thực hiện dự toán thu ngân sách Mặc dù sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, có dấu hiệu phục hồi, nhưng tốc độ vẫn chậm và số lượng doanh nghiệp ngừng hoạt động vẫn cao Một số nguồn thu lớn trên địa bàn cũng đã sụt giảm, tuy nhiên, nhờ sự quan tâm lãnh đạo và chỉ đạo sát sao, ngành thuế vẫn nỗ lực vượt qua thách thức.
Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, và các cơ quan tỉnh đã phối hợp chặt chẽ để vượt qua khó khăn trong công tác thuế giai đoạn 2015 - 2017 Sự nỗ lực của doanh nghiệp và quyết tâm của cán bộ công chức ngành thuế đã mang lại những kết quả nhất định.
Tổng số thu ngân sách năm 2016 đạt 8.245.612 triệu đồng, tăng so với 4.667.263 triệu đồng năm 2015 Năm 2017, tỷ lệ tăng thu ngân sách đạt 87,7% so với năm 2016, vượt dự toán Bộ Tài chính giao 961,1 tỷ đồng Từ 2015 đến 2017, số thu ngân sách tăng trung bình hàng năm 22,97%, trong khi số thu từ khối doanh nghiệp nhà nước giảm 10,75% và từ DNNN do văn phòng cục thuế quản lý giảm 10,83% Đặc biệt, số thu về thuế TNDN của các DN do văn phòng cục thuế quản lý giảm 13,15%, trong khi các DN đầu tư nước ngoài do văn phòng cục thuế quản lý có số thu ngân sách tăng 12,78%, mặc dù số thu về thuế TNDN lại giảm 0,22%.
Trong kỳ, số lượng doanh nghiệp tăng lên, nhưng doanh thu ngân sách năm 2017 lại giảm so với năm 2016 Nguyên nhân chủ yếu là do sự suy giảm các khoản thu đột biến từ thuế nhà thầu của dự án Nhà máy nhiệt điện Thái Bình và thuế bảo vệ môi trường từ một số doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu.
46 khoản thu từ các DN có ý thức tuân thủ pháp luật thuế chưa cao dẫn đến có tốc độ tăng số thu giảm trong khi số DN lại tăng.
Bảng 4.3 Tổng hợp kết quả thực hiện thu ngân sách tỉnh Thái Bình
I Thu nội địa do ngành thuế quản lý
1 Khu vực Doanh nghiệp Nhà nước
1.1 DNNN do trung ương quản lý
1.2 DNNN do địa phương quản lý
2 Thu từ DN có vốn ĐTNN
3 Thu từ xổ số kiến thiết
4 Thuế Công thương nghiệp dịch vụ
9 Thuế bảo vệ môi trường
Theo số liệu từ Cục thuế Thái Bình, tính đến cuối năm 2017, tỉnh có 45.990 doanh nghiệp đăng ký kê khai nộp thuế, trong đó có 1.867 doanh nghiệp tại Văn phòng Cục Thuế Mặc dù số lượng doanh nghiệp lớn, nhưng phần lớn là nhỏ và rất nhỏ, dẫn đến hiệu quả quản lý tuân thủ thuế chưa cao, với tỷ trọng thu ngân sách Nhà nước trên mỗi doanh nghiệp thấp Doanh nghiệp thường có vốn ít, trình độ quản lý và công nghệ hạn chế, chủ yếu bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng và sử dụng thanh toán tiền mặt, nhiều doanh nghiệp không áp dụng sổ sách kế toán hoặc chỉ sử dụng sổ sách đơn giản Nghiên cứu cho thấy doanh nghiệp tư nhân thường có mức độ tuân thủ pháp luật thấp, nhưng chi phí cho việc tuân thủ lại cao hơn so với doanh nghiệp lớn.
Theo số liệu từ Bảng 4.4, tổng số thu nộp ngân sách nhà nước (NSNN) của các doanh nghiệp do Văn phòng Cục Thuế tỉnh quản lý đã tăng trưởng bình quân 11,1% mỗi năm trong giai đoạn 2015-2017 Đặc biệt, thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) trong cùng giai đoạn này ghi nhận tỷ lệ tăng trưởng 12,5% (Bảng 4.5) Điều này cho thấy sự phát triển không chỉ về số lượng doanh nghiệp mà còn về tổng thu nộp NSNN, đặc biệt là thuế TNDN, từ các doanh nghiệp này vẫn duy trì ổn định và có xu hướng tăng qua từng năm.
Bảng 4.4 Tổng hợp kết quả thu ngân sách của các DN thuộc VP Cục quản lý
Nguồn: Báo cáo các khoản thu trên phần mềm báo cáo Thuế năm 2015-2017
Bảng 4.5: Tổng hợp kết quả thu thuế TNDN của các DN thuộc VP Cục quản lý
Chia theo loại TT hình DN
3 DN Ngoài quốc doanh a Công ty TNHH b Công ty Cổ phần c HTX, tổ chức khác
Nguồn: Báo cáo các khoản thu trên phần mềm báo cáo Thuế - Cục thuế tỉnh Thái Bình
4.2 THỰC TRẠNG TUÂN THỦ PHÁP LUẬT THUẾ TNDN CỦA
DOANH NGHIỆP TẠI CỤC THUẾ TỈNH THÁI BÌNH
4.2.1 Đánh giá chung về tính tuân thủ pháp luật thuế Để đánh giá khách quan về thực trạng của DN, về nhận thức đối với sự tuân thủ pháp luật thuế hiện nay, ta có thể xem xét qua Bảng 4.6 bên dưới, trên cơ sở tổng hợp các thông số cơ bản về nhận thức của DN trên một số nhóm, hành vi; sự đánh giá của chính DN đối với cơ quan thuế qua cách tiếp cận qua chất lượng phục vụ về tiếp xúc làm việc (Thu thuế, hướng dẫn, tuyên truyền, hỗ trợ về thuế, qua công tác kiểm tra thuế ).
Bảng 4.6 Tỷ lệ DN ở từng cấp độ tuân thủ thuộc các nhóm doanh nghiệp có đặc điểm hoạt động khác nhau Đặc điểm Doanh nghiệp
2- Đặc điểm kế toán thuế
Từ 5 – 10 năm ít hơn 5 năm
4- Chi phí tuân thủ pháp luật thuế
Nguồn: Tổng hợp các Mục, Phần III theo phiếu khảo sát, điều tra, năm 2017
Bảng 4.6 cho thấy rằng nhận thức về tuân thủ pháp luật thuế hiện còn yếu, với các tiêu chí nhận thức đối với hành vi chưa đầy đủ Sự tuân thủ phụ thuộc vào tính dài hạn và ngắn hạn của doanh nghiệp, cũng như hoạt động kinh tế hiện tại Hiểu biết về pháp luật thuế chưa đồng đều, dẫn đến tỷ lệ cam kết thực hiện dưới 15% và tỷ lệ miễn cưỡng lên đến 69,33% Để cải thiện tình hình này và nâng cao tính tuân thủ pháp luật thuế của doanh nghiệp, các nội dung liên quan sẽ được trình bày trong các phần tiếp theo.
Các yếu tố ảnh hưởng đến tính tuân thủ pháp luật thuế tndn của doanh nghiệp75 1 Yếu tố khách quan
LUẬT THUẾ TNDN CỦA DOANH NGHIỆP
4.3.1.1 Nhóm yếu tố về tình hình kinh tế - xã hội
Trong bối cảnh kinh tế - xã hội của đất nước và tỉnh đang dần cải thiện, đời sống nhân dân được nâng cao, các điều kiện kinh tế vĩ mô cũng được đảm bảo với lạm phát và lãi suất ngân hàng được điều tiết hợp lý, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh Các cơ chế thu hút đầu tư của tỉnh đã góp phần tích cực vào việc nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật thuế của doanh nghiệp Nhiều doanh nghiệp nhận thức rõ vai trò của mình trong việc đóng góp cho xã hội thông qua nghĩa vụ thuế và thực hiện một cách tự nguyện Tuy nhiên, theo khảo sát, 21,33% doanh nghiệp cho rằng tình hình kinh tế gần đây quá khó khăn, ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh, trong khi 2,67% doanh nghiệp cho rằng các chuẩn mực xã hội và danh tiếng có tác động đến sự tuân thủ pháp luật thuế.
Hộpa4.1 Tác động của xã hội đến thực hiện nghĩa vụ với ngân sách
Hiện nay, các doanh nghiệp lớn, uy tín và có kinh nghiệm lâu năm thường là những đơn vị nộp thuế đúng hạn và có đóng góp cao vào ngân sách nhà nước Để duy trì hình ảnh tốt trong mắt người tiêu dùng và cơ quan thuế, các doanh nghiệp này lựa chọn tuân thủ pháp luật Việc không tuân thủ thuế có thể mang lại lợi ích ngắn hạn, nhưng nếu bị phát hiện, doanh nghiệp sẽ mất lòng tin từ cơ quan thuế và khách hàng sẽ không muốn sử dụng sản phẩm của họ Do đó, chuẩn mực xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tính tuân thủ thuế, đặc biệt đối với các doanh nghiệp lớn.
Bà Nguyễn Thị Thủy - Phó trưởng Phòng Kê khai - Kế toán thuế, Cục Thuế tỉnh Thái Bình
4.3.1.2 Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý trên địa bàn
Sự phối hợp trong quản lý thu thuế giữa các cơ quan hữu quan ngày càng trở nên chặt chẽ, đặc biệt trong việc cung cấp và trao đổi thông tin Cơ quan thuế (CQT) đã nâng cao hiệu quả quản lý thông qua việc triển khai cơ chế “một cửa” liên thông với Sở Kế hoạch và Đầu tư, cũng như trao đổi chứng từ qua hệ thống TABMIS giữa thuế và kho bạc Hơn nữa, việc chia sẻ thông tin về xuất nhập khẩu và nợ thuế với Cục hải quan cũng góp phần cải thiện quy trình quản lý thu thuế.
Hộpb4.2 Sự phối hợp với các sở ban ngành trong quản lý thu
Việc thực hiện quy chế phối hợp “một cửa” giữa Sở Kế hoạch và Đầu tư trong cấp mã số doanh nghiệp đã giúp việc cấp mã số thuế diễn ra nhanh chóng, đáp ứng nhu cầu gia tăng của doanh nghiệp Tuy nhiên, sự không thống nhất trong việc cập nhật dữ liệu giữa cơ quan thuế và Sở Kế hoạch và Đầu tư, như cách xác định vốn đăng ký và ngày hoạt động, đã gây khó khăn cho nghĩa vụ khai thuế của người nộp thuế.
4.3.1.3 Yếu tố chính trị, luật pháp
Cải cách chính sách thuế ở Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu quan trọng, nhưng hệ thống pháp luật thuế vẫn còn những hạn chế ảnh hưởng đến tính tuân thủ của doanh nghiệp Chính sách thuế chưa đảm bảo sự bình đẳng và công bằng xã hội, với quy định phức tạp và thường xuyên thay đổi, gây khó khăn trong việc áp dụng thực tiễn Do đó, doanh nghiệp thường phải "rượt đuổi theo văn bản" Việc đơn giản hóa các văn bản pháp luật và thủ tục tuân thủ thuế là vấn đề cấp bách cần giải quyết trong quá trình cải cách thuế hiện nay.
Hộpc4.3 Ảnh hưởng của nhân tố chính sách, pháp luật
Ưu đãi thuế TNDN cho các nhóm đối tượng chính sách xã hội, như doanh nghiệp sử dụng lao động là người dân tộc thiểu số, người tàn tật, thương bệnh binh và lao động nữ, không đạt được hiệu quả mong muốn và thường gây phức tạp trong thực thi chính sách Chính sách này chưa đảm bảo công bằng và ảnh hưởng đến sản xuất, đời sống Miễn giảm thuế chỉ có ý nghĩa khi doanh nghiệp có nghĩa vụ thuế phát sinh; nếu không, sự ưu đãi trở nên vô nghĩa Ngoài ra, sự khác biệt trong nghĩa vụ thuế giữa các doanh nghiệp có thu nhập tương tự dẫn đến sự thiếu công bằng, làm gia tăng hành vi không tuân thủ thuế.
Bà Nguyễn Thị Hoa - Trưởng Phòng TTHT, Cục Thuế tỉnh Thái Bình
4.3.1.4 Sự phát triển của dịch vụ liên quan đến quá trình tuân thủ pháp luật thuế TNDN Để hiểu một cách cặn kẽ và thực hiện đúng đắn các quy định của chính sách thuế là một vấn đề không phải đơn giản đối với các đối tượng nộp thuế. Hiện nay, các cơ quan thuế đều đã cung cấp các dịch vụ công tuyên truyền hỗ trợ NNT miễn phí Tuy nhiên do là dịch vụ công nên chỉ dừng ở mức hỗ trợ, với NNT cần cụ thể và chi tiết hơn thì cần phải có dịch vụ tư vấn thuế do các tổ chức tư nhân cung cấp nhằm giúp hỗ trợ các đối tượng nộp thuế từ khâu đăng ký, kê khai nộp thuế, lập sổ sách kế toán, chứng từ hóa đơn về thuế, tính toán mức thuế và các khoản thuế phải nộp Trên địa bàn nghiên cứu hiện nay đã có một số DN làm dịch vụ tư vấn thuế, chủ yếu là phục vụ các DN tư nhân, công ty TNHH có quy mô nhỏ, không có kế toán mà chỉ có cán bộ thống kê Hoạt động của các DN làm công tác tư vấn thuế cũng góp phần nâng cao ý thức chấp hành chính sách pháp luật, chấp hành nghĩa vụ thuế với Nhà nước của các đối tượng nộp thuế, góp phần nâng cao tính khả thi của chính sách thuế.
Hộpd4.4 Sai sót trong kê khai quyết toán thuế TNDN
Sai sót trong kê khai quyết toán thuế hiện nay chủ yếu không phải do sự cố ý của doanh nghiệp, mà là do thiếu hiểu biết về thuế TNDN Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là vừa, nhỏ và siêu nhỏ tại Thái Bình, thường kê khai sai hoặc chậm do không nắm rõ quy định, đặc biệt là với các nghiệp vụ không thường xuyên Hơn nữa, trình độ kế toán hạn chế và việc kiêm nhiệm nhiều công việc khiến họ gặp khó khăn trong việc thực hiện kê khai đúng Một ví dụ điển hình là doanh nghiệp mua TSCĐ từ nước ngoài phát sinh chi phí chuyển giao công nghệ nhưng không kê khai thuế TNDN do không biết quy định này, trong khi họ ngại tìm kiếm sự hỗ trợ từ cơ quan thuế và không thể tiếp cận dịch vụ tư vấn thuế phù hợp.
4.3.2.1 Về phía doanh nghiệp a Quy mô, loại hình sở hữu và thời gian hoạt động
Quy mô và loại hình sở hữu doanh nghiệp ảnh hưởng mạnh mẽ đến mức độ tuân thủ pháp luật thuế tại Thái Bình Đặc biệt, hầu hết các doanh nghiệp trong khu vực này là doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN), nhóm này thường gặp khó khăn trong việc quản lý kinh tế và tuân thủ nghĩa vụ thuế.
77% doanh nghiệp chưa đạt tiêu chuẩn cao, hoạt động kinh doanh vẫn còn nhỏ lẻ và phụ thuộc vào quyết định của chủ sở hữu Nhóm này thường gặp khó khăn trong việc hiểu biết về nghĩa vụ thuế và tuân thủ pháp luật thuế.
Các doanh nghiệp có chu kỳ hoạt động dài thường có tính tuân thủ cao hơn so với những doanh nghiệp ngắn hạn Điều này xuất phát từ việc họ tích lũy được nhiều kiến thức và có hoạt động kế toán chuẩn mực hơn Khi đã xây dựng được lợi thế thương mại vững chắc, họ không dễ dàng đánh đổi để vi phạm các quy định, vì điều này có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến chu kỳ sống của doanh nghiệp.
Hộpe4.5 Ảnh hưởng của quy mô, thời gian hoạt động của doanh nghiệp
Doanh nghiệp nhỏ với thời gian hoạt động ngắn thường có tư duy ngắn hạn, dẫn đến hành vi và nhận thức bột phát Điều này làm hạn chế khả năng tuân thủ quy định pháp luật, đặc biệt là trong lĩnh vực thuế, vì họ dễ so sánh lợi ích ngắn hạn hơn là tuân thủ lâu dài Ông Nguyễn Văn Hùng, Trưởng Phòng Thanh tra 1, Cục Thuế tỉnh Thái Bình, nhấn mạnh rằng mức độ hiểu biết về luật thuế và kế toán thuế của các doanh nghiệp này còn hạn chế, ảnh hưởng đến khả năng tuân thủ pháp luật.
Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, không có bộ phận kế toán riêng biệt chỉ chuyên ghi nhận và hạch toán các nghiệp vụ kinh tế Thay vào đó, kế toán thường kiêm nhiệm nhiều công việc khác nhau hoặc doanh nghiệp thuê kế toán ngắn hạn và sử dụng dịch vụ hỗ trợ kê khai từ các công ty cung cấp dịch vụ kế toán.
Nhiều doanh nghiệp muốn tuân thủ pháp luật thuế nhưng gặp khó khăn do năng lực kế toán thuế hạn chế và thông tin về chính sách thuế chưa đầy đủ Cải thiện nhận thức và kiến thức về thuế sẽ nâng cao sự tuân thủ pháp luật thuế, giúp doanh nghiệp thực hiện đúng và kịp thời các yêu cầu quản lý thuế Kiến thức về thuế và kế toán thuế cũng góp phần hạn chế sự không tuân thủ, cả dự tính và không dự tính.
Hiện nay, nhiều doanh nghiệp nhỏ chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của bộ phận kế toán và kế toán thuế Đặc biệt, các công ty TNHH và CP thường xem kế toán như một công cụ đơn giản, dẫn đến việc ghi chép và phản ánh các nghiệp vụ kinh tế thiếu khách quan Theo khảo sát, 24% doanh nghiệp cho rằng năng lực hạn chế của bộ phận kế toán trong việc kê khai và thực hiện các thủ tục thuế, như đăng ký mã số và nộp thuế, cùng với yêu cầu lưu giữ sổ sách kế toán, ảnh hưởng lớn đến tính tuân thủ pháp luật thuế.
Bảng 4.22 Yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế
TT Yếu tố ảnh hưởng số DN
Tình hình kinh tế trong những năm gần đây quá khó khăn, dẫn đến
1 21,33 tình hình SXKD của DN gặp nhiều bất lợi
2 Do những chuẩn mực xã hội, dư luận, danh tiếng tác động
Do chính sách thuế quá rườm rà, phức tạp dẫn đến chi phí tuân thủ
Do bộ phận kế toán của DN còn hạn chế về năng lực kê khai và thực
4 hiện các thủ tục tuân thủ thuế như đăng ký mã số, kê khai, nộp thuế, 24,00 những yêu cầu lưu giữ sổ sách kế toán
Số thuế phải nộp cộng với chi phí tuân thủ thuế quá lớn, trở thành
5 14,67 gánh nặng tài chính cho đơn vị
Trình độ, chất lượng công tác quản lý thuế của Nhà nước chưa cao,
6 6,67 cán bộ thuế chưa đối xử công bằng với
Nguồn: Số liệu điều tra (2017) c Chi phí cần thiết để tuân thủ pháp luật thuế của DN
Một số giải pháp nhằm nâng cao tính tuân thủ pháp luật thuế của các doanh nghiệp tại cục thuế tỉnh thái bình
4.4.1 Đánh giá chung về tuân thủ thuế của doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Thái Bình
Năm 2017, mặc dù tình hình kinh tế – chính trị thế giới phức tạp, ngành thuế Thái Bình đã nỗ lực phối hợp chặt chẽ với các cấp uỷ và chính quyền, hoàn thành vượt mức nhiệm vụ thu ngân sách Tổng thu NS nội địa đạt 7.057 tỷ đồng, tương đương 116,52% dự toán, trong khi Văn phòng Cục Thuế thu được 4.675 tỷ đồng, vượt 102,77% dự toán giao Những kết quả này đã góp phần tích cực vào cân đối thu chi của tỉnh.
Ngành thuế Thái Bình đã đạt được nhiều chỉ tiêu vượt mức, như thu tiền sử dụng đất đạt 183,76%, thuế phi nông nghiệp đạt 219,57%, tiền thuê đất đạt 200,24%, và thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản đạt 451,59% Tuy nhiên, một số chỉ tiêu vẫn chưa hoàn thành kế hoạch, cụ thể là thuế bảo vệ môi trường chỉ đạt 93,46% và thuế thu nhập doanh nghiệp đạt 90,06% so với dự toán được giao.
Có được kết quả trên là do một số nguyên nhân sau:
Nhờ vào các chính sách tích cực của Nhà nước và sự chỉ đạo sát sao từ Bộ Tài chính cùng Tổng cục Thuế, việc phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế.
HĐND, UBND và các sở, ban ngành địa phương trong công tác quản lý thu.
Trong năm 2017, cán bộ thuế đã nỗ lực làm việc một cách khoa học, tập trung vào việc quản lý thuế một cách định hướng và thống nhất Họ đã cập nhật đầy đủ thông tin về vốn, ngành nghề kinh doanh và số lao động của doanh nghiệp để phục vụ cho công tác quản lý thuế Đồng thời, các biện pháp hỗ trợ người nộp thuế (NNT) được đẩy mạnh, cùng với việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quy trình kê khai và nộp thuế Công tác kiểm tra, giám sát kê khai thuế được thực hiện hiệu quả, đồng thời tăng cường thu hồi nợ thuế Ngoài ra, các phong trào thi đua và tuyên truyền chính sách thuế cũng được phát động nhằm hỗ trợ NNT thực hiện nghĩa vụ với nhà nước, phối hợp chặt chẽ với các ban ngành như sở kế hoạch - đầu tư, sở tài nguyên môi trường và kho bạc để quản lý tốt nguồn thu phát sinh.
- Ý thức chấp hành luật thuế của NNT: Việc chấp hành luật thuế TNDN ở các
Năm 2017, tình hình doanh nghiệp tại DN có dấu hiệu tích cực, với nhiều công ty nhanh chóng tuân thủ các quyết định xử lý từ cơ quan thuế khi bị phát hiện vi phạm, không có hành vi chống đối hay tái phạm.
Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả tích cực, công tác quản lý thu thuế đối với các doanh nghiệp do Cục thuế quản lý vẫn còn một số tồn tại cần khắc phục.
Công tác lập dự toán thu và chỉ đạo, quản lý nguồn thu hiện tại vẫn chưa phản ánh đầy đủ sự biến động trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Những nhược điểm này có thể dẫn đến việc không tối ưu hóa nguồn thu, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của DN Việc cải thiện quy trình lập dự toán và quản lý nguồn thu là cần thiết để đảm bảo sự linh hoạt và thích ứng với tình hình thực tế.
Trong bối cảnh doanh nghiệp thường xuyên tìm cách trốn thuế và nợ thuế, hoạt động cưỡng chế thuế trở nên kém hiệu quả Hiện nay, việc cưỡng chế nợ thuế được quy định với 7 biện pháp tại điểm 26 Điều 1 Luật số 21/2012/QH13, tuy nhiên, việc thực hiện các biện pháp này lại gặp khó khăn do yêu cầu phải thực hiện theo thứ tự.
Việc đăng ký thuế và quản lý thông tin người nộp thuế đang gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là việc các doanh nghiệp thường không đến cơ quan thuế khi có thay đổi thông tin đăng ký.
Nhiều doanh nghiệp (DN) đang gặp khó khăn trong việc khai bổ sung thông tin thuế, với 87 chức năng cần thiết Đáng chú ý, một số DN cố tình chậm trễ trong việc đăng ký nộp thuế theo quy định hoặc thậm chí chưa đăng ký thuế nhưng vẫn tiếp tục hoạt động sản xuất kinh doanh và đạt lợi nhuận.
Các doanh nghiệp tại văn phòng Cục thường chấp hành việc nộp tờ khai thuế TNDN đúng hạn, tuy nhiên vẫn tồn tại tình trạng nộp chậm hoặc không nộp Khi được nhắc nhở, một số doanh nghiệp nộp nhiều tờ khai cùng lúc, điều này gây khó khăn cho cán bộ thuế trong việc thực hiện quy trình quản lý thu thuế, bao gồm ra thông báo thuế, đôn đốc nộp thuế và kiểm tra, thanh tra thuế.
Các doanh nghiệp có chi nhánh hạch toán phụ thuộc không phải nộp thuế TNDN tại địa bàn hoạt động mà nộp tại công ty mẹ Điều này khiến cán bộ thuế khó kiểm tra tính trung thực của số liệu kê khai, ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập chịu thuế.
Tại văn phòng Cục thuế, sự thiếu phối hợp chặt chẽ giữa các phòng ban đã dẫn đến hiện tượng đùn đẩy trách nhiệm Sự phân chia theo lĩnh vực quản lý này đã gây ra tình trạng bỏ sót nguồn thu quan trọng.
Hoạt động tuyên truyền, tư vấn và hỗ trợ người nộp thuế hiện gặp khó khăn do trình độ cán bộ tư vấn còn hạn chế, trong khi nhu cầu tư vấn từ doanh nghiệp (DN) rất lớn Hơn nữa, trách nhiệm pháp lý của cán bộ tư vấn chưa được quy định rõ ràng, dẫn đến rủi ro nếu cán bộ tư vấn cung cấp thông tin sai lệch cho DN.
Trong những năm gần đây, việc thanh tra và kiểm tra tại Văn phòng Cục đã được tăng cường, tuy nhiên số lượng doanh nghiệp được thanh tra vẫn còn hạn chế và chất lượng thanh tra chưa đạt yêu cầu Sự kết hợp giữa kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm về thuế với giáo dục, tuyên truyền và tư vấn thuế chưa được chú trọng đúng mức Hơn nữa, thông tin về dữ liệu cũng cần được cải thiện để nâng cao hiệu quả công tác này.
DN, tình hình chấp hành pháp luật thuế của DN, trang thiết bị phục vụ cho thanh tra kiểm tra còn thiếu.