- Đánh giá hiệu quả sử dụng chế phẩm có nguồn gốc thảo dược điều trị bệnh viêm tử cung ở đàn bò sữa bằng phương pháp theo dõi các chỉ tiêu tỷ lệ khỏi bệnh, thời gian điều trị và khảnăng
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
PHẠM VĂN HUỲNH
THỰC TRẠNG BỆNH VIÊM TỬ CUNG TRÊN ĐÀN
BÒ SỮA NUÔI TẠI MỘT SỐ TỈNH THUỘC KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG VÀ THỬ
NGHIỆM ĐIỀU TRỊ BỆNH BẰNG CHẾ PHẨM CÓ
NGUỒN GỐC THẢO DƯỢC
Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Như Quán
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiêncứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 5 tháng 10 năm 2018
Tác giả luận văn
Phạm Văn Huỳnh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhậnđược sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên củabạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc tới TS Vũ Như Quán, người thầy đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều côngsức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo,
Bộ môn Ngoại sản - Khoa Thú y - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ kỹ thuật cùng toàn thể côngnhân viên các trang trại bò thuộc khu vực Đồng bằng sông Hồng đã giúp đỡ và tạođiều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn.
Hà Nội, ngày 5 tháng 10 năm 2018
Tác giả luận văn
Phạm Văn Huỳnh
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Hoạt động sinh sản của bò cái 3
2.1.1 Giải phẫu cơ quan sinh dục bò cái 3
2.1.2 Đặc điểm sinh lý sinh dục của bò 5
2.2 Một số thông tin về bệnh viêm tử cung bò 7
2.2.1 Khái niệm về viêm tử cung 7
2.2.2 Nguyên nhân gây viêm tử cung 7
2.2.3 Một số yếu tố ảnh hưởng tới bệnh viêm tử cung ở bò 8
2.2.4 Phân loại các thể viêm tử cung 12
2.2.5 Chẩn đoán phân biệt các thể viêm tử cung 16
2.3 Tình hình nghiên cứu về bệnh viêm tử cung bò 17
2.3.1 Tình hình nghiên cứu về bệnh viêm tử cung bò trên thế giới 17
2.3.2 Tình hình nghiên cứu về bệnh viêm tử cung bò ở Việt Nam 18
2.4 Tình hình nghiên cứu và sử dụng sản phẩm thảo dược trên thế giới và Việt Nam 19
2.4.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng sản phẩm thảo dược trên thế giới 19
2.4.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng sản phẩm thảo dược ở Việt Nam 20
Trang 52.5 Thông tin về chế phẩm có nguồn gốc thảo dược được sử dụng trong nghiên
cứu……… 23
Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 24
3.1 Địa điểm nghiên cứu 24
3.2 Thời gian nghiên cứu 24
3.3 Đối tượng nghiên cứu 24
3.4 Nội dung nghiên cứu 24
3.4.1 Đánh giá thực trạng bệnh viêm tử cung 24
3.4.2 Xác định biến đổi của một số chỉ tiêu lâm sàng khi bò bị viêm tử cung 24
3.4.3 Xác định sự biến đổi của một số vi khuẩn hiếu khí thường gặp trong dịch viêm tử cung 25
3.4.4 Thử nghiệm sử dụng chế phẩm có nguồn gốc thảo dược điều trị bệnh viêm tử cung bò 25
3.5 Phương pháp nghiên cứu 25
3.5.1 Phương pháp đánh giá thực trạng bệnh viêm tử cung 24
3.5.2 Phương pháp xác định sự biến đổi một số chỉ tiêu lâm sàng khi bò bị viêm tử cung 26
3.5.3 Phương pháp xác định sự biến đổi của một số vi khuẩn hiếu khí thường gặp trong dịch viêm tử cung 26
3.5.4 Xác định hiệu quả của sử dụng chế phẩm có nguồn gốc thảo dược điều trị bệnh viêm tử cung bò bằng phương pháp sử dụng 02 phác đồ 26
3.6 Phương pháp xử lý số liệu 27
Phần 4 Kết quả và thảo luận 28
4.1 Kết quả đánh giá thực trạng bệnh viêm tử cung 28
4.1.1 Kết quả khảo sát tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên bò sữa ở một số địa phương thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng 28
4.1.2 Kết quả khảo sát tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung bò sữa ở các giai đoạn khác nhau 30
4.1.3 Kết quả khảo sát tỷ lệ bò sữa mắc bệnh viêm tử cung theo mùa vụ 32
4.1.4 Kết quả khảo sát tỷ lệ bò sữa mắc bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ 32
4.1.5 Kết quả khảo sát tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở bò sữa theo sản lượng sữa 35
Trang 64.2 Kết quả xác định sự thay đổi một số chỉ tiêu lâm sàng khi bò bị viêm
tử cung 36 4.3 Kết quả phân lập và giám định thành phần vi khuẩn trong dịch tử cung
của bò sữa 39 4.3.1 Kết quả xác định sự biến đổi tổng số vi khuẩn hiếu khí có trong dịch tử
cung của bò sữa 39 4.3.2 Kết quả xác định sự biến đổi về thành phần vi khuẩn hiếu khí có trong
dịch viêm tử cung của bò sữa 40 4.3.3 Kết quả xác định tính mẫn cảm của các vi khuẩn phân lập được từ dịch
viêm đường sinh dục bò sữa với một số thuốc kháng sinh 40 4.3.4 Kết quả xác định tính mẫn cảm của tập đoàn vi khuẩn có trong dịch viêm
tử cung bò với một số thuốc kháng sinh 41 4.4 Kết quả thử nghiệm điều trị bệnh viêm tử cung bò bằng chế phẩm có
nguồn gốc thảo dược 43 4.4.1 Kết quả xác định khả năng ức chế in vitro của chế phẩm có nguồn gốc
thảo dược với vi khuẩn Staphylococcus spp và Streptococcus spp phân
lập từ dịch viêm tử cung bò 43 4.4.2 Kết quả xác định khả năng ức chế in vitro của chế phẩm có nguồn gốc
thảo dược với tập đoàn vi khuẩn có trong dịch viêm tử cung bò 43 4.4.3 Kết quả thử nghiệm điều trị bệnh viêm tử cung bò bằng chế phẩm có
nguồn gốc thảo dược 45 4.4.4 Kết quả đánh giá khả năng sinh sản của bò sau khi điều trị khỏi bệnh
viêm tử cung bằng chế phẩm có nguồn gốc thảo dược dạng huyền phù 45
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 48
5.1 Kết luận 48
5.2 Kiến nghị 49
Tài liệu tham khảo 50
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
Trang 8bò sữa 34Bảng 4.6 Kết quả theo dõi sự thay đổi một số chỉ tiêu lâm sàng của bò mắc
bệnh viêm tử cung 37Bảng 4.7 Tổng số vi khuẩn hiếu khí có trong dịch tử cung của bò 38Bảng 4.8 Tần suất xuất hiện của một số vi khuẩn hiếu khí trong dịch tử cung 39
Bảng 4.9 Tính mẫn cảm của vi khuẩn Staphylococcus spp và Streptococcus spp
phân lập được từ dịch viêm tử cung bò sữa với một số thuốc kháng sinh 40Bảng 4.10 Kết quả xác định tính mẫn cảm của tập đoàn vi khuẩn 41
Bảng 4.11 Khả năng ức chế in vitro vi khuẩn Streptococcus spp và
Staphylococcus spp của của chế phẩm có nguồn gốc thảo dược 42
Bảng 4.12 Khả năng ức chế in vitro của chế phẩm có nguồn gốc thảo dược với
tập đoànvi khuẩn có trong dịch viêm tử cung bò 43Bảng 4.12 Kết quả điều trị bệnh viêm tử bò 44Bảng 4.13 Kết quả đánh giá khả năng sinh sản của bò sau khi điều trị khỏi bệnh
viêm tử cung 46
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Viêm nội mạc tử cung 13
Hình 2.2 Viêm cơ tử cung 14
Hình 2.3 Viêm tương mạc tử cung 16
Hình 4.1 Tỷ lệ bò sữa mắc bệnh viêm tử cung ở một số địa phương thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng 27 Hình 4.2 Bò sữa bị viêm tử cung dịch viêm tiết ra từ cơ quan sinh dục 29
Hình 4.3 Kết quả thử phản ứng WST phát hiện bệnh viêm tử cung 29
Hình 4.4 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung bò sữa ở các giai đoạn khác nhau 30
Hình 4.5 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung bò sữa theo các mùa trong năm 31
Hình 4.6 Tỷ lệ bò sữa mắc bệnh viêm tử cung qua các lứa đẻ 33
Hình 4.7 Bò đẻ lứa đầu bị viêm tử cung 34
Hình 4.8 Ảnh hưởng của sản lượng sữa đối với tỉ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở bò sữa 34 Hình 4.9 Bò sữa có sản lượng sữa cao > 30 kg/ngày bị viêm tử cung 35 Hình 4.10 Hiệu quả của chế phẩm có nguồn gốc thảo dược dạng huyền phù điều
trị bệnh viêm tử cung sau khi đẻ của bò 45 Hình 4.11 Kết quả đánh giá khả năng sinh sản của bò sau khi điều trị khỏi bệnh
viêm tử cung 46
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Phạm Văn Huỳnh
Tên luận văn: Thực trạng bệnh viêm tử cung trên đàn bò sữa nuôi tại một số tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng sông Hồng và thử nghiệm điều trị bệnh bằng chế phẩm có
nguồn gốc thảo dược
Tên cơ sở đào tạo: Học Viện Nông Nghiệp Việt
Nam Mục đích nghiên cứu
- Xác định được thực trạng mắc bệnh viêm tử cung ở đàn bò sữa nuôi tại môṭsố diạphương khu vưc ̣đồng bằng sông Hồng
- Xác định được một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh viêm tử cung trên đàn bò sữa nuôi tại một số địa phương thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng
- Xác định được sự biến đổi một số chỉ tiêu lâm sàng và vi khuẩn học khi bò sữa bị viêm tử cung
- Đánh giá được hiệu quả sử dụng chế phẩm có nguồn gốc thảo dược điều trị bệnh viêm tử cung ở đàn bò sữa
Phương pháp nghiên cứu
- Xác định tỷ lệ bò sữa bị viêm tử cung bằng phương pháp điều tra, phỏng vấn trực tiếp người chăn nuôi kết hợp với việc sử dụng phản ứng White Side Test theo
- Xác định sự biến đổi một số chỉ tiêu lâm sàng của bò sữa mắc bệnh viêm tử cungbằng phương pháp thường quy quan sát, đo đếm nhiều lần vào một thời điểm quy định và lấy số bìnhquân
- Xác định sự biến đổi của một số vi khuẩn hiếu khí thường gặp trong dịch viêm tử cung bò bằng phương pháp phân lâp, giám định vi khuẩn
- Xác định tính mẫn cảm với thuốc kháng sinh và chế phẩm có nguồn gốc thảodược của một số vi khuẩn hiếu khí phân lập được từ dịch viêm tử cung bằng phương pháp thử khángsinh đồ
- Đánh giá hiệu quả sử dụng chế phẩm có nguồn gốc thảo dược điều trị bệnh viêm
tử cung ở đàn bò sữa bằng phương pháp theo dõi các chỉ tiêu tỷ lệ khỏi bệnh, thời gian điều trị và khảnăng sinh sản sau khi lành bệnh
- Xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê sinh học
Trang 11Kết quả chính và kết luận
+ Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở đàn bò sữa nuôi tại một số địa phương thuộc đồng bằng sông Hồng
+ Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn bò sữa ở các mùa là khác nhau
+ Các yếu tố làm tăng tỷ lệ viêm tử cung ở bò sữa đó là: mùa vụ, lứa đẻ, giai đoạn sau đẻ, sản lượng sữa
+ Khi bò mắc bệnh viêm tử cung, các chỉ tiêu lâm sàng thay đổi rõ rệt, thânnhiêṭtăng lên, bò mệt mỏi, chán ăn, thậm chí bỏ ăn, có dịch chảy ra ở âm hộ, dịch có màu trắng xám,
hồng hoặc màu rỉ sắt và có mùi tanh.
+ Trong dịch tử cung âm bò khoẻ mạnh sau đẻ 24 – 48 giờ giờ
+ Những vi khuẩn phân lập được từ dịch viêm tử cung của bò cái có tỷ lệ mẫn cảmvới thuốc kháng sinh không cao Trong đó những thuốc có độ mẫn cảm cao nhất là Norfloxacin,Amoxicillin, Tetracycline và Kanamycin
+ Khi bò sữa mắc bệnh viêm tử cung dùng chế phẩm có nguồn gốc thảo dược điềutrị cho hiệu quả khá cao tỷ lệ khỏi 100% thời gian điều tri trung bình là 5,76 ± 0,85 ngày tươngđương với kết quả khi sử dụng kháng sinh
Trang 12THESIS ABSTRACT Master candidate: Pham Van Huynh
Thesis title: Status of uterine inflammation in dairy herds reared in some provinces in the Red River Delta region and tested for the treatment of diseases with medicinal
products derived from herbs
Education organization: Viet Nam National University of Agriculture (VNUA).
- Evaluate the efficacy of herbal supplements for the treatment of uterine
inflammation in dairy cows
Materials and Methods
- Determination of dairy cows infected by uterine inflammation by direct screening and direct interviews with the use of White Side Test
- Determination of some clinical parameters of dairy cows with uterine inflammation by routine observation, multiple counts at a given time and the average number.
- Determination of the variability of some common aerobic bacteria in cattle cow syndrome by bacteriological and bacteriological methods
- Determination of susceptibility to antibiotics and medicinal products derived fromsome aerobic bacteria isolated from uterine inflammation by antibiotic test
- Evaluation of the use of herbal supplements for the treatment of uterineinflammation in dairy herds by means of monitoring the recovery rate, treatment time and fertilityafter cure
- Data processing by biological statistical methods
Main findings and conclusions
+ Incidence of uterine inflammation in dairy cows raised in some localities in the Red River Delta
+ The incidence of uterine inflammation in dairy herds in seasons varies
+ Factors that increase the rate of uterine inflammation in dairy cattle are:
Trang 13season, parity, postpartum period, milk yield.
+ When bovine uterine inflammation, the clinical parameters change markedly,body temperature increased, tired cow, anorexia, even quit eating, fluid outflow in the vulva, grayish-pink fluid or rusty and smell fishy
+ In healthy uterine ovaries after 24 to 48 hours
+ Bacterial isolates from uterine inflammation of cows with low susceptibility toantibiotics Among the most sensitive drugs are Norfloxacin, Amoxicillin, Tetracycline andKanamycin
+ When dairy cows with uterine inflammatory disease take medicinal products derived from herbal remedies for a relatively high rate of recovery from 100% of treatment time averaged 5.76 ± 0.85 days is equivalent to the results when using antibiotics.
Trang 14PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội,nhu cầu sử dụng sữa ở nước ta ngày càng gia tăng Để đáp ứng nhu cầu sữa ngàymột tăng, từng bước chủ động nguồn nguyên liệu trong nước thay dần sữa nhậpnhằm tiết kiệm ngoại tệ, tạo công ăn việc làm cho người dân, Nhà nước Việt Nam
đã có chủ trương phát triển chăn nuôi bò sữa trong nước bằng những chính sáchnhư: hỗ trợ vốn, nhập bò và tinh bò sữa cao sản từ các nước có nền chăn nuôi bòsữa phát triển, qui hoạch và khuyến khích các vùng, miền có điều kiện phát triểnchăn nuôi bò sữa trên hầu khắp mọi miền của đất nước và bước đầu đã đem lạinhững kết quả đáng khích lệ Tuy nhiên, do trước đây người Việt Nam không cótập quán sử dụng sữa để uống mà điều này chỉ mới được du nhập vào nước tatrong khoảng vài chục năm trở lại đây, khi người dân có nhận thức cao hơn về giátrị dinh dưỡng của sữa Vì vậy, ngành chăn nuôi bò sữa nước ta cũng chỉ mới cóquá trình hình thành và phát triển ngắn, người nông dân vẫn còn thiếu kinhnghiệm Đồng thời, phương cách chăn nuôi truyền thống của Việt Nam cũng chưaphù hợp với đối tượng bò sữa, khiến nhiều loại bệnh thường xuyên xảy ra, điểnhình là các bệnh về sinh sản, đặc biệt là bệnh viêm tử cung Viêm tử cung ở bò sữachủ yếu xảy ra vào thời gian sau khi đẻ, bệnh sảy ra quanh năm và chịu ảnh hưởngcủa nhiều yếu tố Hậu quả của bệnh thường làm kéo dài thời gian động dục lại sau
đẻ, tăng hệ số phối, tăng tỉ lệ loại thải, giảm sản lượng sữa, giảm số con sinh ratrong một đời bò mẹ, từ đó làm giảm năng suất sinh sản, gây thiệt hại lớn về kinh
tế cho người chăn nuôi Bên cạnh đó, hiện trạng sử dụng kháng sinh như mộthướng chủ yếu trong phòng và trị viêm tử cung, việc sử dụng kháng sinh để phòng
và trị bệnh viêm tử cung cho bò tuy có mang lại hiệu quả nhưng nó lại dấy lên sự
lo ngại về hiện tượng kháng thuốc kháng sinh của vi khẩn cũng như nguy cơ tồn
dư kháng sinh trong thịt và sữa bò làm ảnh hưởng lớn tới sức khỏe của cộng đồng
và môi trường Do vậy, cùng với xu hướng chung của thế giới, các nhà khoa họctại Việt Nam cũng đang tập trung nhiều các hướng nghiên cứu nhằm tìm ra đượcmột giải pháp trong việc giảm bớt sử dụng kháng sinh khi điều trị Trong nhữnggiải pháp được hướng đến nhằm thay thế thuốc kháng sinh, thảo dược hiện đượcđánh giá là một ứng cử viên triển vọng, khi không chỉ đem lại hiệu quả điều trị cao
mà còn an toàn cho sức khỏe của chính động vật nuôi cũng
Trang 15như người tiêu dùng sản phẩm và hệ sinh thái môi trường nói chung.
Những vấn đề nêu trên chỉ ra rằng: việc nghiên cứu tìm hiểu thực trạngbệnh viêm tử cung của bò và ứng dụng chế phẩm có nguồn gốc thảo dược trongphòng và trị bệnh viêm tử cung cho bò nói chung và bò sữa nói riêng là việc làmcần thiết Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn sản xuất đồng thời bổ sung vào tài liệunghiên cứu về bệnh viêm tử cung bò chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Thực trạng bệnh viêm tử cung trên đàn bò sữa nuôi tại một số tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng sông Hồng và thử nghiệm điều trị bệnh bằng chế phẩm có nguồn gốc thảo dược”.
1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
- Đánh giá được thực trạng bệnh viêm tử cung trên đàn bò sữa tại địa phương nghiên cứu;
- Xác định sự biến đổi của một số chỉ tiêu lâm sàng và vi khuẩn học khi bò mắc bệnh viêm tử cung;
- Đánh giá được hiệu quả điều trị bệnh viêm tử cung ở bò sữa bằng chế phẩm cónguồn gốc thảo dược
viêm tử cung trên đàn bò sữa nuôi tại một số địa phương thuộc khu vực Đồng bằng sông Hồng
phẩm có nguồn gốc thảo dược điều trị bệnh viêm tử cung bò, giảm thiểu sự kháng thuốc của vikhuẩn, hạn chế sự tồn dư kháng sinh trong sản phẩm thịt, sữa bò góp phần bảo vệ sức khỏe cộngđồng và môi trường
- Kết quả nghiên cứu là một phần quan trọng để tổng hợp và khuyến cáo tình hình bệnh viêm tử cung trên đàn bò sữa và biện pháp phòng trị
Trang 16PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 HOẠT ĐỘNG SINH SẢN CỦA BÒ CÁI
2.1.1 Giải phẫu cơ quan sinh dục bò cái
2.1.1.1 Bộ phận sinh dục bên ngoài
Bộ phận sinh dục bên ngoài là bộ phận sinh dục có thể nhìn thấy, sờ thấy vàquan sát được, bao gồm: Âm hộ, âm vật và tiền đình
a Âm môn (Âm hộ - Vulva)
Nằm bên dưới hậu môn, phía ngoài có hai môi, nối liền hai môi là hai mép.Trên hai môi của âm môn có sắc tố đen và nhiều tuyến tiết gồm tuyến tiết rachất nhờn trắng và tuyến tiết ra mồ hôi
b Âm vật (Clitoris)
Giống như dương vật thu nhỏ lại, trong cấu tạo âm vật cũng có các thể hồngnhư con đực Trên âm vật có nếp da tạo ra mu âm vật, giữa âm vật bẻ gấp xuốngdưới
c.Tiền đình (Vestibulum vaginae sinusinogenitalism)
Tiền đình là giới hạn giữa âm hộ và âm đạo Trong tiền đình có màng trinh,phía trước là âm đạo Màng trinh gồm các sợi cơ đàn hồi do hai lớp niêm mạc gấplại thành một nếp Tiền đình có một số tuyến xếp theo hàng chéo, hướng quay về
âm vật
2.1.1.2 Bộ phận sinh dục bên trong
Bộ phận sinh dục bên trong bao gồm: Âm đạo, tử cung, ống dẫn trứng,buồng trứng
a Âm đạo (Vagina)
Âm đạo là một ống tròn, trước âm đạo là cổ tử cung, phía sau là tiền đình
có màng trinh Âm đạo được cấu tạo bởi ba lớp:
- Lớp cơ trơn: bên ngoài là cơ dọc, bên trong là cơ vòng Chúng liên kết với các
cơ ở cổ tử cung;
Âm đạo là cơ quan giao cấu, nơi dịch đọng lại ở đó và chuyển tiếp vào tử
Trang 17cung, phần lớn chúng được thải ra ngoài và một phần hấp thụ qua âm đạo.
Ngoài ra, âm đạo còn là bộ phận để thai ra ngoài khi sinh đẻ và là ống thảicác chất dịch tử cung
b Tử cung (Uterus)
Tử cung của các loài động vật có vú gồm hai sừng, một thân và một cổ tửcung Đối với bò cái tơ thì toàn bộ tử cung nằm trong xoang chậu, phía trên là trựctràng, phía dưới là bàng quang Khi bò đẻ nhiều lứa thì tử cung nằm trong xoangbụng Tử cung là nơi làm tổ của hợp tử, ở đây hợp tử phát triển được là nhờ chấtdinh dưỡng từ cơ thể mẹ cung cấp thông qua lớp nội mạc tử cung Giai đoạn đầuhợp tử sống được nhờ vào noãn hoàng, một phần dựa vào sữa mẹ thông qua cơ chếthẩm thấu Sau này giữa mẹ và thai hình thành hệ thống nhau thai Niêm mạc tửcung và dịch tử cung giữ vai trò quan trọng trong quá trình vận chuyển tinh trùng
và trứng, tham gia điều hòa chức năng thể vàng, đảm nhận sự làm tổ, mang thai vàđẻ
* Cổ tử cung
Là phần ngoài cùng của tử cung, cổ tử cung của bò hình tròn, thông với âmđạo Cổ tử cung dài khoảng 8 – 12 cm, đường kính 5 – 6 cm Niêm mạc cổ tử cunggấp nếp nhiều lần làm cho thành tử cung không đồng đều tạo thành những tầng gọi
là các “tầng hoa nở” hay “thùy hoa nở”, có 3 – 5 hoa nở Tầng ngoài cùng nhô vào
âm đạo 0,5 – 1,0 cm nhìn bên ngoài tựa như hoa cúc đại Khám qua trực tràng cầmvào cổ tử cung tựa như cầm một đoạn cổ gà
* Thân tử cungThân tử cung của bò rất ngắn, chỉ khoảng 2-4 cm nối giữa sừng tử cung với
cổ tử cung (Trần Tiến Dũng và cs., 2002)
* Sừng tử cung
Ở bò cái có hai sừng tử cung (sừng trái và sừng phải), độ dài mỗi sừng 20-35
cm, đường kính phần dưới sừng tử cung 3-4 cm, phần ngọn chỉ khoảng 0,5-0,8 cm Khác với giasúc khác, hai sừng tử cung bò gần với thân tử cung và dính lại với nhau tạo thành một lõm hìnhlòng máng Phía trên của tử cung gọi là rãnh tử cung dài 3-5 cm, rãnh này dễ dàng nhận thấy khikhám qua trực tràng để chẩn đoán gia súc có thai và bệnh lý ở tử cung
c Ống dẫn trứng
Ống dẫn trứng (vòi fallop), nằm ở màng treo buồng trứng Chức năng của
Trang 18ống dẫn trứng là vận chuyển trứng và tinh trùng theo chiều ngược nhau, một đầucủa ống dẫn trứng thông với xoang bụng Gần sát với buồng trứng có hình loa kèn,trên loa kèn là một màng mỏng tạo thành một tán rộng lô nhô không đều ôm lấybuồng trứng Trứng được chuyển qua lớp nhầy đi đến lòng ống dẫn trứng, nơi xảy
ra sự thụ tinh và sự phân chia của phôi Thời gian tế bào trứng di chuyển trong ốngdẫn trứng từ 3-10 ngày
Có thể chia ống dẫn trứng thành 4 đoạn chức năng: đoạn tua phồng ống dẫn trứng và đoạn co của ống dẫn trứng (Nguyễn Tấn Anh và cs.,1992)
điểm-phễu-d.Buồng trứng (Ovarium)
Buồng trứng của bò gồm một đôi treo ở cạnh trước dây chằng rộng, gần nútsừng tử cung và nằm trong xoang chậu Hình dáng buồng trứng rất đa dạng nhưngphần lớn có hình bầu dục hoặc ovan dẹt, không có lõm rụng trứng Khi mới sinhbuồng trứng có khối lượng khoảng 0,3 g, khi trưởng thành có khối lượng 10-20g,dài 1-2cm, rộng 1-1,5 cm và dày khoảng 1,5cm, thường có màu trắng (NguyễnTấn Anh và cs., 1992) Buồng trứng của gia súc có chức năng sinh ra trứng và tiếtdịch nội tiết
2.1.2 Đặc điểm sinh lý sinh dục của bò
Đặc điểm sinh lý sinh dục của gia súc nói chung có tính ổn định với từnggiống vật nuôi và được duy trì qua các thế hệ và luôn củng cố, hoàn thiện qua quátrình chọn lọc Ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của một số yếu tố như: ngoại cảnh,điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc, sử dụng… Để đánh giá đặc điểm sinh lý sinh dụccủa bò sữa người ta thường tập trung nghiên cứu, theo dõi các chỉ tiêu sau đây:
Trang 19đông xuân sẽ có tỷ lệ động hớn và phối giống có chửa cao trong vụ hè thu Bò đẻcuối vụ đông xuân do có thời gian vận động và gặm cỏ ngoài bãi trong suốt cả hè.
Thời gian động dục của bò ngắn, trung bình 14 - 15 giờ, trứng rụng tự nhiênsau động dục từ 10 - 14 giờ Tỷ lệ đậu thai sẽ cao nếu bò cái được phối giống vàocuối thời kỳ biểu hiện động dục lâm sàng
Khi phối giống có chửa thì bò không động dục trở lại Thời gian có chửa ở bòcái là 9 tháng 10 ngày (280 - 285 ngày) (Trần Tiến Dũng và cs., 2002) Sau khi đẻ,thời kỳ động dục trở lại của bò sữa là 35 - 60 ngày, ở bò thịt 50 - 80 ngày Động dụcxuất hiện ở bò cái vắt sữa sớm hơn ở bò cái nuôi con, nếu cho bò giao phối khi độngdục sau đẻ 40 ngày thì tỷ lệ đậu thai thấp (Trần Tiến Dũng và cs., 2002)
+ Khoảng cách giữa các lứa đẻ
Khoảng cách giữa các lứa đẻ là thước đo phản ánh khả năng sinh sản củagia súc Ở bò, một năm một lứa là khoảng cách lý tưởng, nếu khoảng cách lứa đẻquá dài sẽ gây thiệt hại về kinh tế và sẽ hạn chế tiến bộ di truyền của loài Khoảngcách lứa đẻ phụ thuộc vào chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, đặc điểm giống, kỹ thuậtkhai thác sữa, cạn sữa, kỹ thuật phối giống, các bệnh sinh sản mắc phải
hai lứa đẻ là 18 - 20 tháng (Nguyễn Văn Thưởng, 1984)
+ Thời gian hồi phục tử cung sau đẻ
Khi đẻ tử cung phải co bóp để đẩy thai ra ngoài, sau khi sinh tử cung co lạinhư kích thước ban đầu, quá trình này gọi là hồi phục tử cung sau khi đẻ Đó làgiai đoạn sinh lý có ảnh hưởng rất lớn đến khoảng cách giữa hai lứa đẻ Đối với
bò, thời gian để bộ máy sinh dục hồi phục hoàn toàn sau khi đẻ là 3 tuần
Trang 20Những kết quả nghiên cứu sau này chứng minh rằng thời gian này có dài hơn.Thời gian hồi phục hoàn toàn của bò đẻ lứa đầu là 42 ngày, ở bò đã đẻ nhiều lần là
50 ngày Bằng phương pháp khám qua trực tràng cho biết 3 – 4 ngày sau khi đẻ thểtích tử cung giảm đi 1/2 và vào khoảng ngày thứ 15 – 17 sau khi đẻ tử cung hồiphục gần như hoàn toàn
Theo tác giả Nguyễn Trọng Tiến và cs (1991) cho biết khoảng 60 ngày saukhi đẻ có 75% và 75 ngày có 87% số bò cái có cơ quan sinh dục được hồi phục.Đối với bò đẻ khó, sát nhau thời gian này là 4 tháng Tác giả cũng cho biết
ở bò cái sự hồi phục tử cung phía không mang thai trung bình là 14,4 ngày Sự co dạcon còn phụ thuộc vào cơ thể, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, quá trình đẻ và hộ lý chăm sócsau đẻ
2.2 MỘT SỐ THÔNG TIN VỀ BỆNH VIÊM TỬ CUNG BÒ
2.2.1 Khái niệm về viêm tử cung
Tử cung là bộ phận quan trọng của cơ quan sinh dục cái, là nơi thai làm tổ
và phát triển từ khi còn là hợp tử đến khi thành bào thai hoàn chỉnh, mọi quá trìnhbệnh lý sảy ra ở tử cung đều gây ra hiện tượng rối loạn sinh sản ảnh hưởng trựctiếp đến khả năng sinh sản thậm trí làm mất khả năng sinh sản của gia súc cái
Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2016), viêm tử cung là quá trình bệnh lýsảy ra ở gia súc sinh sản với đặc điểm quá trình viêm phá hủy các lớp (các tầng)của tử cung gây ra hiện tượng rối loạn sinh sản thậm chí làm mất khả năng sinhsản của gia súc cái
Theo Sheldon et al (2006), viêm tử cung là một trong những bệnh sinh sản
thường gặp ở gia súc sinh sản nói chung và bò sữa nói riêng Đây là quá trình bệnh
lý ở tử cung gây ra bởi các loại vi khuẩn làm tử cung chảy dịch, mùi khó chịu, giasúc sốt, uể oải, mệt mỏi, giảm ăn, nhịp tim tăng và sản lượng sữa giảm
2.2.2 Nguyên nhân gây viêm tử cung
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002): Bệnh viêm tử cung ở gia súc sinh sảnđược gây ra bởi những nguyên nhân sau
+ Do trong quá trình sinh đẻ đặc biệt các trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằngtay hay dụng cụ làm xây xát niêm mạc đường sinh dục cái
+ Do kế phát từ một số bệnh như sát nhau không can thiệp kịp thời làm cho nhau thai bị phân huỷ thối rữa trong tử cung gây hiện tượng nhiễm trùng tử cung
Trang 21+ Do công tác vệ sinh trước, trong và sau khi đẻ không đảm bảo như nơi sinh, nền chuồng, dụng cụ đỡ đẻ không vô trùng.
Tất cả những nguyên nhân trên tạo điều kiện cho các tập đoàn vi khuẩn xâmnhập từ bên ngoài vào tử cung rồi xâm nhập qua những vết trầy sước của niêmmạc tử cung, chúng sinh sôi nẩy nở tăng cường về số lượng và độc lực gây viêm
Các vi khuẩn thường gặp trong bệnh viêm tử cung là Streptococcus,
Staphylococcus, E coli.
2.2.3 Một số yếu tố ảnh hưởng tới bệnh viêm tử cung ở bò
2.2.3.1 Ảnh hưởng của giống
Mỗi một giống bò có nguồn gốc xuất xứ khác nhau và thích nghi với điềukiện khí hậu cũng như điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng đặc trưng của vùng đó Khi
di chuyển hay thay đổi môi trường sống, bò có thể không thích nghi được hoặc bịxáo trộn nặng dẫn đến giảm sức đề kháng Từ đó, những nguyên nhân gây bệnh có
cơ hội xâm nhập và gây bệnh cho bò Những giống bò sữa cao sản thường dễ bịviêm tử cung hơn
2.2.3.2 Ảnh hưởng của mùa vụ
Khí hậu Việt Nam bao gồm bốn mùa với các đặc tính thời tiết khác nhau:xuân, hạ, thu, đông Song thể hiện sự phân hoá rõ hơn là xuân - hạ và thu - đông.Trong mùa xuân hạ thời tiết mưa nhiều, nhiệt độ cao, độ ẩm trong không khí cao làđiều kiện thuận lợi để các vi sinh vật gây bệnh phát triển Nhiệt độ cao làm chokhả năng thu nhận thức ăn giảm, sức khoẻ, sức đề kháng của con vật giảm nên tỷ
lệ mắc bệnh của bò sữa rất cao, đặc biệt là bệnh ở đường sinh dục
2.2.3.3 Ảnh hưởng của lứa đẻ
Những lứa đầu tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung là khá cao là do trong lần sinh
đẻ đầu tiên các bộ phận của cơ quan sinh dục giãn nở chưa hoàn toàn, thường dẫnđến hiện tượng đẻ khó và phải dùng biện pháp can thiệp bằng tay hay dụng cụ đểkéo thai ra ngoài từ đó làm trầy xước niêm mạc đường sinh dục tạo điều kiện thuậnlợi cho vi khuẩn từ ngoài xâm nhập vào qua những vết thương trên niêm mạc tửcung Ở những bò đã đẻ nhiều lứa, trương lực của tử cung giảm dẫn tới sự co bópcủa tử cung giảm không đủ cường độ để đẩy hết các sản phẩm trung gian sau khi
đẻ ra ngoài, sự hồi phục của tử cung chậm, cổ tử cung đóng muộn tạo điều kiệncho vi khuẩn xâm nhập gây viêm
Trang 222.2.3.4 Ảnh hưởng của vệ sinh thú y
Công tác vệ sinh thú y đối với bò sữa là một yếu tố ảnh hưởng rất lớn đếnbệnh viêm tử cung Vệ sinh thú y bao gồm vệ sinh môi trường và vệ sinh trong quátrình sinh sản Vệ sinh thú y tốt được đánh giá bởi các yếu tố:
trong chuồng hàng ngày, rửa chuồng hàng ngày, phun sát trùng định kỳ 1 tuần/1 lần
- Vệ sinh trong quá trình sinh sản bao gồm: Vệ sinh các dụng cụ thụ tinh, vệsinh bò sữa trong quá trình thụ tinh, vệ sinh khai thác tinh, dụng cụ phối, vệ sinh trước và sau khiđẻ…
2.2.3.5 Ảnh hưởng của phương pháp phối giống
Phương pháp phối giống cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung.Thụ tinh nhân tạo ở bò cái dễ gây xây xát do đưa dụng cụ phối vào con cái, con cáidịch chuyển trong khi phối gây xây xát niêm mạc, dụng cụ phối không được vôtrùng, kỹ thuật phối giống của Dẫn tinh viên không chuẩn đều rất dễ gây viêm
2.2.3.6 Ảnh hưởng của quá trình đẻ
Bò sữa đẻ bình thường sẽ làm khả năng nhiễm bệnh đường sinh dục thấphơn khi bò đẻ phải can thiệp Tuy nhiên thời gian đẻ kéo dài và có một số yếu tốkhác dẫn đến cần sự can thiệp của người chăn nuôi, cán bộ kỹ thuật Người chănnuôi hoặc cán bộ kỹ thuật dùng tay hoặc dây kéo, các thiết bị hỗ trợ khác để đưathai ra đều có thể làm gây xây xát niêm mạc và dễ nhiễm vi khuẩn từ ngoài môitrường vào gây viêm tử cung
Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2016) cho rằng phương pháp đỡ đẻ thôbạo, không đúng kỹ thuật đặc biệt các trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay
và các loại dụng cụ làm xây xát niêm mạc tử cung tạo điều kiện thuận lợi cho vikhuẩn xâm nhập vào những vết trầy xước trên niêm mạc tử cung, chúng tăngcường về số lượng gây nhiễm trùng tử cung gây viêm tử cung
2.2.3.7 Ảnh hưởng của sản lượng sữa
Những bò có sản lượng sữa cao thì nhu cầu về dinh dưỡng và năng lượngcũng cao hơn các bò có sản lượng sữa thấp Mà trong khẩu phần ăn của bò thì thức
ăn tinh là nguồn năng lượng chủ yếu để giúp bò tạo sữa Khi bò ăn nhiều thức ăntinh có thể dẫn đến sự mất cân bằng độ pH dạ cỏ và có thể làm tăng các thể xeton
trong máu Suriyasathaporn et al (2000) cho biết xeton huyết làm giảm
Trang 23khả năng hấp dẫn bạch cầu vào trong các tổ chức khi có tác động của nguyên nhângây viêm dẫn đến làm giảm số lượng bạch cầu đa nhân trong các tổ chức bị viêm,bạch cầu cũng giảm sản xuất các cytokines quan trọng trong quá trình viêm vàphòng ngự của cơ thể như interferon, interleukin, tumor necrosis factor, những bò
có năng suất sữa cao thì bị stress nhiều hơn các bò có năng suất thấp Stress làmtăng tiết hormone cortisol, tình trạng này kéo dài dẫn đến suy giảm miễn dịch vàlàm tăng nguy cơ viêm tử cung ở bò sữa Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Sơn và cs.(2016) cho thấy bò có sản lượng sữa >30kg/ngày thì có nguy cơ mắc viêm tử cungcao hơn bò có sản lượng sữa từ 20-30kg/ngày
2.2.3.8 Ảnh hưởng của một số bệnh sản khoa
a Bệnh sát nhau bò
Ở bò sau khi sổ thai quá 12 giờ nhau thai con không được đẩy ra khỏi tử cung
cơ thể mẹ thì được gọi là bệnh sát nhau (Retain placenta) Căn cứ vào mức độ của bệnh có thể
chia ra như sau:
+ Thể sát nhau hoàn toàn: Toàn bộ hệ thống nhau thai còn dính với niêm mạc tửcung ở cả hai sừng tử cung
thai con đã tách khỏi niêm mạc tử cung Sừng tử cung bên có thai thì nhau thai con còn dính chặtvới niêm mạc tử cung mẹ
còn dính với niêm mạc tử cung, còn đa phần màng thai đã tách khỏi niêm mạc tử cung
Triệu chứng của bệnh: tùy vào mức độ của bệnh mà toàn bộ nhau thai cònnằm trong tử cung hoặc một phần màng thai, núm nhau con đã tách khỏi núm nhau
mẹ và được đẩy ra treo lòng thòng ở mép âm môn, có khi một phần của màng ối đãrời hẳn ra ngoài Con vật xuất hiện trạng thái đau đớn, bồn chồn, khó chịu trongtrạng thái bị kích thích và cong lưng, cong đuôi rặn Sau khi sổ thai 2 - 3 ngày mànhau thai không được đẩy ra ngoài thì các loại vi khuẩn phát triển mạnh trong tửcung làm cho nhau thai bị thối rữa gây viêm tử cung và từ cơ quan sinh dục luônthải ra ngoài hỗn dịch bao gồm dịch thai, máu, mủ, niêm dịch, mảnh vụn tổ chức,
tế bào bị phân giải có mùi hôi thối, khó chịu Càng về sau mức độ biến đổi củanhau thai càng nặng hơn và càng hôi thối hơn Lúc này con mẹ xuất hiện triệuchứng toàn thân rõ:
Trang 24+ Thân nhiệt cao, ăn uống giảm, lượng sữa giảm Nếu thời gian càng lâu màkhông được can thiệp khi tình trạng con vật trở nên trầm trọng hơn như bỏ ăn, ngừng nhai lại,chướng bụng đầy hơi, ngừng tiết sữa, nhiễm trùng huyết hoặc huyết nhiễm mủ và con vật có thể
bị tử vong
+ Theo LeBlanc (2008), có khoảng 30-50% bò bị sót nhau bị mắc viêm tử cung.Kết quả của nhiều nghiên cứu đều cho thấy bò bị sót nhau làm tăng nguy cơ mắc bệnh viêm tửcung ở bò sữa từ 5,7-27,4 lần
b Hiện tượng đẻ khó
Trong quá trình sinh đẻ của gia súc, thời gian sổ thai bị kéo dài, những bàothai không được đẩy ra khỏi cơ thể mẹ gọi là hiện tượng đẻ khó Hiện tượng bò đẻkhó do rất nhiều nguyên nhân dẫn tới và được biểu hiện dưới nhiều hình thức khácnhau, có 02 nguyên nhân gây đẻ khó:
+ Đẻ khó do cơ thể mẹ: Do tử cung co bóp và sức rặn của con mẹ quá yếu Cácphần mềm của đường sinh dục như cổ tử cung, âm đạo, âm môn giãn nở không bình thường Hệthống khung xoang chậu hẹp hay biến dạng, khớp bán động háng phát triển không bình thườnghay bị cốt hóa Tử cung bị xoắn, vặn ở thời gian có chửa kỳ cuối
sinh dục, do chiều, hướng, tư thế của bào thai không bình thường, thai dị hình hay quái thai
+ Hiện tượng đẻ khó do bào thai gây nên thường chiếm 3/4 các trường hợp đẻ khó
ở gia súc lớn nói chung và bò sữa nói riêng Các ca đẻ khó có thể xảy ra một cách đơn độc và cũng
có thể kết hợp lại với nhau Ví dụ như trường hợp những thai đã quá to mà đầu, cổ thai lại quay sangmột bên hay úp xuống ngực hoặc trường hợp đầu thai quay sang một bên đồng thời hai chân trướcmột chân thẳng, một chân bị gấp khúc Trong quá trình tiến hành thủ thuật đỡ đẻ, do không nắmvững các thao tác kỹ thuật nên làm xây xát niêm mạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập từ ngoài vào gâyviêm Chính vì vậy có thể nói đẻ khó là một trong những nguyên nhân chính gây viêm tử cung ở giasúc sinh sản nói chung và bò sữa nói riêng
c Viêm âm môn, tiền đình và âm đạo
Trong quá trình gia súc sinh đẻ, khi can thiệp những trường hợp đẻ khó, khi
đỡ đẻ bình thường hoặc khi phối giống không đúng kỹ thuật thường làm cho niêmmạc âm môn, tiền đình, âm đạo bị xây xát, bị tổn thương và nhiễm khuẩn
11
Trang 25Mặt khác, có thể do hậu quả khi sử dụng mỏ vịt để kiểm tra âm đạo làm cho niêmmạc âm đạo và tiền đình bị kích thích quá mạnh hoặc niêm mạc âm đạo và tiềnđình đã bị xây xát, bị tổn thương vi khuẩn từ bên ngoài xâm nhập làm xuất hiệnquá trình viêm Trường hợp bệnh mới phát sinh thì niêm mạc hơi sung huyết, trong
âm đạo có dịch thẩm xuất Khi kiểm tra âm đạo, con vật không có phản xạ đau vàhầu như không có triệu chứng lâm sàng toàn thân Nếu viêm âm đạo, tiền đình thểmãn tính thì niêm mạc âm đạo trở nên khô cứng, màu sắc nhợt nhạt, trên mặt niêmmạc có những đám màu trắng màu đỏ không đều Dịch thẩm xuất lẫn với niêmdịch có màu trắng đục Trường hợp viêm âm đạo, tiền đình có mủ thì khi con vậtđại tiểu tiện có nhiều mủ lẫn niêm dịch chảy ra Kiểm tra niêm mạc âm đạo, convật có phản ứng đau rõ Niêm mạc sưng, sung huyết và có những vết loét Cótrường hợp niêm mạc âm đạo do tổ chức liên kết tăng sinh mạnh nên làm cho lòng
âm đạo bị hẹp Lúc này con vật xuất hiện một số triệu chứng toàn thân như sốt, ủ
rũ, mệt nhọc, ăn uống kém, lượng sữa giảm Trường hợp âm đạo và tiền đình viêmhóa mủ, tế bào tổ chức niêm mạc bị tổn thương nặng, kế phát đến quá trình bệnh lý
ở tử cung làm gia súc giảm hay mất khả năng sinh sản
2.2.4 Phân loại các thể viêm tử cung
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002): Tuỳ vào vị chí tác động của quá trìnhviêm đối với tử cung có thể chia ra 3 thể viêm khác nhau
2.2.4.1 Viêm nội mạc tử cung (Endomestritis)
Viêm nội mạc tử cung là viêm lớp niêm mạc của tử cung Đây là một trongnhững nguyên nhân chủ yếu làm suy giảm khả năng sinh sản của gia súc cái
Viêm nội mạc tử cung phổ biến và chiếm tỷ lệ cao nhất trong các thể viêm
ở tử cung (Nguyễn Văn Thanh và Lê Trần Tiến, 2007)) Bệnh viêm nội mạc tửcung thường xảy ra sau khi gia súc sinh đẻ, nhất là trong những trường hợp đẻ khóphải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ làm niêm mạc tử cung bị xây sát, tổn thương
Sau đó là do sự tác động của các vi khuẩn Streptococcus, Staphylococcus, E.coli,
Salmonella, Brucella, roi trùng gây viêm nội mạc tử cung.
Căn cứ vào tính chất, trạng thái của quá trình bệnh lý, viêm nội mạc tử cung
có thể chia ra làm hai loại: viêm nội mạc tử cung thể cata cấp tính có mủ và viêmnội mạc tử cung có màng giả
* Viêm nội mạc tử cung thể Cata cấp tính có mủ (Endomestritis Puerperalis)
Bệnh này gặp nhiều ở bò sau sinh đẻ, niêm mạc cổ tử cung và âm đạo bị
Trang 26tổn thương, xây sát dẫn đến nhiễm khuẩn nhất là khi gia súc bị sát nhau, đẻ khóphải can thiệp.
Khi bị bệnh, gia súc biểu hiện một số triệu chứng chủ yếu: thân nhiệt tăngnhẹ, ăn uống giảm, lượng sữa giảm Con vật có trạng thái đau đớn nhẹ, đôi khicong lưng rặn, tỏ vẻ không yên tĩnh Từ cơ quan sinh dục thải ra ngoài hỗn dịch,niêm dịch lẫn với dịch viêm, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức chết Khi con vậtnằm, dịch viêm thải ra càng nhiều, xung quanh âm môn, gốc đuôi, hai bên môngdính nhiều dịch viêm có khi nó khô lại hình thành từng đám vẩy, màu trắng xám.Kiểm tra qua âm đạo, niêm dịch và dịch viêm thải ra nhiều Cổ tử cung hơi mở và
có mủ chảy qua cổ tử cung Niêm mạc âm đạo bình thường, kiểm tra qua trựctràng có thể phát hiện được một hay cả hai sừng tử cung sưng to, hai sừng tử cungkhông cân xứng nhau, thành tử cung dày và mềm hơn bình thường Khi kích thíchnhẹ lên sừng tử cung thì mức độ phản ứng co lại của chúng yếu ớt Trường hợptrong tử cung tích lại nhiều dịch viêm, nhiều mủ thì có thể phát hiện được trạngthái chuyển động sóng
* Viêm nội mạc tử cung màng giả
Thể viêm này, niêm mạc tử cung thường bị hoại tử Vết thương đã ăn sâuvào tầng cơ của tử cung và chuyển thành hoại tử, lúc này con vật xuất hiện triệuchứng toàn thân rõ: Thân nhiệt lên cao, lượng sữa giảm có khi hoàn toàn mất sữa,
kế phát viêm vú, con vật ăn uống kém và không nhai lại, biểu hiện trạng thái đauđớn, luôn rặn, lưng và đuôi cong lên Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗndịch: Dịch viêm, máu, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức hoại tử, niêm dịch
Hình 2.1 Viêm nội mạc tử cung
Nguồn: Nguyễn Văn Thanh và cs (2016)
Trang 272.4.1.2 Viêm cơ tử cung (Myomestritis Puerperalis)
Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2016) viêm cơ tử cung thường kế phát từviêm nội mạc tử cung, niêm mạc tử cung bị thấm dịch thẩm xuất, vi khuẩn xâmnhập và phát triển sâu vào tử cung làm niêm mạc bị phân giải, thối rữa gây tổnthương mạch quản vàlâm ba quản Từ đó làm cho các lớp cơ và một ít lớp tươngmạc tử cung bị hoại tử Trường hợp này có thể dẫn đến hiện tượng nhiễm trùngtoàn thân, huyết nhiễm trùng hoặc huyết nhiễm mủ Có khi vì lớp cơ và lớp tươngmạc tử cung bị phân giải, bị hoại tử màtử cung bị thủng hay bị hoại tử từng đám
Hình 2.2 Viêm cơ tử cung
Nguồn: Nguyễn Văn Thanh và cs (2016)
Trang 28Ởthể viêm này, gia súc biểu hiện triệu chứng toàn thân rõ: thân nhiệt tăngcao, mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống giảm, sản lượng sữa giảm hay mất hẳn Con vật kếphát chướng bụng đầy hơi, viêm vú, có khi viêm phúc mạc Gia súc biểu hiệntrạng thái đau đớn, rặn liên tục Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịchmàu đỏ nâu, lợn cợn mủ vànhững mảnh tổ chức thối rữa nên có mùi tanh thối.Kiểm tra qua âm đạo bằng mỏ vịt thấy cổ tử cung mở, hỗn dịch càng chảy ra ngoài
âm đạo nhiều hơn, phản xạ đau của con vật càng rõ hơn Khám qua trực tràng thì
tử cung to hơn bình thường, hai sừng tử cung to nhỏ không đều nhau, thành tửcung dày vàcứng Khi kích thích lên tử cung, con vật rất mẫn cảm, đau nên càngrặn mạnh hơn, từ tử cung thải ra nhiều hỗn dịch bẩn
2.4.1.3 Viêm tương mạc tử cung (Perymestritis Puerperalis)
Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2016), viêm tương mạc tử cung thường kếphát từ thể viêm cơ tử cung Thể viêm này thường cấp tính cục bộ, toàn thân xuấthiện những triệu chứng điển hình và nặng Lúc đầu lớp tương mạc tử cung có màuhồng, sau chuyển thành màu đỏ sẫm rồi trở nên sần sùi mất tính trơn bóng Sau đócác tế bào bị hoại tử vàbong ra, dịch thẩm xuất tăng tiết Trường hợp viêm nặng,lớp tương mạc ở một số vùng có thể dính với các tổ chức xung quanh, gây nên tìnhtrạng viêm mô tử cung (Parametritis) và dẫn đến viêm phúc mạc Thân nhiệt tăngcao, mạch đập nhanh, con vật ủ rũ, uể oải, đại tiểu tiện khó khăn, ăn uống kémhoặc bỏ ăn, hiện tượng nhai lại giảm hay ngừng Lượng sữa còn rất ít hay mất hẳn,thường kế phát viêm vú Con vật luôn biểu hiện trạng thái đau đớn, khó chịu, lưngvàđuôi cong, rặn liên tục Từ âm hộ thải ra ngoài rất nhiều hỗn dịch lẫn mủ và tổchức hoại tử, có màu nâu và mùi thối khắm
Kiểm tra qua trực tràng thấy thành tử cung dày, cứng, hai sừng tử cung mấtcân đối, khi kích thích con vật biểu hiện đau đớn càng rõ và càng rặn mạnh hơn.Trường hợp một số vùng của tương mạc đã dính với các bộ phận xung quanh thì
có thể phát hiện được trạng thái thay đổi về vị trí và hình dáng của tử cung, có khikhông tìm thấy một hoặc cả hai buồng trứng Thể viêm này thường dẫn đến kếphát bệnh viêm phúc mạc, bại huyết, huyết nhiễm mủ
Trang 29Hình 2.3 Viêm tương mạc tử cung
Nguồn: Nguyễn Văn Thanh và cs (2016)
2.2.5 Chẩn đoán phân biệt các thể viêm tử cung
Để chẩn đoán phân biệt các thể viêm tử cung người ta dựa vào những triệuchứng điển hình ở cục bộ và toàn thân Việc chẩn đoán phân biệt các thể viêm tửcung có một ý nghĩa quan trọng trong việc áp dụng những phác đồ điều trị thíchhợp với từng thể viêm nhằm đạt kết quả điều trị cao: thời gian điều trị ngắn, chiphí cho điều trị thấp đặc biệt là đảm bảo khả năng sinh sản cho gia súc cái
Bảng 2.1 Chẩn đoán phân biệt các thể viêm tử cung
Dịch viêm
Trang 302.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ BỆNH VIÊM TỬ CUNG BÒ
2.3.1 Tình hình nghiên cứu về bệnh viêm tử cung bò trên thế giới
Bệnh viêm tử cung ở gia súc sinh sản nói chung và bò sữa nói riêng là mộttrong những nguyên nhân quan trọng gây ra hiện tượng rối loạn sinh sản thậm trílàm mất khả năng sinh sản của gia súc cái gây thiệt hại lớn về kinh tế cho ngườichăn nuôi Chính vì vậy tại nhiều nước trên thế giới bệnh viêm tử cung bò được
nhiều tác giả tập trung nghiên cứu trên nhiều khía cạnh Gilbert et al (2005), Sheldon et al (2009), Dubuc et al (2011) thông báo: Bệnh viêm tử cung xảy ra
phổ biến trong đàn bò vào thời kỳ sau đẻ, bệnh làm kéo dài thời gian động dục lạisau đẻ, tăng hệ số phối, tăng tỉ lệ loại thải, giảm sản lượng sữa, giảm số con sinh ratrong một đời bò mẹ, từ đó làm giảm năng suất sinh sản, gây thiệt hại lớn về kinh
tế cho người chăn nuôi Tác giả LeBlanc (2008) khi nghiên cứu về bệnh viêm tửcung bò sữa cho biết: Bệnh viêm tử cung ở bò sữa chủ yếu xảy ra ở khoảng thờigian 7 ngày sau khi đẻ, tuy nhiên nó cũng có thể xảy ra ở giai đoạn khác Tác giảChaffaux and Bhat (1987) đã tiến hành sinh thiết niêm mạc tử cung bò bị bệnh sảnkhoa để tìm hiểu quá trình sinh bệnh cho biết: hậu quả của thụ tinh nhân tạo thôbạo, sai nguyên tắc đã làm tăng tỷ lệ bệnh viêm tử cung trong chăn nuôi bò sữa
Bhattacharyya et al (2011) nghiên cứu quản lý điều trị lâm sàng bệnh viêm tử cung bò Barman et al (2013) nghiên cứu tính kháng kháng sinh của vi khuẩn được phân lập từ dịch viêm tử cung bò Bhat et al (2014) nghiên cứu sử dụng phương pháp WST chẩn đoán phát hiện bệnh viêm tử cung bò Du et al (2010) khi
nghiên cứu sử dụng thảo dược điều trị bệnh viêm tử cung bò cho biết: cây kimngân hoa (Honeysuckle), hoa mai (Forsythia), bồ công anh (Dandelion), hoa violettokyo (Tokyo violet), ngải cứu (Motherwort), đương quy (Angelica), xuyên khung(Chuanxiong), địa hoàng (Rehmannia), hồng hoa (Safflower), cam thảo (Radixglycyrrhizae) có tác dụng là tăng cường khả năng miễn dịch của các tế bào biểu
mô tử cung của bò, do đó có thể dùng để điều trị bệnh viêm tử cung
Ahmed et al (2014) sử dụng một số chiết xuất thảo dược từ các cây sầu
đông (Aradirachta indica), bông Cận Đông (Gossypium berbaceum), bạch hoa xà(Plumbago zeylanica) và keo (Aacacia catechu) để điều trị bệnh viêm tử cung cho
bò thông báo với các tính chất kháng nấm, kháng khuẩn, kháng virus và khángviêm của các hoạt chất có trong các chiết xuất từ các thảo dược trên, chúng đều cókhả năng điều trị bệnh viêm tử cung cho bò Sử dụng chiết xuất từ tỏi và hormone
PGF2α để điều trị bệnh viêm tử cung cho bò, Sarkar et al (2006)
Trang 31cho thấy tỷ lệ bò khỏi bệnh ở hai nhóm là tương đương nhau Marquez et al.
(2007) thông báo dịch chiết xuất từ cây sim (Montanoa tomentosa) cho hiệu quảđiều trị bệnh viêm tử cung ở bò sữa cao và không làm ảnh hưởng đến chức năng
của buồng trứng Cui et al (2014) cho biết dịch chiết từ cây ích mẫu (Herba
Leonuri), đương qui (Angelicae Sinensis Radix), hồng hoa (Flos Carthami), cỏ gấu(Rhizoma Cyperi) và mộc dược (Myrrha) hòa tan trong cồn 700 làm tăng nhanh
quá trình đào thải nhau thai ở bò bị sát nhau Esparza-Borges et al (1996) cho biết
dịch chiết của tỏi (Allium sativum, L), khuynh diệp (Eucalyptus globules) và raukhúc (Gnaphalium conoideum) có tác dụng rút ngắn thời gian động dục lại sau đẻcủa bò bị viêm tử cung
2.3.2 Tình hình nghiên cứu về bệnh viêm tử cung bò ở Việt Nam
trên đàn bò thịt cũng như bò sữa gây ảnh hưởng lớn đến năng xuất sinh sản gây thiệt hại lớn vềkinh tế cho người chăn nuôi Chính vì vậy bệnh viêm tử cung đã và đang được các nhà chuyênmôn tập trung nghiên cứu trên nhiều khía cạnh Một số tác giả nghiên cứu về tỷ lệ mắc bệnhviêm tử cung trên đàn bò sữa: Nguyễn Văn Thanh và Lê Trần Tiến (2007) thông báo tỷ lệ mắcviêm tử cung trên đàn bò sữa nuôi tại Hà Nội và tỉnh Bắc Ninh trung bình là 21,32%, tại khu vựcđồng bằng sông Hồng tác giả Phạm Trung Kiên (2012) cho biết tỷ lệ viêm tử cung trên đàn bòsữa trung bình là 22,88%, ở một nghiên cứu khác, khi khảo sát tình hình mắc bệnh đường sinhdục của đàn bò sữa tại một số cơ sở giết mổ thuộc thành phố Hà Nội và tỉnh Bắc Ninh, tác giảNguyễn Văn Thanh (2007) cho biết, trong các bệnh sinh sản của bò sữa, bệnh viêm tử cungchiếm tỷ lệ cao nhất, 47,23% Nguyễn Thị Thúy (2017) thông báo tỷ lệ bò mắc bệnh viêm tửcung tại huyện Ba Vì, Hà Nội trung bình 24,61% cùng vào thời gian này tác giả Đỗ Quốc Trinh(2017) cho biết: tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở đàn bò sữa nuôi tại một số địa phương thuộc khuvực đồng bằng sông Hồng là khá cao, trung bình chiếm 23,75% giao động từ 19,72% đến27,74% Bệnh thường mắc ở những bò đẻ lứa đầu, những bò đã đẻ nhiều lứa và những bò có sảnlượng sữa cao Tỷ lệ mắc bệnh
ở các mùa là khác nhau, cao nhất vào mùa hè chiếm 28,35% và thấp nhất là mùa thuchiếm 19,63 %, tỷ lệ bệnh ở giai đoạn sau khi sinh chiếm 31,69% cao hơn nhiều so với giai đoạnchờ phối chiếm 14,61%
Nguyễn Ngọc Sơn và cs (2016) nghiên cứu một số yếu tốảnh hưởng đến tỷ
lệ mắc bệnh viêm tử cung bò sữa thông báo các yếu tố: giống, mùa vụ, lứa
Trang 32đẻ,sản lượng sữa và các bệnh sản khoa như đẻ khó, sát nhau, viêm âm môn tiềnđình âm đạo có ảnh hưởng trực tiếp tới tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở đàn bò sữa.Tác giả Nguyễn Văn Thanh và cs (2016) nghiên cứu thành phần, số lượng và tínhmẫn cảm với kháng sinh của một số vi khuẩn hiếu khí được phân lập từ dịch tửcung bò sữa thông báo: số lượng vi khuẩn hiếu khí trong dịch tử cung bị viêm tănglên gấp nhiều lần số lượng vi khuẩn có trong dịch tử cung của bò không bị viêm và
ở dịch viêm tử cung vi khuẩn Staphylococcus và Streptococcus được phát hiện ở
100% mẫu bệnh phẩm đồng thời cho biết tính mẫn cảm với kháng sinh của vikhuẩn hiếu khí được phân lập từ dịch tử cung bò sữa là không cao Gần đây, vớimục tiêu giảm thiểu việc dùng kháng sinh trong điều trị bệnh sinh sản của vật nuôimột số tác giả đã tập trung nghiên cứu về tính kháng khuẩn của một số thảo dượcđối với vi khuẩn gây viêm tử cung bò Tác giả Nguyễn Văn Thanh và NguyễnThanh Hải (2016) nghiên cứu ảnh hưởng của dung môi đến hiệu suất chiết và tác
dụng diệt khuẩn invitro của cao khô dịch chiết cây đơn đỏ (Excoecaria
cochinchinensis Lour) với vi khuẩn Staphylococcus spp và Streptococcus spp,
phân lập từ dịch viêm tử cung bò Tác giả Nguyễn Thị Thúy “Nghiên cứu tác dụng
ức chế vi khuẩn invitro và ứng dụng điều trị bệnh viêm tử cung bò bằng nano bạc
và dịch chiết cây Bồ Công Anh Lactuca indica L” Nguyễn Thị Thanh Hà và cs
(2017) nghiên cứu khả năng ức chế invitro của dịch chiết một số thảo dược đối với
vi khuẩn Streptococcus spp, Staphylococcus spp phân lập từ dịch viêm tử cung bò.
Nguyễn Văn Thanh (2018) nghiên cứu tính kháng khuẩn của cây Bồ công anh đối
với vi khuẩn Streptococcus spp., Staphylococcus spp phân lập từ dịch viêm tử
cung bò
2.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ SỬ DỤNG SẢN PHẨM THẢO DƯỢC TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
2.4.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng sản phẩm thảo dược trên thế giới
Năm 1999, Viện dược học, Học viện Khoa học y dược và Trường Đại họcBắc Kinh - Trung Quốc đã nghiên cứu và tách được các chất có khả năng chống ubướu từ thực vật họ Na: có khoảng 50 acetogenin, 12 styrylpyron và 25
polyoxygenat cyclohexen mới được tách ra từ 5 loài Uvaria, 4 loài Goniothalamus
và 1 loài Annona Bước đầu kiểm ta hoạt tính sinh học, phần lớn các chất mới tách
ra đều có hoạt tính chống u bướu quan trọng
- Tại Peru, trong vùng núi Andes, lá Mãng cầu được dùng làm thuốc trị
Trang 33cảm, xổ mũi; hạt nghiền nát làm thuốc trừ sâu Trong vùng Amazon vỏ cây và lá dùng trị tiểu đường, làm dịu đau, chống co giật.
- Tại Guyana: lá và vỏ thân cây nấu thành trà giúp trị đau và bổ tim
- Tại Batay: trong vùng Amazon, lá nấu thành trà trị bệnh gan; dầu ép từ lá và quả non trộn với dầu oliu làm thuốc thoa bên ngoài trị thâp khớp, đau sưng gân cốt
- Tại Jimaica, Haiti và West Indies: quả hay nước ép từ quả dùng trị nóng sốt,giúp sinh sữa và trị tiêu chảy; vỏ thân cây và lá dùng để trị đau nhức, chống co giật, ho, suyễn…
Vỏ cây, lá và rễ của cây đã được sử dụng trong y học dân gian dùng để điềutrị bệnh nhiễm trùng, bệnh ho, bệnh về gan, bệnh tiêu chảy và bệnh ung thư Cácnghiên cứu cho thấy đã tìm thấy khả năng kháng nấm, kháng khuẩn, độc tính tếbào, hạ huyết áp
- Huyền diệp (Polyalthia longifolia) là một cây cao và lá màu xanh, cây trưởng
thành có hình kim tự tháp đối xứng với chi nhánh rủ yểu điệu và lá hình mũi mác dài và hẹp vớimép lá răng cưa Chúng được trồng nhiều ở châu Phi, châu Á, Úc, Ấn Độ và New Zealand Theo
dân gian vỏ Polyalthia longifolia có tác dụng tốt để chữa cao huyết áp, kích thích hô hấp và đặc
trị làm hạ cơn sốt, bệnh ngoài da, bệnh tiểu đường và cao huyết áp (Nair and Kalariya, 2004).Tại Ấn Độ, hạt của cây này đã được sử dụng để giải nhiêṭ
2.4.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng sản phẩm thảo dược ở Việt Nam
Việt Nam có độ đa dạng sinh học cao, có tới 2/3 diện tích đất tự nhiên trongnước là rừng, đồi núi và cao nguyên Theo Nguyễn Thượng Dong (2001), ViệtNam có 10386 loài thực vật trong đó có 3830 loài có khả năng sử dụng làm thuốc.Trong công nghiệp dược phẩm nhân y đã có 1340/5577 loại thuốc chiếm 24%được sản xuất từ dược liệu hay hoạt chất từ dược liệu như: berberin, palmatin,artemisinin (Nguyễn Thượng Dong, 2001) Nhân y sử dụng dược liệu với nhiềumục đích khác nhau: thức ăn thay thế, phòng trị các bệnh truyền nhiễm, ký sinhtrùng, nội khoa, ngoại khoa, sản khoa, ung thư… với rất nhiều dạng thuốc khácnhau: thuốc sắc, thuốc cao, viên hoàn, viên nén…
Ngày nay, nhiều cây thuốc đã có hiệu quả điều trị rõ rệt, nhưng cơ chế tácdụng vẫn chưa được giải thích và chứng minh Xu hướng chung hiện nay là kếthợp Đông y và Tây y với phương châm vừa áp dụng những kinh nghiệm chữabệnh của cha ông ta bằng thuốc nam, vừa nghiên cứu khảo sát các tính năng tác
Trang 34dụng của cây thuốc bằng cơ sở khoa học hiện đại (Đỗ Tất Lợi, 1991).
Các công trình nghiên cứu về lĩnh vực Đông dược, Y dược cổ truyền bênnhân y đã và đang thu hút được sự chú ý của nhiều nhà khoa học ở Việt Nam vàtrên thế giới Các nhà khoa học nước ta đã chú ý đến việc sử dụng các loại thảodược trong phòng và trị bệnh truyền nhiễm; bệnh ký sinh trùng; bệnh nội khoa;bệnh ngoại khoa; bệnh sản khoa,… Riêng lĩnh vực thú y, nghiên cứu về cây thuốctrong phòng trị bệnh cho vật nuôi còn ít và cũng chỉ giới hạn trong việc khai thác,
áp dụng các bài thuốc cổ truyền
Về lĩnh vực thú y, các nghiên cứu sử dụng các kháng sinh thực vật trongnuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn, đặc biệt bệnh lợn con phân trắng đạt hiệu
quả cao (Bùi Thị Tho, 1996) Theo Lê Thị Ngọc Diệp (1999) cây Actiso (Cynara
Scolymus L) chứa hoạt chất có tác dụng chống viêm, lợi tiểu, thông mật, bổ gan.
Kết quả nghiên cứu của Bùi Thị Tho và Nguyễn Thành Trung (2010), khi
sử dụng dịch chiết cây Xuân hoa trong điều trị lợn con bị viêm ruột tiêu chảy tỉ lệkhỏi theo các công thức khác nhau đạt từ 87,51% đến 100%, thời gian khỏi bìnhquân là 2,3 – 3,08 (ngày)
Bùi Thị Tho (2003) đã nghiên cứu tác dụng của rễ thuốc cá trong phòng trịbệnh ngoại ký sinh trùng thú y cho kết quả tốt Hơn nữa, việc sử dụng thảo dượcđiều trị bệnh, hạn chế tồn dư kháng sinh trong sản phẩm chăn nuôi cũng đã đượcquan tâm từ lâu của nhóm nghiên cứu trên khi các tác giả trên sử dụng bồ công anh
(Lactuca indica L.) chống tồn dư kháng sinh Enrofloxacin trong điều trị tiêu chảy
ở gà (Bùi Thị Tho và Nguyễn Thị Thanh Hà, 2009) Ở một nghiên cứu khác, láXuân hoa cho thấy có tác dụng điều trị bệnh tiêu chảy ở lợn con (Bùi Thị Tho vàNguyễn Thành Trung, 2010) Trong định hướng tiến tới sử dụng kháng sinh thảodược một cách rộng rãi trong chăn nuôi thì việc bảo quản sản phẩm kháng sinhthảo dược cũng có một vai trò then chốt, nhóm nghiên cứu trên cũng đã nghiêncứu ảnh hưởng của thời gian và điều kiện bảo quản đến tác dụng dược lý của dịchchiết củ Bách bộ (Bùi Thị Tho, 2004) Tác giả cho thấy nên thu dịch chiết trongvòng 24h sau khi thu hái Việc sử dụng kháng sinh thực vật từ tỏi và hẹ để điều trịcác bệnh trên gia súc gia cầm cho thấy nó vừa cho hiệu quả cao, vừa ít bị khángthuốc, thời gian phát sinh kháng thuốc chậm hơn so với kháng sinh tổng hợp và từnấm, hơn nữa vi khuẩn lại nhanh tái mẫn cảm với kháng sinh thực vật hơn cácthuốc hóa học trị liệu (Bùi Thị Tho, 2001)
Nguyễn Văn Thanh và Nguyễn Thanh Hải (2014) cho biết, dịch chiết cây
mò hoa trắng tiêu diệt vi khuẩn Salmonella in vitro và cho kết quả điều trị cao
Trang 35đối với lợn con bị bệnh phân trắng Trong nghiên cứu trên, nhóm tác giả đã sửdụng ethanol ở các nồng độ 35%, 70%, acetic 5% và aceton 70% để chiết xuấtphytoncid từ thân, lá và rễ cây mò hòa trắng Kết quả của nghiên cứu cho thấyrằng, chiết xuất bằng ethanol nồng độ 35% cho dịch chiết có hiệu quả tiêu diệt vikhuẩn và điều trị bệnh lợn con hoa trắng cao nhất Nhóm tác giả trên cũng thấy
rằng dịch chiết từ quả lựu (Punica gramatum) cho kết quả cao khi điều trị các bệnh
giun sán cho gia súc (Nguyen Thanh Hai và Miyamoto Atsushi, 2014) Nhóm tácgiả sử dụng ethanol 5% để chiết xuất phytoncid từ quả lựu, dịch chiết được có thểtiêu diệt giun đũa lợn, sán dây ở lợn, giun đũa ở gà và sán lá ở gà
Các chiết xuất của tỏi gừng cũng được nhóm tác giả trên công bố có khả
năng tiêu diệt vi khuẩn E coli và Salmonella phân lập từ vịt bị tiêu chảy (Nguyen
Thanh Hai, Nguyen Van Thanh, 2014) Trong nghiên cứu này tác giả sử dụngethanol 5% và acetic 5% để chiết xuất phytoncid từ tỏi và gừng Kết quả cho thấyphương pháp dùng acetic 5% cho dịch chiết có tính kháng khuẩn cao hơn dịchchiết thu được từ phương pháp dùng ethanol 5%
Nhóm tác giả trên cũng nghiên cứu ảnh hưởng của dịch chiết của ngưu tất
(Achyranthes Bidentata Blume), muồng trâu (Cassia Alata L), phi tử (Embelia
Ribes Burn), bìm bìm (Ipomoea Hederacea Jacq), keo dậu (Leucaena Glauca Benth) và cà gai leo (Solanumtorvum Swartz) lên quá trình nở của trứng kí sinh
trùng Haemonchus contortus phân lập từ dê (Nguyen Van Thanh and Nguyen
Thanh Hai, 2015) Các giả trên cho thấy muồng trâu và phi tử có tác dụng ức chế
trứng nở của Haemonchus contortus tốt nhất, trong khi ngưu tất có tác dụng tốt
nhất lên sự chuyển động của ấu trùng Ở nồng độ 20%, chỉ có chất chiết bìm bìm,
keo dậu là có cả hai tác dụng vừa ức chế không cho trứng Haemonchus contortus
nở và ức chế sự chuyển động của ấu trùng
2.5 THÔNG TIN VỀ CHẾ PHẨM CÓ NGUỒN GỐC THẢO DƯỢC ĐƯỢC
SỬ DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU
Chế phẩm có nguồn gốc thảo dược được sử dụng trong nghiên cứu củachúng tôi là sản phẩm của đề tài độc lập cấp nhà nước mang tên “ Nghiên cứu sảnxuất chế phẩm có nguồn gốc thảo dược phòng và trị bệnh viêm tử cung cho bò Mãsố: ĐTĐL CN – 52/15” Chế phẩm là một hỗn hợp dịch chiết của 05 loại thảodược: Huyền Diệp, Bồ Công Anh, Sài Đất, Tô Mộc và Đơn Đỏ
Trang 36PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
- Học viện Nông nghiệp Việt Nam :
nghiệp Việt Nam;
- Các hộ chăn nuôi bò sữa:
3.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Từ tháng 5/2017 đến tháng 8/2018
3.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là đàn bò sữa nuôi tại một số địa phương thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng
3.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.4.1 Đánh giá thực trạng bệnh viêm tử cung
3.4.2 Xác định biến đổi của một số chỉ tiêu lâm sàng khi bò bị viêm tử cung
- Sự biến đổi về phản ứng của cơ thể: đau, co nhỏ của tử cung;
Trang 37- Sự biến đổi về mức độ thu nhận thức ăn và nước uống;
- Sự biến đổi của dịch viêm tiết ở cơ quan sinh dục
3.4.3 Xác định sự biến đổi của một số vi khuẩn hiếu khí thường gặp trong
3.4.4 Thử nghiệm sử dụng chế phẩm có nguồn gốc thảo dược điều trị bệnh viêm tử cung bò
Thử nghiệm biện pháp điều trị bệnh viêm tử cung bò bằng chế phẩm cónguồn gốc thảo dược dạng huyền phù và theo dõi chỉ tiêu tỷ lệ khỏi, thời gian khỏi
và khả năng sinh sản của bò sau khi khỏi bệnh
3.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.5.1 Phương pháp đánh giá thực trạng bệnh viêm tử cung
- Bò được coi là bị viêm tử cung khi từ tử cung thải ra dịch có màu nâu - đỏ, mùithối, có thể có mủ, bò có các triệu chứng sốt, mệt mỏi, ăn kém và sụt giảm sản lượng sữa, những
trường hợp nghi ngờ được kiểm tra lại bằng phản ứng Whiteside test (Fayaz et al., 2014) cụ thể như
sau: lấy 1ml dịch tử cung cần kiểm tra vào ống nghiệm sạch, sau đó cho thêm 1ml dung dịch NaOH5% và đun sôi Để ống nghiệm trong giá đựng cho tới khi dung dịch nguội và đánh giá kết quả nhưsau:
+ Nếu dung dịch không có màu thì được cho là dịch tử cung bình thường + Nếu dung dịch có màu vàng thì dịch được cho là dịch viêm tử cung
- Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn bò sữa tại địa phương nghiên cứu đượcxác định bằng phương pháp điều tra, phỏng vấn trực tiếp người chăn nuôi kết hợp với việc theo
dõi, thăm khám trực tiếp và sử dụng phương pháp Whiteside test (Bhat et al., 2014).
.- Xác định yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung bằng cách