1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nâng cao chất lượng công tác của cán bộ chủ chốt thuộc diện quản lý của ban thường vụ huyện ủy đà bắc, tỉnh hòa bình

108 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 147,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Phần 1. Mở đầu (15)
    • 1.1. Tính cấp thiết của đề tài (0)
    • 1.2. Mục tıêu nghıên cứu (0)
      • 1.2.1. Mục tiêu chung (16)
      • 1.2.2. Mục tiêu cụ thể (16)
    • 1.3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu (17)
      • 1.3.1. Đối tượng nghiên cứu (17)
      • 1.3.2. Phạm vi nghiên cứu (17)
    • 1.3. những đóng góp mới của luận văn (0)
  • Phần 2. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lượng công tác của cán bộ chủ chốt thuộc diện quản lý của ban thường vụ huyện ủy (0)
    • 2.1. Cơ sở lý luận (19)
      • 2.1.1. Một số khái niệm cơ bản (19)
      • 2.1.2. Vai trò của cán bộ chủ chốt thuộc diện quản lý của Ban Thường vụ Huyện ủy (24)
      • 2.1.3. Đặc điểm của cán bộ chủ chốt thuộc diện quản lý của Ban Thường vụ Huyện ủy (27)
      • 2.1.4. Nội dung nghiên cứu nâng cao chất lượng công tác của cán bộ chủ chốt thuộc diện quản lý của Ban thường vụ huyện ủy (30)
      • 2.1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến nâng cao chất lượng công tác của cán bộ chủ chốt thuộc diện quản lý của Ban thường vụ huyện ủy (35)
    • 2.2. Cơ sở thực tiễn về nâng cao chất lượng công tác của cán bộ chủ chốt (41)
  • Phần 3. Phương pháp nghiên cứu (0)
    • 3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu (52)
      • 3.1.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu (52)
    • 3.2. Phương pháp nghiên cứu (0)
      • 3.2.1. Chọn điểm nghiên cứu (54)
      • 3.2.2. Phương pháp tiếp cận (55)
      • 3.2.3. Phương pháp thu thập thông tin (56)
      • 3.2.4. Phương pháp phân tích (56)
    • 3.3. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu (57)
  • Phần 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận (58)
    • 4.1. Thực trạng nâng cao chất lượng công tác của cán bộ chủ chốt thuộc diện quản lý của ban thường vụ huyện ủy Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình 44 1. Số lượng, cơ cấu đội ngũ cán bộ chủ chốt thuộc diện quản lý của Ban thường vụ huyện Đà Bắc 44 2. Thực trạng chất lượng công tác chuyên môn của cán bộ chủ chốt (0)
      • 4.1.3. Đánh giá kết quả và mức độ hoàn thành nhiệm vụ (71)
      • 4.1.4. Đánh giá chung về thực trạng nâng cao chất lượng công tác của cán bộ chủ chốt thuộc diện quản lý của Ban thường vụ huyện ủy Đà Bắc 57 4.2. Yếu tố ảnh hưởng đến nâng cao chất lượng cán bộ chủ chốt thuộc diện quản lý của Ban thường vụ huyện Đà Bắc 62 4.2.1. Cơ cấu tổ chức, hệ thống tổ chức (74)
      • 4.2.2. Công tác tuyển dụng cán bộ chủ chốt (80)
      • 4.2.3. Công tác bổ nhiệm, bố trí, sắp xếp, sử dụng cán bộ chủ chốt (82)
      • 4.2.4. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt (84)
      • 4.2.5. Trang thiết bị và điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật (87)
      • 4.2.6. Công tác đánh giá cán bộ cán bộ chủ chốt (88)
      • 4.2.7. Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đối với cán bộ chủ chốt (90)
    • 4.3. Giải pháp nâng cao chât lượng cán bộ chủ chốt thuộc diện ban thường vụ quản lý 73 1. Nâng cao chất lượng tuyển dụng cán bộ chủ chốt huyện Đà Bắc (0)
      • 4.3.2. Đổi mới công tác bổ nhiệm, bố trí, sử dụng cán bộ chủ chốt huyện Đà Bắc 74 4.3.3. Đổi mới công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ chủ chốt (92)
      • 4.3.4. Xây dựng, cải thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ làm việc cho cán bộ chủ chốt 76 4.3.5. Nâng cao chất lượng công tác đánh giá cán bộ chủ chốt (94)
      • 4.3.6. Tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát đội ngũ cán bộ chủ chốt huyện Đà Bắc79 Phần 5. Kết luận và kiến nghị (97)
    • 5.1. Kết luận (99)
    • 5.2. Kiến nghị (100)
  • Phụ lục (104)

Nội dung

TRÍCH YẾU LUẬN VĂNTên tác giả: Đinh Lê Huy Tên luận văn: Nâng cao chất lượng công tác của cán bộ chủ chốt thuộc diện quản lý của Ban Thường vụ huyêṇủy Đà Bắc, tı̉nh Hòa Bình Tên cơ sở đ

Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lượng công tác của cán bộ chủ chốt thuộc diện quản lý của ban thường vụ huyện ủy

Cơ sở lý luận

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản a Khái niệm cán bộ

Khái niệm “cán bộ” có nội hàm rộng, với nhiều cách tiếp cận theo phạm vi, đối tượng nghiên cứu.

Trong Từ điển Tiếng Việt, từ “cán bộ” được định nghĩa là: “Người làm công tác nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan Nhà nước, Đảng và đoàn thể Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người không có chức vụ” (Nguyễn Như Ý, 1998).

Trong Luật Cán bộ, công chức năm 2008, có hai loại cán bộ:

Loại thứ nhất: công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

Loại thứ hai: cán bộ xã, phường, thị trấn - công dân Việt Nam, được bầu cử, bổ nhiệm giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân (chủ tịch và các phó chủ tịch Hội đồng nhân dân), Ủy ban nhân dân (chủ tịch và các phó chủ tịch Ủy ban nhân dân), Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội (xã không có chủ tịch Công đoàn, phường và thị trấn không có chủ tịch Hội Nông dân).

Theo đó, hầu hết cán bộ là những người có chức vụ lãnh đạo, quản lý và chỉ công tác ở các tổ chức thuộc hệ thống chính trị Những người làm công việc quản lý ở các doanh nghiệp và các lực lượng vũ trang không thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Cán bộ, công chức, mà do Luật Doanh nghiệp, Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, Luật Công an nhân dân Việt Nam điều chỉnh.

Quan niệm này của Đảng không trái với các quy định của Nhà nước, vì khái niệm cán bộ trong Luật Cán bộ, công chức chỉ đề cập cán bộ trong các tổ chức thuộc hệ thống chính trị, đồng thời với Luật Cán bộ, công chức còn có Luật Viên chức, Luật Doanh nghiệp, Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, Luật Công an nhân dân Việt Nam… Khái niệm cán bộ được sử dụng trong văn bản của Đảng bao quát tất cả các cán bộ thuộc đối tượng điiều chỉnh của nhiều văn bản luật khác. Mặt khác, Đảng tôn trọng các quy định của Nhà nước về cán bộ phục vụ công tác quản lý nhà nước về nhân lực, song với trách nhiệm của tổ chức chính trị duy nhất cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội, thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, Đảng phải chăm lo xây dựng đội ngũ đông đảo những người làm việc trong các tổ chức thuộc hệ thống chính trị, các đơn vị sự nghiệp, các doanh nghiệp, các lực lượng vũ trang; cả các cán bộ lãnh đạo, quản lý và những người làm công tác chuyên môn nghiệp vụ, Đảng có thể mở rộng khái niệm cán bộ để có chủ trương, giải pháp xây dựng, quản lý Cần lưu ý rằng, trong Luật Cán bộ, công chức, trong tổng số 10 chương, 86 điều chỉ có các điều 4, 21 đến 60 là có sự phân biệt giữa cán bộ và công chức, còn các điều khác đề quy định chung đối với cả cán bộ và công chức Trên thực tế thực hiện, các vấn đề về xếp ngạch, thi nâng ngạch, xếp lương, nâng lương đối với cán bộ vẫn áp dụng như đối với công chức (Quốc hội, 2008).

Như vậy, theo quan niệm của Đảng, cán bộ là các công dân Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên công tác ở các cơ quan đảng, nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, các đơn vị sự nghiệp, các doanh nghiệp nhà nước, các lực lượng vũ trang từ cấp Trung ương đến cấp cơ sở, không phân biệt có chức vụ lãnh đạo, quản lý hay không có chức vụ lãnh đạo, quản lý, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Đề cập đến khái niệm cán bộ, trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Chủ tịch

Hồ Chí Minh viết: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời, đem tình hình dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ rõ, để đặt chính sách cho đúng”

Nghiên cứu một số định nghĩa về “cán bộ” trong các cuốn từ điển và quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có thể khái quát quan niệm chung: Cán bộ là người có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ nhất định, làm việc trong các tổ chức, cơ quan, đơn vị của hệ thống chính trị; là người giữ chức vụ trong các tổ chức, cơ quan của hệ thống chính trị. b Khái niệm cán bộ chủ chốt

Từ điển tiếng Việt, năm 2002, định nghĩa: “Chủ chốt là quan trọng nhất, có tác dụng làm nòng cốt Cán bộ chủ chốt của phong trào” Trong mỗi tổ chức có những người lãnh đạo những người đó là cán bộ chủ chốt Vậy, cán bộ chủ chốt là những người đứng đầu quan trọng nhất, có tác dụng chi phối toàn bộ hoạt động của một tổ chức nhất định.

Cần phân biệt khái niệm cán bộ lãnh đạo chủ chốt và cán bộ chủ chốt: Cán bộ lãnh đạo chủ chốt là những người lãnh đạo nhưng là lãnh đạo toàn diện, có thẩm quyền cao nhất, trọng trách nặng nề nhất trước tập thể lãnh đạo Khái niệm cán bộ chủ chốt rộng hơn, có thể đồng nhất với cán bộ cấp trưởng, cấp phó ở mỗi cơ quan, tổ chức, có tác dụng chi phối mọi hoạt động của cơ quan, tổ chức Mỗi cán bộ chủ chốt được gắn với một tổ chức và chức danh cụ thể.

Có thể hiểu “cán bộ chủ chốt” là: Người có chức năng lãnh đạo, được giao đảm đương các nhiệm vụ quan trọng để lãnh đạo, quản lý, điều hành, tổ chức thực hiện nhiệm vụ; chịu trách nhiệm trước tập thể và cấp trên về nhiệm vụ được phân công Là người giữ vị trí quan trọng trong việc cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào điều kiện thực tiễn ở cơ sở Là người chủ trì hoạch định chiến lược phát triển, xác định mục tiêu, phương hướng tổ chức thực hiện tất cả các nhiệm vụ đề ra và nhiệm vụ cấp trên giao; kiểm tra, giám sát, kịp thời sửa chữa những hiện tượng lệch lạc, bổ sung, điều chỉnh những chủ trương, giải pháp nếu thấy cần thiết, tổng kết, đúc rút kinh nghiệm để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ đề ra.

Hiểu theo nghĩa chung nhất "cán bộ chủ chốt" là người có chức vụ, nắm giữ các vị trí quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của tổ chức bộ máy, làm nòng cốt trong các tổ chức thuộc hệ thống bộ máy của một cấp nhất định; người được giao đảm đương các nhiệm vụ quan trọng để lãnh đạo, quản lý, điều hành bộ máy, có vai trò tham gia định hướng lớn, điều khiển hoạt động của bộ máy thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao; chịu trách nhiệm trước cấp trên và cấp mình về lĩnh vực công tác được giao Từ phân tích trên thì đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã là những người đứng đầu quan trọng nhất trong hệ thống của tổ chức Đảng, chính quyền, mặt trận tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội ở cấp xã; có tác động chi phối việc chấp hành chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước thông qua việc lãnh đạo và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội trên địa bàn nông thôn mà họ phụ trách (Hoàng Chí Bảo, 2004).

Nhìn chung, người cán bộ chủ chốt phải hội tụ được 4 điểm sau:

Thứ nhất, phải là người có uy tín, đại diện cho một tập thể, một tổ chức, có đủ các tiêu chuẩn về: phẩm chất, đạo đức, lối sống, trình độ, năng lực chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện.

Thứ hai, phải có tư duy khoa học, biểu hiện ở khả năng dự báo, phân tích và xử lý tình huống, đặc biệt là những tình huống phức tạp hoặc nổi cộm, bức xúc phát sinh.

Thứ ba, có phong cách làm việc khoa học và khả năng quản lý, điều hành, sắp xếp, bố trí đúng người, đúng việc và chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ đạt hiệu quả cao nhất.

Cơ sở thực tiễn về nâng cao chất lượng công tác của cán bộ chủ chốt

2.2.1 Kinh nghiệm nâng cao chất lượng công tác của cán bộ của một số nước trên thế giới

2.2.1.1 Kinh nghiệm của Thái lan

Công bằng trong tuyển dụng: Luật Công vụ 1992 của Thái Lan quy định rõ điều kiện, tiêu chuẩn và nguyên tắc thi tuyển công chức để bảo đảm sự công bằng trong quá trình tuyển dụng Việc thi tuyển được tiến hành thông qua cạnh tranh công khai giữa các ứng viên để nhà nước tuyển dụng được những cá nhân giỏi, đáp ứng tốt nhất yêu cầu, vị trí công tác Thực hiện nguyên tắc này nhằm loại trừ thái độ thiên vị chính trị, ảnh hưởng tình cảm cá nhân; việc xếp hạng thí sinh theo thứ tự xứng đáng, bảo đảm cho nền công vụ tuyển dụng được những ứng cử viên giỏi nhất Việc đánh giá năng lực thí sinh được thực hiện qua các vòng thi như: Viết, nói, kinh nghiệm làm việc, thậm chí cả xét bằng cấp và việc xếp hạng được thực hiện bởi một hội đồng giám khảo độc lập với cơ quan hành chính.

Hệ thống đánh giá cán bộ, công chức: Xây dựng và hoàn thiện hệ thống đánh giá hiệu quả công việc của cán bộ, công chức có sử dụng chỉ số đo lường đánh giá hiệu quả công việc (key performance indicators - KPIs) gắn liền với mục tiêu của tổ chức, theo bản mô tả công việc, kế hoạch công việc hàng tháng, kết quả công việc của mỗi công chức Văn phòng Ủy ban phát triển khu vực công Thái Lan (The Office of Public Sector Development Commission) chịu trách nhiệm chính trong việc phối hợp với các bộ, ngành khác của Chính phủ Thái Lan xây dựng hệ thống đánh giá này và phải bảo đảm cân bằng giữa các mục tiêu chung cho tất cả bộ, ngành và mục tiêu riêng theo đặc thù của mỗi bộ, ngành.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức ở Thái Lan được Luật Công vụ điều chỉnh Nhà nước chú trọng phát triển công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức từ khâu xây dựng chính sách, chương trình đến tổ chức thực hiện. Chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức được chính phủ thông qua tháng 11/1996, tập trung vào các vấn đề: công tác đào tạo, bồi dưỡng phải được tiến hành ở mọi cấp, mọi ngành, nghề và nhiệm vụ công tác; trang bị những kiến thức và kỹ năng tiên tiến; thực hiện việc luân chuyển cán bộ, công chức vì lợi ích phát triển của công chức; đào tạo, bồi dưỡng phải xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn, mang tính thực tế và phù hợp với các biện pháp tổ chức, thực hiện có kết quả cụ thể, đồng thời thực hiện việc kiểm tra đánh giá nghiêm túc các kết quả; có chương trình, nội dung đào tạo, bồi dưỡng cho những cán bộ, công chức được đề bạt, hoặc thuyên chuyển công tác sang vị trí, nhiệm vụ mới Chương trình đào tạo, bồi dưỡng ở Thái Lan gồm: đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, điều hành, cấp cao, trung cấp, cán bộ giám sát, cán bộ nữ…; đào tạo, bồi dưỡng cải cách quản lý dịch vụ công ; đạo đức công vụ, tăng cường đạo đức, văn hóa ứng xử của công chức; phát triển công nghệ thông tin cho cán bộ lãnh đạo, điều hành cấp cao; đào tạo về kỷ luật công vụ; đào tạo, bồi dưỡng về quản lý dịch vụ công, văn bản và kỹ thuật xây dựng văn bản; chuẩn bị cho cán bộ, công chức nghỉ hưu sớm (Nguyễn Văn Trung, 2013).

2.2.1.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Trung Quốc đặc biệt chú trọng nâng cao trình độ chính trị, phẩm chất, năng lực chuyên môn cho đội ngũ công chức nhằm xây dựng một đội ngũ công chức chuyên nghiệp và có chất lượng cao, đây là một phần trong chiến lược thực hiện và đẩy nhanh quá trình cải cách hệ thống công vụ.

Nội dung đào tạo, bồi dưỡng công chức của Trung Quốc tập trung vào: lý luận xây dựng CNXH mang bản sắc Trung Quốc và chiến lược phát triển; quản lý hành chính nhà nước trong nền kinh tế thị trường; quản lý vĩ mô nhà nước với những nội dung cụ thể như thể chế hành chính, chính sách công, đào tạo và phát triển nhân tài Tất cả các khóa đào tạo đều phải học chủ nghĩa Mác - Lênin và lý luận Đặng Tiểu Bình.

Nội dung chương trình đào tạo chủ yếu được xây dựng dựa vào vị trí việc làm của từng công chức để đào tạo, bồi dưỡng Thông thường một khóa học của công chức bao gồm khóa học cơ bản và khóa học chuyên môn, gọi là mô hình "cơ bản + chuyên môn" Trong đó, khóa học cơ bản đi sâu vào các nội dung như: về học thuyết chính trị, về luật hành chính, về hành chính công, về phát triển kinh tế - xã hội ; khóa học chuyên môn thường được thiết kế dựa vào các nhu cầu khác nhau của công chức ở các nhóm và các cấp khác nhau, thể hiện tính chuyên môn trong đào tạo cho các cấp và các loại công chức khác nhau Tỷ lệ của các khóa học thường được sắp xếp là 30% cơ bản và 70% chuyên môn Cấu trúc và thời lượng bài học có thể được sắp xếp: bài giảng là 70%, thảo luận và trao đổi là 10%, điều tra là 10%, giấy tờ và văn bản là 5%, các khóa học kinh nghiệm là 5%.

Có thể nói công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức của Trung Quốc khá linh hoạt song vẫn theo đúng nguyên tắc: công khai, công bằng, cạnh tranh, chọn được người giỏi; lý luận gắn với thực tế, học tập gắn liền với ứng dụng, coi trọng hiệu quả thiết thực; không bồi dưỡng đủ thì không đề bạt Đặc biệt, Trung Quốc rất chú trọng rèn luyện năng lực thực hành của công chức trong thực tiễn, coi đây là một trong ba tố chất chủ yếu tạo nên phẩm chất công chức, đó là trình độ lý luận chính trị, năng lực hoạt động thực tiễn và đức tính tự trọng, tự lập.

Giảng viên ở các trường hành chính, trường Đảng các cấp và các cơ sở đào tạo khác, bên cạnh đội ngũ giảng viên chuyên trách được đào tạo bài bản và thường xuyên được bồi dưỡng cập nhật kiến thức, còn có đội ngũ giảng viên kiêm chức Nguồn giảng viên kiêm chức rất đa dạng, bao gồm những công chức có năng lực chuyên môn cao, các chuyên gia hoặc các học giả từ các trường cao hơn và từ các viện nghiên cứu khoa học Một số quan chức của Chính phủ và cán bộ từ các ủy ban của Đảng hoặc giáo sư nước ngoài cũng được mời giảng dạy. Để nắm bắt được sự thay đổi trong quá trình thực thi công vụ của công chức, Trung Quốc chú trọng đánh giá quá trình đào tạo, bồi dưỡng của họ Có hai cách thức đánh giá chủ yếu là đánh giá thái độ học tập và kết quả học tập Việc đánh giá thái độ học tập dựa vào việc học viên tham gia đầy đủ thời gian đào tạo theo quy định và việc chấp hành kỷ luật nghiêm túc Nội dung đánh giá bao gồm cả tỷ lệ tham dự các giờ học trên lớp, các sáng kiến hội thảo và quan điểm đúng đắn Kết quả học tập được đánh giá dựa trên số điểm của các bài kiểm tra, tiểu luận, đề tài. Việc đánh giá học viên trong trường được thực hiện dưới hình thức "Mẫu đăng ký đánh giá đào tạo công chức", đó là những thông tin phản hồi tới cơ quan, đơn vị mà học viên đang công tác Đây là một trong những cơ sở cho quy trình kiểm tra và đánh giá hàng năm của bộ phận tổ chức nhân sự (Tường Vi, 2015).

2.2.2 Kinh nghiệm nâng cao chất lượng công tác của cán bộ chủ chốt của một địa phương ở Việt Nam

2.2.2.1 Kinh nghiệm của huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn

Hai năm gần đây, huyện Chi Lăng có nhiều chủ trương, biện pháp thực hiện hiệu quả công tác cải cách hành chính (CCHC) Trong đó nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức (CBCCVC) là một trong những nhiệm vụ trọng tâm Để công tác CCHC đi vào nền nếp, chất lượng và hiệu quả thì yếu tố con người đóng vai trò quan trọng Vì vậy, huyện đặc biệt quan tâm xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ CBCCVC Ngày 4/8/2016, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện ban hành Nghị quyết 27-NQ/HU về nâng cao chất lượng đội ngũ CBCCVC trên địa bàn huyện đến năm 2020 và những năm tiếp theo Theo đó, gắn với tuyển dụng, bố trí, quy hoạch, huyện chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực, kỹ năng xử lý công việc cho CBCCVC từ cấp huyện đến cấp xã Gắn với đó là kiểm tra, đánh giá chất lượng CBCCVC.

Xác định được nhiệm vụ trọng tâm cần thực hiện, 2 năm gần đây, UBND huyện đã cử cán bộ tham gia các khóa, lớp đào tạo trong và ngoài nước; phối hợp tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ ở các chuyên ngành, lĩnh vực đạt chuẩn theo quy định Riêng năm 2018, huyện đã cử đi đào tạo, bồi dưỡng 848

CBCCVC, trong đó cử 89 cán bộ tham gia đào tạo hệ thạc sỹ, đại học (vừa học vừa làm); bồi dưỡng nghiệp vụ cho 759 lượt cán bộ ở các chuyên ngành, lĩnh vực cụ thể.

Cùng với đó, từ năm 2018, huyện Chi Lăng chú trọng, nâng cao chất lượng CBCC xã Huyện chọn UBND thị trấn Đồng Mỏ, xã Nhân Lý, xã Bằng Hữu thực hiện thí điểm xây dựng đội ngũ CBCC cấp xã đủ về số lượng, đạt các tiêu chuẩn theo quy định Trong đó tập trung xây dựng CBCC có phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ, năng lực công tác, tác phong làm việc chuyên nghiệp, thái độ ứng xử đúng mực, văn minh và có ý thức trách nhiệm phục vụ tổ chức, nhân dân Từ thí điểm, thời gian tới, huyện sẽ nhân rộng đến 100% UBND cấp xã Cũng trong năm nay, UBND huyện Chi Lăng tổ chức kỳ kiểm tra năng lực chuyên môn và kỹ năng nghiệp vụ đối với 106 công chức cấp xã ở 3 chức danh gồm: địa chính, tư pháp – hộ tịch, văn hóa – xã hội của 21/21 xã thị trấn Qua kiểm tra, 15,1% bài thi đạt giỏi; 30,2% bài thi đạt khá; 41,5% bài thi trung bình; 13,2% bài thi chưa đạt Việc kiểm tra nhằm đánh giá thực chất năng lực, trình độ của một số chức danh công chức xã, từ đó phòng tiếp tục tham mưu cho UBND huyện lấy kết quả kiểm tra làm căn cứ đánh giá phân loại công chức xã năm 2018 và thực hiện rà soát tinh giản biên chế theo quy định với những trường hợp chưa đáp ứng được yêu cầu.

Ngoài ra, thực hiện chủ đề “Tăng cường kỷ luật kỷ cương hành chính, nâng cao trách nhiệm, hiệu quả phục vụ người dân và doanh nghiệp” của tỉnh năm 2018, UBND huyện Chi Lăng đẩy mạnh tuyên truyền, kiểm tra thực hiện kỷ luật kỷ cương hành chính tại các cơ quan, đơn vị Từ đầu năm 2018 đến nay, các đoàn công tác của huyện đã kiểm tra đột xuất và theo kế hoạch được 35 lượt cơ quan, đơn vị Trong quá trình kiểm tra, các thành viên kịp thời nhắc nhở những hạn chế, thiếu sót của đơn vị và chấn chỉnh kịp thời tác phong lề lối làm việc của CBCCVC.

Nhờ thực hiện tốt các giải pháp mà chất lượng CBCCVC ở huyện Chi Lăng ngày càng được nâng cao Toàn huyện có 86 CC cấp huyện, 1.536 viên chức và

410 CBCC cấp xã, hiện nay đã có gần 100% CCVC cấp huyện đạt chuẩn về trình độ; 81% CB cấp xã đạt chuẩn (tăng 10% so với năm 2016); 88,4% CC cấp xã đạt chuẩn (tăng 6% so với năm 2016) (Minh Đức, 2018).

2.2.2.2 Kinh nghiệm của huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc

Xác định công tác tổ chức cán bộ là cơ sở quan trọng, quyết định việc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, vì vậy, Huyện ủy, UBND huyện và các cơ sở đã chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ các khâu trong công tác cán bộ Những năm qua, Ban Thường vụ Huyện ủy có nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ từ huyện đến cơ sở: Quy chế phân cấp quản lý cán bộ; quy chế bổ nhiệm giới thiệu ứng cử, luân chuyển, điều động cán bộ Trong đó, chú trọng thực hiện tốt công tác đánh giá, quy hoạch, điều động, bổ nhiệm, luân chuyển, kiện toàn cán bộ, gắn với việc đổi mới, kiện toàn tổ chức, bộ máy của cả hệ thống chính trị, góp phần quan trọng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng, năng lực quản lý, điều hành của chính quyền, hiệu quả hoạt động của các tổ chức chính trị, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương Hiện nay, toàn huyện có 445 cán bộ, CCVC, trong đó, cấp huyện có 178 người và cấp xã có 267 người Về trình độ chuyên môn, 53% có trình độ đại học và trên đại học; hơn 88% có trình độ lý luận chính trị từ trung cấp trở lên Hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở thường xuyên được củng cố, kiện toàn vững mạnh Đội ngũ cán bộ từ huyện đến cơ sở cơ bản có trình độ, năng lực, tinh thần trách nhiệm, phẩm chất đạo đức tốt, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao Đội ngũ cán bộ không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố được bổ sung và tăng cường, có nhiều đóng góp vào việc xây dựng đời sống văn hóa ở cộng đồng dân cư, giữ gìn an ninh trật tự, vận động nhân dân thực hiện tốt đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước.

Phương pháp nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Ngày đăng: 08/07/2021, 13:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w