Giá trị chỉ số khí hậu du lịch và phân loại mức thoải mái của chỉ số 20 Bảng 4.1.Lịch sử các hiện tượng thời tiết cực đoan ảnh hưởng đến hoạt động du lịch tỉnh Điện Biên...37 Bảng 4.2.Nh
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
TRỊNH THỊ BÍCH NGỌC
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ
HẬU ĐẾN DU LỊCH TỈNH ĐIỆN BIÊN
Người hướng dẫn khoa học: TS.Nguyễn Thị Bích Yên
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày… tháng… năm
2017
Tác giả luận văn
Trịnh Thị Bích Ngọc
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình.
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Bích Yên đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Sinh thái nông nghiệp, Khoa Môi trường - Học viện Nông nghiệp Việt Nam, đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức Sở Văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Điện Biên đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./.
Hà Nội, ngày… tháng… năm
2017
Tác giả luận văn
Trịnh Thị Bích Ngọc
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục …… iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Giả thiết khoa học 2
1.3 Mục đích nghiên cứu 2
1.4 Phạm vi nghiên cứu 2
1.5 Những đóng góp mới 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Biến đổi khí hậu 3
2.1.1 Khái niệm và nguyên nhân gây biến đổi khí hậu 3
2.1.2 Biến đổi khí hậu ở Châu Á và Việt Nam 3
2.1.3 Kịch bản biến đổi khí hậu 4
2.1 Du lịch và biến đổi khí hậu 7
2.2.1 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến du lịch 7
2.2.2 Ảnh hưởng của du lịch đến biến đổi khí hậu 9
2.3 Phát triển du lịch bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu 10
2.3.1 Khái niệm 10
2.3.2 Tình hình phát triển du lịch trên thế giới và tại Việt Nam 11
2.3.3 Phát triển du lịch bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu 14
2.4 Chỉ số khí hậu du lịch 15
Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 17
Trang 53.1 Địa điểm nghiên cứu 17
3.2 Thời gian nghiên cứu 17
3.3 Đối tượng nghiên cứu 17
3.4 Nội dung nghiên cứu 17
3.4.1 Tìm hiểu đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh 17
3.4.2 Đặc điểm ngành du lịch ở tỉnh Điện Biên 17
3.4.3 Xu hướng biến đổi khí hậu ở tỉnh Điện Biên 17
3.4.4 Ảnh hưởng của BĐKH tới hoạt động du lịch 17
3.4.5 Các biện pháp thích ứng với BĐKH của ngành du lịch 17
3.5 Phương pháp nghiên cứu 18
3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 18
3.5.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 18
Phần 4 Kết quả và thảo luận 22
4.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội của tỉnh Điện Biên 22
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 22
4.1.2 Kinh tế - xã hội 24
4.2.2 Các cơ quan/công ty, dịch vụ phục vụ ngành du lịch 26
4.2.3 Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch và các hoạt động trong ngành du lịch 28 4.3 Xu hướng biến đổi khí hậu ở tỉnh Điện Biên 33
4.3.1 Xu hướng thay đổi nhiệt độ 33
4.4 Ảnh hưởng của BĐKH tới hoạt động du lịch 35
4.4.1 Xu thế biến đổi chỉ số khí hậu du lịch 35
4.4.2. Hiện tượng thời tiết cực đoan và ảnh hưởng của chúng tới hoạt động du lịch 37 4.4.3. Đánh giá của người lao động trong ngành về ảnh hưởng của BĐKH đến hoạt động du lịch………. 40
4.5. Các biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu của ngành du lịch ở Điện Biên 48
4.6. Đánh giá trở ngại, nhu cầu thông tin, phân tích swot và đề xuất giải pháp thích ứng với bđkh cho ngành du lịch ở Điện Biên 50
4.6.1 Đánh giá trở ngại trong thích ứng với biến đổi khí hậu 50
4.6.2. Nhu cầu về các nguồn thông tin cần thiết giúp ứng phó với biến đổi khí hậu
Trang 6iv
Trang 74.6.3. Phân tích SWOT đối với ngành du lịch ở Điện Biên trong ứng phó với
BĐKH 52
4.6.4 Đề xuất giải pháp thích ứng và ứng phó với BĐKH 54
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 57
5.1 Kết luận……. 57
5.2 Kiến nghị……. 58
Tài liệu tham khảo 59
Phụ lục………. 62
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tình hình khách quốc tế đến Việt Nam tháng 12 và cả năm 2016 13
Bảng 3.1 Thông tin về người tham gia phỏng vấn 19
Bảng 3.2 Giá trị chỉ số khí hậu du lịch và phân loại mức thoải mái của chỉ số 20 Bảng 4.1.Lịch sử các hiện tượng thời tiết cực đoan ảnh hưởng đến hoạt động du lịch tỉnh Điện Biên 37
Bảng 4.2.Nhận thức của người lao động trong ngành du lịch về sự thay đổi của các sự kiện thời tiết 40
Bảng 4.3.Các hiện tượng thời tiết cực đoan ảnh hưởng tới hoạt động du lịch.42 Bảng 4.4.Ảnh hưởng của gia tăng các sự kiện thời tiết cực đoan đến các hoạt động du lịch (%) 45
Bảng 4.5 Các hoạt động du lịch bị ảnh hưởng bởi BĐKH 46
Bảng 4.6 Mô tả các tác động của BĐKH đến các hoạt động du lịch 47
Bảng 4.7 Mục đích của các hoạt động thích ứng, ứng phó với BĐKH 49
Bảng 4.8 Nguồn thông tin chủ yếu cung cấp cho người làm ngành du lịch.51 Bảng 4.9.Những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của người làm ngành du lịch trong thích ứng với BĐKH 53
Trang 10Hình 4.1 Cơ cấu kinh tế năm 2015 25
Hình 4.2. Sự thay đổi số lượng lao động trực tiếp của ngành du lịch tỉnh Điện Biên
27
Hình 4.3. Sự thay đổi số lượng cơ sở lưu trú trong ngành du lịch tỉnh Điện Biên.28
Hình 4.4. Nhiệt độ tối cao trung bình tháng ở hai giai đoạn 1970-1999 và
2000-2015 (*P<0,05; **P<0,01; ***P<0,001) 34
Hình 4.5. Độ ẩm không khí tối thấp trung bình tháng ở hai giai đoạn 1970-1999 và
2000-2015 (*P<0,05; **P<0,01; ***P<0,001) 35
Hình 4.6. Xu thế biến đổi chỉ số khí hậu du lịch qua các giai đoạn 1980-1999,
1986-2015 và các năm 2020, 2050, 2080 và 2100 (các khoảng thời gian theo mũi tên bên dưới là thời gian hoạt động du lịch phổ biến hiện nay) 36
Hình 4.7. Đánh giá của người lao động trong ngành du lịch về mức độ mẫn cảm
của ngành đối với BĐKH 41
Hình 4.8 Việc thực hiện hoạt động thích ứng BĐKH 48
Hình 4.9 Các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu 48 Hình 4.10 Các trở ngại trong việc ứng phó với BĐKH của ngành du lịch tại Điện
Biên 50 Hình 4.11 Nhu cầu các nguồn thông tin cần thiết giúp ứng phó tốt hơn với BĐKH 52
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Trịnh Thị Bích Ngọc
Tên Luận văn: Đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến du lịch tỉnh Điện Biên.
Ngành: Khoa học Môi trường Mã số: 60.44.03.01
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp
Việt Nam Mục đích nghiên cứu:
Đề tài được thực hiện nhằm tìm hiểu đặc điểm ngành du lịch của tỉnh Điện Biên đồng thời nắm được xu hướng biến đổi khí hậu (BĐKH) khu vực và đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến phát triển du lịch của tỉnh Điện Biên Từ đó, đề xuất một số giải pháp thích ứng nhằm phát triển bền vững du lịch tỉnh Điện Biên.
Phương pháp nghiên cứu:
Việc tìm hiểu đặc điểm ngành du lịch tại tỉnh Điện Biên được thực hiện dựa trên việc thu thập số liệu thứ cấp có liên quan đến ngành du lịch của địa phương Đồng thời thu thập số liệu khí tượng bao gồm các yếu tố về: Nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, số giờ nắng, vận tốc gió để phân tích xu hướng BĐKH và tính toán chỉ
số khí hậu du lịch (Tourism Climate Index - TCI) nhằm đánh giá một cách hệ thống các yếu tố khí hậu thoải mái, phù hợp đối với hoạt động du lịch qua các giai đoạn.
Mặt khác, để đánh giá được ảnh hưởng của BĐKH đến hoạt động du lịch trên địa bàn, đề tài thực hiện phỏng vấn bằng phiếu hỏi có cấu trúc, phỏng vấn sâu và phân tích swot nhằm đánh giá nhận thức, mức độ quan tâm của người lao động trong ngành kết hợp đánh giá tác động của các hiện tượng thời tiết cực đoan đến các hoạt động du lịch Đồng thời, luận văn cũng đưa ra được những thuận lợi và khó khăn trong việc thích ứng với BĐKH của ngành du lịch trên địa bàn Từ đó, đề xuất những giải pháp phù hợp với điều kiện địa phương.
Kết quả chính và kết luận:
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng:
Ngành du lịch tỉnh Điện Biên đã và đang bị ảnh hưởng bởi BĐKH, thông qua sự gia tăng của các hiện tượng thời tiết cực đoan và sự thay đổi của các yếu tố khí hậu như: Nhiệt
độ tối cao, độ ẩm tối thấp và lượng mưa Bên cạnh đó, chỉ số khí hậu du lịch (TCI) ngày càng giảm qua các giai đoạn (đặc biệt trong tương lai các năm 2020, 2050, 2080 và 2100) Điều này đồng nghĩa trong tương lai thì mức độ thoải mái, phù hợp cho hoạt động du lịch
có xu hướng ngày càng giảm, từ đó ảnh hưởng xấu đến các hoạt động du lịch trên địa bàn Mặt khác, thông qua nhận thức đánh giá của người lao động trong ngành du lịch thì
Trang 12đa số cho rằng ngành du lịch ở tỉnh rất mẫn cảm với các điều kiện thời tiết, các hiện tượng thời tiết cực đoan như: Gió to/lốc xoáy/dông, mưa đá, gió tây khô nóng, mưa lớn Vì các hoạt động du lịch ở Điện Biên chủ yếu diễn ra ngoài trời nên phụ thuộc khá nhiều vào yếu
tố thời tiết/khí hậu Các hoạt động du lịch bị ảnh hưởng nhiều nhất là di chuyển giữa các địa điểm du lịch/đến và đi, hoạt động du lịch sinh thái/dã ngoại Trước tác động của BĐKH thì ngành du lịch đã chủ động một số giải pháp thích ứng Tuy nhiên, vấn đề về thiếu kỹ năng, nhận thức, kiến thức và thiếu kinh phí về thích ứng với BĐKH đang là trở ngại lớn nhất Do
đó, cần có những giải pháp phù hợp thích ứng và ứng phó với BĐKH trên địa bàn tỉnh như: Giáo dục đào tạo nguồn nhân lực du lịch và nâng cao ý thức cộng đồng, phát triển du lịch bền vững gắn với bảo vệ môi trường, tăng cường công tác dự báo/cảnh báo và năng lực giải quyết các vấn đề liên quan đến BĐKH,…
Trang 13THESIS ABSTRACT
Master candidate: Trinh Thi Bich Ngoc
Thesis title: Assessing effect of climate change on Dien Bien’s Tourism Major: Environmental Sciences Code: 60.44.03.01
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
Research Objectives:
The objectives of thesis are finding out the characteristics of Dien Bien's tourism, the trend of Climate change of Dien Bien province in the future and access effect of climate change on Dien Bien’s Tourism development The assessment results were used to propose adaptation solutions for sustainable tourism development in Dien Bien province.
Materials and Methods:
The second data such as: tourism documents of Dien Bien province, meteorological data (Temperature, humidity, precipitation, sunshine hours, wind speed) was collected to access the trend of Climate change and calculate Tourism Climate Index (TCI).
In other wise, Questionnaire, interview expert, group discussion were used to access effect of Climate change on tourism activities through awareness and interest of tourism labor about effect of extreme weather events on tourism activities The research also finds out the advantages, disadvantages in adaptation climate change of Dien Bien’s tourism and propose suitable solutions for Dien Bien’s tourism.
Main findings and conclusions:
Research results indicates that:
Dien Bien’s tourism is effected by climate change, the extremes weather events is increasing and the climatic factors such as: monthly average temperature, monthly average humidity… are changing The trend of tourism climate index (TCI) is decreasing especially in May, June, August of 2020, 2050, 2080 and 2100 The TCI is decreasing that mean the comfort and suitability for tourism activities also decrease.
In other wise, through awareness of tourism labor the research find out that tourism is sensitive with climate conditions and extreme weather events such as: wind/tornado/thunderstorm; hail; Lao wind; heavy rain; rime/fog; floods; cold Almost tourism activities in Dien Bien is outside so many tourism activities are effected by climate change such as: movement between tourism places; Ecotourism/picnic; festival; propaganda and promotion of tourism…
Trang 14The tourism had some adaptation solutions with climate change but still has many obstacles such as: lack of skill, awareness, knowledge, expense for adaptation with climate change Based on that we proposed some solutions such as: Education and training for tourism human resources, increasing awareness of community, developing sustainable tourism and protecting environment; Strengthen of forecasting/warning and capacity to address issues related climate change; Researching and developing programs, strategies for rational use and protection of tourism resources to adapt and respond to climate change, attract investment capital…
Trang 15PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Sự biến đổi khí hậu đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng, biểu hiện rõ nhất là sự nóng lên của trái đất dẫn đến băng tan, nước biển dâng cao, các hiện tượng thời tiết cực đoan như: bão, lũ, sóng thần, hạn hán và giá rét kéo dài… Đây là vấn đề mang tính toàn cầu với phạm vi tác động rộng lớn, hậu quả ảnh hưởng đến sự sống còn của nhân loại Nó tác động đến hầu hết các hoạt động kinh tế xã hội của từng quốc gia trên thế giới, trong đó kể tới hai lĩnh vực chịu ảnh hưởng sâu sắc là nông nghiệp và du lịch Theo Nicolas Stern (2007) – nguyên chuyên gia kinh tế hàng đầu của Ngân hàng Thế giới thì trong vòng 10 năm tới, chi phí thiệt hại do biến đổi khí hậu gây ra cho toàn thế giới ước tỉnh khoảng 7000 tỉ USD (Trương Quang Học, 2015).
Việt Nam là một nước có thế mạnh về ngành du lịch với sự đa dạng về nền văn hóa (54 dân tộc), nhiều danh lam thắng cảnh cùng di tích lịch sử (40.000 di tích lịch sử, thắng cảnh; 8 di sản được UNESCO công nhận) và các khu dự trữ sinh quyển nổi tiếng (8 khu dự trữ sinh quyển thế giới) (wikipedia, 2016) Du lịch là ngành kinh tế nhạy cảm với điều kiện môi trường tự nhiên do đó là một trong những ngành chịu ảnh hưởng nặng nề nhất do tác động của biến đổi khí hậu Ngành du lịch Việt Nam đang phải đối mặt với những nguy cơ và thách thức đến lớn do biến đổi khí hậu gây ra Ông Kai Partale, chuyên gia Dự án du lịch có trách nhiệm và bền vững (Dự án EU 2011-2016) nhận định rằng dưới tác động của Biến đổi khí hậu, Việt Nam sẽ tiếp tục bị lũ lụt, hạn hán, nhiệt độ cao và chịu ảnh hưởng
do xâm nhập mặn Kết quả nghiên cứu 2013 của Viện Khí tượng, Thủy văn và Môi trường Việt Nam cho thấy, cộng với ô nhiễm nặng nề, BĐKH tiếp tục phá hủy 110.000 ha san hô của Việt Nam, chỉ còn 14,5% trong 110.000 ha san hô này
lịch Việt Nam năm 2014, các hiện tượng thời tiết cực đoan do BĐKH gây ra có thể làm giảm đáng kể doanh thu từ du lịch biển chiếm hơn 70% tổng doanh thu từ kinh tế biển (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2014).
Điện Biên - một tỉnh miền núi phía tây bắc của Tổ quốc với 19 dân tộc anh em sinh sống, có thiên nhiên hùng vĩ, đa dạng, có di tích văn hóa Điện Biên Phủ gắn
Trang 16liền với chiến thắng lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Với nhiều lợi thế trên tỉnh được xem giàu tiềm năng du lịch để phát triển, đặc biệt là du lịch sinh thái, du lịch mạo hiểm và du lịch văn hóa lịch sử Du lịch được xem ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Tuy nhiên trong xu thế biến đổi khí hậu toàn cầu, thời gian gần đây ở tỉnh Điện Biên thường xảy ra một số sự kiện thời tiết cực đoan và thảm họa thiên nhiên như mưa lớn, sạt lở đất, lũ quét, lũ ống… ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống người dân, gây thiệt hại lớn đến sự phát triển kinh tế, xã hội, trong đó có du lịch.
Do đó, tôi tiến hành đề tài “Đánh giá ảnh hưởng biến đổi khí hậu tới du lịch tỉnh Điện Biên” nhằm phân tích những tác động của biểu hiện biến đổi khí hậu ở Điện Biên đối với sự phát triển ngành du lịch khu vực và bước đầu đề xuất những biện pháp giảm thiểu và thích ứng, góp phần bảo vệ môi trường tự nhiên sinh thái, tạo điều kiện để phát huy thế mạnh du lịch của địa phương.
1.2 GIẢ THIẾT KHOA HỌC
Ngành du lịch tại Điện Biên đang bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu và xu thê bị ảnh hưởng ngày càng nghiêm trọng.
1.3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đề tài được thực hiện nhằm tìm hiểu đặc điểm ngành du lịch của tỉnh Điện Biên đồng thời nắm được xu hướng biến đổi khí hậu (BĐKH) khu vực và đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến phát triển du lịch của tỉnh Điện Biên Từ đó, đề xuất một số giải pháp thích ứng nhằm phát triển bền vững du lịch tỉnh Điện Biên.
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI
du lịch của tỉnh Điện Biên.
lịch trên địa bàn với tính toán chỉ số khí hậu du lịch - TCI.
Trang 17PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
2.1.1 Khái niệm và nguyên nhân gây biến đổi khí hậu
2.1.1.1 Khái niệm
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là sự thay đổi của khí hậu được quy trực tiếp hay gián tiếp là do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và đóng góp thêm vào sự biến động khí hậu tự nhiên trong các thời gian có thể so sánh được Biến đổi khí hậu xác định sự khác biệt giữa các giá trung bình dài hạn của một tham số hay thống kê khí hậu Trong
đó, trung bình được thực hiện trong một khoảng thời gian xác định, thường
là vài thập kỷ (định nghĩa của công ước khí hậu, năm 1992).
2.1.1.2 Nguyên nhân gây biến đổi khí hậu
Theo Công ước khung của Liên hợp Quốc (1992) về Biến đổi khí hậu nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu Trái Đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính (CO 2 , CH 4 , NO x …), các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ và bể chứa khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái ven biển, ven bờ và đất liền khác Sự gia tăng hàm lượng các khí nhà kính đã làm trái đất nóng lên thông qua hiện tượng hiệu ứng nhà kính từ đó dẫn đến sự biến đổi về mặt khí hậu.
2.1.2 Biến đổi khí hậu ở Châu Á và Việt Nam
Hiện tượng biến đổi khí hậu và suy thoái môi trường đang nổi lên như
là một trong những vấn đề phát triển nhức nhối nhất của khu vực châu Á – Thái Bình Dương Khu vực châu Á – Thái Bình Dương chiếm tỷ lên 91% tổng
số ca tử vong và 49% tổng thiệt hại của thế giới do thiên tai gây ra trong thế
kỷ qua Người nghèo sống ở các vùng đồng bằng thấp, trũng ở Bangladesh,
Ấn Độ, Việt Nam và Trung Quốc cũng như các quốc đảo nhỏ ở Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương sẽ phải gánh chịu nguy cơ cao nhất Trong năm
2011, các thảm họa thiên nhiên khiến khu vực châu Á – Thái Bình Dương thiệt hại 1 tỷ USD (Ủy ban thường vụ Quốc hội, 2016).
Theo nghiên cứu của Murdiyarso (2000) dự báo dựa trên kịch bản biển đổi khí hậu của IPCC đưa ra thì sản lượng gạo của châu Á có thể giảm tới 3,8% tới năm 2100 dưới tác động tổng hợp của việc gia tăng sử dụng phân bón CO 2 , nắng nóng và
Trang 18thiếu nước Gần 50% đa dạng sinh học của châu Á có thể bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu, theo nghiên cứu của Malcolm và nhóm nghiên cứu (2006) dự báo nếu lượng CO2 tăng gấp đôi sẽ dẫn tới sự tuyệt chủng của
133 đến 2835 loài thực vật trong vùng Indonexia-Mianma.
Theo báo cáo của Ngân hàng Thế Giới, Việt Nam là một trong 5 nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu Trong 50 năm qua, nhiệt độ trung bình trên phạm vi cả nước ta đã tăng 0,5°C/năm Riêng năm 2015, do tác động của hiện tương El-Nino, nền nhiệt độ tăng khoảng 0,5-1°C so với trung bình nhiều năm và có số ngày nắng nóng kéo dài hơn Lượng mưa có xu hướng giảm ở phía Bắc và tăng ở phía Nam lãnh thổ Trên Biển Đông, bão và áp thấp nhiệt đới có xu hướng lùi dần về phía Nam lãnh thổ nước ta Đặc biệt, tần suất hoạt động của bão mạnh, siêu bão ngày càng gia tăng với mức độ ảnh hưởng lớn, mùa mưa bão kết thúc muộn hơn so với trước đây Hạn hán, nắng nóng có
xu thế tăng lên và không đồng đều giữa các khu vực, nhất là ở Trung Bộ và Nam Bộ Trong 10 năm 2001-2010, thiên tai đã làm 9500 người chết và mất tích, thiệt hại về kinh tế là 1,5% GDP/năm (Hoàng Văn, 2015).
Kịch bản BĐKH và nước biển dâng cho thấy, vào cuối thế kỷ 21, nhiệt
độ trung bình của nước ta sẽ tăng 2-3°C, kéo theo đó mực nước biển có thể dâng lên khoảng 1m Khi đó hậu quả là khu vực Đồng bằng sông Cửu Long
sẽ ngập 39% diện tích, riêng TP Hồ Chí Minh ngập 20% diện tích; các tỉnh ven biển ở Đồng bằng sông Hồng ngập 10%; các tỉnh miền Trung là 3% Đồng thời, sẽ có 10-12% dân số nước ta chịu tác động trực tiếp của BĐKH, tổn thất về kinh tế sẽ là 10% GDP/năm (Hoàng Văn, 2015).
2.1.3 Kịch bản biến đổi khí hậu
Ngày 27/9/2013, Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC), đã công bố Báo cáo đánh giá lần thứ 5 (AR5-WG1) về hiện trạng BĐKH toàn cầu theo góc nhìn vật lý cơ bản Trong báo cáo AR5-WG1, để diễn tả các kịch bản phát triển kinh tế xã hội toàn cầu các tác giả sử dụng thuật ngữ RCPs (Representative Concentration Pathways) tạm dịch là “Các đường dẫn đến nồng độ đại diện”, tức là các con đường phát triển kinh tế xã hội đưa đến việc trái đất tích tụ các nồng độ khí nhà kính khác nhau và nhận được lượng bức xạ nhiệt tương ứng Có 4 RCPs được mô
tả để dự đoán khí hậu trái đất trong tương lai đến năm 2100: RCP2.6 là nhóm kịch bản phát triển thuộc loại thấp, nhiệt lượng bức xạ mặt đất nhận ít hơn 3 watt
Trang 19cho một 1m2(3w/ m2); RCP8.5 nhóm kịch bản thuộc loại cao mà bức xạ mặt đất nhận được sẽ lớn hơn 8,5 W/ m2 và tiếp tục tăng sau thời kỳ dự đoán; RCP6.0 và RCP4.5, hai nhóm kịch bản ổn định trung gian trong đó cưỡng bức bức xạ được ổn định ở mức khoảng 6 W m2 và 4,5 W/ m2 Nồng độ khí nhà kính quy đổi thành khí CO2 cho từng RCP là: 475 ppm cho RCP2.6; 630 ppm cho RCP4.5; 800 ppm cho RCP6.0 và 1313 ppm cho RCP8.5.
Theo kết quả nghiên cứu của dự án “Dự tính khí hậu tương lai với độ phân giải cao cho Việt nam” được tài trợ bởi Cơ quan Phát triển Quốc tế Úc (AusAID) thực hiện năm 2013 theo hai kịch bản phát thải khí chủ yếu là RCP4.5 và RCP8.5 thì nhiệt độ các vùng khí hậu của Việt Nam sẽ tăng từ 0,8°C đến 3,4°C vào năm 2050 và tiếp tục tăng đến cuối thế kỷ 21 Hệ quả của sự nóng lên là gia tăng số ngày nắng nóng (trên 35°C) và các đợt nắng nóng (trên 5 ngày liên tục có nhiệt độ cực trị trên 35°C) Về lượng mưa thì lượng mưa trung bình năm dự tính trên 7 vùng khí hậu có
sự biến đổi, dao động từ -16% đến +36% vào giữa thế kỷ (2050) và biến đổi mạnh hơn chút ít vào cuối thế kỷ 21 Hoạt động của bão trên Biển Đông có xu thế giảm nhưng cường độ có xu thế mạnh hơn Mực nước biển sẽ tăng từ 100mm đến 400mm và năm 2050 trên đếnàn dải bờ biển Việt Nam, với mức tăng ít hơn ở vùng biển phía Bắc Xu thế tăng của mực nước biển tiếp tục duy trì đến cuối thế kỷ 21 và sau đó nữa Dự tính biến đổi khí hậu ở các vùng của Việt Nam theo kịch bản nồng
độ không khí cao RCP8.5 được thể hiện rõ trong hình 2.1.
Trong báo cáo đặc biệt của Việt Nam về quản lý rủi ro thiên tai và các hiện tượng cực đoan nhằm thúc đẩy thích ứng với biến đổi khí hậu (SREX) năm 2015 (IMHEM and UNDP, 2015) cũng đưa ra sự thay đổi về tần suất và cường độ của các hiện tượng thời tiết cực đoan theo kịch bản phát thải RCP8.5 Theo kịch bản cao RCP8.5, số ngày nắng nóng dự tính đến giữa thế kỷ 21 tăng phổ biển từ 20-30 ngày so với thời kỳ 1980-1999 ở khu vực Nam Bộ, Trung Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Nam Bộ, các khu vực khác có mức tăng thấp hơn Đến cuối thế kỷ 21, số đợt nắng nóng (3 ngày liên tiếp xuất hiện nắng nóng) được dự tính gia tăng ở hầu hết khu vực của Việt nam, đặc biệt khu vực Nam Bộ
và Nam Tây Nguyên với mức tăng có thể lên tới 6 đến 10 đợt; các khu vực còn lại có mức tăng từ 2 đến 6 đợt Tần suất mưa lớn dự tính sẽ tăng trong thế kỷ 21 ở nhiều vùng của Việt Nam Số ngày mưa lớn có xu thế giảm ở các vùng khí hậu phía Bắc và tăng nhẹ ở vùng Nam Bộ; tăng khá mạnh ở Trung Nam Bộ và Tây Nguyên Dự tính trong thế kỷ 21, số ngày với lượng
Trang 20mưa lớn hơn 50mm sẽ tăng ở miền Bắc và miền Nam, đặc biệt là vùng núi Tây Bắc Khu vực miền Trung có xu thế giảm nhẹ Sự thay đổi lượng mưa và nhiệt
độ dự kiến dẫn đến những thay đổi về lũ lụt, hạn hán Hạn hán có khả năng gia tăng và kéo dài trong thế kỷ 21 trong một số mùa và ở hầu hết các vùng khí hậu của Việt Nam, do lượng mưa giảm và/hoặc tăng quá trình bốc hơi nước Các đợt hạn nặng đã và đang xuất hiện nhiều hơn ở nhiều nơi, đặc biệt là hạn cực khắc nghiệt, trong đó, tần suất hạn cao chủ yếu xảy ra tập trung vào các tháng
vụ đông xuân (từ tháng 1 đến tháng 4) và vụ hè thu (từ tháng 5 đến tháng 8) Tần suất hoạt động của El Nino với nhiệt độ mặt nước biển dị thường trên khu vực trung tâm xích đạo Thái Bình Dương sẽ có xu thế tăng.
Hình 2.1 Dự tính biến đổi khí hậu ở các vùng theo kịch bản
nồng độ khí nhà kính cao (RCP8.5) Nguồn: Dự tính khí hậu tương lai với độ phân giải cao cho Việt Nam (2013)
Trang 212.2 DU LỊCH VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
2.2.1 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến du lịch
Cuộc sống, nền kinh tế, sức khoẻ và phúc lợi xã hội của con người đều bị ảnh hưởng bởi BĐKH và những hậu quả của BĐKH theo từng khu vực, quốc gia và các thành phần kinh tế sẽ phải đối mặt thông qua giải pháp thích ứng và giảm nhẹ Du lịch không phải là ngoại lệ và trong những thập kỷ tới, BĐKH sẽ trở thành một vấn
đề ngày càng quan trọng hơn ảnh hưởng đến phát triển và quản lý du lịch Với mối quan hệ mật thiết với khí hậu, du lịch được coi là một ngành kinh tế nhạy cảm với các điều kiện môi trường tự nhiên tương tự như nông nghiệp Do đó, mối quan tâm của cộng đồng du lịch đối với thách thức của biến đổi khí hậu có sự tăng rõ rệt trong năm năm qua Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) và tổ chức Chương trình Môi trường Liên hiệp quốc (UNEP) đã tổ chức Hội thảo Quốc tế lần thứ nhất về Biến đổi khí hậu và Du lịch ở Djerba, Tunisia vào năm 2003 Sự kiện này là một bước ngoặt trong việc nâng cao nhận thức về tác động của biến đổi khí hậu trong Cộng đồng du lịch quốc tế Tuyên bố Djerba khẳng định mối liên kết phức tạp giữa ngành du lịch và biến đổi khí hậu và thiết lập khuôn khổ cho nghiên cứu và hoạch định chính sách về thích ứng và giảm nhẹ trong tương lai Ngoài ra, một số hiệp hội
và doanh nghiệp du lịch cũng đã quan tâm đến BĐKH, đặt mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính, tham gia vào các chiến dịch giáo dục công đồng về biến đổi khí hậu
và hỗ trợ chính phủ về BĐKH Cộng đồng khoa học cũng đã quan tâm, tăng gấp đôi
số lượng các ấn phẩm khoa học để kiểm tra mối quan hệ giữa du lịch và BĐKH trong giai đoạn 1996-2000 đến 2001-2005 và nâng cao vai trò vị trí của du lịch trong các Báo cáo đánh giá của IPCC so với các đánh giá trước đó Trong năm 2006, Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) đã thành lập một Nhóm Chuyên gia về Khí hậu và
Du lịch phối hợp với UNWTO, với nhiệm vụ ứng dụng rộng rãi các thông tin về điều kiện thời tiết/khí hậu trong ngành du lịch và nhận thức về tác động của BĐKH đối với ngành.
Tác động của BĐKH đến hoạt động phát triển du lịch được xác định trên
cơ sở phân tích mối quan hệ giữa khí hậu với hoạt động phát triển du lịch, theo
đó BĐKH sẽ tác động trực tiếp đến 3 nhóm đối tượng chủ yếu bao gồm: tài nguyên du lịch; hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch và hoạt động lữ hành BĐKH làm thay đổi các điều kiện sinh khí hậu và do vậy ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng, phát triển, thậm chí là tồn tại của nhiều hệ sinh thái, các loài
Trang 22sinh vật quý hiếm, đặc hữu có giá trị du lịch BĐKH sẽ làm xuất hiện nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan với quy mô và cường độ lớn, xảy ra ở những vùng ít chịu ảnh hưởng theo những quy luật truyền thống Tác động của bão, lũ, và hệ quả là ngập úng kéo dài sẽ gây hư hại, thậm chí làm mất đi nhiều di tích lịch sử văn hóa - được xem là dạng tài nguyên du lịch đặc biệt có vai trò quan trọng để phát triển du lịch BĐKH làm gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan và ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động vận chuyển khách, đặc biệt bằng đường không (theo thống kê của
Tổ chức Du lịch Thế giới có tới trên 60% lượng khách du lịch quốc tế đi lại giữa các nước là bằng đường hàng không) Nhiều vườn quốc gia, khu di tích và các rạn san
hô muôn sắc mầu đang đứng trước nguy cơ biến mất khỏi bản đồ thế giới bởi mực nước biển dâng cao và các siêu bão Trong báo cáo “Di sản thế giới và du lịch trong bối cảnh biến đổi khí hậu” của UNESCO, Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) phối hợp thực hiện, ngay cả những địa điểm du lịch nổi tiếng thế giới như Venice hay Vườn quốc gia Yellowstone,…cũng bị đe dọa nghiêm trọng.
Bên cạnh tác động đến tài nguyên, BĐKH còn tác động đến hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch như đã đề cập và điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc
tổ chức thực hiện các chương trình du lịch Một trong những điều kiện quan trọng
để tổ chức thực hiện chương trình du lịch là điều kiện về khí hậu, thời tiết Trong điều kiện thời tiết mưa, gió, tầm nhìn hạn chế, hoạt động tham quan du lịch, hoạt động du lịch nghỉ dưỡng trong một chương trình du lịch (tour du lịch) sẽ bị hạn chế và trong nhiều trường hợp thời tiết nguy hiểm sẽ bị hủy bỏ hoặc thay đổi.
Cụ thể, tại Việt Nam, bão lũ, ngập úng kéo dài sẽ gây hư hại nhiều di tích lịch
sử văn hóa, tài nguyên du lịch Các công trình dịch vụ du lịch bị hư hỏng hoặc xuống cấp dưới tác động của bão lũ cường độ mạnh gây xói mòn Mưa nhiều kèm theo gió, bão hoặc nắng gắt nhiệt độ tăng cao cũng làm cho vật liệu kiến trúc nhanh xuống cấp, hư hỏng, gây lãng phí tiền của, công sức của nhà nước và người dân Việc gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão lũ, mưa quá nhiều, nắng quá nóng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động vận chuyển hành khách (đường hàng không, đường bộ, đường thủy), từ đó ảnh hưởng đến nhu cầu hoạt động tại các địa điểm du lịch ngoài trời (rừng ngập mặn ở Cần Giờ, khu du lịch sinh thái ở Củ Chi…) (Hồng Lan, 2015) Ngoài ra, ảnh hưởng của BĐKH gây tác động gián tiếp lên hoạt động du lịch qua các lĩnh vực khác liên quan như giao thông, năng lượng, quản lý nước, sử dụng đất (cho dịch vụ du lịch), an ninh quốc phòng…
Trang 23Như vậy, BĐKH ảnh hưởng đến doanh thu của các dịch vụ phục vụ cho ngành du lịch, từ đó ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế toàn cầu Kết quả nghiên cứu của Viện Khí tượng, Thủy văn và Môi trường Việt Nam (2013) cho thấy, cộng với ô nhiễm nặng nề, BĐKH tiếp tục phá hủy 110.000 ha san hô của Việt Nam, chỉ còn 14,5% trong 110.000 ha san hô này
ở trong tình trạng tốt Trong khi đó, theo Viện nghiên cứu phát triển du lịch Việt Nam, các hiện tượng thời tiết cực đoan do BĐKH gây ra có thể làm giảm đáng kể doanh thu từ du lịch biển chiếm hơn 70% tổng doanh thu từ kinh tế biển UBND tỉnh Quảng Nam cũng đã cảnh báo vào năm 2020, mực nước biển dâng có thể khiến khoảng 30% thị trấn Hội An ngập lụt Đà Nẵng cũng đang đối mặt với tác động của BĐKH bao gồm lũ lụt và xâm nhập mặn.
Như vậy có thể thấy BĐKH với những biểu hiện về sự thay đổi quy luật thời tiết và sự xuất hiện ngày càng tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan, sẽ có những tác động tiêu cực đến việc tổ chức thực hiện các chương trình du lịch, gây ảnh hưởng không chỉ đối với hoạt động kinh doanh du lịch mà còn gây ảnh hưởng đến quyền lợi và trong một số trường hợp gây nguy hiểm cho tính mạng của du khách.
2.2.2 Ảnh hưởng của du lịch đến biến đổi khí hậu
Dù được mệnh danh là “ngành công nghiệp không khói” nhưng gần đây hơn ngày càng nhiều nghiên cứu hơn tập trung vào những tác động của ngành du lịch đối với sự BĐKH (Becken 2007, Hunter và Shaw 2007) Nhiều nghiên cứu đang khảo sát các tác động của du lịch đối với thay đổi khí hậu, chủ yếu bằng cách đo lượng khí thải nhà kính toàn bộ từ ngành du lịch (Gosslinget 2005, Becken và Patterson
2006, Dubois và Ceron 2006b, UNWTO -UNEP-WMO 2008; Peeters and Dubois 2010) Theo UNWTO-UNEP-WMO (2008) ước tính ngành du lịch hiện đang đóng góp 5% lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu, phần lớn lượng phát thải này là từ du lịch hàng không (Peeters và Dubois, 2010) và được dự báo sẽ tăng lên trong tương lai bởi sự phát triển hàng không trong khi các ngành công nghiệp khác giảm phát thải (Dubois và Ceron 2006b, Anable và Shaw2007, Bows and Anderson2007, Anger and Kohler 2010) Việc kiểm kê chính xác lượng phát thải trong ngành du lịch còn nhiều khó khăn vì du lịch là lĩnh vực mang tính chất rộng lớn với sự tham gia của nhiều lĩnh vực khác bao gồm: giao thông, năng lượng, chất thải rắn, tài nguyên nước, nông - lâm nghiệp, xây dựng Các thành phần trên đóng góp các mức độ khác nhau trong vấn đề
Trang 24phát thải khí CO2 do lượng phát thải và tiêu thụ năng lượng tùy thuộc
vị trí và quy mô của các loại hình dịch vụ Cụ thể:
- Giao thông vận tải phát thải qua việc sử dụng năng lượng cho việc di chuyển giữa các khu vực trong chuyến du lịch tham quan danh lam thắng cảnh (bằng xe hơi, tàu hỏa, tàu thủy, phà, máy bay…) Các lĩnh vực vận tải, bao gồm hàng không, đường bộ, đường thủy và đường sắt, đóng góp tỷ lệ lớn nhất với 75% lượng khí thải Trong đó, đường sắt chiếm 13%, đường hàng không gây ra 54% - 75% lượng phát thải và là thành phần chính gây phát thải trong lĩnh vực du lịch cho
sự nóng lên toàn cầu, chịu trách nhiệm 40% lượng khí CO2 tổng thể.
liên quan đến việc sử dụng năng lượng để vận hành các thiết bị phục
vụ các khu vực ăn nghỉ, hoạt động các nhà hàng, quán bar, sàn nhảy, rạp chiếu phim… gây khoảng 20% lượng khí thải.
- Các hoạt động du lịch khác như các bảo tàng, khu vui chơi giải trí, công viên, sự kiện hoặc mua sắm cũng gây nên khoảng 3,5% lượng khí thải từ du lịch Ngoài ra ngành du lịch còn tác động đến BĐKH thông qua việc sử dụng các thiết bị làm lạnh dẫn tới thải ra một lượng khá lớn khí CFC, một trong những khí chính gây ra BĐKH Mặt khác rác thải phát sinh từ các hoạt động của khách du lịch cũng là một trong những nguyên nhân gián tiếp gây ra BĐKH.
2.3 PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG, THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
2.3.1 Khái niệm
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourist Organization), một tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc, Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư Trong pháp lệnh du lịch của Việt Nam, tại điều 10 thuật ngữ ‘Du lịch’ được hiểu như sau “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi
cư trú thường xuyên của mình nhằm thoả mãn các nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong khoảng một thời gian nhất định”.
Trang 25Du lịch bền vững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch mà vẫn bảo đảm những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ tương lai Phát triển du lịch bền vững là sự đáp ứng đầy đủ nhất, tiện nghi nhất các nhu cầu của khách du lịch, tạo sức hút du khách đến vùng, điểm du lịch ngày nay đồng thời bảo vệ và nâng chất lượng cho tương lai Nó được định ra
để hướng việc quản lý toàn bộ các tài nguyên, các điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái và các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hoá kèm theo, theo cách
mà chúng ta có thể thoả mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội và thẩm mỹ, đồng thời duy trì tính toàn vẹn về văn hoá, các quá trình sinh thái chủ yếu, sự đa dạng sinh học và các hệ thống duy trì nuôi dưỡng sự sống.
2.3.2 Tình hình phát triển du lịch trên thế giới và tại Việt Nam
2.3.2.1 Tình hình phát triển du lịch trên thế giới
Hình 2.2 Dự báo tăng trưởng số lượng khách du lịch quốc tế
trên toàn thế giới đến 2030
Nguồn: UNWTO (2013)
Trang 26Theo số liệu của ITC Trademap, tốc độ tăng của nhập khẩu thế giới về du lịch
là 2,86%/năm trong giai đoạn 2008-2012 Bất chấp tình hình bất ổn và kinh tế khó khăn kéo dài ở một số quốc gia và khu vực trên thế giới, Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) cho hay lượng du khách quốc tế năm 2015 vừa qua đã đạt hơn 1 tỷ lượt người, tăng hơn 4% so với năm trước đó và dự báo sẽ tiếp tục tăng trưởng với tốc
độ 3,3% để đạt mức 1,8 tỷ lượt khách năm 2030 Trong đó, đáng lưu ý là các thị trường mới nổi sẽ đạt mức tăng trưởng gấp đôi so với trước và chiếm hơn một nửa lượng khách du lịch - ước tính với con số khách đến riêng các thị trường này đạt 1 tỷ lượt vào năm 2030 Năm 2015 cũng là năm thứ sáu liên tiếp lượng khách du lịch quốc tế đạt mức tăng trưởng hàng năm từ 4% trở lên Pháp tiếp tục là điểm đến hấp dẫn khách du lịch nhất thế giới, tiếp theo là Mỹ, Tây Ban Nha, và Trung Quốc Xét theo khu vực, trong năm 2015, châu Âu, châu Mỹ và châu Á-Thái Bình Dương đều đạt ngưỡng tăng trưởng 5% Các điểm đến ở Trung Đông tăng 3%, dữ liệu khách quốc tế của châu Phi bị giới hạn nên số liệu sẵn có ước tính khu vực này giảm 3%, kết quả này chủ yếu do sự yếu kém của ngành du lịch khu vực Bắc Phi vốn chiếm tới 1/3 lượt khách đến cả khu vực.
2.3.2.2 Tình hình phát triển du lịch tại Việt Nam
Trong 3 tháng đầu năm 2016, lượng khách quốc tế đạt 2.459.150 lượt (tăng 19,9% so với cùng kỳ năm 2015); lượng khách du lịch nội địa đạt 18,7 triệu lượt; tổng thu từ khách du lịch đạt 109.137 tỷ đồng (tăng 21,2% so với cùng kỳ năm 2015) Lượng khách đến từ khu vực Đông Bắc Á tăng trưởng cao nhất (Trung Quốc tăng 66%, Hàn Quốc tăng 30%, Hồng Kông tăng 160%, Đài Loan tăng 15%
và Nhật Bản tăng 12%) Tất cả các thị trường gửi khách trọng điểm từ châu Âu đến Việt Nam có mức chi tiêu cao đều tăng cao, nhất là từ 05 quốc gia mới được miễn thị thực (Ý tăng 28%, Tây Ban Nha tăng 27%, Anh tăng 23%, Đức tăng 19% và Pháp tăng 11%) Đóng góp từ mức chi tiêu cao của khách du lịch từ các thị trường này đã góp phần nâng tốc độ tăng trưởng của tổng thu từ khách
du lịch lớn hơn tốc độ tăng trưởng về lượng khách.
Theo số liệu Tổng cục thống kê, lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong tháng 12/2016 ước đạt 897.279 lượt, tăng 17,9% so với cùng kỳ năm 2015 Tính chung cả năm 2016 ước đạt 10.012.735 lượt khách, tăng 26,0% so với năm 2015.
Trang 27Bảng 2.1 Tình hình khách quốc tế đến Việt Nam tháng 12 và cả năm 2016 Chỉ tiêu
Trang 282.3.3 Phát triển du lịch bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu
Du lịch là một trong những công nghệ tạo nhiều lợi tức nhất cho đất nước Du lịch có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp chúng ta đạt các Mục Tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (Millennium Development Goals) mà Liên Hơp Quốc đã đề
ra từ năm 2000, đặc biệt là các mục tiêu xóa đói giảm nghèo, bình đẳng giới tính, bền vững môi trường và liên doanh quốc tế để phát triển Chính vì vậy mà du lịch bền vững (sustainable tourism) là một phần quan trọng của phát triển bền vững (sustainable development) của Liên Hợp Quốc và của Định hướng Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư) Phát triển bền vững là việc quản lý đến toàn bộ các thành phần cấu thành nghành du lịch đảm bảo phát triển cân bằng để có thể mang lại những kết quả có lợi về kinh tế, xã hội mang tính lâu dài mà không gây ra những tổn hại cho môi trường tự nhiên và bản sắc văn hoá của du lịch Qúa trình phát triển du lịch bền vững phải kết hợp hài hoà nhu cầu của hiện tại và tương lai trên cả hai góc độ và sản xuất và tiêu dùng du lịch, nhằm mục đích bảo tồn và tái tạo nguồn tài nguyên thiên nhiên, giữ gìn và phát huy bảo sắc văn hoá dân tộc Du lịch bền vững đòi hỏi phải quản lý tất cả các dạng tài nguyên theo cách nào đó để chúng ta có thể đáp ứng các nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm mỹ trong khi vẫn duy trì được bản sắc văn hoá, các quá trình sinh thái cơ bản, đa dạng sinh học và các hệ đảm bảo sự sống.
Mục tiêu của Du lịch bền vững là:
1 Phát triển, gia tăng sự đóng góp của du lịch vào kinh tế và môi trường.
Mạng Lưới tổ chức Du lịch Thế giới của Liên Hợp Quốc (United Nation World Tourism Organization Network - UNWTO) chỉ ra rằng du lịch bền vững cần phải:
- Về môi trường: Sử dụng tốt nhất các tài nguyên môi trường đóng vai trò chủ yếu trong phát triển du lịch, duy trì quá trình sinh thái thiết yếu, và giúp duy trì di sản thiên nhiên và đa dạng sinh học tự nhiên.
- Về xã hội và văn hóa: Tôn trọng tính trung thực về xã hội và văn hóa của các cộng đồng địa phương, bảo tồn di sản văn hóa và các giá trị truyền thống đã được xây dựng và đang sống động, và đóng góp vào sự hiểu biết và chia sẻ liên văn hóa.
Trang 29- Về kinh tế: Bảo đảm sự hoạt động kinh tế tồn tại lâu dài, cung cấp những lợi ích kinh tế xã hội tới tất cả những người hưởng lợi và được phân bổ một cách công bằng, bao gồm cả những nghề nghiệp và cơ hội thu lợi nhuận ổn định và các dịch vụ xã hội cho các cộng đồng địa phương, và đóng góp vào việc xóa đói giảm nghèo.
Khái niệm phát triển du lịch bền vững không chỉ tập trung vào việc bảo vệ môi trường mà còn tập trung vào việc duy trì những văn hóa của địa phương và đảm bảo việc phát triển kinh tế, mang lại lợi ích công bằng cho các nhóm đối tượng tham gia.
Du lịch Việt Nam đang ngày càng phát triển nhưng phải đối mặt với nhiều thách thức về biến đổi khí hậu đếnàn cầu Biến đổi khí hậu tác động không nhỏ đến tính bền vững của phát triển du lịch, cảnh quan các vùng ven biển, các khu di sản Công tác ứng phó biến đổi khí hậu tại Việt Nam đang gặp phải những khó khăn nhất định Đó là ngành Du lịch và các địa phương tuy nhận thức được về nguy cơ của biến đổi khí hậu, nhưng lại thiếu kiến thức chuyên môn về thích ứng và các biện pháp giảm thiểu.Trong khi đó, các đơn vị chịu trách nhiệm về các hoạt động ứng phó biến đối khí hậu ở cấp tỉnh/thành tuy có kiến thức khoa học rất tốt nhưng không nhận thức được những vấn đề khó khăn cụ thể của ngành Du lịch.
2.4 CHỈ SỐ KHÍ HẬU DU LỊCH
Du lịch phụ thuộc vào khí hậu là một thực tế không thể phủ nhận, Trong thực
tế một trong những thông tin cần thiết cho khách du lịch cho du lịch là điều kiện khí hậu của các điểm đến, đây là một trong những yếu tố quan trọng để thu hút khách
du lịch Sự hài lòng của du khách đối với bất kỳ hoạt động du lịch nào cũng liên quan đến điều kiện khí hậu Khí hậu, coi như là một tiêu chí quan trọng để hình thành các điểm du lịch (Tavallaee, 2006), và sự hiểu biết về khí hậu địa phương ngày càng quan trọng trong nghiên cứu du lịch (Renaudim, 2002).
Theo tầm quan trọng của ngành công nghiệp du lịch, việc xác định các điều kiện khí hậu thuận lợi và không thuận lợi là điều cần thiết cho khách du lịch trong
và ngoài nước Các đặc điểm thời tiết của điểm đến thay đổi hàng ngày, hàng tháng
và theo mùa bao gồm: nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm, bức xạ, gió và các yếu tố thời tiết khác Dựa vào các thông tin dự báo người đi du lịch có thể lên kế hoạch của mình về thời điểm du lịch, quần áo và các trang thiết bị cần thiết Mục đích của điều kiện thoải mái của con người hoặc khu vực thoải mái, là điều kiện về nhiệt độ và độ
ẩm Một trong những xu hướng du lịch hiện nay là du lịch sinh thái, với loại hình du lịch này khách du lịch tiếp cận càng gần với môi trường tự nhiên Vì vậy, việc xác định các nhu cầu của du khách về thời tiết và khí hậu là cần thiết Thời tiết của một
Trang 30khu vực là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong việc thu hút khách du lịch hoặc ngược lại.
Chỉ số khí hậu du lịch (Turism climate indices-TCI) được cung cấp bởi Mieczkowski (1985) như là một thước đo của sự thoải mái về khí hậu, thường được sử dụng để mô tả các điều kiện khí hậu thích hợp cho các hoạt động du lịch, từ quy hoạch đến đầu tư hoặc các hoạt động hàng ngày Hay nói cách khác chỉ số TCI là chỉ số tổng hợp để đánh giá một cách hệ thống các yếu tố khí hậu
có liên quan đến sự thoải mái nhiệt, thuận lợi cho các hoạt động du lịch Chỉ số khí hậu du lịch có thể sử dụng dữ liệu quan sát hoặc dữ liệu mô hình áp dụng trong tất cả các phạm vi thời gian (Z Mieczkowski, 1985).
Cho đến nay, đã có những nghiên cứu đáng kể trong lĩnh vực khí hậu thoải mái cho khách du lịch Trong các nghiên cứu khác, Harrison và cộng sự đã nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu đối với du lịch ở Scotland (S.J Harrison, S.J Winterbottom, C Sheppard, “The potential effects of climate change on the Scottish tourist industry,” Tourism Management J., vol 20 Pp 203, 1999) Amiranashvili và các cộng sự đã nghiên cứu đặc điểm du lịch của Tbilisi, thủ đô của Georgia có sử dụng TCI Index (A Amiranashvili, A Matzarakis and L kartvelishvili, “Tourism climate index in Tbilisi,” Transactions of the Georgian Institute of Hydrometeorology, vol 115, pp 27, 2008) Hein đã kiểm tra sự thoải mái của khí hậu
du lịch bằng phương pháp TCI và nhận ra rằng mùa hè là sự thoải mái về khí hậu
du lịch tốt nhất của đất nước [7] và Yu và cộng sự sử dụng chỉ số TCI cho các nghiên cứu du lịch ven biển (L Hein, M j Metzger and A Morgan,“potentials impacts of climate change on tourism: A case study of Spain,”Current Opinion in Environment Sustainability, vol 1, pp 170, 2009).
Chỉ số khí hậu du lịch nói chung có thể được chia thành: chỉ số cơ bản, các chỉ
số môi trường và tổ hợp khí hậu Chỉ số môi trường và tổ hợp khí hậu thường xem xét các ảnh hưởng kết hợp của các yếu tố, bao gồm một số lượng lớn các yếu tố.
Phương pháp TCI được xây dựng dựa trên các nghiên cứu trước đây
về phân loại khí hậu để giải trí và du lịch của một số người như Brant (1963)
và các đối tượng lý thuyết trên cơ sở của khí hậu môi trường (Farajzade và Ahmadabadi, 2008) Chỉ số TCI được Mieczkowski xem xét 7 tham số khí hậu
Về vấn đề này, luận văn sẽ sử dụng chỉ số TCI để xác định thời gian thích hợp cho các hoạt động du lịch tại tỉnh Điện Biên trong các giai đoạn.
Trang 31PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
3.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
3.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.4.1 Tìm hiểu đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh
3.4.2 Đặc điểm ngành du lịch ở tỉnh Điện Biên
- Thống kê số lượng các cơ quan/công ty, dịch vụ phục vụ ngành du lịch.
3.4.3 Xu hướng biến đổi khí hậu ở tỉnh Điện Biên
3.4.4 Ảnh hưởng của BĐKH tới hoạt động du lịch
- Xu hướng thay đổi chỉ số du lịch khí hậu (Tourism Climate Index – TCI).
- Ảnh hưởng của hiện tượng thời tiết cực đoan tới hoạt động du lịch.
hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạt động du lịch.
3.4.5 Các biện pháp thích ứng với BĐKH của ngành du lịch
- Đề xuất giải pháp ứng phó với BĐKH cho ngành du lịch ở Điện Biên.
Trang 323.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
ngành du lịch của địa phương thông qua báo cáo của địa phương, sách báo, mạng internet…
- Thu thập tài liệu, số liệu khí tượng trung bình tháng tại Điện Biên trong giai đoạn từ 1970-2015 được thu thập từ trung tâm khí tượng thủy văn Điện Biên và Trung tâm Khí tượng thủy văn Quốc gia Các yếu tố khí tượng bao gồm: Nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, số giờ nắng, vận tốc gió Các số liệu này được sử dụng để đánh giá xu hướng thay đổi và tìm hiểu ảnh hưởng của BĐKH đến du lịch thông qua tính toán chỉ số khí hậu du lịch (Tourism Climate Index - TCI) 3.5.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Đối tượng: Người lao động trong ngành du lịch của tỉnh Điện Biên (cơ sở kinh doanh lưu trú và ăn uống)
Địa điểm: Thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên
Nội dung.: Đánh giá của người lao động trong ngành du lịch
về BĐKH và ảnh hưởng của BĐKH đến hoạt động du lịch Phương pháp chọn mẫu: Theo số liệu thống kê năm 2016 của
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Điện Biên có 120 cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch Số lượng phiếu điều tra tối thiểu được tính theo sai số cho phép dựa trên công thức Slovin:
Chọn mức sai số là 10% thì dung lượng mẫu tối thiểu sẽ là:
Tổng số 55 mẫu đã được chọn ngẫu nhiên dựa trên danh sách
120 cơ sở kinh doanh của tỉnh để phỏng vấn Thông tin về người tham gia phỏng vấn được trình bày ở Bảng 3.1.
Trang 33Bảng 3.1 Thông tin về người tham gia phỏng vấn Đặc điểm
Hoạt động liên quan đến du lịch
Kinh doanh cơ sở lưu trú
Kinh doanh ăn uống
Thời gian kinh doanh du lịch
2-5
>5
Nguồn: Kết quả phỏng vấn có cấu trúc năm 2016, n=55
Ngoài ra tiến hành phỏng vấn sâu đối với 2 người có kinh nghiệm lâu năm trong ngành du lịch đó là ông Nguyễn Đăng Quang - Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Điện Biên và ông Nguyễn Văn Nam - Trưởng phòng nghiệp vụ du lịch thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Điện Biên nhằm tìm hiểu về các hiện tượng thời tiết cực đoan và ảnh hưởng của nó đến hoạt động du lịch trên địa bàn nghiên cứu.
Phương pháp phân tích SWOT
Sử dụng phương pháp phân tích SWOT để tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn trong việc thích ứng với BĐKH của ngành du lịch trên địa bàn Để thu thập thong tin cho nội dung này, phỏng vấn nhóm đã thực hiện với 4 cán bộ đại diện của các đơn vị quản lý du lịch tỉnh ĐB (Phòng nghiệp vụ của Trung tâm xúc tiến Thương mại & Du lịch và Sở Văn hóa, thể thao & du lịch.Phương pháp phân tích xu hướng BĐKH: Nhiệt độ và độ ẩm là hai yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đối với sự cảm nhận thoải mái về thời tiết của người tham gia du lịch Do vậy, trong phạm vi nghiên cứu này, xu hướng thay đổi theo thời gian của hai yếu tố này đã được phân tích Hơn nữa, do không thu thập được số liệu nhiệt độ tối thấp nên yếu tố này đã không bao gồm trong kết quả nghiên cứu Để phân tích xu hướng thay đổi của các yếu tố khí hậu, phương pháp kiểm định t-Test (two samples unequal variances) đã được sử dụng để so sánh giá trị trung bình của các yếu tố trong giai đoạn gần đây (2000-2015) với giá trị trung bình của giai đoạn khí hậu trước đây (1970-1999).
Trang 34Phương pháp tính chỉ số khí hậu du lịch (Tourism Climate Index-TCI)
Chỉ số TCI do Mieczkowski (1985) đề xuất như một công cụ để khảo sát mức
độ thuận lợi về khí hậu cho khách du lịch Chỉ số này cho biết mức độ thuận lợi về mặt khí hậu để thực hiện các hoạt động ngoài trời như việc đi thăm các danh lam thắng cảnh, hiện nay được áp dụng rộng rãi trong ngành du lịch ở các nước trên thế giới Chỉ số TCI đề cập đến cả khía cạnh riêng biệt liên quan đến du lịch bao gồm khía cạnh nhiệt (nhiệt độ), vật lý (mưa, gió) và thẩm mỹ (mức che phủ bởi mây/giờ nắng) Chỉ số TCI được tính toán dựa vào giá trị trung bình tháng của 7 yếu
tố khí tượng bao gồm (1) nhiệt độ tối cao ngày; (2) nhiệt độ trung bình ngày; (3) độ
ẩm tương đối tối thấp ngày; (4) độ ẩm tương đối trung bình ngày; (5) lượng mưa; (6) số giờ nắng ngày; và (7) tốc độ gió Theo Mieczkowski Một số các yếu tố được kết hợp lại thành các nhóm phụ bao gồm: chỉ số thoải mái ban ngày (daytime comfort index – CID) được kết hợp giữa nhiệt độ tối cao ngày và độ ẩm tương đối tối thấp ngày – cho biết mức độ nhiệt vào ban ngày; chỉ số thoải mái hang ngày (daily comfort index – CIA) được tính dựa vào nhiệt độ trung bình ngày và độ ẩm tương đối ngày) – cho biết mức độ nhiệt của cả ngày Các chỉ số phụ khác được tính trọng số dựa vào các yếu tố riêng biệt bao gồm lượng mưa (P), giờ nắng (S) và tốc độ gió (W) Chỉ số TCI được tính dựa vào các chỉ số du lịch này:
TCI = 8CID + 2CIA + 4R + 4S + 2W Mỗi chỉ số phụ được cho trọng số nằm trong khoảng từ -3 đến 5
và do vậy TCI có giá trị tối đa là 100 Theo Mieczkowski, mức độ phù hợp của khí hậu cho du lịch được thể hiện ở Bảng 3.2.
Bảng 3.2 Giá trị chỉ số khí hậu du lịch và phân loại mức thoải mái của chỉ số
Để tính TCI trong tương lai, giá trị nhiệt độ và lượng mưa trong giai đoạn
2020, 2050, 2080 và 2100 đã được tính toán dựa vào cơ sở dữ liệu về kịch bản BĐKH của Bộ TN&MT (2010) Do các yếu tố khí hậu khác như: Độ ẩm, số giớ
Trang 35nắng và tốc gió không có trong cơ sở dữ liệu của Bộ nên trong tính toán chỉ số TCI, các yếu tố đó được giả định là không thay đổi trong tương lai Mức thay đổi nhiệt độ và lượng mưa trong tương lai theo kịch bản được so với giai đoạn 1980-1999, do vậy, chỉ số TCI trong quá khứ đã được tính theo hai giai đoạn 1980-1999 và 1986-2015.
Trang 36PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ-XÃ HỘI CỦA TỈNH ĐIỆN BIÊN
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Tỉnh Điện Biên có toạ độ địa lý được xác định từ vị trí 20 0 54 ' đến 22 0 33 ' độ
vĩ Bắc, từ 102 0 10 ' đến 103 0 56' độ kinh Đông và được giới hạn bởi: phía Bắc giáp tỉnh Lai Châu, phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Sơn La, phía Tây và Tây Nam giáp 2 tỉnh Luông Pha Băng và Phong Sa Lỳ của nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào, phía Tây Bắc giáp tỉnh Vân Nam của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa Tỉnh Điện Biên có đường biên giới dài 398,5km trong đó 360 km giáp với nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào và 38,5km giáp với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa Cửa khẩu quốc tế Tây Trang ở phía Tây của tỉnh với nước bạn Lào đang được xây dựng thành khu kinh tế cửa khẩu tạo điều kiện cho phát triển thương mại dịch vụ mà đặc biệt là phát triển du lịch của tỉnh (Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Điện Biên giai đoạn 2006-2020).
4.1.1.2 Khí hậu, địa hình, thủy văn, sinh vật
a Khí hậu
Điện Biên có khí hậu nhiệt đới gió mùa núi cao, mùa Đông tương đối lạnh và ít mưa; mùa hạ nóng, mưa nhiều với các đặc tính diễn biến thất thường, phân hoá đa dạng, chịu ảnh hưởng của gió tây khô và nóng Nhiệt
độ trung bình hàng năm ở Điện Biên từ 21 - 23 oC, biên độ nhiệt ngày đêm cao dao động từ 9 -12 oC Nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1 và cao nhất vào tháng 8 Các tháng có nhiệt độ trung bình nhỏ hơn 20 oC phổ biến từ tháng
11 đến tháng 3 năm sau; các tháng có nhiệt độ trên 25 oC phổ biến từ tháng
5 đến tháng 9 và chỉ xảy ra ở các vùng thấp, nơi có độ cao dưới 500m.
Lượng mưa hàng năm ở Điện Biên khá cao, trung bình từ 1.700 - 2.500 mm nhưng phân bố không đều trong năm Mưa lớn thường tập trung vào các tháng 6,7,8 và chiếm tới 80% lượng mưa cả năm Các tháng khô hạn bắt đầu từ tháng 12 năm trước đến tháng 3 năm sau, chỉ chiếm khoảng 20% Độ ẩm không khí trung bình hàng năm từ 80 - 85% Số giờ nắng bình quân đạt từ 1.580 đến 1.800 giờ (Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Điện Biên giai đoạn 2006-2020).
Trang 37b Địa hình
Địa hình tỉnh Điện Biên mang những nét đặc trưng với nhiều kiểu địa hình, đặc biệt phổ biến địa hình núi cao (độ cao trung bình 600 - 700m), độ dốc lớn (hơn 70% lãnh thổ có độ dốc lớn hơn 25 0 ), chia cắt mạnh Phía Bắc là cao nguyên Tà Phình có các đỉnh núi cao trên dưới 2.000m trong đó ẩn chứa nhiều hang động nguyên sơ có giá trị để phát triển du lịch, phía Đông Bắc và Đông có các đỉnh cao trên dưới 1500m Núi thấp dần và đổ dồn xuống sông, suối hoặc xen kẽ với các thung lũng sông, khe suối và cao nguyên Giữa các dãy núi có rất nhiều dải trũng bằng phẳng tạo thành thung lũng hẹp như: Mường Thanh (Thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên), thị trấn Tuần Giáo (huyện Tuần Giáo) (Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Điện Biên giai đoạn 2006-2020).
Nhìn chung địa hình Điện Biên tương đối đa dạng và phong phú, tạo nên nhiều cảnh đẹp, hùng vĩ và hấp dẫn Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển nhiều loại hình du lịch như tham quan, thể thao mạo hiểm v v và đặc biệt là du lịch sinh thái, một loại hình du lịch đang thu hút được sự quan tâm
du khách trong và ngoài nước trong xu hướng phát triển lâu dài.
c Thuỷ văn: Tài nguyên nước ngọt khá dồi dào cả nước mặt và nước ngầm.
- Về nước mặt: Với lượng mưa hàng năm khá lớn, hệ thống ao hồ và sông suối nhiều (toàn tỉnh có hơn 10 hồ lớn và 1.000 sông suối lớn nhỏ ) nên nguồn nước mặt phong phú có thể đáp ứng nhu cầu đời sống, sản xuất và phát triển kinh tế hiện
tại và tương lai Mạng lưới sông suối dày đặc với mật độ trung bình khoảng
0,45Km/Km 2 , phân bố tương đối đều và mang tính đầu nguồn nằm trong các hệ thống sông Đà, sông Mã, sông Mê Kông Với cấu trúc địa hình đặc biệt, phần lớn các dòng sông đều chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, lòng sông dốc, nhiều thác ghềnh không những thuận lợi xây dựng thủy điện mà còn góp phần tạo phong cảnh hùng vĩ là những yếu tố thích hợp cho việc phát triển du lịch sinh thái.
Chất lượng nước mặt nhìn chung còn tốt, tuy nhiên ở một số đoạn gần các khu dân cư tập trung đã có dấu hiệu ô nhiễm Đây là vấn đề cần được quan tâm khi
sử dụng nguồn nước trong sản xuất đời sống cũng như dịch vụ du lịch (Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Điện Biên giai đoạn 2006-2020).
- Về nước ngầm: Nguồn nước ngầm ở Điện Biện chưa được khảo sát đánh giá đầy đủ tuy nhiên qua tình hình khai thác phục vụ sinh hoạt của nhân dân cho thấy trữ lượng nước ngầm ở các vùng thấp, ven suối…khá dồi dào; các khu vực có dạng địa chất cacstơ như ở Tủa Chùa tiềm năng hạn chế hơn.
Trang 38Chất lượng nước ngầm qua phân tích các mẫu nước giếng khơi và giếng khoan
chất thải dân cư, công nghiệp…(Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển
du lịch tỉnh Điện Biên giai đoạn 2006-2020).
d Sinh vật
Thảm thực vật Điện Biên mang tính chất nhiệt đới với độ che phủ tự nhiên khá cao Tuy nhiên do nhiều điều kiện khách quan như thiên tai, hoả hoạn, chiến tranh và đặc biệt là hoạt động di cư tự do, tập quán du canh du cư của một bộ phận nhân dân, rừng đã và đang bị tàn phá nặng nề Trong những năm gần đây Chính phủ có chính sách giao đất, giao rừng, khoanh nuôi bảo vệ
và trồng mới diện tích rừng, tỉnh Điện Biên đã bảo vệ, khôi phục và trồng mới được một diện tích rừng đáng ghi nhận Rừng một số nới như khu bảo tồn Mường Nhé, rừng Mường Phăng có nhiều gỗ quý như: lát, chò chỉ, pơmu ,các lâm sản như cánh kiến đỏ, song, mây, trầm hương, quế, sa nhân và nhiều động vật quý hiếm Thảm thực vật khá phong phú vừa tạo nên môi trường khí hậu tốt vừa là đối tượng tham quan của khách du lịch (Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Điện Biên giai đoạn 2006-2020).
4.1.2 Kinh tế - xã hội
4.1.2.1 Tình hình phát triển kinh tế
Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh Điện Biên theo hiện hành ước năm
2015 đạt 11.522 tỷ đồng, tăng 9,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 2.764,7 tỷ đồng, tăng 6,9; khu công nghiệp - xây dựng đạt tăng 11%; khu dịch vụ tăng 9,9% Về cơ cấu kinh tế: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 24%; khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm 26,4%; khu vực thương mại - dịch vụ chiếm 49,6% (trong đó, du lịch chiếm phần lớn tỷ trọng trong khu vực).
Trang 39Hình 4.1 Cơ cấu kinh tế năm 2015
Nguồn: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Điện Biên (2015) 4.1.2.2 Tình hình xã hội
a Dân cư, dân tộc
Cuối năm 2003, Điện Biên được tách từ Lai Châu với 8 đơn vị hành chính tương đương cấp huyện, 88 xã phường, thị trấn, 1 thị xã và 1 thành phố trong
đó có 59 xã thuộc diện đặc biệt khó khăn và vùng cao biên giới, năm 2005 tăng lên 93 xã phường Tỉnh lỵ tỉnh Điện Biên đóng ở Thành phố Điện Biên Phủ.
Là vùng đất có truyền thống văn hoá, truyền thống yêu nước và cách mạng, nơi sinh sống của 19 dân tộc anh em trong số 54 dân tộc Việt Nam.
Có những dân tộc mà Việt Nam chỉ có ở Điện Biên và Lai Châu như La Hủ, Mảng Ư, Si La, Cống Mỗi dân tộc có truyền thống văn hoá mang bản sắc riêng tạo nguồn cảm hứng vô tận cho du khách đến tìm hiểu và nghiên cứu.
Dân số trung bình tỉnh Điện Biên năm 2015 ước tính 547.378 người, tăng 1,73% so với năm 2014 Dân cư phân bố không đồng đều giữa các vùng trong tỉnh, dân cư sống theo cụm, theo cộng đồng dân tộc và theo địa hình Phần lớn là người Thái, người Kinh sống ở vùng thấp, thành thị; người Mông sống ở các vùng núi cao Đặc điểm dân cư, quần cư này của các dân tộc ở Điện Biên là những nét văn hoá hấp dẫn khách du lịch, đặc biệt đối với khách du lịch quốc tế.
Trang 404.2 ĐẶC ĐIỂM NGÀNH DU LỊCH CỦA TỈNH ĐIỆN BIÊN
4.2.1 Vai trò ngành du lịch trong sự phát triển KT-XH của tỉnh
4.2.1.1 Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh
Ngành du lịch có những bước phát triển nhanh đặc biệt trong giai đọan
2011-2015, đang từng bước trở thành ngành kinh tế quan trọng, góp phần tích cực trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Trong giai đoạn này, toàn tỉnh đón trên 1.953 ngàn lượt khách du lịch, đạt 105% kế hoạch đề ra, tăng 87,8% so với giai đoạn 2006
ngày năm 2010 lên mức 2,3 ngày năm 2015; tổng thu từ hoạt động du lịch ước đạt 2.039 tỷ đồng, đã góp phần tăng trưởng cơ cấu ngành dịch vụ trong cơ cấu kinh tế của tỉnh, hướng đến phát triển bền vững.
So với cùng kỳ năm 2014, năm 2015 cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng: Giảm khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng khu vực công nghiệp - xây dựng và khu vực dịch vụ, cụ thể: Khu vực nông, lâm nghiệp
và thủy sản chiếm 24,00%, giảm 0,57%; khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm 26,41%, tăng 0,35%; khu vực thương mại - dịch vụ chiếm 49,59%, tăng 0,22% (trong đó, du lịch là lĩnh vực cốt lõi trong khu vực).
4.2.1.2 Góp phần giải quyết việc làm, nâng cao đời sống vật chất cho cộng đồng dân cư và công tác xoá đói giảm nghèo của địa phương Ngành du lịch giải quyết việc làm cho người lao động, cải thiện đời sống nhân dân Cụ thể năm 2015, đã giải quyết việc làm cho trên 12 ngàn lao động, trong đó có khoản 5.000 lao động trực tiếp và 7.000 lao động gián tiếp, thu nhập từ du lịch đạt trên 550 tỷ đồng, tăng 3,67 lần so với năm 2010, tạo việc làm và thu nhập ổn định trên địa bàn, góp phần quan trọng trong công cuộc xoá đói giảm nghèo Chính vì vậy, du lịch mang ý nghĩa cộng đồng 4.2.2 Các cơ quan/công ty, dịch vụ phục vụ ngành du lịch
4.2.2.1 Các cơ quan, đơn vị quản lý nhà nước về du lịch
Trung tâm Thông tin xúc tiến du lịch là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Điện Biên có chức năng thực hiện các hoạt động về công tác thông tin và xúc tiến du lịch trên địa bàn tỉnh Trung tâm có nhiệm vụ hướng dẫn, hỗ trợ các doanh nghiệp du lịch, tổ chức các hoạt động trong công tác thông tin tuyên truyền quảng bá, xúc tiến du lịch ở trong và ngoài nước; triển khai thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển du lịch của tỉnh.