Tăng cường hợp tác giữa cácdoanh nghiệp để tiến hành phân loại thu gom và chuyển đi xử lý được nhanh chóng; iii, quy hoạch tập trung các công ty, nhà máy theo ngành nghề để thuận lợi cho
Tổng quan nghiên cứu
Tình hình phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam và trên thế giới
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển các khu công nghiệp
Khu công nghiệp là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp có ranh giới đia lý xác định, không có dân cư sinh sống do chính phủ hoặc thủ tướng chính phủ quyết định thành lập Trong khu công nghiệp có thể có doanh nghiệp chế xuất.
Kể từ khi Nghị định 322/HĐBT được ban hành về quy chế KCX ngày 18 tháng 10 năm 1991 đến nay, Chính phủ đã ban hành 3 Nghị định bao gồm: 322/HĐBT ban hành quy chế KCX, Nghị định 192/CP ban hành quy chế KCN ngày 18 tháng 12 năm 1994 và nghị định 36/CP ngày 24 tháng 4 năm 1997 ban hanh quy chế KCN, KCX thay thế hai Nghị định 322/HĐB và 192/CP.
Ngày 21/8/2006, Thủ tướng Chính phủ đã ký phê duyệt Quy hoạch phát triển các KCN ở Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 Quy hoạch đã xác định sẽ hình thành hệ thống các KCN chủ đạo có vai trò dãn dắt sự phát triển công nghiệp quốc gia, đồng thời hình thành các KCN có quy mô hợp lý để tạo điều kiện phát triển công nghiệp, nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại những địa phương có tỷ trọng công nghiệp trong GDP thấp Đưa tỷ lệ đóng gps của các KCN vào tổng gí trị sản xuất công nghiệp khoảng từ 24% hiện nay lên khoảng 39- 40% vào năm 2010 và trên 60% vào giai đoạn tiếp theo Tăng tỷ lệ xuất khẩu hàng công nghiệp của các KCN từ 19,2% giá trị xuất khẩu toàn quốc hiện nay lên khoảng 40% vào năm 2010 và cao hơn vào các giai đoạn tiếp theo.
Tính tới tháng 3/2011 thì cả nước có 260 KCN đã được thành lập với tổng diện tích hơn 71.000 ha, trong đó có 173 KCN đã đi vào hoạt động, 87 KCN đang giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản Trong đó, 105 KCN đã xây dựng và đi vào vận hành công trình xử lý nước thải tập trung, chiếm 60% tổng số các KCN đã đi vào hoạt động Ngoài ra, còn 43 KCN đang xây dựng công trình xử lý nước thải tập trung và dự kiến đưa vào vận hành trong thời gian tới (Vũ Quốc Huy, 2011).Tháng 12/2011, đã có 118 KCN có hệ thống xử lý nước thải tập trung, chiếm 65% tổng số KCN đã vận hành và hơn 30 KCN đang xây dựng công trình xử lý nước thải tập trung (khucongnghiep.com.vn) Và tính đến tháng 9/ 2012 trong cả nước có 283 KCN được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên 80.100 ha (Vũ Đại Thắng, 2012).
Nguồn: Bộ tài nguyên và môi trường, (2009).
Hình 2.1 Tình hình phát triển khu công nghiệp ở Việt Nam
Các KCN được thành lập trên 58 tỉnh, thành phố trên cả nước; được phân bố trên cơ sở phát huy lợi thế địa kinh tế, tiềm năng của các Vùng kinh tế trọng điểm, đồng thời phân bố ở mức độ hợp lý một số KCN ở các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hơn nhằm tạo điều kiện cho ngành công nghiệp địa phương từng bước phát triển Quy mô các KCN, KCX đa dạng và phù hợp với điều kiện, trình độ phát triển cụ thể của mỗi địa phương Quy mô trung bình của các KCN, KCX đến 12/2011 là 268ha Các vùng có điều kiện tương đối khó khăn, ít có lợi thế phát triển công nghiệp có quy mô KCN, KCX trung bình thấp hơn so với các vùng khác, như vùng Trung du miền núi phía Bắc (154,9 ha), Tây Nguyên
(157,6 ha), vùng Đông Nam Bộ có quy mô KCN trung bình cao nhất (378,3 ha)
Tỷ lệ lấp đầy của các KCN khá đồng đều giữa các vùng trên cả nước Tỷ lệ ở mức 65- 75% Một số vùng phát triển KCN từ lâu như Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long có tỷ lệ lấp đầy của các KCN đã vận hành ở mức cao Tính trung bình: Đông Nam Bộ ( bao gồm cả Long An) 73%,
4 đồng bằng sông Hồng 73%, đồng bằng sông Cửu Long 89% (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2009).
2.1.2 Vai trò của khu công nghiệp với sự phát triển kinh tế xã hội
Trong 18 năm qua, các KCN đóng vai trò quan trọng trong hình thành lực lượng công nghiệp mạnh cho phát triển kinh tế đất nước Các khu công nghiệp đã và đang tạo nhân tố chủ yếu trong việc tăng trưởng công nghiệp theo quy hoạch, tạo việc làm và hạn chế tình trạng ô nhiễm do chất thải công nghiệp gây ra Chính sự phát triển của khu công nghiệp đã thúc đây việc phát truển các đô thị mới, phát triển các cơ sở phụ trợ và dịch vụ, tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế xã hội nói chung Vai trò tích cực tác động của khu công nghiệp có thể xác định rõ trên một số khía cạnh chủ yếu như:
Năm 2008, tổng giá trị sản xuất công nghiệp của các KCN dạt 33,2 tỷ USD(chiếm 38% GDP cả nước) Các KCN đóng góp đáng kể vào tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của cả nước, hàng năm đạt tỷ trọng trung bình khoảng 20% Tính bình quan 1 ha đất công ghiệp đã cho thuê tạo ra giá trị xuất khẩu khoag 700.000 USD Giá trị xuất khẩu của các KCN liên tục tăng trong những năm gần đây ( năm
2006 đạt khoảng 8 tỷ USD, năm 2007 đạt 10,8 tỷ USD, năm 2008 đạt 16,2 tỷ USD chiếm tỷ trọng 25,8% tổng giá trị xuất khẩu của cả nước) Với vai trò quan trọng của mình, trong năm 2008 , các doanh nghiệp KCN đã nộp vào ngân sách cả nhà nước khoảng 2,6 tỷ USD Thống kê của Bộ KH & ĐT cho thấy, giá trị sản xuất kinh doanh trên 1 ha diện tích đất công nghiệp đã cho thuê đạt 1,68 triệu USD/năm.[1]
KCN đóng góp đáng kể vào kết quả thu hút đầu tư cả nước, đặc biêt là thu hút đầu tư nước ngoài Tính bình quân 1 ha đất công nghiệp đã cho thuê thu hút vốn đầu tư bình quan khoảng 3,8 triệu USD Tính đến hết năm 2008, các KCN rong cả nước thu hút được 3.564 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tông vốn đăng ký là 42,7 tỷ USD; 3.588 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký là251.542 tỷ đồng (tương đương 14,8 tỷ USD) Riêng năm 2008, các KCN đã thu hút gần 59.200 tỷ đồng đầu tư trong nước, trong đó có 524 dự án mới với tổng vốn đăng ký là 53.255 tỷ đồng và điều chỉnh 173 dự án với tổng vốn đầu tư tăng thêm đạt 5945 tỷ đồng [1] [13].
Bảng 2.1 Sự phát triển của khu công nghiêp ở nước ta
Tổng số dự án nước ngoài
Số dự án nước ngoài mở mới
Tổng vốn đầu tư nước ngoài cấp mới
Tỷ lệ so với tổng số vốn đầu tư nước ngoài đăng ký cả nước (%)
Số dự án nước ngoài tăng vốn
Tổng vốn đầu tư nước ngoài xin tăng
(tỷ USD) Tổng số dự án trong nước
Số sự án trong nước mở mới
Tổng vốn đầu tư trong nước
Bên cạnh thu hút vốn đầu tư nước ngoài, một số đóng góp rất lớn đó là góp phần vào việc tiếp thu công nghệ hiện đại Trong thời gian làm việc trực tiếp với phía nước ngoài, các chuyên gia, kỹ sư thậm chí công nhân nước ta cũng có cơ hội học hỏi được kinh nghiệm tổ chức quản lý điều hành sản xuất tiên tiến của họ.
KCN, KCX góp phần tạo công ăn việc làm Hoạt động của KCN, KCX đòi hỏi một lực lượng lao động tương đối lớn chính vì vậy rất nhiều người lao động có cơ hội có công ăn việc làm Ngoài ra việc xây dựng xí nghiệp sản xuất, dịch vụ hỗ trợ bên ngoài đã giải quyết được một số lượng lớn lao động các vùng lân cận.
KCN, KCX thúc đẩy phát triển kinh tế Các KCN, KCX nước ta đang ngày càng chứng tỏ vai trò đầu tàu trong phát triển kinh tế, công nghiệp, là động lực quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nâng cao tỷ trọng công nghiệp - dịch vụ, góp phần vào công cuộc CNH, HÐH tại các địa phương, nhất là những nơi mà điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn Theo Bộ Kế hoạch và Ðầu tư, giá trị sản xuất công nghiệp của các KCN, KCX tạo ra mỗi năm lên đến
20 - 25 tỷ USD, tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp của các doanh nghiệp trong KCN, KCX so với tổng giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước đã tăng lên đáng kể, từ mức 17% năm 2001 lên khoảng 30% năm 2010 Các KCN, KCX hiện giải quyết việc làm cho gần 1,5 triệu lao động [14] [23].
Quá trình phát triển các KCN ở Việt Nam thời gian qua đã có những tác động tích cực đối với nền kinh tế nói chung và công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa nói riêng Vai trò quan trọn của KCN đã được thể hiện rõ trong sự đóng góp của KCN vào tốc độ tăng trưởng kinh tế và dịch chuyển cư cấu kinh tế tạo nên một số ngành có năng lực cạnh tranh, một vài ngành công nghệ cao cũng như sự chuyển giao công nghệ tiên tiến hơn, kỹ năng quản lý và tiêp thụ, đào tạo tay nhề cho người lao động Việt Nam.
2.1.3 Những vấn đề môi trường phát sinh từ khu công nghiệp
Thực trạng phát sýnh chất thải rắn, nước thải công nghiệp ở Việt Nam
từ 25.000 tấn (năm 1999) lên khoảng 30.000 tấn; trong đó, lượng rác thải công nghiệp chiếm khoảng 20%, phần lớn tập trung tại các KCN, KCX ở vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và phía Nam (chiếm khoảng 50%)[25] Ngoài ra, quy hoạch hệ thống giao thông và cây xanh của nhiều KCN chưa được quan tma đúng mức. Cây xanh được trồng trong nhiều KCN vẫn mang tính đối phó, phần nhiều là cỏ, cây cảnh chưa trồng được nhiều cây tạo bóng mát và sinh khối lớn có tác dụng bảo vệ môi trường.
Sự phát triển KCN đã gây sức ép không nhỏ đến môi trường, đến cuộc sống của ngươi lao động và cộng đồng xung quanh, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của đất nước.
2.2 THỰC TRẠNG PHÁT SİNH CHẤT THẢI RẮN, NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM
2.2.1 Thực trạng phát sinh chất thải rắn công nghiệp
Chất thải rắn phát sinh từ các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao (gọi chung là khu công nghiệp) bao gồm CTR sinh hoạt và CTR công nghiệp Trong đó, CTR công nghiệp được chia thành CTR thông thường và chất thải rắn nguy hại Lượng CTR phát sinh từ các KCN phụ thuộc vào diện tích cho thuê, diện tích sử dụng, tính chất và loại hình công nghiệp của KCN Tính chất và mức độ phát thải trên đơn vị diện tích KCN hiện tại chưa ổn định do tỷ lệ lấp đầy còn thấp, quy mô và tính chất của các loại hình doanh nghiệp vẫn đang có biến động lớn.
Theo Vụ quản lý các khu kinh tế thuộc bộ Kế hoạch và Đầu tư, mỗi ngày các KCN Việt Nam hiện nay thải ra khoảng 8.000 tấn CTR, tương đương khoảng gần 3 triệu tấn CTR mỗi năm Tuy nhiên, lượng CTR đang tăng lên cùng với việc gia tăng tỷ lệ lấp đầy các KCN Tính trung bình cả nước, năm 2005 – 2006, 1ha diện tích đất cho thuê phát sinh CTR khoảng 134 tấn/năm Đến nay 2008 – 2009, con số đó đã tăng lên 204 tấn/năm, mức tăng khoảng 50% tức trung bình 10% mỗi năm Sự gia tăng phát thải trên đơn vị diện tích phản ánh sự thay đổi trong cơ cấu sản xuất công nghiệp, xuất hiện các ngành có mức phát thải cao và quy mô ngày càng lớn tại các KCN Tại 3 vùng kinh tế trọng điểm chiếm khoảng 80% tổng lượng CTR công nghiệp, trong đó lớn nhất là vùng kinh tế trọng điểm phía Nam [8][23].
Theo kết quả tính, tổng phát thải CTR từ các KCN năm 2015 sẽ vào khoảng
6 – 7,5 triệu tấn/năm, và đạt khoảng 9 – 13,5 triệu tấn/năm vào năm 2020 Theo đánh giá của các chuyên gia, thành phần chất thải rắn KCN có thể thay đổi theo hướng gia tăng CTR nguy hại Kết quả của quá trình gia tăng mức độ công nghiệp hóa và sử dụng hóa chất ngày càng cao [7].
Bảng 2.2 Ước tính và dự báo CTR các KCN của Việt Nam đến 2020
Nguồn: Viện nghiên cứu Chiến lược và Chính sách Công nghiệp, Bộ Công thương (2011)
Phương án 1 mức phát thải các năm 2005, 2010, 2015, 2020 lần lượt 134, 200, 200,200(tấn/ha/năm). Phương án 2 mức phát thải các năm 2005, 2010,2015, 2020 lần lượt 134, 200, 250, 300 (tấn/ha/năm). Diện tích tính dự báo là diện tích cho thuê và có hoạt động sản xuất Công thức tính: tổng CTR = mức phát thải năm của mỗi ha (tấn/ha/năm) x tổng diện tích cho thuê.
Hoạt động sản xuất tại các KCN đã phát sinh lượng không nhỏ chất thải rắn và chất thải nguy hại Thành phần, khối lượng phụ thuộc vào loại hình công nghiệp đầu tư.Qua khảo sát một số KCN cho thấy, trong thành phần chất thải rắn của các KCN, tỷ lệ chất thải nguy hại thường chiếm dưới 20% nếu được phân loại tốt, trong đó tỷ lệ các chất có thể tái chế hay tái sử dụng cũng khá cao (kim loại, hóa chất ) và những thành phần có nhiệt trị cao không nhiều (sơn, cao su
.) Tuy nhiên trên thực tế cũng cần lưu ý vì có nhiều KCN mới nhất là ngành điện tử tỷ lệ chất thải nguy hại có thể vượt con số 20% [2].
Tổng lượng chất thải rắn trung bình của cả nước đã tăng từ 25.000 tấn/ngày ( năm 1999) lên khoảng 30.000 tấn/ngày ( năm 2005), trong đó lượng chất thải rắn từ hoạt động công nghiệp có xu hướng gia tăng, phần lớn tập trung tại các KCN ở vùng KTTĐ Bắc Bộ và vùng KTTĐ phía Nam Trong những năm gần đây, cùng với sự mở rộng của các KCN, lượng chất thải rắn từ các KCN đã tăng đáng kể. Trong đó lượng chất thải nguy hại gia tăng với mức độ khá cao Biểu đồ Theo số liệu tính toán, chất thải rắn phát sinh từ các KCN phía Nam chiếm tỷ trong lớn nhát so với các vùng khác trong toàn quốc, lên tới gần 3.000 tấn /ngày Lượng chất thải nguy hại phát sinh ở vùng KTTĐ phía Nam nhiều gấp 3 lần lượng chất thải nguy hại phát sinh ở vùng KTTĐ Bắc Bộ và nhiều gấp khoảng 20 lần lượng chất thải nguy hại phát sinh ở vùng KTTĐ miền Trung [12].
Bảng 2.3 Khối lượng chất thải rắn từ các khu công nghiêp phía Nam, 2008
Nguồn: Trung tâm Công nghệ môi trường ENTEC (tháng 5/2009)
Phần lớn chất thải nguy hại được phát sinh từ các hoạt động sản xuất công nghiệp Tổng lượng chất thải nguy hại do Công ty Môi trường đô thị URENCO HàNội thu gom trong 1 tháng ( của năm 2009) là khoảng 2.700 tấn/ tháng, trong đó số lượng chất thải nguy hại có nguồn gốc từ các hoạt động sản xuất công nghiệp (dầu thải, dung môi, bùn thải, dung dịch tẩy rửa, bao bì hóa chất ) đã là 2.100 tấn/tháng Điều đó chứng tỏ tỷ lệ chất thải nguy hại phát sinh từ sản xuất công nghiệp (các ngành điện tử, sản xuất hóa chất, lắp ráp thiêt bị cao cấp ) cao hơn
Tại tỉnh Bắc Ninh, lượng chất thải công nghiệp trên địa bàn tỉnh phát sinh ước tính khoảng 450 tấn/ngày, trong đó chất thải nguy hại khoảng 48 tấn/ngày chiếm 10,7% Hầu hết các khu, khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh đều không xây dựng khu vực tạp kết, trung chuyển chất thải tập trung ( nguồn: Sở TN & MT Bắc Ninh, 2009).
Theo ước tính năm 2010, khối lượng chất thải rắn công nghiệp của Việt Nam sẽ là 4,8 triệu tấn/năm, trog đó chất thải nguy hại là 630.000 tấn Khu vực phía Nam, đặc biệt là Đông Nam Bộ, hiện là khu vực phát sinh nhiều chất thải rắn công nghiệp nhất So sánh con số phát sinh chất thải rắn công nghiệp của các địa phương thì Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh là hai địa phương đứng đầu [13]
Bảng 2.4 Tổng lượng chất thải rắn ở một số tỉnh Nam Việt Nam
Khối lượng chất thải rắn công nghiệp (tấn/ngày)
Nguồn: Trung tâm công nghệ Môi trường ENTEC (tháng 5/2009)
2.2.2 Thực trạng phát sinh nước thải công nghiệp
Sự gia tăng nước thải từ các KCN trong những năm gần đây là rất lớn Tốc độ gia tăng này cao hơn nhiều so với sự gia tăng tổng lượng nước thải từ các lĩnh vực trong toàn quốc Lượng nước thải từ các KCN phát sinh lớn nhất ở khu vực Đông Nam Bộ, chiếm 49% tổng lượng nước thải các KCN và thấp nhất ở khu vực Tây Nguyên 2% [2]
Theo số liệu thống kê đến cuối tháng 6 năm 2015, trong tổng số 214 khu công nghiệp đang hoạt động trong cả nước có 166 khu công nghiệp đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung (chiếm 78%), 24 khu công nghiệp đang xây dựng hệ thống xử lý nước thải (chiếm 11%).[3] Chất lượng nước thải đầu ra của các KCN phụ thuộc rất nhiều vào việc nước thải có được xử lý hay không Hiện nay, rất nhiều KCN đã đi vào hoạt động mà hoàn toàn chưa triển khai xây dựng hạng mục này Nhiều KCN đã có hệ thống xử lý nước thải tập trung nhưng tỷ lệ đấu nối của các doanh nghiệp trong KCN còn thấp Nhiều nơi doanh nhiệp xây dựng hệ thống xử lý nước thải cục bộ nhưng không vận hành hoặc không hiệu quả Thực trạng trên đã dấn đến việc phần lớn nước thải của các KCN khi xả thải ra môi trường đều có các thông số ô nhiêm cao hơn nhiều lần so với QCVN [6].
Nước thải từ các KCN đã góp phần làm cho tình trạng ô nhiễm tại các sông, hồ, kênh, rạch trở nên trầm trọng hơn Những nơi tiếp nhận nước thải của các KCN đã bi ô nhiễm nặng nề, nhiều nơi nguồn nước không thể sử dụng cho bất kỳ mục đích nào Kênh Bàu Lăng, Quảng Ngãi, vốn là nơi cung cấp nước cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, do tiếp nhận nước thải của KCN Quảng Phú từ nhiều năm nay đã trở thành kênh nước thải, bị ô nhiễm nghiêm trọng với mùi hôi thối khó chịu Sông Hoài, Quảng Nam và một số con suối khác trong khu vực đã biến thành mầu đen do tiếp nhận nước thải của KCN Điện Nam – Điện Ngọc Tình trạng ô nhiễm không chỉ dừng lại ở hạ lưu các con sông mà lan lên tới cả phần thượng lưu theo sư phát triển của các KCN Kết quả quan trắc chát lượng nước cả 3 lưu vực sông Đồng Nai, Nhuệ - Đáy và Cầu đều cho thấy bên cạnh nguyên nhân do tiếp nhận nước thải sinh hoạt từ các đô thị trong lưu vực, những khu vực chịu tác động của nước thải KCN có chất lượng nước sông bị suy giảm mạnh, nhiều chỉ tiêu như BOD5, COD, NH4 +
, tổng N, tổng P đều cao hơn QCVN nhiều lần Tại một số khu vực, do việc đầu tư hàng loạt các KCN không đi kèm hoặc chậm triển khai các biện pháp kiểm soát ô nhiễm tại nguồn, chất lượng nước mặt của nguồn tiếp nhạ đã diễn biến theo chiều hướng xấu đi Lưu vực sông Cầu nhiều đoạn đã bị ô nhiễm nặng Ô nhiễm cao nhất là đoạn sông Cầu chảy qua địa phận thành phố TháiNguyên, đặc biệt là tại các điểm thải của Nhà máy Giấy Hoàng Văn Thụ, KhuGang thép Thái Nguyên chất lượng nước không đạt QCVN Tiếp đến là đoạn sông Cà Lô, hạ lưu sông Công, chất lượng nước không đạt QCVN giới hạn A và một số yếu tố không đạt QCVN giới hạn B Lưu vực sông Đáy hiện nay nước của trục sông chính đã bị ô nhiễm ở những mức độ khác nhau Một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước mặt trên lưu vực sông là nước thải từ cácKCN và các cơ sở sản xuất không qua xử lý xả thải thẳng ra môi trường hòa với nước thải sinh hoạt [9][15].
Tác hại của chất thải rắn và nước thải công nghiệp đến môi trường 2.4 Công tác quản lý chất thải rắn, nước thải tại các khu công nghiệp trên thế giới và Việt Nam
2.3.1 Tác hại của chất thải rắn công nghiệp đến môi trường
Việc quản lý chất thải rắn (CTR) không hợp lý, xử lý CTR không hợp kỹ thuật vệ sinh là những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí, sức khỏe con người và sự phát triển kinh tế, xã hội.
Tại Việt Nam, hoạt động phân loại CTR tại nguồn chưa được phát triển rộng rãi, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật còn hạn chế, phần lớn phương tiện thu gom CTR không đạt quy chuẩn kỹ thuật và không đảm bảo vệ sinh môi trường Các điểm tập kết CTR (điểm hẹn, trạm trung chuyển) chưa được đầu tư xây dựng đúng mức, gây mất vệ sinh Tại nhiều khu vực, hệ thống vận chuyển chưa đáp ứng nhu cầu vận chuyển CTR hàng ngày, gây tình trạng tồn đọng CTR trong khu dân cư Nhìn chung, tất cả các giai đoạn quản lý CTR từ khâu thu gom, vận chuyển đến khâu xử lý (chôn lấp, đốt) đều gây ô nhiễm môi trường.
* Ô nhiễm môi trường không khí
CTR đặc biệt là CTR hữu cơ dưới tác động của nhiệt độ, độ ẩm và các vi sinh vật, CTR hữu cơ bị phân hủy và sản sinh ra các chất khí (CH4 - 63.8%, CO2
- 33.6%, và một số khí khác) Trong đó, CH4 và CO2 chủ yếu phát sinh từ các bãi rác tập trung (chiếm 3 - 19%), đặc biệt tại các bãi rác lộ thiên và các khu chôn lấp Khối lượng khí phát sinh từ các bãi rác chịu ảnh hưởng đáng kể của nhiệt độ không khí và thay đổi theo mùa Lượng khí phát thải tăng khi nhiệt độ tăng, lượng khí phát thải trong mùa hè cao hơn mùa đông Đối với các bãi chôn lấp, ước tính 30% các chất khí phát sinh trong quá trình phân hủy rác có thể thoát lên trên mặt đất mà không cần một sự tác động nào Khi vận chuyển và lưu giữ CTR sẽ phát sinh mùi do quá trình phân hủy các chất hữu cơ gây ô nhiễm môi trường không khí Các khí phát sinh từ quá trình phân hủy chất hữu cơ trong CTR: Amoni có mùi khai, phân có mùi hôi, Hydrosunfur mùi trứng thối, Sunfur hữu cơ mùi bắp cải thối rữa, Mecaptan hôi nồng, Amin mùi cá ươn, Diamin mùi thịt thối, Cl2 hôi nồng, Phenol mùi ốc đặc trưng Bên cạnh hoạt động chôn lấp CTR, việc xử lý CTR bằng biện pháp tiêu hủy cũng góp phần đáng kể gây ô nhiễm môi trường không khí. Việc đốt rác sẽ làm phát sinh khói, tro bụi và các mùi khó chịu CTR có thể bao gồm các hợp chất chứa Clo, Flo, lưu huỳnh và nitơ, khi đốt lên làm phát thải một lượng không nhỏ các chất khí độc hại hoặc có tác dụng ăn mòn Mặt khác, nếu nhiệt độ tại lò đốt rác không đủ cao và hệ thống thu hồi quản lý khí thải phát sinh không đảm bảo, khiến cho CTR không được tiêu hủy hoàn toàn làm phát sinh các khí CO, oxit nitơ, dioxin và furan bay hơi là các chất rất độc hại đối với sức khỏe con người Một số kim loại nặng và hợp chất chứa kim loại (như thủy ngân, chì) cũng có thể bay hơi, theo tro bụi phát tán vào môi trường Mặc dù, ô nhiễm tro bụi thường là lý do khiếu nại của cộng đồng vì dễ nhận biết bằng mắt thường, nhưng tác nhân gây ô nhiễm nguy hiểm hơn nhiều chính là các hợp chất (như kim loại nặng, dioxin và furan) bám trên bề mặt hạt bụi phát tán vào không khí Tác động tiềm tàng của các chất khí phát sinh từ bãi rác bao gồm: Gây cháy nổ do sự tích tụ của các chất khí trong khu vực kín; Gây thiệt hại mùa màng và ảnh hưởng đến hệ thực vật do tác động đến lượng oxy trong đất Một số loại khí (như NH3, CO,và các axit hữu cơ bay hơi) tuy phát sinh ít nhưng rất độc hại đối với thực vật và có khả năng hạn chế sự phát triển của thực vật; Gây khó chịu do mùi hôi thối từ các bãi rác sản sinh ra các khí NH3, H2S, CH3; Gây tiếng ồn do vận hành các máy ép của hệ thống thu khí, các xe vận chuyển và nhà máy xử lý rác; Gây hiệu ứng nhà kính do sự phát sinhcủa CH4 và CO2.
CTR không được thu gom, thải vào kênh rạch, sông, hồ, ao gây ô nhiễm môi trường nước, làm tắc nghẽn đường nước lưu thông, giảm diện tích tiếp xúc của nước với không khí dẫn tới giảm DO trong nước Chất thải rắn hữu cơ phân hủy trong nước gây mùi hôi thối, gây phú dưỡng nguồn nước làm cho thủy sinh vật trong nguồn nước mặt bị suy thoái CTR phân huỷ và các chất ô nhiễm khác biến đổi màu của nước thành màu đen,có mùi khó chịu Thông thường các bãi chôn lấp chất thải đúng kỹ thuật có hệ thống đường ống, kênh rạch thu gom nước thải và các bể chứa nước rác để xử lý trước khi thải ra môi trường Tuy nhiên, phần lớn các bãi chôn lấp hiện nay đều không được xây dựng đúng kỹ thuật vệ sinh và đang trong tình trạng quá tải, nước rò rỉ từ bãi rác được thải trực tiếp ra ao, hồ gây ô nhiễm môi trường nước nghiêm trọng.Sự xuất hiện của các bãi rác lộ thiên tự phát cũng là một nguồn gây ô nhiễm nguồn nước đáng kể Tại các bãi chôn lấp chất thải rắn, nước rỉ rác có chứa hàm lượng chất ô nhiễm cao (chất hữu cơ: do trong rác có phân súc vật, các thức ăn thừa ; chất thải độc hại: từ bao bì đựng phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, mỹ phẩm) Nếu không được thu gom xử lý sẽ thâm nhập vào nguồn nước dưới đất gây ô nhiễm môi trường nước nghiêm trọng Cụ thể, tại tỉnh Nghệ An, dòng nước bẩn thải ra từ bãi rác và nhà máy xử lý rác chảy đến hồ Bảy Mẫu (xóm Đông Vinh, xã Hưng Đông, thành phố Vinh). Trước đây, hồ là nơi giặt giũ, lấy nước tưới cho hoa màu nhưng khi bãi rác và nhà máy xử lý rác xuất hiện thì nguồn nước bị ô nhiễm; Chuyển sang nuôi cá, cá chết trắng bụng 120 hộ dân trong xóm dùng giếng khoan, giếng nóng để lấy nước sinh hoạt, nay cũng bị nước bẩn ngấm vào.Tại tỉnh Quảng Trị: bãi rác ngày càng cao lên, tràn ra cả đường đi, bốc lên mùi hôi rất khó chịu đối với các gia đình sống trên địa bàn khu phố 1 và 2A, phường 1, thị xã Quảng Trị Những ngày mưa, nước từ bãi rác không thấm được xuống đất đã tràn về các khu dân cư, chảy xuống hồ Tích Tường, nơi có nguồn nước cung cấp phục vụ đời sống, sinh hoạt của người dân thị xã Gần đây những vi phạm và sự cố trong quá trình thi công vận hành thử nghiệm tổ hợp nhà máy của Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh (FHS) là nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường biển nghiêm trọng, làm chết hải sản Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa thiên - Huế vào tháng 4/2016 vừa qua.
Các chất thải rắn có thể được tích lũy dưới đất trong thời gian dài gây ra nguy cơ tiềm tàng đối với môi trường Chất thải xây dựng như gạch, ngói, thủy tinh, ống nhựa, dây cáp, bê-tông trong đất rất khó bị phân hủy Chất thải kim loại, đặc biệt là các kim loại nặng như chì, kẽm, đồng, Niken, Cadimi thường có nhiều ở các khu khai thác mỏ, các khu công nghiệp Các kim loại này tích lũy trong đất và thâm nhập vào cơ thể theo chuỗi thức ăn và nước uống, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe Các chất thải có thể gây ô nhiễm đất ở mức độ lớn là các chất tẩy rửa, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc nhuộm, màu vẽ, công nghiệp sản xuất pin, thuộc da, công nghiệp sản xuất hóa chất Tại các bãi rác, bãi chôn lấp CTR không hợp vệ sinh, không có hệ thống xử lý nước rác đạt tiêu chuẩn, hóa chất và vi sinh vật từ CTR dễ dàng thâm nhập gây ô nhiễm đất Nghiên cứu của Viện Y học Lao động và Vệ sinh Môi trường cho thấy các mẫu đất xét nghiệm tại bãi rác Lạng Sơn và Nam Sơn đều bị ô nhiễm trứng giun và Coliform CTR đặc biệt là chất thải nguy hại, chứa nhiều độc tố như hóa chất, kim loại nặng, phóng xạ nếu không được xử lý đúng cách,chỉ chôn lấp như rác thải thông thường thì nguy cơ gây ô nhiễm môi trường đất rất cao.Trong khai thác khoáng sản, quá trình chế biến làm giàu quặng làm phát sinh chất thải dưới dạng quặng đuôi, chứa các kim loại và các hợp chất khác ảnh hưởng đến môi trường Một vài mỏ hiện vẫn thải quặng đuôi trực tiếp xuống đất, làm đất bị ảnh hưởng xấu.
* Ảnh hưởng tới đời sống, sức khỏe người dân
Việc quản lý và xử lý CTR không hợp lý không những gây ô nhiễm môi trường mà còn ảnh hưởng rất lớn tới sức khoẻ con người, đặc biệt đối với người dân sống gần khu vực làng nghề, khu công nghiệp, bãichôn lấp chất thải Người dân sống gần bãi rác không hợp vệ sinh có tỷ lệ mắc các bệnh da liễu, viêm phế quản, đau xương khớp cao hơn hẳn những nơi khác Một nghiên cứu tại Lạng Sơn cho thấy tỷ lệ người ốm và mắc các bệnh như tiêu chảy, da liễu, hô hấp tại khu vực chịu ảnh hưởng của bãi rác cao hơn hẳn so với khu vực không chịu ảnh hưởng. Hiện tại chưa có số liệu đánh giá đầy đủ về sự ảnh hưởng của các bãi chôn lấp tới sức khỏe của những người làm nghề nhặt rác thải Những người này thường xuyên phải chịu ảnh hưởng ở mức cao do bụi, mầm bệnh, các chất độc hại, côn trùng đốt/chích và các loại hơi khí độc hại trong suốt quá trình làm việc Vì vậy, các chứng bệnh thường gặp ở đối tượng này là các bệnh về cúm, lỵ, giun, lao, dạ dày, tiêu chảy, và các vấn đề về đường ruột khác.Các bãi chôn lấp rác cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ khác đối với cộng đồng làm nghề này Các vật sắc nhọn, thuỷ tinh vỡ, bơm kim tiêm cũ, có thể là mối đe dọa nguy hiểm với sức khoẻ con người(lây nhiễm một số bệnh truyền nhiễm như AIDS, ) khi họ dẫm phải hoặc bị cào xước vào tay chân, Một vấn đề cần được quan tâm là, do chiếm tỷ lệ lớn trong những người làm nghề nhặt rác, phụ nữvà trẻ em đã trở thành nhóm đối tượng dễ bị tổn thương.Cụ thể, sự cố vỡ đập chắn nước thải tuyển rửa quặng của xí nghiệp khai thác quặng sắt Nà Lũng, xã Duyệt Trung, thị xã Cao Bằng (thuộc Công ty khoáng sản luyện kim Cao Bằng) Việc vỡ đập là do trong quá trình xây dựng đập, công ty này đã không lu lèn, chỉ đổ đất lấp xuống khe đồi chắn nước lại thành đập Sự cố tràn bùn đỏ (bùn thải chứa ôxit sắt nên có màu đỏ) trên đã gây ngập bùn khoảng 4ha diện tích lúa gây thiệt hại đáng kể cho người dân Cao Bằng (Sở TN&MT Cao Bằng, 2011).
2.3.2 Tác hại của nước thải công nghiệp đến môi trường
Nguồn nước ô nhiễm có tác hại nghiêm trọng tới sức khỏe con người, tác hại của nó tỉ lệ với người mắc bệnh cấp và mãn tính như tiêu chảy, ưng thư da Tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá khá nhanh và sự gia tăng dân số gây áp lực ngày càng nặng nề đối với tài nguyên nước trong vùng lãnh thổ Môi trường nước ở nhiều đô thị, khu công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ô nhiễm bởi nước thải, khí thải và chất thải rắn Ở các thành phố lớn, đông dân chất thải do sinh hoạt cũng là một nguyên nhân quan trọng đang gây ô nhiễm môi trường nước Ô nhiễm nước do sản xuất công nghiệp là rất nặng.
Cụ thể ở các ngành công nghiệp dệt may, ngành công nghiệp giấy và bột giấy, nước thải thường có độ pH trung bình từ 9-11, chỉ số nhu cầu ôxy sinh hoá (BOD), nhu cầu ôxy hoá học (COD) có thể lên đến 700mg/1 và 2.500mg/1, hàm lượng chất rắn lơ lửng cao gấp nhiều lần giới hạn cho phép Hàm lượng nước thải của các ngành này có chứa xyanua (CN-) vượt đến 84 lần, H2S vượt 4,2 lần, hàm lượng NH3 vượt 84 lần tiêu chuẩn cho phép nên đã gây ô nhiễm nặng nề các nguồn nước bề mặt trong vùng dân cư Tại KCN thuỷ sản Thọ Quang, hiện mới chỉ có 10 doanh nghiệp đầu tư, hoạt động, nhưng đã có đến 7 doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Ngoài cả ngàn mét khối nước thải ô nhiễm đổ trực tiếp từ các nhà máy chế biến ra sông Hàn, gây mùi hôi thối nồng nặc cả vùng trời, việc phơi phóng thuỷ - hải sản, xác tôm cá khi xay chế biến thức ăn gia súc cũng góp phần gây ô nhiễm nghiêm trọng bầu không khí Hàng trăm hộ dân gần KCN thuỷ sản Thọ Quang cũng đã phản ứng dữ dội khi nhà máy chế biến thức ăn
A Zet thải khói trắng cùng mùi hôi thối quá mức ra môi trường, ảnh hưởng đến
400 hộ dân khu vực xung quanh (Cổng thông tin Bộ NN&PTNT, 2011).
Theo báo cáo môi trường quốc gia năm 2009 do Bộ tài nguyên và môi trường công bố ngày 1/6/2010, Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn về ô nhiễm môi trường do chất thải, nước thải và khí thải công nghiệp, nếu không được giải quyết tốt sẽ gây ra thảm họa về môi trường và biến đổi khí hậu, tác động nghiêm trọng đến đời sống, sức khỏe cộng đồng hiện tại và tương lai, phá hỏng những thành tựu công nghiệp nói riêng và triển kinh tế, tiến bộ xã hội nói chung ở Việt Nam.Tình trạng ô nhiễm không chỉ dừng lại ở hạ lưu các con sông mà lan lên tới cả phần thượng lưu Kết quả quan trắc chất lượng cả 3 lưu vực sông Đồng Nai, Nhuệ - Đáy và sông Cầu đều cho thấy bên cạnh nguyên nhân do tiếp nhận nước thải sinh hoạt, những khu vực chịu tác động của nước thải KCN có chất lượng nước sông bị suy giảm mạnh, nhiều chỉ tiêu cao hơn quy định nhiều lần.Khoảng 70% trong số hơn một triệu m3 nước thải/ngày từ các khu công nghiệp(KCN) được xả thẳng ra các nguồn tiếp nhận không qua xử lý gây ô nhiễm môi trường Có đến 57% số KCN đang hoạt động chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung Đây là những con số báo động về thực trạng môi trường tại các KCN ViệtNam Tính đến tháng 10/2009, toàn quốc có khoảng 223 KCN được thành lập theoQuyết định của Chính phủ Trong đó, 171 KCN đã đi vào hoạt động, với tổng diện tích đất gần 57.300ha, đạt tỷ lệ lấp đầy trung bình khoảng 46%.Thực tiễn cho thấy,các KCN có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở ViệtNam Các KCN là nhân tố chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng, công nghiệp, tăng khả năng thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước vào phát triển công nghiệp, đẩy mạnh xuất khẩu, tạo công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp tích cực, quá trình phát triển các KCN ở Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn về ô nhiễm môi trường do chất thải, nước thải và khí thải công nghiệp.Ô nhiễm môi trường từ các KCN ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái tự nhiên Đặc biệt, nước thải không qua xử lý của cácKCN xả thải trực tiếp vào môi trường gây thiệt hại không nhỏ tới hoạt động sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản tại các khu vực lân cận Theo các chuyên gia môi trường, sự gia tăng nước thải từ các KCN trong những năm gần đây là rất lớn Lượng nước thải từ các KCN phát sinh lớn nhất ở khu vực Đông Nam Bộ,chiếm 49% tổng lượng nước thải các KCN và thấp nhất ở khu vực Tây Nguyên là2% Hiện nay, tỷ lệ các KCN đã đi vào hoạt động có trạm xử lý nước thải tập trung chỉ chiếm khoảng 43%, nhiều KCN đã có hệ thống xử lý nước thải tập trung nhưng tỷ lệ đấu nối của các doanh nghiệp trong KCN còn rất thấp Thực trạng trên đã dẫn đến việc phần lớn nước thải của các KCN khi xả ra môi trường đều có có các thông số ô nhiễm cao hơn nhiều lần so với quy định.Bên cạnh đó, không khí ở các KCN, nhất là các KCN cũ, đang bị ô nhiễm, do các nhà máy trong KCN sử dụng công nghệ sản xuất lạc hậu hoặc chưa đầu tư hệ thống xử lý khí thải trước khi thải ra môi trường Lượng chất thải rắn tại các KCN ngày càng gia tăng, nhưng vấn đề thu gom và xử lý chất thải tại các KCN còn nhiều bất cập, nhất là đối với việc quản lý, vận chuyển và đăng ký nguồn thải đối với chất thải nguy hại.Công tác bảo vệ môi trường còn nhiều tồn tại như: phân cấp trong hệ thống quản lý môi trường KCN chưa rõ ràng, tỷ lệ xây dựng và vận hành các công trình xử lý môi trường tại các KCN còn thấp Năm 2010, Tổng cục môi trường đã tiến hành thanh tra, kiểm tra diện rộng tại các KCN, đặc biệt là kiểm tra chặt chẽ các lưu vực sông lớn của Việt Nam, bởi muốn chặn đứng ô nhiễm lưu vực sông thì phải chặn đứng nguồn thải ra sông.
2.4 CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN, NƯỚC THẢI TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆPTRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
2.4.1 Công tác quản lý chất thảı rắn tạı các khu công nghiệp trên thế giới và Việt Nam
Trên thế giới các quốc gia đặc biệt là các nước tiên tiến như Châu Âu, Mỹ Nhật ,Úc …ngày càng hoàn thiện bộ Luật bảo vệ môi trường của mình, và trong đó các quy chế quản lý các chất thải nguy hại là các thành phần không thể thiếu được của bộ Luật.Mặc dù vẫn còn nhiều khác biệt trong nội dung các điều khoản của các bộ Luật giữa những quốc gia khác nhau, nhưng nhìn chung các bộ Luật điều đã chỉ rõ được mối quan tâm của nhà nước đối với công tác quản lý chất thải nguy hại Vượt ra ngoài biên giới quốc gia, những công ước quốc tế có liên quan đến việc quản lý chất thải nguy hại cũng đã lần lượt ra đời , nói lên được sự cảnh báo cùng các mối quan tâm sâu sắc của toàn nhân loại đối với các chất thải nguy hiểm đang tồn tại và đe doạ cuộc sống xung quanh chúng ta và cần phải có sự phối hợp hành động của nhiều quốc gia trong việc quản lý các chất thải nguy hiểm này. Vấn đề quản lý chất thải nói chung và quản lý chất thải nguy hại nói riêng ở nước ta và một số nước trên thế giới là vấn đề rất nhạy cảm Bởi vì chất thải sinh ra ngày càng nhiều , trong đó lượng chất thải nguy hại là đáng kể Các hoá chất độc hại tồn lưu trong chiến tranh , các loại thuốc bảo vệ thực vật không còn giá tri sử dụng hiện còn tồn đọng khá nhiều buộc chúng ta phải xử lý , trong khi đó năng lực quản lý chất thải nguy hại nói chung và xử lý chất thải nguy hại nói riêng của chúng ta còn quá yếu
Trong nhiều năm qua, công tác quản lý CTR đã nhận được rất nhiều sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, thể hiện bằng các chính sách, pháp luật quản lý CTR đã được quy định trong Luật BVMT 1994, Luật BVMT2005, trong Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, và cụ thể là trong Chiến lược quản lý CTR tại các đô thị và KCN ở Việt Nam năm
1999, nay được thay thế bằng Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp CTR tới năm 2025 và tầm nhìn tới năm 2050.Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp CTR tới năm 2025 và tầm nhìn tới năm 2050 và Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.
Các chiến lược này đã đặt ra các mục tiêu cụ thể có ý nghĩa định hướng cho các công tác quản lý CTR hiện nay Tuy nhiên, kết quả đạt được trên thực tế vẫn còn hạn chế so với yêu cầu của Chiến lược đề ra, các mục tiêu quản lý CTR đặt ra còn gặp rất nhiều khó khăn trong việc triển khai thực hiện cũng như hoàn thành mục tiêu Theo đánh giá của Báo cáo môi trường quốc gia hàng năm, hầu hết các chỉ tiêu bảo vệ môi trường về CTR đã được xác định trong Chiến lược và trong Nghị định số 59/2007/NĐ-CP3 đều không đạt (Bảng 2.5).
Thể chế, chính sách và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong quản lý CTR ở nước ta dù đã có những bước tiến bộ đáng ghi nhận, nhưng còn chưa đầy đủ, đồng bộ hoặc còn chồng chéo; chưa có một quy định thống nhất, toàn diện cho công tác quy hoạch quản lý CTR quốc gia Một số chính sách đã được ban hành nhưng cơ chế triển khai, các văn bản hướng dẫn vẫn còn thiếu dẫn đến việc triển khai không hiệu quả hoặckhông thể đi vào thực tế Vấn đề triển khai thực hiện chưa thực sự phát huyhiệu quả, thể hiện ở việc chưa đạt các chỉ tiêu môi trường đã đặt ra Hiệnnay các văn bản quy phạm pháp luật quy định về một số vấn đề có tính thenchốt đối với công tác quản lý CTR (bao gồm các vấn đề như nhân lực, bộmáy tổ chức, trình độ, các hướng dẫn kỹ thuật ) vẫn còn thiếu, dẫn đến cáchoạt động quản lý CTR khó triển khai trong thực tế, đặc biệt đối với công tácquản lýCTNH.Do không có một tổ chức đầu mối chung về quản lý CTR nên các văn bản,quy chuẩn quy phạm, quy định về quản lý CTR do nhiều Bộ ban hành.
Bảng 2.5 So sánh mức độ thực hiện các chỉ tiêu về quản lý CTR đã đặt ra đến năm 2010 trong Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia
Tỷ lệ thu gom CTR sinh
1 hoạt, CN và dịch vụ các khu đô thị, các KCN, KCX
Tỷ lệ phân loại rác tại
2 nguồn: Hộ gia đình, Doanh nghiệp
3 Tỷ lệ khu dân cư có thùng đựng rác tập trung
4 Tỷ lệ khu vực công cộng có thùng gom rác thải
CTR tại các khu đô thị,
5 KCN, KCX được xử lý đúng kỹ thuật MT
Tỷ lệ chất thải y tế ở các
6 bệnh viện được xử lý đúng kỹ thuật MT
Tỷ lệ CSSX xây dựng mới có công nghệ sạch hoặc
7 thiết bị giảm thiểu ô nhiễm, xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn MT
Tỷ lệ các CSSXKD được cấp
Giấy chứng nhận đạt 8 tiêu chuẩn môi trường hoặc
Số địa phương báo cáo: 28
Số địa phương báo cáo: 29
Số địa phương báo cáo: 15
Nguồn: Báo cáo Đánh giá tình hình thực hiện Chiến lược BVMT quốc gia đến năm
2010 và định hướng đến năm 2020, Viện Chiến lược và Chính sách TN&MT, 2011.
Công tác quản lý chất thải rắn, nước thải tại các khu công nghiệp trên địa bàn Hà Nội
2.5.1 Công tác quản lý chất thải rắn tại các khu công nghiệp trên địa bàn Hà Nội
Mỗi năm, lượng chất thải công nghiệp trên địa bàn Hà Nội là hơn 164.250 tấn, trong khi đó năm 2005 Công ty Môi trường đô thị Hà Nội chỉ thu gom và xử lý được 11.000 tấn, chiếm tỷ lệ 6,7% Hơn 93% còn lại (khoảng 153.000 tấn), không quản lý được hoặc không được thu gom xử lý theo đúng quy định.
Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Môi trường Đô thị Hà Nội (URENCO
Hà Nội) xử lý khoảng 40.000 tấn chất thải công nghiệp mỗi năm, trong đó chất thải công nghiệp thông thường là 22.500 tấn/năm và chất thải công nghiệp nguy hại là 17.500 tấn/năm.Trên địa bàn Hà Nội, Công ty Môi trường Đô thị Hà Nội(URENCO) đã được đầu tư công nghệ, thiết bị khá hiện đại xây dựng khu xử lý chất thải công nghiệp tại Khu liên hiệp xử lý chất thải Nam Sơn - Sóc Sơn - HàNội, nhưng mỗi năm đơn vị này cũng chỉ xử lý được khoảng từ 5-10% số lượng rác thải công nghiệp phát sinh trên địa bàn [1].
Bảng 2.8 Khối lượng chất thải công nghiệp tại một số KCN, Hà Nội năm 2009
Tương ứng với mỗi ngành công nghiệp, KCN khác nhau, có các hình thức thu gom CR đặc trưng khác nhau.Theo kết quả điều tra, nhiều doanh nghiệp chưa có điểm thu gom chất thải rắn công nghiệp theo đúng quy định Khảo sát của JlCA
(2011) về việc chọn lựa các hình thức thu gom chất thải cho thấy, với chất thải công nghiệp không nguy hại, hầu hết các doanh nghiệp (74,2%) ký hợp đồng thu gom hoặc xử lý chất thải Số doanh nghiệp bán chất thải chiếm 18% một số doanh nghiệp thực hiện nghiền nát làm nguyên liệu để đun Tái chế tại chỗ, tái sử dụng chất thải và trao đổi không phải là những phương pháp xử lý chính ở các KCN hiện nay Đối với CTR công nghiệp nguy hại, phần lớn các doanh nghiệp (58,4) lựa chọn phương án ký hợp đồng thu gom hoặc xử lý chất thải, không có doanh nghiệp nào lựa chọn phương án tự đốt, ủ và chôn lấp CTR công nghiệp, 37% các doanh nghiệp lựa chọn phương pháp lưu trữ tạm thời tại doanh nghiệp [3].
Chất thải nguy hại chiếm khoảng 15% - 20% lượng CTR công nghiệp Đây là nguồn ô nhiễm tiềm tàng rất đáng lo ngại cho môi trường và sức khỏe của cộng đồng.Hà Nội: có 327 cơ sở được cấp Sổ đăng ký chủ nguồn thải CTNH, chủ yếu tại các cơ sở sản xuất lớn và vừa Số lượng này còn rất thấp so với thực tế Số cơ sở thực hiện báo cáo định kỳ về quản lý CTNH theo mẫu tại Thông tư 12/2006/TT-BTNMT chỉ chiếm 14,7% Trên địa bàn Thành phố Hà Nội cũ, tổng lượng CTR công nghiệp phát sinh tại các KCN khoảng 750 tấn/ngày nhưng chỉ thu gom được khoảng 637 – 675 tấn/ngày Trong đó CTNH khoảng 97 – 112 tấn/ngày ( chiếm 13 – 15%), thu gom được khoảng 58 – 78,4 tấn/ngày ( chiếm khoảng 60 – 70%) [3].
Bảng 2.9 Lượng chất thải công nghiệp xử lý bởi URENCO Hà Nội Loại chất thải ( Tấn/năm)
Chất thải công nghiệp nguy hại
2.5.2 Công tác quản lý nước thải công nghiệp trên địa bàn Hà Nội
Thành phố Hà Nội đang gặp nhiều khó khăn trong quá trình quản lý, quy hoạch các KCN Đại đa số các KCN của Thành phố được hình thành trước khi Quy chế quản lý KCN được ban hành theo Quyết định số 105/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Việc đầu tư xây dựng các KCN tại các địa phương trên địa bàn mang tính tự phát Doanh nghiệp chủ yếu được giao đất để xây dựng trụ sở làm việc, tạo mặt bằng sản xuất kinh doanh chứ chưa chú trọng đến đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật giao thông nội bộ, cây xanh, phòng cháy chữa cháy Vì vậy, khi đi vào hoạt động các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn, nhất là các cụm đã lấp đầy, hoạt động ổn định. Đáng nói, trong tổng số 42 KCN đã đi vào hoạt động ổn định của Thành phố số KCN có hệ thống xử lý nước thải tập trung chỉ chiếm con số rất nhỏ.Tổng lượng nước thải từ các KCN trên địa bàn Hà Nội năm 2009 là 36.577 m 3 /ngày với tổng lượng các chất ô nhiễm (kg/ngày) TSS: 8.047,BOD5: 5.011, COD: 11.668,tổng N: 2.122, tổng P: 2.926 Cùng đó, do các KCN được hình thành trước quy chế quản lý nên việc lập quy hoạch, xác định chủ đầu tư không được sát sao, công tác thu hút đầu tư không chặt chẽ nên công tác quản lý sau đầu tư gặp rất nhiều khó khăn.
Thời gian qua, thành phố Hà Nội đã có nhiều nỗ lực thu gom, xử lý rác thải,nhưng việc xử lý nước thải lại chưa được quan tâm đúng mức Phần lớn nước thải trong các khu, khu công nghiệp chưa qua xử lý, xả trực tiếp ra môi trường, đe dọa nghiêm trọng tới sức khỏe cộng đồng.Tại Khu công nghiệp Thạch Thất - QuốcOai, trạm xử lý nước thải đang hoạt động có công suất 1.500 m 3 /ngày đêm.Trong khi đó, tổng lượng nước thải của cả khu công nghiệp là 10.000 m 3 /ngày đêm.Khu công nghiệp Quang Minh (huyện Mê Linh) chỉ có một trạm xử lý nước thải công suất ba nghìn m 3 /ngày đêm.Nhưng trạm này cũng chưa hoạt động hết công suất, bởi nhiều doanh nghiệp không thực hiện đấu nối đường ống thoát nước của nhà máy vào hệ thống xử lý nước thải này KCN Nội Bài (huyện Sóc Sơn) lại có tình trạng nước thải sinh hoạt được thu gom xử lý tập trung, còn nước thải sản xuất có chứa nhiều dầu mỡ, kim loại nặng thì lại do các nhà máy tự thu gom, xử lý và thải ra môi trường Việc này dẫn đến tình trạng nhiều nhà máy xả trộm nước thải sản xuất chưa xử lý hoặc xử lý chưa đạt tiêu chuẩn ra môi trường, chế độ vận hành hệ thống xử lý không nghiêm túc, không được kiểm soát chặt chẽ và cũng khó kiểm soát đầu tháng 2-2008, các chỉ số ô nhiễm nước thải của KCN Sài Đồng B đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố Theo số liệu này, ô nhiễm nước thải tại đây đã ở mức báo động So sánh với TCVN 5945-
2005 cho thấy: thông số ô nhiễm BOD5 (nhu cầu oxi sinh hóa) vượt 11,2 lần; COD (nhu cầu oxi hóa học) vượt 12,9 lần; SS (cặn lơ lửng) vượt 1,9 lần; Fe (hàm lượng sắt) vượt 3,02 lần , đặc biệt là Coliform (vi sinh vật có hại) vượt 1.100 lần mức cho phép Cũng theo số liệu của Bộ TNMT, mỗi ngày KCN Sài Đồng B thải ra môi trường từ 2.000m 3 - dưới 5.000m 3 nước thải chưa qua xử lý.
Trên thực tế còn nhiều nhà máy, cơ sở xả trộm nước thải chưa xử lý hoặc xử lý chưa đạt tiêu chuẩn ra môi trường.Trước thực trạng trên, Hà Nội đã rất nỗ lực đưa các KCN trên địa bàn thành phố vào khuôn khổ Theo đó, công tác quản lý KCN trên địa bàn thành phố được quy về một mối, do Ban quản lý đầu tư phát triển cụm, điểm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp thuộc Sở Công Thương quản lý. Thành phố cũng dùng ngân sách hỗ trợ xây dựng hệ thống xử lý nước thải tại 16 KCN, nâng tổng số lên 23/42 KCN có hệ thống xử lý nước thải tập trung Thực tế, một số KCN trên địa bàn Thành phố đã hoàn thành việc xây dựng hệ thống xử lý nước thải và đưa vào hoạt động như: xây dựng trạm xử lý nước thải tập trung của Khu công nghiệp Sài Đồng , Gia Lâm, Hà Nội từ tháng 11/2012 và hoàn thành trong quý IV năm 2013, với công suất xử lý 3200 m 3 /ngày.đêm.Trạm xử lý nước thải tập trung với công suất 2.000 m 3 /ngày/đêm tại KCN Hà Nội – Đài Tư Hệ thống thu gom và xử lý nước thải công suất 2.000 m 3 /ngày đêm tại KCN Quất Động, huyện Thường Tín Tháng 11/2015, hoàn thành và đưa vào hoạt động hệ thống hệ thống xử lý nước thải tại KCN Phú Thị, huyện Gia Lâm với công suất1000m 3 /ngày đêm .