Nhưng nhiều nhà sử học về sau cho rằng bộ máy quan lại triều Nguyễn không thực sự hủ bại, thối nát, rằng từ thời vua Gia Long 18021820 đến Minh Mạng 1820-1840, nhà Nguyễn đã "thực hiện c[r]
Trang 1Quan chế và tổ chức chính quyền trung ương
Bài chi tiết: Quan chế nhà Nguyễn
‘
Phẩm phục của quan văn (trái) và quan võ (phải)
Ngay từ sớm, Nguyễn Ánh đã phong vương, đặt quan lại cho những người theo phò tá mình Sau khi đánh bại nhà Tây Sơn và trở thành hoàng đế Gia Long, ông lại tiếp tục kiện toàn lại hệ thống hành chính và quan chế của chính quyền mới Nhà Nguyễn
về cơ bản vẫn giữ nguyên hệ thống quan chế và cơ cấu chính quyền trung ương giống như các triều đại trước đó Đứng đầu nhà nước là vua, nắm mọi quyền hành trong tay Giúp vua giải
quyết giấy tờ, văn thư và ghi chép có Văn thư phòng (năm 1829
đổi là Nội các) Về việc quân quốc trọng sự thì có 4 vị Điện Đại học sĩ gọi là Tứ trụ Đại thần, đến năm 1834 trở thành viện Cơ mật Ngoài ra còn có Tông nhân phủ phụ trách các công việc của Hoàng gia[37]
Bên dưới, triều đình lập ra 6 Bộ, đứng đầu mỗi bộ là
quan Thượng Thư chịu trách nhiệm chỉ đạo các công việc chung của Nhà nước, các bộ gồm: Bộ Lại, Bộ Hộ, Bộ Lễ, Bộ Binh, Bộ
Trang 2Hình và Bộ Công.[38] Bên cạnh 6 Bộ còn có Đô sát viện (tức là Ngự sử đài bao gồm 6 khoa) chịu trách nhiệm thanh tra quan lại, Hàn lâm viện phụ trách các sắc dụ, công văn, 5 Tự phụ trách một
số sự vụ, phủ Nội vụ coi sóc các kho tàng, Quốc tử giám phụ trách giáo dục, Thái y viện chịu trách nhiệm về việc chữa bệnh và thuốc thang, cùng với một số Ti và Cục khác
Theo Trần Trọng Kim, người ta "thường hiểu mấy chữ quân chủ
không biết mấy chữ ấy theo cái học Nho giáo có nhiều chỗ khác nhau " [1] Theo tổ chức của nhà Nguyễn, khi có việc gì quan trọng, thì vua giao cho đình thần các quan cùng nhau bàn xét Quan lại bất kỳ lớn bé đều được đem ý kiến của mình mà trình bày Việc gì đã quyết định, đem dâng lên để vua chuẩn y, rồi mới thi hành Hoàng đế tuy có quyền lớn nhưng lại không được làm điều gì trái phép thường Khi vua có làm điều gì sai thì các quan Giám Sát Ngự Sử có quyền can ngăn vua và thường là vua phải nghe lời can ngăn của những người này.[39] Quan chức của triều đình chỉ phân ra tới phủhuyện, từ tổng trở xuống thuộc về quyền
tự trị của dân Người dân tự lựa chọn lấy người của mình mà cử
ra quản trị mọi việc tại đia phương Tổng gồm có vài làng hay xã,
có một cai tổng và một phó tổng do Hội đồng Kỳ dịch của các làng
cử ra quản lý thuế khóa, đê điều và trị an trong tổng
Ngạch quan lại chia làm 2 ban văn và võ Kể từ thời vua Minh Mạng được xác định rõ rệt giai chế phẩm trật từ cửu
phẩm tới nhất phẩm, mỗi phẩm chia ra chánh và tòng 2 bậc Trừ
văn cùng phẩm với mình Quan Tổng đốc (văn) vừa cai trị tỉnh vừa chỉ huy quân lính của tỉnh nhà.[40] Lương bổng của các quan tương đối ít nhưng quan lại được hưởng nhiều quyền lợi, cha họ được khỏi đi lính, làm sưu và miễn thuế tùy theo quan văn hay võ, hàm cao hay thấp Ngoài ra con cái các quan còn được hưởng
lệ tập ấm.[41] Tuy bộ máy không thật sự cồng kềnh, nhưng tệ tham
Nguyễn có những hình phạt rất nghiêm khắc đối với tội này
Những thành quả của vương triều Nguyễn trong việc xây dựng nhà nước quân chủ phong kiến tập quyền thống nhất trên toàn lãnh thổ cũng được ghi nhận từ việc quản lý đất nước Đặc biệt là những thành tựu trong cải cách hành chính dưới triều Minh
Trang 3Mạng còn có nhiều giá trị Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân cho rằng:
“ Nhà Nguyễn có nhiều chính sách hay Chính sách Đình
Nghị: Đã đi họp là phải phát biểu Ý kiến trong Đình Nghị
phải được ghi chép Nếu không phát biểu trong kỳ họp
trước, kỳ sau sẽ không được đi họp nữa Hay chủ trương
Hầu trị: Người của địa phương không được đứng đầu trong địa phương Phải đi nơi khác làm quan, khi đến địa
phương khác, không được lấy vợ, mua đất ở đó Giám
khảo chấm thi không được tham gia khi có người nhà đi
thi, hoặc phải trình báo…Đây là những chính sách mà
Triều Nguyễn từng bị Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam (Việt
chế cực kỳ phản động" và cho rằng nhà Nguyễn đã "tăng cường
bộ máy đàn áp", "Bộ máy quan lại hủ lậu mục nát"[43] Nhưng
nhiều nhà sử học về sau cho rằng bộ máy quan lại triều Nguyễn không thực sự hủ bại, thối nát, rằng từ thời vua Gia Long (1802-1820) đến Minh Mạng (1820-1840), nhà Nguyễn đã "thực hiện công cuộc cải cách hành chính theo xu hướng đơn giản, hợp lý, hiệu quả, chú trọng xây dựng đội ngũ quan lại có năng lực, đáp ứng yêu cầu của đất nước" Sự thay đổi về quan điểm này được cho là do hiện nay các nhà sử học đã có được "nguồn sử liệu toàn diện, phong phú và phương pháp tiếp cận khách quan, khoa học, cộng với độ lùi thời gian cần thiết".[44]