Mục đích nghiên cứu của khóa luận là đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại lợn Lê Văn Tuấn xã Bình Xuyên huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương. Đồng thời xác định tình hình nhiễm bệnh, cách phòng trị bệnh cho lợn con nuôi tại trại. Mời các bạn tham khảo!1
Trang 1NGUYỄN THỊ KHUYÊN Tên chuyên đề:
“QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN CON GIAI ĐOẠN TỪ SƠ SINH ĐẾN 21 NGÀY TUỔI TẠI TRẠI LỢN LÊ VĂN TUẤN, XÃ BÌNH XUYÊN, HUYỆN BÌNH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG’’
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Thú y Khoa :Chăn nuôi Thú y
Khóa học : 2015 – 2019
Thái Nguyên – 2019
Trang 2NGUYỄN THỊ KHUYÊN Tên chuyên đề:
“QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN CON GIAI ĐOẠN TỪ SƠ SINH ĐẾN 21 NGÀY TUỔI TẠI TRẠI LỢN LÊ VĂN TUẤN, XÃ BÌNH XUYÊN, HUYỆN BÌNH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG’’
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Thú y Lớp: K47 – TY - N01 Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2015 – 2019 Giảng viên hướng dẫn: TS NGUYỄN VĂN QUANG
Thái Nguyên – 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau 6 tháng được học hỏi và tham gia vào công việc sản xuất tại cơ sở,
để hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới quý thầy cô BGH nhà trường, thầy cô trong khoa CNTY và đặc biệt là thầy giáo hướng dẫn TS.Nguyễn Văn Quang đã tạo điều kiện và tận tình giúp đỡ
em hoàn thành tốt bài khóa luận tốt nghiệp này Em cũng xin được gửi lời cảm
ơn đến chủ trại Lê Văn Tuấn và các cô chú công nhân, kỹ sư đã tạo điều kiện và giúp đỡ hướng dẫn trong thời gian em tham gia học hỏi và rèn luyện kĩ năng nghề tại trại
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè đã tạo điều kiện cho em được học tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này trong suốt thời gian qua
Em xin kính chúc quý thầy cô có thật nhiều sức khỏe, đạt được nhiều thành công trong công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học
Khóa luận tốt nghiệp của em không thể tránh khỏi những thiếu sót, em kính mong qúy thầy cô xem xét, góp ý và bổ sung, để bài khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 31 tháng 12 năm 2019
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng1: Phác đồ điều trị tiêu chảy do e coli 20
Bảng 2: Phác đồ điều trị viêm phổi địa phương do Mycoplasma hyponeumoniae 21
Bảng 3: Phác đồ điều trị bệnh viêm da tiết dịch: 22
Bảng 4: Toltrazoril cho lợn con uống phòng bệnh cầu trùng 23
Bảng 5:Phác đồ điều trị bệnh viêm khớp: 24
Bảng 4.1 Tình hình sản xuất của trại trong 3 năm gần đây 34
Bảng 4.2 Khẩu phần ăn của lợn mẹ trước và sau khi đẻ 37
Bảng 4.3 Số lợn con trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trong 6 tháng 42
Bảng 4.4 Tỷ lệ nuôi sống lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi 42
Bảng 4.5 Kết quảvệ sinh, sát trùng 45
Bảng 4.6 Kết quả tiêm vắc xin phòng bệnh cho lợn con 46
Bảng 4.7 Kết quả chẩn đoán bệnh trên đàn lợn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi nuôi tại trại 50
Bảng 4.8 Kết quả chẩn đoán bệnh trên đàn lợn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi 51 Bảng 4.9 Kết quả thực hiện công tác khác tại cơ sở 52
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
Cs: Cộng sự Hb: Hemoglobin Nxb: Nhà xuất bản PED: Dịch tiêu chảy cấp ở lợn TNHH: Trách nhiệm hữu hạn Ts: Tiến sĩ
TT: Thể trọng
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Điều kiện của trang trại 3
2.1.1.1 Vị trí địa lý 3
2.1.1.2 Đặc điểm khí hậu 3
2.1.1.3 Kinh tế xã hội 3
2.1.3 Cơ sở vật chất của trang trại 4
2.2 Tổng quan tài liệu 8
2.2.1 Cơ sở khoa học 8
2.2.1.1 Đặc điểm sinh lý của lợn con 8
2.2.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của lợn con 14
2.2.1.3 Phòng và trị bệnh cho lợn con theo mẹ 16
2.2.1.4 Một số bệnh thường gặp ở lợn con 19
2.2.2 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 24
2.2.2.1 Nghiên cứu trong nước 24
2.2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước 30
Trang 7Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 32
3.1 Đối tượng 32
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 32
3.3 Nội dung nghiên cứu 32
3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 32
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 32
3.4.2 Phương pháp theo dõi (hoặc thu thập thông tin) 33
3.4.2.1 Phương pháp đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại lợn Lê Văn Tuấn xã Bình Xuyên huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương 33
3.4.2.2 Phương pháp áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn con nuôi tại trại 33
3.4.3 Phương pháp tính toán các chỉ tiêu 33
3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 33
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34
4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại lợn Lê Văn Tuấn trong 3 năm (2017 – 2019) 34
4.1.2 Đánh giá chung 35
4.2 Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn con sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại 36
4.2.1 Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn con sơ sinh đến 21 ngày tuổi 36
4.2.1.1.Chuẩn bị ô chuồng cho lợn đẻ và đỡ đẻ cho lợn nái 36
4.2.1.2 Chăm sóc lợn con mới sinh 38
4.2.1.3 Chăm sóc lợn con được 1 - 3 ngày tuổi 39
4.2.1.4.Chăm sóc lợn con 3 ngày tuổi 39
4.2.1.5 Chăm sóc lợn 5 - 7 ngày tuổi 40
4.2.1.6 Chăm sóc lợn con 15 - 17 ngày tuổi 41
4.3 Tỷ lệ nuôi sống lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi 42
Trang 84.4 Thực hiện các biện pháp phòng bệnh cho lợn sơ sinh đến 21 ngày tuổi 43
4.4.1 Biện pháp vệ sinh phòng bệnh 43
4.4.2 Kết quả tiêm vắc xin phòng bệnh cho lợn con sơ sinh đến 21 ngày tuổi 46
4.5 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi 47
4.5.1 Công tác chẩn đoán bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi 47
4.5.1.2 Viêm khớp 48
4.5.1.3.Viêm rốn 48
4.5.1.3.Viêm da tiết dịch 49
4.5.2 Kết quả điều trị bệnh cho lợn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi 51
4.5.2.1 Kết quả thực hiện công tác khác tại cơ sở 52
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 54
5.1 Kết luận 54
5.2 Đề nghị 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56 PHỤ LỤC
Trang 9Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây cùng với xu hướng phát triển chung của nền kinh tế, ngành chăn nuôi thú y ở nước ta cũng đang từng bước phát triển nhằm đem lại nhiều sản phẩm có chất lượng cho xã hội và đóng một vai trò quan trọng
trong nền kinh tế quốc dân
Ngành chăn nuôi thú y nói chung, ngành chăn nuôi lợn nói riêng là một nghề đã có truyền thống lâu đời và có nhiều kinh nghiệm quí báu đã được tích lũy, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Ngành chăn nuôi lợn đã góp phần nâng cao chất lượng bữa ăn hằng ngày, tăng dinh dưỡng cho con người
và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thực phẩm, phân bón cây trồng Ngày nay chăn nuôi lợn không chỉ đáp ứng nhu cầu thịt trong nước,
mà còn tham gia xuất khẩu.Tuy nhiên với số lượng đàn nuôi ngày càng lớn, mật độ lợn trong chuồng nuôi ngày càng đông cộng với ảnh hưởng liên tục từ các yếu tố khác như: thời tiết, khí hậu, nguồn nước, không khí nên vấn đề dịch bệnh có những biến đổi khó lường, đặc biệt quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng ở giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển và sinh trưởng của lợn sau này Biện pháp hiệu quả nhất chính là thực hiện vệ sinh, chăm sóc, nuôi dưỡng, cùng với việc sử dụng vắc xin phòng bệnh và sử dụng các loại kháng sinh để điều trị bệnh một cách kịp thời
và hợp lý để đạt hiệu quả kinh tế cao
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng ý của BCN khoa, giáo
viên hướng dẫn và cơ sở thực tập em tiến hành thực hiện chuyên đề: “Quy trình
chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn con giai đoạn từ sơ sinh đến
21 ngày tuổi tại trại lợn Lê Văn Tuấn, xã Bình Xuyên, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương”
Trang 101.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1 Mục đích
- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại lợn Lê Văn Tuấn xã Bình Xuyên huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương
- Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn con nuôi tại trại
- Xác định tình hình nhiễm bệnh, cách phòng trị bệnh cho lợn con nuôi tại trại
Trang 11Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện của trang trại
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Bình Giang là một trong 10 huyện thuộc tỉnh Hải Dương
Huyện Bình Giang nằm ở phía Tây Nam thành phố Hải Dương, diện tích tự nhiên là 104,7 km 2 Phía Bắc giáp huyện Cẩm Giàng, phía Nam giáp huyện Thanh Miện, phía Đông giáp huyện Gia Lộc, phía Tây giáp huyện Ân Thi và Mỹ Hào của tỉnh Hưng Yên
Bốn mặt huyện Bình Giang đều có sông: Sông Kẻ Sặt ở phía Bắc, sông Đình Hào ở phía Đông, sông Cửu An ở phía Tây, sông Cầu Lâm, Cầu Cốc ở phía Nam Trong đó sông Sặt bắt nguồn từ sông Hồng, qua cống Xuân Quan, qua cầu Lực Điền, cầu của đường 39A, nối quốc lộ 5A với thành phố Hưng Yên, tiếp cận với huyện Bình Giang tại vị trí sát làng Tranh Ngoài, xã Thúc Kháng Đến đây sông có nhánh chạy dọc theo phía Tây huyện, gọi là sông Cửu An, một nhánh chạy dọc phía Bắc huyện gọi là sông Kẻ Sặt, thông với sông Thái Bình, qua Âu Thuyền, thành phố Hải Dương
2.1.1.2 Đặc điểm khí hậu
- Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng và ẩm
- Nhiệt độ trung bình 23 - 240C, lượng mưa trung bình mỗi năm 1.650 1.700mm
Nhiệt lượng bức xạ mặt trời khá lớn khoảng 1.765 giờ nắng một năm
2.1.1.3 Kinh tế xã hội
- Kinh tế:
Bình Giang là một huyện chủ yếu là công nghiệp, đang phát triển mạnh dịch vụ, thương mại
Trang 12Năm 2006 tổng GDP huyện đạt 1200 tỷ đồng, trong đó: nông nghiệp (8,06%), công nghiệp (60,88%), tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, thương mại dịch vụ (31,06%)
Huyện Bình Giang đang được phát triển thành một đô thị phía tây tỉnh Hải Dương
Trang trại lợn nái sinh sản Lê Văn Tuấn nằm trên địa bàn của thôn Dinh Như, xã Bình Xuyên, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.Trại được thành lập năm 2007, có diện tích đất sử dụng là 4ha Trang trại là trại lợn gia công của Công
ty cổ phần chăn nuôi C.P Việt Nam (Công ty TNHH Charoen Pokphand Việt Nam) Hoạt động theo phương thức chủ trại xây dựng cơ sở vật chất, thuê công nhân, công ty đưa tới giống lợn, thức ăn, thuốc thú y, cán bộ kỹ thuật Hiện nay, trang trại do ông Lê Văn Tuấn làm chủ trại, cán bộ kỹ thuật của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của trang trại
- Cơ cấu tổ chức của trang trại
- Trại có đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật giỏi giàu kinh nghiệm thực
tế, có ban lãnh đạo nhiệt tình giàu năng lực Hơn nữa trại có đội ngũ công nhân yêu nghề và nhiều năm kinh nghiệm trong nghề
Cơ cấu tổ chức gồm 3 nhóm:
+ Nhóm quản lý: 01 chủ trại, 01 quản lý trại
+ Nhóm cán bộ kỹ thuật, tài chính: 1 kỹ sư, 2 kỹ thuật điện nước, hàn + Nhóm nhân viên: 11 công nhân, và 3 sinh viên thực tập
2.1.3 Cơ sở vật chất của trang trại
- Hệ thống chuồng trại
- Cơ sở vật chất của trang trại
Trang trại nằm trên khu vực thôn Dinh Như, đường giao thông đã được nâng cấp bê tông hóa, thuận tiện cho việc đi lại, vận chuyển Trại lợn cách khu dân cư khoảng hơn 1km Trại có diện tích đất rộng trong đó có:
Trang 13- Đất trồng cây ăn quả
- Ao, hồ chứa nước và nuôi cá
- Đất xây dựng hệ thống xử lí nước thải
- Đất xây dựng khu nhà điều hành, khu nhà ở cho công nhân, bếp ăn, các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại
Khu chăn nuôi xung quanh có hàng rào bao bọc và có cổng vào
Chuồng trại được quy hoạch bố trí xây dựng phù hợp với hướng chăn nuôi công nghiệp, hệ thống chuồng nuôi lồng, nền sàn bê tông cho lợn nái, lợn đực, sàn nhựa cho lợn con cùng với hệ thống vòi nước tự động và máng
ăn Chuồng nuôi được xây dựng đảm bảo đủ cho 600 nái cơ bản bao gồm: 3 chuồng đẻ (chuồng đẻ 1 có 60 ô; chuồng đẻ 2, chuồng đẻ 3 mỗi chuồng có 56 ô), 1 chuồng nái chửa (chuồng có 560 ô), 1 chuồng cách ly cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: Kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc, kho cám
Trại gồm 4 khu chính: Khu nhà ăn, ở cho công nhân; khu nhà để cám
và kho thuốc; khu để dụng cụ chăn nuôi; khu chăn nuôi còn lại là vườn và ao
hồ bao quanh trại Trại có quy mô đàn là trên 600 đầu nái, 11 lợn đực và 90 lợn hậu bị để thay thế đàn và được phân ra thành các khu khác nhau cho mỗi loại lợn khác nhau, trang trại được xây dựng với 3 khu chuồng nối liền nhau
Khu chuồng nái chửa là nơi chăm sóc nuôi dưỡng những lợn nái đang mang thai, khu chuồng đẻ là nơi chứa lợn sắp đẻ từ chuồng nái chửa chuyển xuống là nơi mà lợn nái thực hiện quá trình đẻ, khu còn lại là khu vực chuồng dành cho lợn hậu bị mới nhập về và lợn nái loại thải
Khu chuồng nái chửa gồm 4 dãy dành cho lợn nái mang thai và là chuồng có diện tích lớn nhất, cách sắp xếp lợn trong chuồng đối với những lợn nái mang thai ở các giai đoạn khác nhau được xếp vào những dãy khác nhau, lợn đực phục vụ việc lấy tinh phối giống được xếp ở dãy trong cùng gần
Trang 14khu vực lấy tinh, lợn nái cai sữa về được đưa về nơi chờ phối trong chuồng bầu nhằm thuận tiện cho việc kiểm tra lên giống Một góc chuồng nái chửa là khu kiểm tra lợn động dục, khu phối, khu lấy tinh, cạnh khu lấy tinh có phòng nhỏ để kiểm tra tinh được gọi là phòng tinh Phòng tinh được trang bị khá đầy đủ: Kính hiển vi, tủ lạnh, nồi hấp dụng cụ, máy ép túi tinh, nhiệt kế,…
Chuồng được xây dựng đạt tiêu chuẩn của một chuồng kín với kết cấu tất cả sàn chuồng đều được làm bằng bê tông, sàn cao hơn hẳn nền chuồng giúp công việc vệ sinh, khử trùng được thuận tiện Đầu chuồng nái chửa có hệ thống giàn mát, cuối chuồng có hệ thống quạt thông gió với 8 quạt hoạt động nhằm tạo sự thông thoáng cho chuồng, ngoài ra bên trong chuồng còn được trang bị đầy đủ hệ thống vòi nước tự động, máng ăn cho từng ô lợn nái nhằm đảm bảo việc chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái mang thai đạt hiệu quả nhất
Khu chuồng đẻ gồm 3 chuồng gần kề nhau được sắp xếp thành chuồng
đẻ 1, chuồng đẻ 2, chuồng đẻ 3 Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 3 quạt thông gió Mỗi chuồng đẻ gồm 2 ngăn, mỗi ngăn gồm 2 dãy
và có một công nhân phụ trách Trong chuồng đẻ sàn chuồng lợn mẹ làm bằng bê tông còn sàn chuồng dành cho lợn con làm bằng nhựa cứng Mỗi một
ô chuồng đẻ đều có vòi nước tự động dành cho lợn mẹ và dành cho lợn con
Phần chuồng cho lợn con khá rộng rãi, một góc để lồng úm, lồng úm được làm bằng khung sắt và đan bao tải cám đã được ngâm sát trùng Mỗi lồng úm được trang bị một bóng đèn sưởi ấm, một tấm tải cho lợn con nằm, trong mỗi ô chuồng để một máng ăn nhỏ cho lợn con tập ăn Mỗi chuồng cũng có hệ thống giàn mát và 6 quạt thông gió và nhiệt kế đo nhiệt độ chuồng Tại khu chuồng đẻ mỗi lần xuất lợn con và đuổi lợn mẹ về khu vực chờ phối thì chuồng được cọ rửa và phun vôi để trống chuồng 1 tuần trước khi đuổi lợn bầu sắp đẻ lên
Trang 15Khu chuồng cách ly là khu chuồng nuôi lợn hậu bị mới nhập về để thay thế đàn và lợn nái loại thải Vị trí chuồng nằm gần chuồng bầu thuận tiện cho việc vận chuyển lợn lên chuồng bầu khi đã đủ điều kiện phối giống Khu chuồng cách ly được xây dựng với bên trong là các ô nuôi lợn tập trung gồm
6 ô lớn được trang bị khá đầy đủ với hệ thống nước uống và máng ăn tự động bên trong các ô, khu bên trên đầu chuồng là hệ thống giàn mát và khu cuối chuồng có 4 quạt thông gió nhằm tạo sự thông thoáng cho chuồng nuôi
Mỗi chuồng đều được lắp đặt máy bơm nước để tắm cho lợn và vệ sinh chuồng trại hằng ngày, cuối chuồng mỗi ô đều có hệ thống thoát phân và nước thải
Một số thiết bị khác cũng được trang bị đầy đủ: Tủ lạnh bảo quản vắc xin, tủ thuốc để bảo quản và dự trữ thuốc cho trại, xe chở cám từ nhà kho xuống chuồng, xe chở phân, xe chở lợn con, xe chở tấm đan, máy nén khí phun sát trùng di động khu vực trong và ngoài chuồng nuôi
Nhìn chung cơ sở vật chất của trại là khá hoàn chỉnh và đạt yêu cầu so với một chuồng nuôi kín hiện nay tuy nhiên việc cho ăn trong các chuồng lại hoàn toàn làm theo phương thức thủ công với mỗi chuồng đều có hệ thống máng ăn, mỗi con có một máng ăn riêng và khi cho ăn thì công nhân phụ trách chuồng phải đổ cám vào từng máng ăn đó lật cho lợn nái ăn theo khung giờ quy định hằng ngày
Nguồn nước sử dụng cho chăn nuôi tại trại được lọc qua bể lọc và dẫn trực tiếp đến từng ô chuồng bằng vòi uống tự động, trước khi được đưa đến các vòi tự động nước được xử lý qua chlorin Trang trại lợn nái Lê Văn Tuấn là một trại quy mô công nghiệp nên hàng ngày sử dụng một khối lượng nước rất lớn để phục vụ chăn nuôi, vệ sinh chuồng trại, đặc biệt về mùa nóng cần một lượng nước rất lớn để vận hành hoạt động của giàn mát Nước dùng cho chăn nuôi được bơm từ lòng đất qua hệ thống bể lọc, đưa lên các bồn
Trang 16chứa nước ở độ cao, áp lực đủ mạnh tới các vòi nước tự động ở từng ô chuồng Bên cạnh đó, hệ thống bạt che, giàn mát, quạt thông gió được trang bị rất đầy đủ Nguồn nước thải được thải ra các ao quanh trại, phân trong các khu chuồng thì được công nhân hót vào bao cuối mỗi buổi sáng và chiều trong ngày đổ ra khu nhà chứa phân để bán và một phần nhỏ để vun trồng vào các gốc cây Trước cửa vào mỗi chuồng đều có một chậu nước sát trùng để nhúng ủng của công nhân, kĩ sư trước khi đi vào chuồng làm việc
2.2 Tổng quan tài liệu
2.2.1 Cơ sở khoa học
2.2.1.1 Đặc điểm sinh lý của lợn con
- Cơ năng điều tiết thân nhiệt
Thân nhiệt của lợn con sau khi đẻ thường bị giảm xuống, quá trình giảm phụ thuộc vào nhiều yếu tố: khối lượng sơ sinh, chất dinh dưỡng thu được sau khi sinh, nhiệt độ của môi trường
Theo Trương Lăng (2000) [10], sau khi đẻ 1 giờ nếu lợn con được bú sữa đầu thì 8 - 12 giờ sau thân nhiệt sẽ ổn định, nếu sau 4 giờ mới được bú sữa đầu thì sau 18 - 24 giờ thân nhiệt mới đạt mức bình thường Như vậy quy định không quá 2 giờ nếu lợn mẹ chưa đẻ xong phải cho những lợn con đã sinh bú sữa đầu Lợn con rất mẫn cảm với nhiệt độ vì khi ra khỏi cơ thể mẹ lợn con chưa thể thích ứng được với môi trường bên ngoài, cơ quan điều tiết thân nhiệt chưa hoàn chỉnh Khả năng tự điều hòa thân nhiệt của lợn con tăng chậm từ khi mới sinh cho đến 2 tuần tuổi, do vậy trong 2 tuần tuổi chúng rất
dễ mẫn cảm với thay đổi lớn của nhiệt độ bên ngoài Mỗi loài gia súc, đều có một giới hạn sinh thái về nhiệt độ và ẩm độ nhất định, độ ẩm không khí trong chuồng nuôi cao là điều bất lợi cho lợn con, bởi vì độ ẩm cao là điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn phát triển, ngoài ra độ ẩm càng cao thì nhiệt độ trong chuồng càng giảm Cho nên việc quản lý độ ẩm và nhiệt độ trong
Trang 17chuồng nuôi phù hợp với mọi lứa tuổi của lợn và nhiệt độ trong chuồng nuôi được ổn định là rất quan trọng
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [12], trên nền cứng hoặc sàn thưa không có độn khu vực cho lợn con mới sinh cần giữ ấm ở 32 - 35°C trong tuần đầu, sau đó giữ 21 - 27°C cho đến lúc cai sữa 3 - 6 tuần tuổi Để bảo đảm nhiệt độ cho lợn con theo chỉ tiêu trên cần có ô úm cho lợn con, ô úm có kích thước ít nhất là một mét vuông, trong ô úm có thể đặt tấm sưởi điện tự động hoặc treo bóng đèn hồng ngoại 250w hoặc 100w Độ ẩm và tốc độ gió làm thành một hệ thống tác nhân stress đối với gia súc
- Đặc điểm tiêu hóa
Cơ quan tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh nhưng chưa hoàn chỉnh, các tuyến tiêu hóa phát triển chưa đồng bộ, dung tích của bộ máy tiêu hóa còn
nhỏ, thời kỳ bú sữa cơ quan phát triển hoàn thiện dần
Dung tích bộ máy tiêu hóa tăng nhanh trong 60 ngày đầu: dung tích dạ dày lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần, lúc 20 ngày tuổi gấp 8 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 60 lần so với lúc sơ sinh (dung tích dạ dày lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít) Dung tích ruột non lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 6 lần, lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích lúc sơ sinh khoảng 0,12 lít) Còn dung tích ruột già lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần so với lúc sơ sinh
Sự tăng về kích thước cơ quan tiêu hóa giúp lợn con tích lũy được nhiều thức
ăn và tăng khả năng tiêu hóa các chất
Mặc dù vậy, ở lợn con các cơ quan chưa thành thục về chức năng, đặc biệt là hệ thần kinh Do đó, lợn con phản ứng rất chậm chạp đối với các yếu tố tác động lên chúng Do chưa thành thục nên cơ quan tiêu hóa của lợn con cũng rất dễ mắc bệnh, dễ rối loạn tiêu hóa
Một đặc điểm cần lưu ý ở giai đoạn này trong dạ dày lợn con không có axit HCl, được coi như một tình trạng thích ứng tự nhiên Nhờ vậy nó tạo
Trang 18được khả năng thẩm thấu các kháng thể có trong sữa đầu của lợn mẹ Trong giai đoạn này dịch vị không có khả năng phân giải protein mà chỉ có khả năng làm vón sữa đầu Còn huyết thanh chứa albumin và globulin được chuyển xuống ruột và thẩm thấu vào máu
Ở lợn con từ 14 - 16 ngày tuổi, tình trạng thiếu axit HCl ở dạ dày không còn gọi là trạng thái bình thường nữa Việc tập cho lợn con ăn sớm có tác dụng thúc đẩy bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh và sớm hoàn thiện Vì thế sẽ rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl Bởi vì khi được bổ sung thức ăn thì thức ăn sẽ kích thích tế bào vách dạ dày tiết ra HCl ở dạng tự do sớm hơn và tăng cường phản xạ tiết dịch vị (giai đoạn con non khác với con trưởng thành là chỉ tiết dịch vị khi thức ăn vào dạ dày)
Theo Hoàng Toàn Thắng và cs (2005) [14], lợn con dưới 1 tháng tuổi, dịch vị không có HCl tự do, lúc này lượng axit tiết ra rất ít và nhanh chóng kết hợp với dịch nhày của dạ dày, hiện tượng này gọi là hypohydric Do dịch
vị chưa có HCl tự do nên men pepsin trong dạ dày lợn chưa có khả năng tiêu hóa portein của thức ăn Vì HCl tự do có tác dụng kích hoạt men pepsinnogen không hoạt động thành men pepsin hoạt động và men này mới có khả năng tiêu hóa protein
- Khả năng miễn dịch của lợn con
Phản ứng miễn dịch là khả năng đáp ứng của cơ thể Phần lớn các chất
lạ là mầm bệnh Mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể lợn con tương đối dễ dàng,
do chức năng của các tuyến chưa hoàn chỉnh Ở lợn con lượng enzym tiêu hoá
và lượng HCl tiết ra còn ít, chưa đủ để đáp ứng cho quá trình tiêu hoá, gây rối loạn trao đổi chất, dẫn tới khả năng tiêu hoá kém, hấp thu kém Trong giai đoạn này mầm bệnh dễ dàng xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hoá và gây bệnh
Lợn con mới đẻ ra trong cơ thể hầu như chưa có kháng thể Lượng kháng thể tăng rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu của lợn mẹ Cho
Trang 19nên khả năng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ sữa đầu của lợn mẹ
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [12], trong sữa đầu của lợn mẹ hàm lượng protein rất cao Những ngày đầu mới đẻ, hàm lượng protein trong sữa chiếm 18 - 19%, trong đó lượng γ - globulin chiếm số lượng khá lớn (30 - 35%) Nó có tác dụng tạo sức đề kháng, vì vậy sữa đầu có vai trò quan trọng đối với khả năng miễn dịch của lợn con Lợn con hấp thu lượng γ - globulin bằng con đường ẩm bào Quá trình hấp thu nguyên vẹn nguyên tử γ - globulin giảm đi rất nhanh theo thời gian Nó chỉ có khả năng hấp thu qua ruột non của lợn con rất tốt trong 24 giờ đầu sau khi đẻ ra nhờ trong sữa đầu có kháng men antitripsin làm mất hoạt lực của men tripsin tuyến tụy và nhờ khoảng cách tế bào vách ruột của lợn con khá rộng, cho nên 24 giờ sau khi được bú sữa đầu, hàm lượng γ - globulin trong máu lợn con đạt tới 20,3mg/100ml máu Sau 24 giờ, lượng kháng men trong sữa đầu giảm dần và khoảng cách giữa các tế bào vách ruột của lợn con hẹp dần, sự hấp thu γ - globulin kém hơn, hàm lượng γ
- globulin trong máu lợn con tăng lên chậm hơn Đến 3 tuần tuổi chỉ đạt khoảng 24mg/100ml máu (máu bình thường của lợn trưởng thành có khoảng 65mg/100ml máu), do đó lợn con cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt Nếu lợn con không được bú sữa đầu thì từ 20 - 25 ngày tuổi mới có khả năng
tự tổng hợp kháng thể, những lợn con không được bú sữa đầu thì sức đề kháng kém, dễ mắc bệnh, tỷ lệ chết cao
Sự hấp thu các phân tử γ - globulin và các tiểu phần khác của sữa mẹ bằng con đường chủ động chọn lọc hoặc bằng ẩm bào qua các lỗ hẹp này, vì vậy quá trình tiêu hóa ở màng gần như vô khuẩn
Những tiểu phần protein sữa tuần hoàn trong máu không gây nguy hiểm với lợn con vì trong thời gian này lợn con không hình thành kháng thể bản thân và protein với chúng không phải là kháng nguyên
Trang 20- Hệ vi sinh vật đường ruột
Theo Nguyễn Như Thanh và cs (2004) [13], hệ vi sinh vật đường ruột gồm hai nhóm: nhóm vi khuẩn đường ruột, vi khuẩn bắt buộc gồm:
E coli, Salmonella, Shigella, Klesiella, Proteus… Trong nhóm vi khuẩn này,
người ta quan tâm nhiều nhất đến trực khuẩn E coli Đây là vi khuẩn phổ biến
nhất hành tinh, chúng có mặt ở mọi nơi và khi gặp điều kiện thuận lợi, các
chủng E coli trở lên cường độc gây bệnh Nhóm vi khuẩn vãng lai: chúng là bạn đồng hành của thức ăn, nước uống vào hệ tiêu hoá gồm: Staphylococcus
spp, Streptococcus spp, Bacillus subtilis… Ngoài ra, trong đường tiêu hóa của
lợn con có các trực khuẩn yếm khí gây thối rữa: Clostridium perfringens,
Bacillus sporogenes, Bacillus fasobacterium, Bacillus puticfus
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [4], phần lớn thời gian sống của lợn
là ở trong chuồng do vậy chuồng trại có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của chúng Chuồng trại xây dựng đúng kiểu, đảm bảo các chỉ tiêu kỹ thuật, cao ráo, thoáng, độ thông khí tốt, kết hợp với chăm sóc quản lý và vệ sinh chuồng trại tốt sẽ ảnh hưởng rất tốt đến khả năng sinh trưởng và sức kháng bệnh tật của gia súc và ngược lại Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới của nước ta, về mùa hè khí hậu nóng, ẩm, về mùa đông khí hậu lạnh, khô nên yêu cầu chuồng nuôi gia súc luôn phải khô ráo, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông
Do vậy trong xây dựng chuồng trại ngoài việc đảm bảo các yếu tố kỹ thuật cần chú ý đến địa điểm xây dựng chuồng, hướng chuồng, vật liệu xây dựng để
dễ dàng khống chế các chỉ tiêu tiểu khí hậu chuồng nuôi phù hợp với từng giai đoạn phát triển của lợn, chuồng khô, thoáng, đủ ánh sáng thì tỷ lệ lợn con mắc hội chứng tiêu chảy thấp hơn so với chuồng ẩm, tối
- Trong chăn nuôi việc đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật là điều rất cần thiết, chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ tạo ra những gia súc khoẻ mạnh, có khả năng chống đỡ bệnh tật tốt và ngược lại Ô chuồng lợn nái phải được vệ sinh
Trang 21tiêu độc trước khi vào đẻ Nhiệt độ trong chuồng phải đảm bảo 32 - 34°C đối với lợn sơ sinh và 28 - 30°C với lợn cai sữa Chuồng phải luôn khô ráo, không thấm ướt, không thay đổi thức ăn đột ngột
Việc giữ gìn chuồng trại sạch sẽ, kín ấm áp vào mùa đông và đầu xuân là điều kiện cần thiết phải thực hiện Nên dùng các thiết bị sưởi điện hoặc đèn hồng ngoại trong những ngày thời tiết lạnh ẩm để đề phòng bệnh lợn con phân trắng, mang lại hiệu quả cao trong chăn nuôi
Phòng bệnh bằng bổ sung sắt: ở lợn con, việc thiếu sắt dẫn đến thiếu máu, làm giảm sức đề kháng cũng là nguyên nhân gây nên hội chứng tiêu chảy khá cao Lợn con một ngày tuổi sẽ được bấm nanh, bấm tai và tiêm sắt
Phòng bệnh bằng vắc xin: phòng bệnh bằng vắc xin là phương pháp hữu hiệu nhất để ngăn ngừa bệnh đặc biệt là các bệnh mà nguyên nhân là vi sinh vật Vắc xin phòng bệnh tiêu chảy cho lợn đã được nghiên cứu khá lâu và
đã được sử dụng để phòng ngừa tiêu chảy nhằm tạo miễn dịch chủ động cho đàn lợn chống lại bệnh, các loại vắc xin này đã và đang cho kết quả phòng bệnh một cách khả quan, đạt được mục tiêu làm giảm tỷ lệ mắc bệnh Một số tác giả đã tập trung nghiên cứu chế tạo và sử dụng vắc xin phòng bệnh nhằm kích thích cơ thể chủ động sản sinh kháng thể chống lại mầm bệnh
Bertschinger H U (1999) [24], đã phát hiện có ít nhất 170 kháng nguyên O, 70 kháng nguyên K,56 kháng nguyên H Ngoài 3 loại kháng nguyên thông thường trên, còn có thêm kháng nguyên bám dính F, yếu tố gây
bệnh không phải là độc tố của E coli
- Nhu cầu về một số chất dinh dưỡng và chất khoáng
Nhu cầu protein: lợn con sinh trưởng phát triển nhanh, trong thời gian
bú sữa nguồn năng lượng được cung cấp chủ yếu từ phân giải đường và 1 phần nhỏ protein Nhưng protein chủ yếu là nguyên liệu cho sinh trưởng và
Trang 22phát triển, do vậy nhu cầu về protein rất lớn Như vậy, trong thức ăn tập ăn của lợn con cần 20 - 22% protein thô
Nhu cầu về lipit: trong thời kì bú sữa, nhu cầu về lipit rất thấp vì khả năng tiêu hóa lipit rất thấp
Nhu cầu về gluxit: thời kì từ sơ sinh đến cai sữa nguồn năng lượng do gluxit cung cấp chiếm 70 - 80% do vậy nhu cầu về gluxit cũng rất lớn, ngoài nguồn có từ sữa(chủ yếu là từ đường lactoza) lúc nhỏ, đến khi tập ăn, ngoài nguồn từ sữa lợn con được cung cấp qua thức ăn tập ăn
Nhu cầu về khoáng: khoáng chiếm 4 - 5% khối lượng cơ thể, có 3 nhóm khoáng
Đa lượng: Ca, P, Na, Mn, Cl, Fe, S
Vi lượng: Cu, Mo, Mg, Zn, Al, F
Siêu vi lượng: Acemic, bismus, thủy ngân
Nhu cầu vitamin: vitamin là chất xúc tác sinh học tổng hợp, tham gia vào một số men tiêu hóa phân giải các chất dinh dưỡng, tham gia cấu tạo màng tế bào Lượng vitamin vô cùng nhỏ, nhưng lại có tác dụng rất lớn cho sinh trưởng, phát dục và sinh sản
Nhu cầu về nước: nước chiếm 50 - 60% khối lượng cơ thể, trong máu nước chiếm 80 - 95% Cơ thể mất 10% nước sẽ gây rối loạn chức năng trao đổi chất, nếu mất 20% lượng nước lợn con sẽ chết
2.2.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của lợn con
Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát dục của lợn gồm hai nhóm: các yếu tố bên trong và các yếu tố bên ngoài
- Yếu tố bên trong:
Yếu tố di chuyền là một trong những yếu tố có ý nghĩa quan trọng nhất, ảnh hưởng đến sinh trưởng phát dục của lợn Quá trình sinh trưởng của lợn tuân theo các quy luật sinh học, nhưng chịu ảnh hưởng của các giống lợn khác nhau
Trang 23Yếu tố thứ hai ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát dục của lợn là quá trình trao đổi chất trong cơ thể Quá trình trao đổi chất xảy ra dưới sự điều khiển của các hormon Hormon tham gia vào tất cả các quá trình trao đổi chất của tế bào và giữ cân bằng các chất trong máu
- Yếu tố bên ngoài:
Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển cơ thể lợn bao gồm dinh dưỡng, nhiệt độ, môi trường, ánh sáng và các yếu tố khác
Dinh dưỡng: Các yếu tố di truyền không thể phát huy tối đa nếu không
có một môi trường dinh dưỡng và thức ăn hoàn chỉnh Khi chúng ta đảm bảo đầy đủ về thức ăn bao gồm cả số lượng và chất lượng thức ăn thì sẽ góp phần thúc đẩy quá trình sinh trưởng và phát triển của các cơ quan trong cơ thể
Nhiệt độ và độ ẩm môi trường: Nhiệt độ môi trường không chỉ ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe mà còn ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cơ thể Nếu nhiệt độ môi trường không thích hợp thì sẽ không thể đảm bảo quá trình trao đổi chất diễn ra bình thường cũng như cân bằng nhiệt của cơ thể lợn
Theo Đoàn Thị Kim Dung (2004) [2], các yếu tố nóng, lạnh, mưa, nắng, hanh, ẩm thay đổi thất thường và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể lợn, nhất là cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh, các phản ứng thích nghi của cơ thể còn rất yếu
Theo Phạm Khắc Hiếu và cs (1998) [8], lợn con sinh ra phải được sưởi
ấm ở nhiệt độ 34oC trong suốt tuần lễ đầu tiên, sau đó giảm dần xuống nhưng không được thấp hơn 30oC, như vậy lợn sẽ tránh được những stress lạnh ẩm
Khi nhiệt độ chuồng nuôi thấp lợn sẽ thất thoát nhiệt rất nhiều, lợn
sẽ giảm khả năng tăng khối lượng và tăng tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng
Trang 24Nhiệt độ chuồng nuôi có liên quan mật thiết với ẩm độ không khí, ẩm
độ không khí thích hợp cho lợn ở vào khoảng 70%
Ánh sáng: Ánh sáng có ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của lợn Khi nghiên cứa về ảnh hưởng của ánh sáng đối với lợn người ta thấy rằng ánh sáng có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng và phát triển của lợn con, lợn hậu bị và lợn sinh sản hơn là lợn vỗ béo Khi không đủ ánh sáng sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất của lợn, đặc biệt là quá trình trao đổi khoáng Đối với lợn con từ sơ sinh đến 70 ngày tuổi, nếu không đủ ánh sáng thì tốc độ tăng khối lượng sẽ giảm từ 9,5 - 12%, tiêu tốn thức ăn giảm 8 - 9%
so với lợn con được vận động dưới ánh sáng mặt trời
Các yếu tố khác: Ngoài các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển lợn đã nêu trên còn có các yếu tố khác như vấn đề về chuồng trại, chăm sóc, nuôi dưỡng, tiểu khí hậu chuồng nuôi như không khí, tốc độ gió lùa, nồng độ các khí thải Nếu chúng ta cung cấp cho lợn các yếu tố đủ theo yêu cầu của từng loại lợn sẽ giúp cho cơ thể lợn sinh trưởng phát triển đạt mức tối đa
2.2.1.3 Phòng và trị bệnh cho lợn con theo mẹ
Phòng bệnh
Có biện pháp phòng bệnh cho lợn con phù hợp và đầy đủ sẽ giúp lợn sinh trưởng khỏe mạnh, tăng trọng đều, nâng cao hiệu quả chăn nuôi rõ rệt Lợn trong độ tuổi sơ sinh rất dễ mắc bệnh và ảnh hưởng nghiêm trọng tới tốc độ tăng trưởng cũng như hiệu quả kinh tế về sau Nghiêm trọng hơn là lợn có thể nhiễm các bệnh nguy hiểm, tỷ lệ chết có thể lên tới 100% Các biện pháp phòng bệnh chủ yếu xoay quanh các vấn đề về môi trường, vật chủ và mầm bệnh
Trang 25trong trại
+ Tất cả các loại xe khi vào trại phải được phun sát trùng 5 phút trước khi vào khu vực chăn nuôi Sử dụng thuốc sát trùng omnicide pha 5ml/2 lít nước (1/400)
+ Cấm các vật nuôi như chó, gà, vịt vào khu vực chăn nuôi
+ Nhân viên quản lý có trách nhiệm kiểm tra xe đảm bảo chúng sạch sẽ
và vô trùng
+ Khi xuất lợn phải vệ sinh sát trùng khu vực xuất lợn
+ Lợn đã được đưa lên xe không được chuyển trở lại trại
Phòng bệnh trong trại: Trại thực hiện nguyên tắc phòng bệnh hơn chữa + Nghiêm cấm đem thức ăn tươi sống (thị heo, thịt gà, ) vào trại
- Phòng bệnh bên trong trại
• Vệ sinh chuồng trại:
+ Ngăn cách khu vực chăn nuôi lợn với các súc vật khác như: Chó, mèo…
+ Rửa và phun vôi, thuốc sát trùng chuồng trại sạch sẽ ít nhất 3 - 7 ngày trước khi thả lợn vào chuồng
+ Hàng ngày phải quét phân trong chuồng, giữ cho chuồng luôn khô ráo, sạch sẽ
+ Xử lý xác chết gia súc nghiêm ngặt: Chôn sâu, đốt
+ Nên có kế hoạch rửa chuồng, phun thuốc sát trùng và diệt ruồi, muỗi mỗi tuần 2 lần
• Vệ sinh thức ăn và nước uống:
+ Thường xuyên kiểm tra thức ăn trước khi cho lợn ăn, thức ăn phải đảm bảo chất lượng, không bị mốc
+ Nếu sử dụng thức ăn trộn thì định kỳ phải trộn kháng sinh để phòng bệnh cho lợn
Trang 26+ Nước uống phải đủ, sạch, không bị nhiễm bẩn
- phòng bệnh cho lợn con bằng thuốc và vắc xin:
Tiêm phòng vắc xin hay tiêm bổ sung dinh dưỡng giúp lợn con khỏe mạnh, phòng chống bệnh tật phòng bệnh cho lợn con bằng cách tiêm phòng cần tiêm vào thời điểm và độ tuổi phù hợp
+ Tiêm sắt: 2 - 3 ngày tuổi, 2ml/con
+ Uống cầu trùng: 3 - 5 ngày tuổi, 1ml/con
+ Phòng dịch tả: 20 ngày tuổi, 2ml/con
+ Sử dụng thuốc đúng liều lượng
+ Điều trị đúng thời gian quy định hay điều trị đủ thời gian
- Dùng kháng sinh
Kháng sinh được chia làm hai nhóm:
+ Kháng sinh diệt khuẩn: Là loại kháng sinh có tác dụng giết chết vi khuẩn Trong nhóm này gồm: Penicillin, Ampicillin, Streptomycin
+ Kháng sinh kìm khuẩn: Loại này không giết chết được vi khuẩn nhưng làm cho chúng không có khả năng phát triển gây bệnh Trong nhóm này gồm: Tetracylin, chloramphenicol
Tác dụng của kháng sinh được tăng cường khi phối hợp giữa các loại kháng sinh với nhau như: Penicillin + Streptomycin, Tetracylin + Erythromycin
Nguyên tắc sử dụng kháng sinh:
+ Phải xác định đúng căn nguyên của bệnh trước khi sử dụng thuốc
Trang 27+ Sử dụng thuốc đúng liều lượng, đúng thời gian quy định
+ Chỉ phối hợp kháng sinh trong điều kiện thật cần thiết
+ Chọn thuốc dựa trên hoạt phổ kháng sinh
Vậy khi sử dụng kháng sinh điều trị cho cho vật nuôi cần nắm vững những nguyên tắc sử dụng cũng như hiểu rõ được thành phần, cơ chế, tác dụng của loại thuốc sử dụng
- Trong điều trị nên dùng kháng sinh kết hợp với thuốc trợ lực và cải tiến chế độ chăm sóc nuôi dưỡng sẽ cho hiệu quả điều trị cao
2.2.1.4 Một số bệnh thường gặp ở lợn con
Theo Trung tâm chẩn đoán và cố vấn thú y (2010) [17]
* Tiêu chảy do E coli
+ Lứa tuổi bị bệnh: chủ yếu xảy ra trên lợn con theo mẹ, lợn con sau cai sữa
+ Nguyên nhân: do lợn con bú vào bầu vú lợn mẹ có dính phân, uống
nước có chứa mầm bệnh, vệ sinh sàn chuồng không được sạch sẽ, ẩm ướt Lợn bị stress do trộn chung lợn cai sữa trong quá trình vận chuyển, thay đổi thức ăn
+ Triệu chứng, bệnh tích: trên lợn con theo mẹ bị bệnh, lợn thường nằm
tụm lại, run rẩy hoặc nằm một góc, da xung quanh đuôi và hậu môn có dính phân, phân lỏng đến sệt, có màu kem và có thể thấy lợn nôn mửa Lợn mất nước do tiêu chảy, mắt lõm vào, da trở nên khô Trước khi chết có thấy lợn bơi chèo và sùi bọt mép Trên lợn cai sữa, biểu hiện đầu tiên thấy sụt cân, đi phân nước và mất nước Một vài trường hợp phân có máu hoặc sệt với nhiều màu như xám, trắng, vàng và xanh lá cây Do đó màu sắc phân không có ý nghĩa nhiều trong chẩn đoán lâm sàng Có thể lợn chết với mắt lõm vào, thỉnh thoảng thấy lợn nôn mửa và cũng có thể thấy chết mà không có triệu chứng
+ Chẩn đoán: Dựa vào triệu chứng lâm sàng và tiền sử của bệnh trong
trại Trong trường hợp nhiễm độc tố đường ruột của vi khuẩn, xác lợn chết bị
Trang 28mất nước Mổ khám thấy ruột sung huyết, xuất huyết Tiến hành phân lập vi khuẩn để xác định nguyên nhân gây bệnh Lấy mẫu phân nuôi cấy phân lập vi khuẩn Ngoài ra có thể lấy mẫu ruột có bệnh tích kiểm tra mô bệnh học
Nguyễn Chí Dũng (2013) [3], kết luận: Tháng có nhiệt độ thấp và ẩm
độ cao (12,1,2%) tỷ lệ mắc tiêu chảy cao (26,98 - 38,18%)
Nguyên nhân:
- Do thời tiết khí hậu: các yếu tố nóng, lạnh, mưa, nắng, hanh, ẩm thay đổi thất thường và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể lợn, nhất là cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh, các phản ứng thích nghi của cơ thể
Bảng1: Phác đồ điều trị tiêu chảy do e coli
Kháng sinh tiêm Liều lượng
+ Lứa tuổi mắc bệnh: lợn con khoảng 3 ngày tuổi
+ Nguyên nhân: lợn con sau khi sinh không được cắt rốn, không đảm
bảo vệ sinh khi cắt rốn cho lợn con, lợn mẹ dẫm lên làm tổn thương vùng rốn của lợn con, do vệ sinh sát trùng khi cắt rốn cho lợn con không tốt hoặc do môi trường vệ sinh kém
+ Triệu chứng: lợn con thiếu máu, da nhợt nhạt, lông dày và cứng lợn
ốm và dễ bị bệnh ghẻ do hệ miễn dịch yếu Nước tiểu từ bàng quan có thể theo mạch máu rốn chảy ra rốn Khi ấn tay vào rốn thấy có khối cộm cứng, +Cách xử lý: khi cắt rốn cho lợn con sử dụng dao và kéo sắc, ngâm
dụng cụ trong 1 lít nước sát trùng 30 phút trước khi sử dụng Sau khi cắt xong
Trang 29nhúng rốn vào cồn iot để sát trùng Ngày sau kiểm tra rốn khô hay không, nếu rốn không khô (nhìn như lúc mới cắt tức là rốn đang bị viêm) thì nhúng lại cồn iot thêm 1 lần nữa, chấm rốn bằng xanh methylen trong 5 ngày liên tục
*Bệnh viêm phổi địa phương do Mycoplasma hyopneumoniae
+ Lứa tuổi bị bệnh: bệnh thường xảy ra ở lợn con giai đoạn sau cai sữa
và lợn choai, đặc biệt là lợn lúc 7 tuần tuổi trở lên
+ Nguyên nhân: do Mycoplasma hyponeumoniae gây ra
+ Triệu chứng, bệnh tích:
Cấp tính: thường gặp trong đàn lần đầu bị nhiễm bệnh, viêm phổi nặng,
ho râm ran, thở khó, sốt và tỉ lệ chết cao Tuy nhiên những triệu chứng này biến động và biến mất đi khi bệnh nhẹ đi
Mãn tính: thường gặp trong đàn có mầm bệnh xuất hiện nhiều lần, ho kéo dài và nhiều lần (ho theo kiểu chó ngồi) Một số con bị hô hấp nặng và biểu hiện triệu chứng viêm phổi, sẽ có khoảng 30 - 70% số lợn có bệnh tích tổn thương phổi khi mổ khám
+ Chẩn đoán: dựa trên tiền sử bệnh trong trại, dấu hiệu lâm sàng và phương pháp phòng thí nghiệm Mổ khám thấy có bệnh tích gan hóa phổi trên thùy phổi trước
Bảng 2: Phác đồ điều trị viêm phổi địa phương do Mycoplasma
Trang 30*Bệnh viêm da tiết dịch
+ Lứa tuổi bị bệnh: Chủ yếu là heo con nhỏ hơn 8 tuần tuổi
+ Nguyên nhân: Do vi khuẩn Staphylococcus hyicus gây ra
+ Triệu chứng: Heo bơ phờ, chậm chạp, ít vận động, chán ăn Tiếp đó
thấy da ửng đỏ lên chủ yếu ở vùng da mỏng như vùng nách, háng, da bụng nhưng heo không ngứa, nhiệt độ cơ thể cũng không nóng lên Xuất hiện các nốt màu nâu có đường kính 1- 2 cm, xung quanh bao bọc bởi huyết thanh và dịch rỉ viêm ở vùng da mặt và đầu Theo thời gian, các nốt chuyển từ màu nâu sang đen dần do hoại tử Trong trường hợp viêm cấp tính, các mảng da viêm lan rộng nhanh chóng và kết thành khối, mảng trên da rồi lan ra toàn thân chỉ trong vòng 24 - 48h Các mảng viêm có thể bong tróc ra để lại những mảng da loét với đầy dịch rỉ viêm (nên bệnh còn có tên gọi khác là “Greasy pig disease” – tạm dịch là bệnh heo mỡ) Heo mất nước, mất điện giải trầm trọng
và có thể dẫn đến tử vong
+ Bệnh tích: Bệnh tích quan sát thấy đầu tiên khi mổ heo là hiện tượng
mất nước và heo rất hôi Trường hợp mãn tính, heo bị viêm tai ngoài Xuất hiện các vết cắt trên nhú thận, niệu quản Tổ chức thận chứa các mảnh vỡ tế bào Viêm bể thận Quan sát dưới kính hiển vi: nang lông viêm có mủ, Các hạch bạch huyết dưới da tích nước và sưng to, viêm có mủ
Bảng 3: Phác đồ điều trị bệnh viêm da tiết dịch:
Kháng sinh tiêm Liều lượng
Trang 31+ Nguyên nhân: do 1 loại ký sinh trùng nhỏ có tên Isospora suis, ký
sinh trùng này sống nhân lên nhờ tế bào vật chủ, chủ yếu là tế bào đường ruột + Triệu chứng, bệnh tích: Trong giai đoạn đầu triệu chứng chính là tiêu
chảy Ở giai đoạn sau phân trở nên đặc hơn và màu chuyển từ vàng tới xám xanh, hoặc trong phân có lẫn máu khi bệnh trở nên nghiêm trọng hơn Cầu trùng tác động gây tổn thương trên thành ruột non làm lợn con tiểu chảy dẫn đến mất nước Tỷ lệ chết do cầu trùng rất thấp nhưng nếu có sự lây nhiễm kế phát của vi khuẩn thì tỷ lệ chết sẽ tăng cao Khi lợn con bị nhiễm cầu trùng thì lợn con còi cọc và phát triển không đồng đều
+ Chẩn đoán: dựa trên triệu chứng lâm sàng và điều trị kháng sinh ít hiệu quả Trong một số trường hợp, ruột có bệnh tích hình dải ruy băng ở phần không tràng và hồi tràng Lấy mẫu phân lợn tiêu chảy xét nghiệm tìm noãn nang bằng phương pháp phù nổi Ngoài ra có thể lấy phần ruột có bệnh tích đi kiểm tra mô học
Bảng 4: Toltrazoril cho lợn con uống phòng bệnh cầu trùng
Kháng sinh uống Liều lượng pha uống Số ngày sử dụng
*Viêm khớp
+ Nguyên nhân: Là các vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể theo đường
miệng, cuống rốn, vết thương khi cắt đuôi, bấm răng, bấm tai, các vết thương trên chân, da, đầu gối khi chúng chà sát trên nền chuồng cứng, thô ráp hoặc qua vết thiến Một nguyên nhân khác là do lợn con sau khi sinh không được
bú sữa đầu từ lợn mẹ đầy đủ, nhất là ở những lợn con bị mất mẹ…
+ Triệu chứng, bệnh tích: Thấy chúng đi khập khiễng từ 3 - 4 ngày
tuổi Khớp chân sưng lên sau đó 7 - 15 ngày tuổi và lợn có thể chết sau đó lúc
2 - 5 tuần tuổi Dấu hiệu viêm có thể thấy trên mọi ổ khớp nhưng thường thấy
Trang 32nhất là khớp cổ chân, khớp háng và khớp bàn chân Khi rạch ổ khớp viêm thấy trong khớp có mủ đặc, có vết máu và những chất hoại tử màu trắng
2.2.2 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.2.1 Nghiên cứu trong nước
Việc nghiên cứu về giai đoạn lợn con theo mẹ và sau cai sữa được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm, giai đoạn lợn con theo mẹ có đặc điểm là lợn con sinh ra không được cung cấp nguồn dinh dưỡng trực tiếp như khi còn là bào thai Bộ máy tiêu hóa chưa hoàn thiện, môi trường sống thay đổi, lượng sắt do mẹ cung cấp giảm dần, lợn con dễ mắc bệnh đặc biệt làbệnh đường tiêu hóa
Bộ máy tiêu hóa ở lợn con phát triển nhanh, song khả năng chống đỡ bệnh tật ở đường ruột và dạ dày còn yếu Do đó, cần chú ý vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống và áp dụng các biện pháp kỹ thuật phòng chống bệnh đường tiêu hóa cao hơn
Khi lợn nái nuôi con bằng chuồng sàn thì lợn con ít và không ỉa chảy phân trắng, còn lợn con theo mẹ nuôi chuồng nền thì tỷ lệ mắc hội chứng tiêu chảy từ 40 - 45%
Theo Trần Thị Dân (2008) [1], lợn con mới đẻ trong máu không có globulin nhưng sau khi bú sữa đầu lại tăng lên nhanh chóng do truyền từ mẹ sang qua sữa đầu Lượng globulin sẽ giảm sau 3 - 4 tuần, rồi đến tuần thứ 5 -
6 lại tăng lên và đạt giá trị bình thường 65mg/100ml máu Các yếu tố miễn
Trang 33dịch như bổ thể, bạch cầu… được tổng hợp còn ít, khả năng miễn dịch đặc hiệu của lợn con kém Vì vậy, cho lợn con bú sữa đầu rất cần thiết để tăng khả năng bảo vệ cơ thể chống lại mầm bệnh
Theo Đoàn Thị Kim Dung (2004) [2], các yếu tố nóng, lạnh, mưa, nắng, hanh, ẩm thay đổi thất thường và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể lợn, nhất là cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh, các phản ứng thích nghi của cơ thể còn rất yếu
Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy điều kiện môi trường sống lạnh,
ẩm đã làm thay đổi các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu của lợn, biến đổi về chức năng và hình thái của hệ tuần hoàn, hệ nội tiết, liên quan đến phản ứng điều hòa nội mô Trong những trường hợp như thế sức đề kháng của cơ thể giảm đi là điều kiện để cho các vi khuẩn đường ruột tăng số lượng độc tính và gây bệnh
Nhu cầu Fe trong máu rất cần thiết cho duy trì Hemoglobin (Hb) và dự trữ cho cơ thể phát triển Ở lợn sơ sinh, trong 100ml máu có 10,9mg Hb, sau
10 ngày tuổi chỉ còn 4 - 5mg Nếu lợn con chỉ nhận Fe qua sữa sẽ thiếu Fe dẫn đến thiếu máu gây suy dinh dưỡng, ỉa phân trắng
Theo Hoàng Phú Hiệp (2014) [5], vi khuẩn E coli là một trong những
tác nhân hàng đầu gây ra bệnh tiêu chảy ở lợn con Trong sinh hoạt hằng ngày, không ngoại trừ trường hợp con người bị nhiễm vi khuẩn E Coli thông qua tiếp xúc hay phơi nhiễm với phân người, động vật và gia cầm
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [4], các yếu tố lạnh, ẩm ảnh hưởng rất lớn đến lợn sơ sinh, lợn con vài ngày tuổi Trong các yếu tố về tiểu khí hậu thì quan trọng nhất là nhiệt độ và độ ẩm Độ ẩm thích hợp cho lợn từ 75 - 85% Vì thế việc làm khô và giữ ấm chuồng là vô cùng quan trọng
Theo Phan Địch Lân và cs (1997) [11], chuồng trại ẩm, lạnh tác động vào cơ thể lợn gây rối loạn thần kinh từ đó gây rối loạn tiêu hóa Tỷ lệ lợn con
Trang 34mắc hội chứng tiêu chảy thay đổi theo sự biến đổi hàng tháng của nhiệt độ, độ
ẩm trung bình, cụ thể là có sự tương quan thuận với độ ẩm và tương quan nghịch với nhiệt độ không khí Do đó, để hạn chế tỷ lệ mắc hội chứng tiêu chảy lợn con thì ngoài các biện pháp về dinh dưỡng, thú y, cần đảm bảo tiểu khí hậu chuồng nuôi thích hợp
- Theo Nguyễn Trung Tiến và cs (2015) [18], dịch tiêu chảy cấp tính trên lợn (Porcine Epldemic Diarrhea - PED) là một bệnh truyền nhiễm cấp
tính nguy hiểm do một loại vi rút thuộc họ Coronaviridae gây ra Dịch PED
xảy ra quanh năm nhưng thường phổ biến hơn vào mùa đông và trên 90% ca bệnh xảy ra ở lợn con dưới 7 ngày tuổi Trong nghiên cứu này 148 mẫu bệnh phẩm là các mẫu phân và ruột của lợn nghi mắc bệnh PED thu thập được từ 3 tỉnh là Quảng Trị, Thái Nguyên và Thái Bình từ năm 2013 - 2014 đã được chẩn đoán bằng phương pháp RT - PRC Kết quả chẩn đoán cho thấy 57/148 (38,51%) mẫu bệnh phẩm dương tính với vi rút PED Kết quả phân tích trình
tự nucleotide và amino acid trên cơ sở giải trình tự một phân gen S (spike gene) cho thấy các chủng vi rút PED thu thập được trong nghiên cứu này có tỉ
lệ tương đồng về nuleotide và amino acid rất cao khi so sánh với các chủng vi rút PED tham chiếu khác trước đây của Việt Nam, tỷ lệ tương đồng nucleotide từ 94,8 - 98,6% và amino acid từ 93,5 - 98,8% Kết quả phân tích cây phả hệ cho thấy các chủng vi rút PED trong nghiên cứu này thuộc nhóm G1-1
Theo Đoàn Thị Kim Dung (2004) [2], khi lợn bị tiêu chảy số loại vi khuẩn và tổng số vi khuẩn hiếu khí trong 1gam phân tăng lên so với ở lợn không bị tiêu chảy Khi phân lập tác giả thấy rằng các vi khuẩn đóng vai trò
quan trọng trong hội chứng tiêu chảy như: E coli, Salmonella và
Streptococcus tăng lên trong khi Staphylococcus và Bacillus subtilis giảm đi