1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự chuyển nghĩa và thay đổi cách sử dụng của nhóm từ ghép hán việt so với từ gốc hán

144 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự Chuyển Nghĩa Và Thay Đổi Cách Sử Dụng Của Nhóm Từ Ghép Hán Việt So Với Từ Gốc Hán
Tác giả Phạm Thị Diễm Thúy
Người hướng dẫn Thạc sĩ Trần Duy Khương
Trường học Trường Đại Học Thủ Dầu Một
Chuyên ngành Sư Phạm Ngữ Văn
Thể loại báo cáo tổng kết
Năm xuất bản 2015
Thành phố Bình Dương
Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 4,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (13)
  • 2. Mục tiêu đề tài (3)
  • 3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu (13)
    • 3.1. Đối tƣợng nghiên cứu (0)
    • 3.2. Phạm vi nghiên cứu (14)
    • 3.3. Phương pháp nghiên cứu (14)
  • 4. Lịch sử vấn đề (14)
  • 5. Sản phẩm và khả năng ứng dụng (16)
  • 6. Bố cục và nội dung của đề tài (17)
  • Chương 1: Khái quát về từ Hán Việt trong quá trình phát triển của tiếng Việt (18)
    • 1.1. Khái quát về từ Hán Việt (19)
    • 1.2. Quá trình du nhập của tiếng Hán vào Việt Nam (25)
    • 1.3. Vai trò của tiếng Hán đối với sự phát triển ngôn ngữ Việt (29)
    • 1.4. Tiểu kết (34)
  • Chương 2: Nhóm từ Hán Việt có sự chuyển đổi nghĩa so với nghĩa gốc Hán (35)
    • 2.1. Nguyên nhân có sự chuyển đổi nghĩa trong quá trình sử dụng từ Hán (35)
    • 2.2. Phân loại các nhóm từ Hán Việt thay đổi nghĩa (37)
      • 2.2.1. Từ Hán Việt có nghĩa thu hẹp hoặc mở rộng so với nghĩa gốc (38)
      • 2.2.2. Từ Hán Việt có nghĩa khác (40)
    • 2.3. Tiểu kết (74)
  • Chương 3: Cách dùng từ Hán Việt của người Việt hiện nay (76)
    • 3.1. Xu hướng sử dụng từ Hán Việt trong đời sống người Việt (76)
      • 3.1.1. Nỗ lực chính thống hóa trong sử dụng (77)
      • 3.1.2. Tạo ra từ mang yếu tố Hán Việt mới theo nhu cầu thực tế (78)
      • 3.1.3. Sử dụng song hành từ Hán Việt nguyên bản và từ Hán Việt có cách dùng khác (100)
      • 3.1.4. Chấp nhận sự chuyển nghĩa (124)
    • 3.2. Các vấn đề bất cập về nghĩa khi sử dụng từ Hán Việt (125)
    • 3.3. Các lỗi sai về cấu tạo từ (127)
      • 3.3.1. Dùng từ bất thoả do không phân biệt đƣợc từ Hán Việt và từ thuần Việt 115 3.3.2. Dùng từ bất thoả do cách tạo từ mới không theo nguyên tắc cấu tạo (0)
    • 3.4. Ảnh hưởng của những từ Hán Việt thay đổi cách sử dụng (137)
    • 3.5. Tiểu kết (138)
  • KẾT LUẬN (140)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (58)

Nội dung

Mục tiêu đề tài

Chúng tôi nghiên cứu sự thay đổi trong cách sử dụng các từ Hán Việt để tìm hiểu nghĩa gốc của chúng trong đời sống hằng ngày, đồng thời đánh giá tính hợp lý trong việc sử dụng các từ này của người Việt Mục tiêu là chỉ ra những cách dùng chưa thỏa đáng nhằm bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt Đề tài này hy vọng sẽ nâng cao ý thức của người Việt trong việc sử dụng từ Hán Việt và giúp họ diễn đạt ngôn ngữ một cách hợp lý và hiệu quả hơn trong cuộc sống hàng ngày.

3 Tính mới và sáng tạo

Chúng tôi kế thừa và phát triển nghiên cứu về từ Hán Việt, tập trung vào việc phân tích sự thay đổi trong cách sử dụng của các từ này Bài viết cung cấp bảng thống kê chi tiết cho các nhóm từ, giúp người đọc hiểu rõ hơn về những biến đổi trong nghĩa và vỏ ngữ âm của từ Hán Việt Qua đó, công trình này làm nổi bật sự thay đổi nghĩa và cách phát âm, góp phần làm sáng tỏ quá trình phát triển ngôn ngữ.

Trong bài viết này, chúng tôi khảo sát quá trình thay đổi cách sử dụng từ Hán Việt, bao gồm ba phần chính Thứ nhất, chúng tôi giới thiệu khái quát về từ Hán Việt, quá trình du nhập của chúng vào Việt Nam và vai trò quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ Việt Thứ hai, chúng tôi thực hiện thống kê và phân loại nhóm từ chuyển đổi.

UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM, TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT, thực hiện nghiên cứu về xu hướng sử dụng từ Hán Việt trong cộng đồng người Việt hiện nay, đồng thời chỉ ra những lỗi sai trong cấu tạo từ ngữ.

Chương 1 của nghiên cứu tập trung vào việc giới thiệu khái quát về từ Hán Việt, bao gồm quá trình du nhập của chúng vào Việt Nam và vai trò quan trọng của từ Hán Việt trong hệ thống ngôn ngữ Việt.

Từ Hán Việt là những từ gốc Hán được đưa vào Việt Nam qua cả con đường chiến tranh và giao lưu văn hóa Trước khi chữ Quốc ngữ ra đời, người Việt sử dụng chữ Hán để viết, nhưng đọc theo âm Việt Trong suốt thời kỳ phong kiến, chữ Hán được áp dụng trong các văn bản hành chính của nhà nước Sự tiếp nhận chữ Hán chủ yếu diễn ra ở thời kỳ cổ đại, đặc biệt là trong thời Đường- Tống.

Thuật ngữ “từ Hán Việt” đã được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Họ đã công bố nhiều bài viết, thể hiện quan điểm riêng về khái niệm này.

Nguyễn Tài Cẩn đã dựa vào các bằng chứng lịch sử và khảo cổ để chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến sự tiếp xúc lâu dài, liên tục và sâu rộng giữa tiếng Hán và tiếng Việt.

Thứ nhất: nhân tố về mặt chính trị;

Thứ hai : nhân tố về mặt xã hội;

Thứ ba: nhân tố về mặt văn hóa;

Quá trình du nhập đƣợc chia ra làm hai giai đoạn và lấy thế kỷ X làm cột mốc để đánh dấu sự phân chia đó

Khi nhắc đến vai trò của Từ hán Việt thì Đặng Đức Siêu đã nói nhƣ sau:

Việc hiểu và sử dụng từ Hán Việt cần dựa trên quy phạm hóa và chuẩn hóa từ nhận thức khoa học cùng tập quán của hàng ngàn thế hệ người bản địa Nhân tài song ngữ Việt Hán đã sáng tác nhiều tác phẩm mẫu mực, phản ánh sống động các lĩnh vực hoạt động của đất nước và đời sống xã hội Những tác phẩm này bộc lộ sức mạnh văn hóa Việt Nam, thể hiện sự phong phú, tinh tế và trong sáng của tiếng Việt, trong đó có sự đóng góp quan trọng của lớp từ Hán Việt.

Hán Việt giữ vai trò chủ đạo trong ngôn ngữ Việt, đặc biệt trong các văn bản chính luận và khoa học, giúp tăng tính trang trọng cho nội dung Trong các tình huống giao tiếp trang trọng, người Việt thường có xu hướng sử dụng từ Hán Việt.

Trong phần thứ hai, hay chương 2 của nghiên cứu, chúng tôi phân tích các nguyên nhân dẫn đến sự chuyển đổi nghĩa trong quá trình sử dụng từ Hán Việt.

Thứ nhất : Do tư duy liên tưởng của người Việt

Thứ hai : Do yếu tố văn hóa của người Việt

Người Việt thường có thói quen rút gọn các từ ngữ Hán thành những từ ngắn gọn hơn, nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng ngôn ngữ đơn giản.

Thứ tư: Do nhân tố xã hội luôn tác động mạnh mẽ dẫn đến có sự thay đổi nghĩa của từ Hán Việt

Sau khi thực hiện khảo sát, chúng tôi đã thống kê được tổng cộng 456 từ trong số 7485 từ, chiếm tỷ lệ 6.09% Nhóm từ Hán Việt có sự thay đổi nghĩa so với nghĩa gốc được phân chia thành các tiểu loại khác nhau.

Loại thứ nhất: Từ Hán Việt có nghĩa khác

Loại thứ hai: Từ Hán Việt có nghĩa thu hẹp hoặc mở rộng so với nghĩa gốc Loại thứ ba: Từ Hán Việt có cách dùng khác

Trong chương 3 của nghiên cứu, chúng tôi phân tích xu hướng sử dụng từ Hán Việt trong cộng đồng người Việt hiện nay, đồng thời chỉ ra những lỗi sai thường gặp trong cấu tạo của những từ này.

Người Việt áp dụng từ Hán Việt theo ba xu hướng chính: thứ nhất, nỗ lực chính thống hóa trong việc sử dụng; thứ hai, sáng tạo từ mới mang yếu tố Hán Việt theo nhu cầu thực tiễn; và thứ ba, chấp nhận sự chuyển nghĩa của từ.

Lịch sử vấn đề

Hiện nay, có nhiều nghiên cứu về lịch sử phát triển của tiếng Việt, đặc biệt là về từ Hán Việt Những từ này xuất phát từ tiếng Hán và đã thâm nhập vào Việt Nam qua cả con đường chiến tranh và giao lưu văn hóa Chúng đã trở thành công cụ giao tiếp quan trọng trong hơn một ngàn năm, dẫn đến nhiều vấn đề trong việc sử dụng Do đó, các học giả đã tiến hành nghiên cứu nhằm giúp người Việt sử dụng từ Hán Việt một cách chính xác và hiệu quả.

Từ Hán Việt không chỉ là đối tượng nghiên cứu trong ngôn ngữ học mà còn là yếu tố quan trọng trong giao tiếp hàng ngày Việc xác định cách sử dụng từ Hán Việt đúng hay sai không phải là điều đơn giản, điều này đã được thảo luận nhiều trên báo Văn nghệ của Hội nhà văn trong những năm gần đây Mặc dù đã có nhiều ý kiến từ các học giả và độc giả, việc định nghĩa đúng sai trong cách dùng từ Hán Việt và tìm ra giải pháp khắc phục tình trạng sử dụng tùy tiện vẫn còn là thách thức lớn Tình hình này cho thấy tính phức tạp của vấn đề và phản ánh những yêu cầu cấp bách của xã hội hiện nay.

Tác giả Vũ Cao Phan trong bài viết “Thử đề xuất một giải pháp” nhấn mạnh rằng nếu không có giải pháp cho vấn đề từ Hán Việt, tình hình sử dụng sẽ ngày càng bừa bãi Ông chỉ ra rằng, mặc dù từ Hán Việt phát triển phong phú trong ngôn ngữ Việt, nhưng vẫn bị coi là từ vay mượn Theo các nhà ngôn ngữ học, từ Hán Việt là những từ mượn từ tiếng Hán, nhưng được đọc theo cách của người Việt Điều này cho thấy, dù từ Hán Việt được sử dụng phổ biến, chúng không phải là bản ngữ, do đó cần hiểu rõ nghĩa gốc để sử dụng một cách hợp lý.

Trong số các công trình nghiên cứu, có tác phẩm "Chữ Hán của Người Việt" của Vũ Tuấn Sán, phân tích việc Việt hóa từ Hán qua cách đọc và hiểu nghĩa, cũng như việc viết chữ theo thể “thảo” theo cách riêng của người Việt Bài viết "Có nên dạy chữ Hán ở trường phổ thông" của Vũ Văn Dân, trao đổi với giáo sư Nguyễn Đình Chú trên mục Bình luận văn nghệ ngày 11 tháng 10, cũng đáng chú ý Ngoài ra, còn có bài viết của tác giả Trần.

Thanh Tuấn đã có cuộc trao đổi với tác giả Vũ Văn Dân về vai trò của việc học chữ Hán trong việc nâng cao chất lượng dạy học ngữ văn phổ thông Cùng chủ đề, bài báo của Hồ Xuân Tuyên mang tên “Về một số từ Hán Việt hay bị phê phán dùng sai” (in trong tạp chí Ngôn ngữ và đời sống số 1 + 2 năm 2012) cũng đề cập đến vấn đề sử dụng sai một số từ Hán Việt Tác giả Hồ Xuân Tuyên nhận định rằng một số từ Hán Việt đã được người Việt điều chỉnh về trật tự cấu tạo, âm và nghĩa để phù hợp hơn với ngôn ngữ Việt, chứ không hẳn là sử dụng sai.

Có bốn trường hợp sử dụng từ Hán Việt bị phê phán do phát âm sai, viết sai, thay đổi trật tự, biến âm, chuyển nghĩa để Việt hóa, và lỗi lặp trong các kết hợp đồng nghĩa giữa yếu tố Hán và Việt Theo tác giả Hồ Xuân Tuyên, không thể khẳng định rằng tất cả các từ Hán Việt bị phê phán đều đúng, vì trong số đó có những từ đã trải qua quá trình lịch sử và được người Việt điều chỉnh.

Việc "thuần hóa" từ Hán Việt theo quy luật ngôn ngữ cần được xem xét một cách toàn diện Đánh giá đúng sai trong việc sử dụng từ ngữ này không chỉ dựa vào một khía cạnh, mà còn phải cân nhắc nhiều yếu tố khác nhau Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nhìn nhận vấn đề một cách khách quan và đa chiều.

Những công trình nghiên cứu về từ Hán Việt phản ánh thực trạng sử dụng của người Việt hiện nay và thu hút sự quan tâm của sinh viên ngành Ngôn ngữ và Ngữ văn Trung Quốc Một ví dụ điển hình là đề tài của sinh viên Trần Thị Tố Nga, "Phân tích sự khác biệt về nghĩa của từ Hán Việt và từ tiếng Hán tương ứng cùng những ứng dụng trong giảng dạy từ vựng tiếng Hán" Đề tài này không chỉ chỉ ra sự khác biệt về nghĩa giữa hai loại từ mà còn đề xuất phương pháp giảng dạy từ vựng tiếng Hán hiệu quả hơn.

Mặc dù các công trình nghiên cứu trước đây đã khái quát về nhóm từ Hán Việt sai biệt nghĩa, nhưng vẫn thiếu bảng thống kê cụ thể Tiếp nối các nghiên cứu trước, chúng tôi chọn đề tài “Khảo sát nhóm từ Hán Việt thay đổi cách sử dụng” để bổ sung kiến thức về thực tế sử dụng từ Hán Việt Chúng tôi hy vọng công trình này sẽ giúp nâng cao hiểu biết và đưa ra cách sử dụng hợp lý hơn, từ đó làm phong phú thêm cho tiếng Việt.

Sản phẩm và khả năng ứng dụng

Nghiên cứu này sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về nguồn gốc và sự du nhập của tiếng Hán vào Việt Nam, đồng thời phân tích vai trò của tiếng Hán trong sự phát triển ngôn ngữ tiếng Việt Bài viết sẽ làm rõ nguyên nhân thay đổi trong cách sử dụng và phân loại các từ Hán Việt, xu hướng sử dụng từ Hán Việt của người Việt hiện nay, cùng với những vấn đề bất cập liên quan đến việc sử dụng từ Hán Việt trong đời sống.

Công trình này là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên trong việc đọc và soạn thảo văn bản như giáo án và bài luận, hỗ trợ cho quá trình học tập và giảng dạy Nó giúp người dùng nhận diện những từ Hán Việt sử dụng không đúng cách và những từ đã được "Việt hóa" phù hợp với ngôn ngữ Việt Việc này đặc biệt quan trọng khi sử dụng từ Hán Việt trong các phương tiện truyền thông và văn bản chính luận, khoa học, hành chính, nơi mà từ Hán Việt thường xuất hiện.

Bố cục và nội dung của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của công trình sẽ đƣợc trình bày trong ba chương:

- Chương 1: Khái quát về từ Hán Việt trong quá trình phát triển của tiếng Việt

Chương này sẽ trình bày nguồn gốc và quá trình du nhập của tiếng Hán vào Việt Nam, đồng thời làm nổi bật vai trò quan trọng của tiếng Hán trong sự phát triển của ngôn ngữ tiếng Việt.

Chương 2: Nhóm từ Hán Việt có sự chuyển đổi nghĩa, tập trung vào việc tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến sự sai biệt nghĩa Chương này khảo sát, thống kê và phân loại các từ Hán Việt đã chuyển đổi cách sử dụng, nhằm làm rõ những biến đổi trong ý nghĩa và chức năng của chúng.

Chương 3 sẽ khám phá xu hướng sử dụng từ Hán Việt trong đời sống hiện nay của người Việt, đồng thời chỉ ra những lỗi sai phổ biến khi áp dụng từ Hán Việt Nội dung chương này nhằm nâng cao nhận thức về việc sử dụng từ ngữ một cách chính xác và hiệu quả trong giao tiếp hàng ngày.

Khái quát về từ Hán Việt trong quá trình phát triển của tiếng Việt

Khái quát về từ Hán Việt

Từ Hán Việt là những từ gốc Hán được du nhập vào Việt Nam qua cả con đường chiến tranh và giao lưu văn hóa Từ thế kỷ I trước Công Nguyên, người Hán đã thống trị Giao Châu, và sự đô hộ này kéo dài gần một ngàn năm, kết thúc vào thế kỷ X sau Công Nguyên Sau khi giành độc lập vào năm 938, Việt Nam tiếp tục tiếp thu văn minh Trung Hoa, đặc biệt trong lĩnh vực chính trị và văn học nghệ thuật, cho đến giữa thế kỷ XIX Điều này đã dẫn đến sự tồn tại song song của từ thuần Việt và từ Hán Việt trong hệ thống tiếng Việt, với lớp từ Hán Việt được đọc theo khẩu âm Việt như một minh chứng rõ ràng cho ảnh hưởng lâu dài của văn hóa Hán đối với văn hóa Việt.

Trước khi chữ Quốc ngữ ra đời, người Việt chủ yếu sử dụng chữ Hán để viết, nhưng đọc theo khẩu âm Việt Chữ Nôm, mặc dù dựa trên chữ Hán, lại phức tạp và chưa được chuẩn hóa, do đó không trở thành chữ viết phổ cập Trong suốt thời kỳ phong kiến, nhà nước Việt Nam đã sử dụng chữ Hán cho các văn bản hành chính quốc gia.

Theo Đặng Đức Siêu trong cuốn "Dạy và học từ Hán Việt ở trường Phổ thông", ông cho rằng "Từ Hán Việt là một thực thể vừa quen vừa lạ", nhấn mạnh sự đặc biệt và quen thuộc của loại từ này trong ngôn ngữ.

Các từ Hán Việt đã được Việt hóa đến mức quen thuộc với người Việt, nhưng cấu trúc ngữ nghĩa của chúng vẫn gây khó khăn cho nhiều người Ví dụ như các từ "cứu cánh", "bình sinh", "tỏa chiết", "nhân thân", và "trầm kha" thường xuất hiện trong giao tiếp và văn bản, nhưng không phải ai cũng dễ dàng hiểu rõ ý nghĩa của chúng.

Để hiểu rõ hơn về từ Hán Việt và sử dụng hiệu quả, trước tiên, chúng ta cần tìm hiểu về Hán tự, đặc biệt là về thể chữ.

Hán tự là chữ viết tượng hình của người Trung Hoa, vẫn phổ biến đến ngày nay Hiện có hai dạng chữ chính: giản thể, sử dụng chủ yếu ở Trung Quốc đại lục, và phồn thể, được dùng ở Đài Loan Tại Việt Nam, chữ giản thể chỉ mới xuất hiện sau cuộc vận động Ngũ Tứ 1919, trong khi văn hóa Việt Nam dần chuyển hướng từ Trung Hoa sang phương Tây, khiến nhiều học giả ít quen thuộc với giản thể Do đó, văn chương Trung Hoa đã thay đổi nhiều, trong khi Việt Nam vẫn sử dụng lối văn cổ điển với từ Hán đời Đường Những từ Hán này được phát âm theo cách riêng của người Việt, gọi là từ Hán Việt, và cách đọc này được Nguyễn Tài Cẩn định nghĩa là “cách đọc Hán Việt”.

Người Việt đã mượn chữ Hán từ Trung Quốc chủ yếu trong thời kỳ cổ đại, đặc biệt là thời Đường-Tống, khi chữ Hán phức tạp (chữ phồn thể) và lối hành văn mang tính bác học Sự xâm nhập của chữ Hán trong giai đoạn này đã ảnh hưởng lớn đến các nước láng giềng như Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam, nơi chữ Hán được biến đổi âm đọc theo phong ngôn địa phương Trong suốt thời kỳ phong kiến, chữ Hán trở thành văn tự chính thống tại Việt Nam, đồng thời một số trí thức Việt đã sáng tạo chữ Nôm để thể hiện sự độc lập và tự chủ.

Thuật ngữ “từ Hán Việt” đã được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Nhiều bài viết đã được công bố, trong đó các tác giả chia sẻ những nhận định riêng về khái niệm này.

Chúng ta thường nhầm lẫn giữa “từ Hán Việt” và “tiếng Hán Việt” “Từ” là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa hoàn chỉnh, trong khi “tiếng” đề cập đến giọng nói hoặc cách phát âm của một vùng Do đó, “từ Hán Việt” và “tiếng Hán Việt” có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong ngôn ngữ Việt.

Năm 1972, trong tác phẩm "Văn phạm Việt Nam (Giản dị và thực dụng)", Bùi Đức Tịnh đã định nghĩa tiếng Hán Việt một cách đơn giản là những từ Hán được phát âm theo cách Việt Ông cho rằng, ban đầu, đó là những chữ Hán mà các nhà tri thức Việt Nam đã đọc theo giọng Việt khi học từ sách Trung Hoa.

Năm 1979, trong chuyên luận "Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt", Nguyễn Tài Cẩn nhấn mạnh tầm quan trọng của từ Hán Việt cùng các điều kiện lịch sử, văn hóa liên quan Ông cho biết chữ Hán, do người Hán sáng tạo cách đây hơn 3000 năm, đã hình thành trong khu vực lưu vực sông Hoàng Hà và sông Vị Cách đọc Hán Việt được hiểu là lối đọc chữ Hán đặc trưng của người Việt, thường được sử dụng khi tiếp cận các văn bản tiếng Hán Mặc dù Nguyễn Tài Cẩn đã đưa ra nhiều ý kiến về chữ Hán và cách đọc Hán Việt, nhưng ông vẫn chưa cung cấp một định nghĩa cụ thể về từ Hán Việt.

Theo Nguyễn Như Ý trong Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học năm 1998, từ tiếng Việt có nguồn gốc từ tiếng Hán được tích hợp vào hệ thống từ vựng tiếng Việt, và chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa của tiếng Việt, được gọi là từ Việt gốc Hán.

Tác giả Lê Ngọc Trụ trong Tầm nguyên từ điển cũng đã đƣa ra định nghĩa sau:

Tiếng Hán Việt là cách phát âm tiếng Hán theo giọng Việt, được hình thành từ việc các trí thức Việt Nam đọc chữ Hán trong sách Trung Hoa và điều chỉnh âm điệu cho phù hợp với ngôn ngữ của mình.

Nhà Từ vựng học Nguyễn Thiện Giáp trong Giáo trình Từ vựng học tiếng Việt (1998) khẳng định rằng các từ ngữ gốc Hán được đọc theo âm Hán Việt, và được gọi tắt là từ Hán Việt.

Lê Đình Khẩn trong bài viết của mình về từ vựng gốc Hán trong tiếng Việt đã đồng thuận với quan điểm của Nguyễn Như Ý, nhấn mạnh rằng "Từ Hán Việt là lớp từ Hán mà tiếng Việt vay mượn từ đời Đường, dựa trên âm đọc ở Trường An, âm đọc chính của thời kỳ đó."

Quá trình du nhập của tiếng Hán vào Việt Nam

Chữ Hán, hay còn gọi là chữ Nho, là văn tự do người Hán sáng tạo ra cách đây hơn 3000 năm, ban đầu chỉ phục vụ cho người Hán và các tầng lớp trên trong khu vực đã bị Hán hóa Nó được sử dụng để ghi chép các sự kiện liên quan đến bói toán, văn học, và triết học, đồng thời cũng là công cụ thảo luận về chính trị Qua thời gian, chữ Hán đã lan rộng ra nhiều vùng lãnh thổ, vượt sông Dương Tử vào đất Ngô, đất Việt, và tiếp tục phát triển đến Giao Châu và Choson (Triều Tiên) Vào những thế kỷ sau, nó còn lan sang các vương quốc Beakje, Silla và quần đảo Nhật Bản, cho thấy sức ảnh hưởng lớn của chữ Hán Sự tiếp xúc giữa tiếng Việt và tiếng Hán đã hình thành một kho từ vựng Hán Việt phong phú, với khoảng 70% từ vựng hiện nay có nguồn gốc từ Hán Nguyễn Tài Cẩn cho rằng ảnh hưởng của tiếng Hán đến tiếng Việt rất rõ rệt, với sự vay mượn từ Hán Việt chiếm tỉ lệ cao trong quá trình hình thành ngôn ngữ.

Mối quan hệ giữa cư dân miền Bắc Việt Nam và cư dân Hán bắt đầu từ thời kỳ thượng cổ, trước khi có sự phân hóa thành các ngôn ngữ riêng biệt như Việt, Mường, Chứt Sự tiếp xúc giữa người Hán và người Việt, dẫn đến ảnh hưởng lớn của tiếng Hán đối với tiếng Việt, khởi đầu từ khi Triệu Đà xâm lược Âu Lạc (-179) và đặc biệt từ khi nhà Hán thiết lập đô hộ tại Giao Chỉ, Cửu Chân (-111) Sự tương tác này tiếp tục cho đến năm 905.

Vào năm 938, khi Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán, sự tiếp xúc ngôn ngữ giữa Việt Nam và Trung Quốc bắt đầu suy giảm Sự giao thoa này chủ yếu diễn ra thông qua các sứ thần của hai nước và việc trí thức Việt Nam học hỏi văn chương Trung Quốc, nhưng không còn diễn ra mạnh mẽ như trước đây.

Nguyễn Tài Cẩn đã dựa trên các tài liệu lịch sử và khảo cổ để chỉ ra những nguyên nhân chính dẫn đến sự tiếp xúc lâu dài và sâu rộng giữa tiếng Hán và tiếng Việt.

Thứ nhất: nhân tố về mặt chính trị;

Thứ hai: nhân tố về mặt xã hội;

Thứ ba: nhân tố về mặt văn hóa;

Thời kỳ từ năm 179 TCN đến 905 SCN đánh dấu sự thống trị của phong kiến phương Bắc tại Giao Châu, bắt đầu với sự thất bại của Âu Lạc trước Triệu Đà Sau cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, chính quyền phong kiến ngoại xâm thiết lập chế độ quận huyện và chính sách khai thác thuộc địa của các triều đại Đông Hán, Tam Quốc, và Lục Triều Sự kiểm soát của Tùy Đường, đặc biệt dưới triều Cao Biền, trở nên nghiêm ngặt hơn sau khi nhà nước Vạn Xuân do Lí Bí thành lập bị tiêu diệt Qua ba giai đoạn này, có thể thấy bộ máy thống trị của phong kiến phương Bắc ngày càng chặt chẽ và lan rộng không chỉ ở vùng trung du mà còn cả ở những miền biên viễn.

Chính quyền Trung Quốc đã tổ chức bộ máy thống trị thành các quận huyện và đến thời Đường, chia thành hương, xã, tiểu xã để quản lý hiệu quả hơn Việc chia nhỏ bộ máy nhà nước cũng đồng nghĩa với việc áp dụng từ Hán Việt để thực hiện chính sách, như ban hành sắc lệnh bằng Hán tự Từ đó, một lớp từ Hán Việt mang tính chất chính trị đã hình thành, bao gồm các thuật ngữ như “phủ doãn”, “tri phủ”, “bệ hạ”, “tể tướng”, “tấu chương”, “sớ văn”.

Với sự hỗ trợ từ chính quyền ngày càng chặt chẽ, người Hán đã dần dần xâm nhập vào các lĩnh vực quan trọng trong xã hội Việt Nam.

Lực lượng người Hán có ảnh hưởng lớn đến xã hội Việt Nam thời bấy giờ chủ yếu là những “kiều nhân” đến Giao Chỉ để lập nghiệp Họ đến vì nhiều lý do: có người theo gia đình, có người lánh nạn do tình hình bất ổn ở quê hương, một số khác phạm tội và phải trốn chạy, hoặc đơn giản là nghe đồn về Giao Châu là vùng đất yên ổn, thuận lợi cho kinh doanh và sinh sống Ngoài ra, cũng có những kiều nhân là quan chức, sau khi nghỉ hưu đã quyết định ở lại để phát triển sự nghiệp.

Lực lượng người Hán bao gồm một đội ngũ binh lính hùng hậu, với quân đội thường trực và các đội quân tham gia dẹp loạn cùng những cuộc trừng phạt trong nội bộ Bên cạnh đó, một số lượng lớn dân thường Trung Hoa cũng được di cư sang và sinh sống cùng người Việt, dẫn đến sự giao thoa văn hóa và ngôn ngữ giữa hai dân tộc Sự tiếp xúc này tạo ra mối quan hệ chặt chẽ và lâu dài giữa ngôn ngữ Hán và tiếng Việt.

Khi xâm lược Việt Nam, người Trung Quốc đã thực hiện chính sách đồng hóa văn hóa nhằm truyền bá văn tự Hán Một quốc gia chỉ có thể tồn tại khi giữ gìn nền văn hóa của mình, và việc mất văn hóa đồng nghĩa với mất nước Chính vì vậy, việc đưa văn tự Hán vào Việt Nam là một chính sách quan trọng Sự hình thành tầng lớp quyền quý người Việt và việc lan tỏa văn hóa Hán cũng đã góp phần vào việc tuyên truyền ngôn ngữ và văn tự Hán trong toàn vùng.

Khi Triệu Đà xâm lược, Âu Lạc đang trải qua giai đoạn phân hóa xã hội và hình thành cơ cấu nhà nước đầu tiên, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ Trung Quốc, dẫn đến quá trình phong kiến hóa kéo dài Sự phân hóa kinh tế xã hội giúp người Việt dễ dàng tiếp thu văn hóa Trung Hoa Mỗi quốc gia dân tộc đều có nền văn hóa riêng, và việc giữ gìn văn hóa là yếu tố sống còn cho sự tồn tại của dân tộc Nếu một dân tộc không còn nét văn hóa riêng, họ sẽ không còn tồn tại Người Hán đã thực hiện chính sách đồng hóa văn hóa với dân tộc Việt, trong đó hai thái thú Tích Quang và Nhâm Diên đã tích cực thúc đẩy chính sách này, với Tích Quang làm thái thú Giao Chỉ và Nhâm Diên được bổ nhiệm làm thái thú Cửu vào thời Kiến Vũ.

Chân Mã Viện cũng là người có âm mưu muốn làm cho xã hội Việt càng thêm “Hán hóa”

Tiếng Việt dễ dàng tiếp nhận từ ngữ mượn từ tiếng Hán do có sự tương đồng về loại hình So sánh giữa từ Hán của người Trung Quốc và từ Hán Việt hiện đại cho thấy chúng mang nhiều nét tương đồng về ngôn ngữ và phát âm Khoảng 25% từ gốc Hán đã được Việt hóa, giữ nguyên cấu trúc và ý nghĩa, như từ “hoa” (花) và “như” (如) Nếu không nghiên cứu từ nguyên, người ta khó nhận ra nguồn gốc ngoại lai của những từ này.

Các yếu tố gốc Hán không hoạt động độc lập nhằm tránh sự va chạm đồng âm với những từ thuần Việt đã có trước đó Ví dụ, từ “ngoan” (頑) có nghĩa là bướng, trong khi từ “ngoan” thuần Việt lại chỉ sự dễ bảo Tương tự, từ “cầm” (琴) nghĩa là đàn, nhưng lại va chạm với từ “trúc” có nghĩa là nắm giữ Hay từ “cực” (極) cũng có thể gây nhầm lẫn trong ngữ cảnh sử dụng.

“cùng cực” va chạm với “cực” là “vất vả”

Theo Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn Từ vựng học Tiếng Việt, tiếng Việt đã tiếp nhận một khối lượng lớn từ vựng tiếng Hán do mối quan hệ lâu dài và trực tiếp hoặc gián tiếp với ngôn ngữ này Điều này thể hiện sự đa dạng trong các lĩnh vực hoạt động của tiếng Việt.

Chính trị là lĩnh vực bao gồm nhiều khái niệm quan trọng như thượng đế, hoàng thượng, bệ hạ và các chế độ như triều đình, dân chủ, xã hội chủ nghĩa Nó cũng liên quan đến giám sát, truy bức và áp chế, phản ánh sự đấu tranh giữa các thế lực bá chủ và bá quyền Cách mạng là một phần không thể thiếu trong tiến trình phát triển của chính trị, thể hiện khát vọng thay đổi và tiến bộ của xã hội.

Kinh tế: công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, nội thương, ngoại thương, xuất khẩu, năng suất, thặng dư, lợi nhuận, thặng dư giá trị

Văn hóa, giáo dục: khoa cử, văn chương, âm luật, thất ngôn, bát cú, trạng nguyên, bảng nhãn

Quân sự: chiến trường, anh hùng, cảnh giới, xung phong, xung đột, đô đốc, chỉ huy, tác chiến, án ngữ

Tƣ pháp: nguyên cáo, bị cáo, cáo trạng, trạng sư, xử tử, án sát, án từ, thẩm phán, truy tầm, áp giải, ân xá

Y học: viêm nhiệt, thương hàn, thời khí, chướng khí, thương tích, bệnh nhân, bệnh viện [12, tr 243]

Vai trò của tiếng Hán đối với sự phát triển ngôn ngữ Việt

Trong kho từ vựng tiếng Việt, có một lượng lớn từ Hán Việt, đóng vai trò quan trọng trong ngôn ngữ Mặc dù không phải là phần cổ xưa hay thuần túy dân tộc, nhưng những từ này vẫn có giá trị đáng kể về mặt số lượng và vai trò trong toàn bộ ngôn ngữ.

18 ngôn ngữ nói chung, và đặc biệt là ở trong cái gọi là ngôn ngữ văn hóa nói riêng” [3, tr 22]

Theo Đặng Đức Siêu, lớp từ ngữ Hán Việt là kết quả của quá trình tiếp xúc ngôn ngữ và văn hóa kéo dài hai thiên niên kỷ Ban đầu, sự tiếp xúc này diễn ra tự nhiên và tự nguyện Tuy nhiên, khi bị đô hộ bởi thực dân phong kiến phương Bắc, sự tiếp xúc trở nên cưỡng bức và áp đặt Dù vậy, nhờ vào tính chủ động và sự năng động của người Việt cổ, tính chất cưỡng bức này đã dần được hóa giải, và ngôn ngữ Hán đã trở thành một phương tiện hữu hiệu trong việc phát triển ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam.

Tiếng Hán được người Việt vay mượn và "Việt hóa" để phù hợp với ngôn ngữ của họ Tuy nhiên, vẫn tồn tại những từ Hán mà người Việt không thể "Việt hóa" và phải sử dụng âm đọc phiên thiết từ thời kỳ nhà Hán, với sự điều chỉnh khẩu hình cho phù hợp Như vậy, từ Hán Việt đã trở thành một phần quan trọng trong ngôn ngữ Việt, góp phần đáng kể vào sự phát triển của ngôn ngữ này.

Ngôn ngữ Hán có vai trò quan trọng trong việc biểu đạt nội dung của người Việt, đặc biệt trong ngôn ngữ viết, được sử dụng trong học hành và công việc triều chính Các trí thức Đại Việt đã sáng tác nhiều tác phẩm bằng ngôn ngữ Hán Việt, thể hiện sự giao lưu văn hóa kéo dài hàng nghìn năm Đặng Đức Siêu nhấn mạnh rằng từ Hán Việt là sản phẩm của một dạng thức song ngữ văn hóa, gắn bó chặt chẽ với từ vựng tiếng Việt Mặc dù có những biến động trong việc sử dụng từ Hán Việt, việc hiểu và áp dụng cần dựa trên quy phạm hóa và chuẩn hóa từ nhận thức khoa học và tập quán của người bản địa qua nhiều thế hệ Vai trò của những nhân tài song ngữ Việt Hán là rất quan trọng, khi họ đã sáng tác nhiều tác phẩm mẫu mực, phản ánh sự phát triển của ngôn ngữ này.

Văn hóa Việt Nam đã thể hiện sức mạnh và sự phong phú qua các tác phẩm nghệ thuật, phản ánh đời sống xã hội từ xưa đến nay Tiếng Việt, với sự tinh tế và trong sáng, đã được làm phong phú nhờ vào sự đóng góp đáng kể của lớp từ Hán Việt.

Khảo sát các văn bản Nôm như thơ Nôm của Nguyễn Trãi, Hồng Đức quốc âm thi tập, Bạch vân quốc âm thi tập, cùng với các khúc ngâm như Chinh phụ ngâm khúc và Cung oán ngâm khúc, cho thấy khoảng 70% từ vựng có nguồn gốc Hán trong tổng số từ được sử dụng Tuy nhiên, tỷ lệ này đã giảm trong tiếng Việt hiện đại, với một số thống kê thí điểm cho thấy khoảng 50% từ có gốc Hán hiện nay.

Theo Nguyễn Văn Khang, mặc dù chưa có thống kê chính xác, nhưng có thể khẳng định rằng vốn từ mượn Hán chiếm từ 60% đến 70% vốn từ trong tiếng Việt hiện nay.

Di sản văn hóa thành văn Hán Nôm thể hiện bản sắc dân tộc qua cả nội dung tư tưởng và hình thức ngôn ngữ Dạng thức song ngữ Việt Hán không chỉ không làm suy yếu ngôn ngữ bản địa mà còn làm phong phú thêm tính đa dạng và uyển chuyển của nó Tiếng Hán đã đóng góp hơn 70% từ vựng tiếng Việt, làm giàu kho từ ngữ và nâng cao giá trị ngôn ngữ Việt Nam với tính hàn lâm và sang trọng Ví dụ, trong một buổi hòa nhạc, người dẫn chương trình thường sử dụng từ Hán Việt để thể hiện sự trang trọng trong lời cảm ơn.

(1) Chúng tôi chân thành cảm ơn quý vị khán thính giả đã đến tham dự buổi hòa nhạc hôm nay

(2) Chúng tôi chân thành cảm ơn các vị người nghe nhìn đã đến tham dự buổi hòa nhạc hôm nay

Việc sử dụng từ Hán Việt trong giao tiếp giúp tăng tính trang trọng và lịch sự cho lời nói Trong tiếng Việt, nhiều từ Hán Việt có nghĩa tương đương với từ thuần Việt, nhưng khi thay thế một số từ Nôm bằng từ Hán, câu văn trở nên hấp dẫn hơn Chính nhờ vào sự kết hợp này, những tác phẩm văn học xưa và nay của chúng ta đã trở thành tuyệt tác.

Trong văn học Việt Nam, việc sử dụng từ Hán Việt rất phổ biến, ngay cả những tác giả nổi tiếng như “bà chúa thơ Nôm” cũng không ngoại lệ Điển hình là trong bài thơ "Nhĩ hà tức cảnh", tác giả đã khéo léo lồng ghép những từ Hán Việt, thể hiện sự giao thoa văn hóa và ngôn ngữ trong sáng tác.

“Trắng xóa tràng giang phẳng ngỡ tờ Còi mục thét trăng miền khoáng dã Lưới ngư chăng gió bãi bình sa”

Trong kho từ vựng tiếng Việt hiện nay, có nhiều từ thuần Việt và từ Hán Việt mang nghĩa tương đương nhưng lại khác biệt về sắc thái ý nghĩa, biểu cảm, cảm xúc, đánh giá và phong cách.

Sự khác biệt giữa từ Hán Việt và từ thuần Việt nằm ở sắc thái ý nghĩa của chúng Từ Hán Việt thường mang tính trừu tượng và khái quát, do đó không gợi hình ảnh và thiếu tính miêu tả sinh động Ngược lại, từ thuần Việt lại có sắc thái cụ thể hơn, mang đến sự sinh động và khả năng gợi hình ảnh rõ ràng hơn cho người đọc.

Từ ngữ thuần Việt như “thảo mộc” và “cây cỏ”, hay “thi hài” và “xác chết” giúp chúng ta hình dung rõ ràng hơn về sự vật và hiện tượng được đề cập.

Sự khác biệt về màu sắc biểu cảm giữa từ Hán Việt và từ thuần Việt rất rõ ràng, khi nhiều từ Hán Việt thể hiện sự trang trọng và thanh nhã, trong khi từ thuần Việt thường mang sắc thái thân mật, trung hòa hoặc thậm chí khiếm nhã Ví dụ, từ "phu nhân" mang sắc thái trang trọng hơn so với "vợ", và "hi sinh" được coi là cao quý hơn so với "chết".

Sự khác biệt về màu sắc phong cách giữa từ Hán Việt và từ thuần Việt rất rõ ràng Từ Hán Việt thường mang phong cách gọt giũa, thích hợp cho các văn bản khoa học, chính luận và hành chính Ngược lại, từ thuần Việt lại thể hiện sự đa dạng về phong cách Chẳng hạn, "phát biểu" và "nói" có sự khác biệt về phong cách gọt giũa và đa phong cách, trong khi "từ trần" và "bỏ xác" lại thể hiện sự khác biệt giữa phong cách gọt giũa và khẩu ngữ.

Nhƣ vậy, tùy vào các phong cách ngôn ngữ và hoàn cảnh giao tiếp mà chúng ta có cách lựa chọn ngôn ngữ cho phù hợp

Tiểu kết

Trong kho từ vựng tiếng Việt, từ Hán Việt chiếm khoảng 60-70% theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Khang Từ Hán Việt đã du nhập vào Việt Nam từ rất sớm qua cả con đường chiến tranh và giao lưu văn hóa Giai đoạn đầu, việc tiếp nhận chữ Hán chủ yếu diễn ra qua con đường cưỡng bức nhằm đồng hóa văn hóa người Việt Khi hòa bình lập lại, triều đình phong kiến tiếp tục sử dụng chữ Hán trong các khoa thi Đến nay, từ Hán Việt vẫn được sử dụng và đã được "Việt hóa", mặc dù cách cấu tạo từ và phát âm đã có sự biến đổi theo thời gian, nhưng người Việt vẫn giữ lại vốn từ Hán với cách phát âm từ thời Đường.

Từ Hán Việt đã trở thành một phần quan trọng trong ngôn ngữ Việt, giúp tăng cường sự đa dạng và uyển chuyển của tiếng Việt Việc sử dụng từ Hán Việt không chỉ làm cho các văn bản chính luận và khoa học trở nên trang trọng hơn, mà còn xuất hiện trong giao tiếp hàng ngày Để phát huy hiệu quả của từ Hán Việt, người Việt cần nắm vững ngữ nghĩa và cách kết hợp của chúng, từ đó góp phần làm cho tiếng Việt ngày càng trong sáng và phong phú hơn.

Nhóm từ Hán Việt có sự chuyển đổi nghĩa so với nghĩa gốc Hán

Cách dùng từ Hán Việt của người Việt hiện nay

Ngày đăng: 08/07/2021, 09:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban (chủ biên, 1999), Tiếng Việt lớp 6 (nâng cao), Nhà Xuất Bản Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt lớp 6
Nhà XB: Nhà Xuất Bản Giáo Dục
2. Nguyễn Văn Bảo, Mở rộng vốn từ Hán Việt dùng trong nhà trường, Nhà Xuất Bản Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mở rộng vốn từ Hán Việt dùng trong nhà trường
Nhà XB: Nhà Xuất Bản Đại học Quốc Gia Hà Nội
3. Nguyễn Tài Cẩn (2004), Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt, Nhà Xuất Bản Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nhà Xuất Bản Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2004
4. Trần Văn Chánh (2005), Từ điển Hán Việt - Hán ngữ cổ đại và hiện đại, Nhà Xuất Bản Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán Việt - Hán ngữ cổ đại và hiện đại
Tác giả: Trần Văn Chánh
Nhà XB: Nhà Xuất Bản Trẻ
Năm: 2005
6. Hữu Đạt (2008), Sai, đúng trong cách dùng từ Hán Việt và vấn đề “giải pháp”, Báo Văn nghệ (số 32 ngày 9/8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sai, đúng trong cách dùng từ Hán Việt và vấn đề “giải pháp”
Tác giả: Hữu Đạt
Năm: 2008
7. Nguyễn Thiện Giáp (1998), Từ vựng học tiếng Việt, Nhà Xuất Bản Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nhà Xuất Bản Giáo Dục
Năm: 1998
8. Trương Văn Giới – Lê Khắc Kiều Lục (2006), Từ điển Việt Hán hiện đại, Nhà Xuất Bản Lao Động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Việt Hán hiện đại
Tác giả: Trương Văn Giới – Lê Khắc Kiều Lục
Nhà XB: Nhà Xuất Bản Lao Động
Năm: 2006
9. Viện Ngôn Ngữ Học (2006), Từ Điển Tiếng Việt, Nhà Xuất Bản Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ Điển Tiếng Việt
Tác giả: Viện Ngôn Ngữ Học
Nhà XB: Nhà Xuất Bản Đà Nẵng
Năm: 2006
10. Nguyễn Văn Khang (2001), Từ ngoại lai trong tiếng Việt, Nhà Xuất Bản Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ ngoại lai trong tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Khang
Nhà XB: Nhà Xuất Bản Giáo Dục
Năm: 2001
11. Lê Đình Khẩn (2002), Từ vựng gốc Hán trong tiếng Việt, Nhà Xuất Bản Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng gốc Hán trong tiếng Việt
Tác giả: Lê Đình Khẩn
Nhà XB: Nhà Xuất Bản Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2002
12. Phan Ngọc – Phạm Đức Lương (2011), Tiếp xúc ngôn ngữ ở Đông Nam Á, Nhà Xuất Bản Từ điển Bách Khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp xúc ngôn ngữ ở Đông Nam Á
Tác giả: Phan Ngọc – Phạm Đức Lương
Nhà XB: Nhà Xuất Bản Từ điển Bách Khoa
Năm: 2011
13. Vũ Cao Phan (2008), Thử đề xuất một giải pháp, Báo Văn Nghệ (số 27) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử đề xuất một giải pháp
Tác giả: Vũ Cao Phan
Năm: 2008
14. Hoàng Phê (2008), Tuyển tập ngôn ngữ học, Nhà Xuất Bản Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập ngôn ngữ học
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: Nhà Xuất Bản Đà Nẵng
Năm: 2008
15. Đặng Đức Siêu, Dạy và học từ Hán Việt ở trường Phổ thông, Nhà Xuất Bản Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học từ Hán Việt ở trường Phổ thông
Nhà XB: Nhà Xuất Bản Giáo Dục
16. Bùi Minh Toán (2011), Tiếng Việt ở Trung học Phổ thông, Nhà Xuất Bản Đại học Sƣ Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt ở Trung học Phổ thông
Tác giả: Bùi Minh Toán
Nhà XB: Nhà Xuất Bản Đại học Sƣ Phạm
Năm: 2011
17. Vương Toàn (2011), Tiếng Việt trong tiếp xúc ngôn ngữ từ giữa thế kỷ XX, Nhà Xuất Bản Dân Trí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt trong tiếp xúc ngôn ngữ từ giữa thế kỷ XX
Tác giả: Vương Toàn
Nhà XB: Nhà Xuất Bản Dân Trí
Năm: 2011
18. Hồ Xuân Tuyên (2012), Về một số từ Hán Việt hay bị phê phán dùng sai, Tạp Chí Ngôn Ngữ và Đời Sống (số 1 + 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một số từ Hán Việt hay bị phê phán dùng sai
Tác giả: Hồ Xuân Tuyên
Năm: 2012
19. Nhữ Thành, Nhận xét về ngữ nghĩa của từ Hán Việt, Tạp chí Ngôn ngữ số 2 – 1977 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận xét về ngữ nghĩa của từ Hán Việt
20. Bùi Khánh Thế (2012), Tiếng Việt tiếng nói thống nhất của dân tộc Việt Nam, Nhà Xuất Bản Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt tiếng nói thống nhất của dân tộc Việt Nam
Tác giả: Bùi Khánh Thế
Nhà XB: Nhà Xuất Bản Chính trị quốc gia
Năm: 2012
21. Trần Ngọc Thêm (2000), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nhà Xuất Bản Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: Nhà Xuất Bản Giáo Dục
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w