Tính cấp thiết của đề tài: Thiên Chúa giáo là một tôn giáo lớn trên thế giới và nhanh chóng được truyền á vào Việt Nam từ thế kỉ thứ XVI, đến nay Thiên Chúa giáo đã trở thành một t n g
Trang 1UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1 Thông tin chung:
- Tên đề tài: LỊCH SỬ THIÊN CHÚA GIÁO DU NHẬP VÀO BÌNH DƯƠNG
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP GIÁO XỨ BÚNG)
- Sinh viên chịu trách nhiệm chính: Đỗ Quang Bích Ngọc
- Lớp: D12LS02 Khoa: Sử Năm thứ: 3 Số năm đào tạo: 4
- Người hướng dẫn: Th.S Nguyễn Thị Thu Thủy
2 Mục tiêu đề tài:
Nghiên cứu về lịch sử Thiên Chúa giáo du nhập vào Bình Dương qua nghiên cứu trường hợp giáo xứ Búng
3 Tính mới và sáng tạo:
- Qua các cuộc phỏng vấn sau và điền dã, tìm được nhiều nguồn tài liệu lưu hành
nội bộ trong các giáo xứ có liên quan đến lịch sử khẩn hoang Bình Dương
- Đề tài hoàn chỉnh cũng là nguồn tài liệu về lịch sử địa phương
4 Kết quả nghiên cứu:
- Xác định được quá trình du nhập của Thiên Chúa giáo vào Dương, thấy rõ lịch
sử du nhập Thiên Chúa giáo ở Bình Dương gắn liền với quá trình mở đất Bình Dương
- Thấy được vai trò của Thiên Chúa giáo trong quá trình khẩn hoang (quy tụ cư dân, thúc đẩy quá trình khẩn hoang lập ấp)
5 Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng và khả năng áp dụng của đề tài:
- Làm phong phú thêm nguồn tài liệu về lịch sử du nhập Thiên Chúa giáo Bình Dương và cũng là lịch sử khẩn hoang vùng đất Bình Dương
Trang 2- Làm tài liệu tham khảo cho sinh viên ngành khoa học xã hội trường Đại Học
Thủ Dầu Một khi học về chuyên đề Một số tôn giáo lớn ở Việt Nam, hoặc các chuyên
đề về lịch sử địa phương
- Là nguồn tài liệu cho các phòng, ban tuyên giáo của tỉnh Bình Dương
6 Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đề tài (ghi rõ họ tên
tác giả, nhan đề và các yếu tố về xuất bản nếu có) hoặc nhận xét, đánh giá của cơ sở
đã áp dụng các kết quả nghiên cứu (nếu có):
Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp khoa học của sinh viên thực
hiện đề tài (phần này do người hướng dẫn ghi):
Trang 3UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
I SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:
Họ và tên: Đỗ Quang Bích Ngọc
Sinh ngày: 4 tháng 6 năm 1994
Nơi sinh: Bình Dương
Lớp: D12LS02 Khóa: 2012 - 2016
Khoa: Sử
Địa chỉ liên hệ: Lớp D12LS02, khoa Sử trương Đại học Thủ Dầu Một
Điện thoại: 097 449 4204 Email: Ngocs2.001@gmail.com
II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP (kê khai thành tích của sinh viên từ năm thứ 1 đến năm
Trang 4DANH SÁCH NHỮNG THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Đỗ Quang Bích Ngọc D12LS02 1220820062 Ngocs2.001@gmail.com 0974494204
Hoàng Thanh Hằng D12LS02 1220820049 Hoangthanhhang19@gmail.com 01695915619 Phạm Thị Nhung D12LS01 1220800022 Dongvu8894@gmail.com 0978353073
Trang 5MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ THI N CH A GI O NH ƯƠNG 8
1.1 Khái quát về Thi n Ch a giáo Việt Nam 8
1.1.1 Thuật ngữ Thiên Chúa giáo 8
1.1.2 Q á t nh Thi n Ch a giáo d nhập vào Việt Nam 10
1.1.2.1 Thời kì khai sinh và hình thành của đạo hi n h a ở iệt Na 10
1 1 2 2 hi n h a gi o trong thời thử thách 12
1.1.2.3 hi n h a gi o giai đoạn ph t tri n 14
Thi n Ch a giáo nh ư ng t ước thế kỉ XIX 15
ối cảnh kinh tế - chính trị - xã hội nh ư ng t ước thế kỉ I 15
1 2 1 1 Kinh tế 15
1 2 1 2 h nh tr 17
1 2 1 3 hội 19
1.2.2 Tinh hình Thiên Chúa giáo Bình ư ng t ước thế kỉ XIX 21
CHƯƠNG II: GI O Ứ NG V TIẾN TR NH THI N CH A GI O U NHẬP V O NH ƯƠNG 24
2.1 Địa danh Búng 24
Giáo ứ ng – một t ong những giáo ứ đầ ti n của Thi n Ch a giáo nh ư ng 29
Lịch h nh thành giáo ứ ng 29
Hoạt động t n giáo của giáo ứ ng t ong những ổi đầ thành lập 38
3 Vị t í của giáo ứ ng t ong tiến t nh d nhập Thi n Ch a giáo vào nh ư ng 44
KẾT LUẬN 48
T I LIỆU THAM KHẢO 51
PHỤ LỤC 55
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Thiên Chúa giáo là một tôn giáo lớn trên thế giới và nhanh chóng được truyền
á vào Việt Nam từ thế kỉ thứ XVI, đến nay Thiên Chúa giáo đã trở thành một t n giáo lớn ở nước ta với những đóng góp, vai tr quan trọng trong lịch sử văn hóa dân tộc
Trước khi có sự khai phá của những lưu dân đến từ miền Trung và Bắc thì đất Nam Bộ ngày nay chỉ là vùng rừng rậm hoang sơ, nhiều thú dữ Trước khung cảnh hoang vu hiểm trở như vậy, những người lưu dân đã cùng liên kết với nhau trong một niềm tin tôn giáo, cùng nỗ lực khai phá, khắc phục thiên nhiên, biến những vùng đất hoang vu thành những cánh đ ng trù phú át ngát Thiên Chúa giáo lúc này trở thành yếu tố quy tụ lưu dân lại với nhau, tạo động lực cho họ cùng nhau khai phá, cùng nhau tạo lập cuộc sống trên vùng đất xa lạ này
Bên cạnh đó, trong số những người lưu dân ấy, có cả người theo đạo Thiên Chúa, họ không chỉ là những cư dân đầu tiên góp sức trong công cuộc mở đất ở Nam
Bộ mà còn là những giáo dân đầu tiên trên mảnh đất mới này Về sau, vì trốn tránh sự sát đạo của triều đình, nhiều giáo dân đã chạy vào phía Nam, số tín đồ Thiên Chúa giáo ngày một đ ng hơn, các họ đạo, giáo xứ được thành lập, nhà thờ được xây dựng, Thiên Chúa giáo bắt đầu ổn định và phát triển ở Đàng Trong
Lái Thiêu là nơi xuất hiện họ đạo sớm nhất Bình Dương (từ trước những năm 1747) và là nơi đầu tiên các giáo sĩ vào truyền đạo, tiếp đó Thiên Chúa giáo nhanh chóng lan rộng ra các vùng lân cận Búng cũng là một giáo xứ lớn và cổ xưa ở Bình Dương, chính thức thành lập năm 1867 nhưng trước hàng chục năm họ đạo Búng đã xuất hiện cùng với sự hình thành làng Hưng Định1 Có thể nhận thấy Lái Thiêu là địa
àn đầu tiên của Thiên Chúa giáo khi vào Bình Dương và Búng là địa bàn thứ hai Với
sự thành lập giáo xứ Búng, Thiên Chúa gió đã hoàn tất quá trình du nhập của mình vào Bình Dương và ắt đầu sự phát triển trên mảnh đất mới đầy hứa hẹn này
Ngày nay, trong thời kỳ hội nhập, Bình Dương cũng đang thể hiện vai tr là trung tâm của sự kinh tế, văn hóa, xã hội và Thiên Chúa giáo – một tôn giáo phát triển hưng thịnh trong tỉnh cũng ngày càng khẳng định vai trò của mình trong sự phát
1 Nay là phường Hưng Định, Thuận An, Bình Dương
Trang 7triển chung của tỉnh nhà Có vai trò lịch sử gắn với công cuộc khẩn hoang miền Nam nói chung và Bình Dương nói riêng nên việc nghiên cứu, tìm hiểu về lịch sử du nhập của Thiên Chúa giáo Bình Dương cũng là tìm hiểu về lịch sử mở đất Bình Dương và vai trò của những người giáo dân Đàng Ngoài trong việc khẩn hoang lập ấp Nhưng nguồn tài liệu về vấn đề này còn hạn chế, do vậy, việc tìm hiểu về Thiên Chúa giáo Bình Dương, đặc biệt là lịch sử du nhập tôn giáo này là rất cần thiết Đề tài này cũng góp phần cung cấp, bổ sung vào khoảng trống tài liệu cho lịch sử tỉnh nhà và là tài liệu cho sinh viên khi tìm hiểu về lịch sử địa phương
2 Lịch nghi n cứ vấn đề
Thiên Chúa giáo là một tôn giáo lớn trong nước nên việc tìm hiểu về Thiên Chúa giáo và quá trình Thiên Chúa giáo du nhập vào Việt Nam đã được nhiều tác giả đề cập trong các công trình nghiên cứu của mình Trong đó, những tài liệu quan trọng và cơ bản về vấn đề này phải kể đến như:
L ch sử phát tri n Công giáo ở Việt Nam, 2008, Nxb Tôn giáo Hà Nội của
Trương Bá Cần Tác giả đã khái quát về Thiên Chúa giáo Việt Nam từ khởi thủy cho đến khai phá, hình thành và phát triển của đạo C ng giáo ở Việt Nam
Trong 3 tập Việt Nam Công giáo sử tân biên của Cao Thế Dung (Cơ sở truyền
thông dân Chúa, xuất bản năm 2002), tác giả đề cập đầy đủ về nguồn gốc dân tộc Việt Nam, các tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam từ thời Văn Lang – Âu Lạc, thời Bắc thuộc cho đến thời độc lập tự chủ Tác giả đã đặt tôn giáo trong bối cảnh văn hóa, truyền thống của người Việt và những đóng góp của Thiên Chúa giáo cho đất nước
Có thể nói, ngoài phần nội dung chính là lịch sử Thiên Chúa giáo Việt Nam, thì Việt Nam Công giáo sử tân biên của Cao Thế Dung có thể xem là một bộ lược sử các triều
đại phong kiến Việt Nam
L ch sử thành lập Hàng giáo phẩm Việt Nam, Nxb T n giáo năm 2010 của Lm
Phêrô Nguyễn Thanh Tùng đã cung cấp cho người đọc những thông tin về lịch sử giáo hội Công giáo Việt Nam nói chung và tiến trình thành lâp Hàng giáo phẩm Việt Nam nói riêng Đồng thời, tác giả cũng trình bày một cách khái quát nhất về bối cảnh lịch
sử, những giai đoạn trong tiến trình hình thành và phát triển của giáo hội Việt Nam cùng với những ước tiến của giáo hội trong xu thế xã hội hiện nay
Trang 8- Trong cuốn “ ăn phòng tổng thư ý Hội đồng Giám mục Việt Nam Giáo hội Công giáo Việt Nam, niên giám 2004”, trình ày về sự phát triển từ khi Giáo hội thành
lập đến nay, trong đó cũng đề cập đến tiến trình du nhập của Thiên Chúa giáo vào Việt Nam Tài liệu này cũng thống kê một cách chi tiết các sự kiện trong lịch sử giáo hội Việt Nam
- Tác giả Nguyễn Hồng Dương trong “Công giáo thế giới tri thức cơ bản” và
“Công giáo Việt Nam tri thức cơ bản” đã khái quát quá trình ra đời và phát triển của
Công giáo, các tổ chức giáo hội, nghi lễ , quá trình du nhập Thiên Chúa giáo vào Việt Nam và sự phát triển của tôn giáo này ở nước ta Qua đó người đọc có thể có được cái nhìn tổng quan nhất về một tôn giáo lớn trên thế giới và Việt Nam
- Nguyễn Văn Kiệm, Sự du nhập của đạo Thiên Chúa giáo vào Việt Nam từ thế
kỷ II đến thê kỷ XIX, Hội khoa học lịch sử Việt Nam, 2001, quá trình du nhập của
Thiên Chúa giáo vào Việt Nam từ đầu thế kỉ XVII đến thế kỉ XIX, tác giả chủ yếu đề cập đến con đường du nhập đạo Thiên chúa vào Việt Nam và sự phát triển của đạo Thiên Chúa trong thế kỉ XVII đến thế kỉ XIX
- Nguyễn Quang Hưng, Công giáo Việt Nam thời kỳ triều Nguyễn (1802 –1883),
Nxb Tôn giáo, 2009, tác giả đề cập đến sự truyền giáo của các dòng thừa sai trước năm
1802 và sự tình hình Thiên Chúa giáo dưới triều Nguyễn (1802 – 1883), rút ra một số kinh nghiệm từ việc nghiên cứu t n giáo này dưới triều Nguyễn
Về lịch sử khẩn hoang miền Nam cũng như khẩn hoang Bình Dương và quá trình truyền bá Thiên Chúa giáo vào Bình Dương cũng được trình bày trong các tài liệu:
- “Gia Đ nh thành thông ch ” của Trịnh Hoài Đức (1765-1825) đã ghi chép đầy
đủ về quá trình khai hoang, lập ấp, mở mang vùng phía Nam của đất nước “Thủ Dầu Một – B nh Dương đất lành chi đậu” của Vũ Đức Thành (1999) cùng với “Đ a chí
B nh Dương” của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương (2010) trong các tập 2 và tập 4,
các tác giả đã trình ày đầy đủ về tình hình kinh tế, xã hội, con người Bình Dương, sự
du nhập Thiên Chúa giáo vào Bình Dương từ đầu thế kỉ XVII đến đầu thế kỉ XXI và một phần sự du nhập của Thiên Chúa giáo vào tỉnh Thủ Dầu Một Tuy phần về lịch sử
du nhập của Thiên Chúa giáo tại Bình Dương c n hạn chế nhưng cũng là nền tảng cho mọi nghiên cứu về sau
Trang 9Một số luận văn thạc sĩ của Lê Văn Long về Thiên Chúa giáo và lịch sử du nhập vào Việt Nam, luận văn của Nguyễn Thị Kim Ánh cũng đề cập ít nhiều đến Thiên Chúa giáo Bình Dương Đặc biệt là khóa luận tốt nghiệp của Phạm Thị Vân Anh năm
2014 đã trình ày đầy đủ về Thiên Chúa giáo tỉnh Thủ Dầu Một từ năm 1899 đến năm
1945, từ đó thấy được quá trình hình thành và phát triển của Thiên Chúa giáo tại Bình Dương qua sự hình thành các giáo xứ và lớn mạnh của các giáo xứ ấy
Trong quá trình điền dã, chúng t i đã tìm được một số tài liệu lưu hành nội bộ
trong giáo xứ Búng như: “Ti u sử làng Hưng Đ nh – Họ Búng” của Nguyễn Thới Linh
đã trình bày khái quát nhất về quá trình định hình, phát triển của làng Hưng Định rồi đến Họ đạo Búng Đây là tài liệu được viết bởi chính người dân làng Hưng Định và cũng là hậu nhân của những người khai phá và lập làng Hưng Định – một ngôi làng gắn liền với họ đạo Búng Một tài liệu khác được chính giáo dân giáo xứ Búng qua
thời gian dài tìm hiểu và tổng hợp trong cuốn “L ch sử họ đạo B ng” Trong đó tác giả
đã trình ày khá kĩ lưỡng về lịch sử hình thành giáo xứ Búng từ buổi sơ khai, qua các đời cha sở đến ngày nay Tuy nhiên thì đây chỉ là tài liệu chung của một giáo xứ chưa khái quát được vai trò tổng quan của giáo xứ Búng trong quá trình du nhập của Thiên Chúa giáo vào Bình Dương
Qua những c ng trình đi trước, chúng tôi nhận thấy nguồn tài liệu về lịch sử của Thiên Chúa giáo tại Bình Dương trong giai đoạn đầu du nhập còn hạn chế, do vậy việc tìm hiểu vấn đề này sẽ bổ sung tài liệu vào lịch sử du nhập Thiên Chúa giáo Bình Dương và làm rõ thêm tiến trình du nhập Thiên Chúa giáo vào Bình Dương Đồng thời góp phần quan trọng trong việc bổ sung tài liệu cho lịch sử mở đất Bình Dương – mảnh đất chúng ta đang sinh sống, học tập và làm việc
3 Mục ti đề tài:
Nghiên cứu về lịch sử du nhập của Thiên Chúa giáo vào Bình Dương qua giáo
xứ Búng thấy được lịch sử khai khẩn mở đất ở Bình Dương
Trang 104 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, cách tiếp cận và phư ng pháp nghi n cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Lịch sử Thiên Chúa giáo du nhập vào Bình Dương
Phương pháp nghiên cứu: trong quá trình thực hiện các nội dung của đề tài,
chúng t i đã sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp logic và phương pháp dân tộc học
- Phương pháp lịch sử: tra cứu tài liệu sử dụng các văn ản, tài liệu về Thiên Chúa giáo
- Phương pháp logic: liên kết các sự kiện lịch sử để làm sáng tỏ sự du nhập của Thiên Chúa giáo vào Bình Dương
- Phương pháp dân tộc học: tiến hành các cuộc phỏng vấn sâu với các vị có chức sắc tại một số giáo xứ trên địa bàn tỉnh Bình Dương như Cha sở giáo xứ Lái Thiêu Linh mục Ant n Hà Văn Minh, Trưởng an Thường vụ Hội đồng giáo xứ giáo xứ Lái Thiêu ông Lê Văn Năng, Phó an Thường vụ Hội đồng giáo xứ giáo xứ Lái Thiêu ông Nguyễn Văn Thế, Cha sở giáo xứ Bình Sơn Linh mục Phêrô Nguyễn Văn Phương Và
các cuộc phỏng vấn sâu với giáo dân giáo xứ Búng ông Nguyễn Văn Tiền
Trang 116 Nguồn tài liệu
Để thực hiện đề tài, nhóm tác giả tiếp cận tài liệu từ:
- Các thư viện trong và ngoài tỉnh: Thư viện Đại học Thủ Dầu Một, thư viện tỉnh Bình Dương, Thư viện nhà thờ Chánh t a Bình Dương, Thư viện Tổng hợp
- Các công trình nghiên cứu về Thiên Chúa giáo đã xuất bản của các nhà nghiên cứu
- Các bài báo, tạp chí Hội Khoa học Lịch sử Bình Dương, tạp chí Nghiên cứu tôn giáo
- Tài liệu điền dã tại giáo xứ Búng, giáo xứ Lái Thiêu, giáo xứ Bình Sơn: các biên bản phỏng vấn
- Nguồn tài liệu internet:
- Trang web của họ đạo Búng “ Lịch sử họ đạo Búng: tại địa chỉ : http://hodaobung.com/Bai-viet/732/lich-su-ho-dao-bung-1.aspx
- Trang web của giáo xứ giáo họ Việt Nam : “Giáo phận Phú Cường, nhà thờ giáo xứ Búng”, tại địa chỉ: http://www.giaoxugiaohovietnam.com/PhuCuong/01-Giao-Phan-PhuCuong-Bung.htm
- Trang web của giáo phận Phú Cường: “Giáo xứ Lái Thiêu”, tại địa chỉ: http://www.giaophanphucuong.org/giao-phan/giao-xu/giao-xu-lai-thieu.html
- Nguyễn Văn Giàu (2011), Họ đạo Lái Thiêu theo dòng lịch sử, tại địa chỉ: http://ngonsu.quetroi.net/GIAU/GIAULaiThieu.htm
- Trang web của tỉnh Bình Dương tại địa chỉ:
http://www.binhduong.gov.vn/trangchu/index.php
5.1 Nội dung nghiên cứu
Chư ng : TỔNG QUAN VỀ THI N CH A GI O NH ƯƠNG
1.1 Khái quát về Thiên Ch a giáo Việt Nam
1.1.1 Thuật ngữ Thiên Chúa giáo
1.1.2 Q á t nh Thi n Ch a giáo d nhập vào Việt Nam
1.1.2.1 Thời kì khai sinh và hình thành của đạo Thiên Chúa ở Việt Nam
1.1.2.2 Thiên Chúa giáo trong thời kì thử thách
1.1.2.3 Thiên Chúa giáo giai đoạn phát triển
Thi n Ch a giáo nh ư ng t ước thế kỉ XIX
1.2.1 Bối cảnh kinh tế – chính trị – xã hội Bình Dương trước thế kỉ XIX
Trang 121.2.1.1 Kinh tế 1.2.1.2 Chính trị 1.2.1.3 Xã hội 1.2.2 Tình hình Thiên Chúa giáo Bình Dương trước thế kỉ XIX
Chư ng : GI O Ứ NG V TIẾN TR NH THI N CH A GI O U NHẬP
2.2.2 Hoạt động tôn giáo của giáo xứ Búng trong buổi đầu thành lập
2.3 Vị trí của giáo xứ Búng trong tiến trình Thiên Chúa giáo du nhập vào Bình
Trang 13CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ THI N CH A GI O NH ƯƠNG
1.1 Khái quát về Thi n Ch a giáo Việt Nam
1.1.1 Thuật ngữ Thiên Chúa giáo
Thiên Chúa giáo là thuật ngữ chỉ tôn giáo thờ Thiên Chúa xuất hiện từ đầu Công
nguyên tại khu vực Trung Cận Đ ng, theo tiếng Latin là Catholica Trong đó từ Ki –
t được phiên âm từ chữ Christos2, còn Gia-t được phiên âm từ chữ Catho trong tiếng
Hy Lạp có nghĩa là toàn cầu Từ Catholica trong tiếng Latin thường được hiểu theo hai
nghĩa, thứ nhất đó là Thiên Chúa giáo, nhấn mạnh vào Đấng Tối Cao mà tôn giáo này tôn thờ là Đức Chúa Trời và nghĩa thứ hai đó là t n giáo phổ quát, tôn giáo chung của toàn nhân loại (universal) Tín đồ Thiên Chúa giáo ở châu Á thường đa số đều sử dụng
từ Catholica theo nghĩa thứ hai tức là một tôn giáo chung, phổ biến với mọi người mà
ta vẫn hay gọi là Công giáo
Khi truyền vào Việt Nam, đã được gọi bằng nhiều tên gọi khác nhau mà thông dụng nhất được sử dụng đến hiện nay là C ng giáo Định nghĩa đầu tiên về thuật ngữ
C ng giáo được thánh Cyrill đưa ra vào cuối thế kỉ II: “Giáo hội được gọi là Công giáo vì giáo hội tràn lan trên khắp thế giới từ đầu này đến đầu kia của trái đất, vì giáo hội giảng dạy một cách phổ biến”3 Tựu chung lại, đây là cách hiểu theo nghĩa thứ hai
của từ Catholica, là để chỉ một tôn giáo chung cho cả thế giới, không phân biệt quốc
gia, dân tộc, mọi người đều là anh chị em với nhau và là con của một Cha chung Tuy nhiên “trong sách vở của người theo đạo thờ Chúa Giêsu Cứu Thế, từ thế kỉ XVII cho đến hết thế kỉ XIX, chưa ao giờ dùng hai chữ “C ng giáo” Mãi đến thế kỉ XX mới dùng”4
Nếu hiểu theo nghĩa thứ hai của từ Catholic thì phải nên dùng hai chữ khác ví
dụ như “Phổ giáo” để nói lên ý nghĩa rằng đây là t n giáo chung đón nhận mọi người chứ không riêng biệt gì ai hay riêng quốc gia, dân tộc nào5
Trang 14Vào thế kỉ XI, vì sự khác biệt trong tính cách văn hóa, cách thức tổ chức và cả những lí do về chính trị kinh tế mà Thiên Chúa giáo có sự chia tách thành hai nhánh: Thiên Chúa giáo Phương Đ ng và Thiên Chúa giáo phương Tây Sang thế kỉ XVI, Thiên Chúa giáo chứng kiến sự cải cách bắt đầu từ nước Đức đến các nhà thờ ở nước Anh và sau đó là sự hình thành Tin Lành6
Những người theo Catholica thờ Thiên Chúa và tuyên xưng Thiên Chúa là Đấng
tạo hóa, họ tin rằng vũ trụ và con người đều do Thiên Chúa dựng nên và họ cũng tin rằng Chúa Giêsu là con Thiên Chúa, người xuống trần gian để cứu độ con người
Căn cứ vào nghĩa từ nguyên của thuật ngữ Catholica nhóm nghiên cứu xin sử dụng danh xưng Thiên Chúa giáo khi thực hiện đề tài này
Có thể thấy, Thiên Chúa giáo ra đời ở vùng Trung Cận Đ ng nhưng lại sớm được truyền bá, phát triển khắp châu Âu và trở thành quốc giáo của đế quốc Rô - ma hùng mạnh Vì thế, Thiên Chúa giáo mang trong mình dấu ấn của nền văn minh phương Tây Thế kỉ XVI – XIX Giáo hội Thiên giáo mở rộng công cuộc truyền giáo trên phạm
vi rộng, một số d ng tu như d ng Tên, d ng Phanxico, d ng Đa Minh đã đi tiên phong trong hoạt động truyền giáo ở Châu Á Đây cũng chính là giai đoạn mà công cuộc truyền giáo của giáo hội được xác lập ở khắp nơi 7
Ngày nay, các tín đồ Thiên Chúa giáo có mặt ở hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, tổng số tín đồ của các đạo Thiên Chúa giáo trên toàn thế giới là khoảng 1.2 tỉ người8
Như vậy, Thiên Chúa giáo đã hình thành và tồn tại tuy giai đoạn đầu chịu nhiều ảnh hưởng của giai cấp thống trị đế quốc Rô – ma bấy giờ, nhưng với tinh thần là một tôn giáo hiệp th ng, ình đẳng, ác ái… Thiên Chúa giáo đã khẳng được vị trí và vai trò là một tôn giáo của thế giới Trải qua nhiều giai đoạn phát triển, Thiên Chúa giáo
có nhiều điều kiện để du nhập, phát triển và ảnh hưởng sâu rộng đối với nhiều quốc gia trên thế giới và khu vực trong đó có Việt Nam
8
Nguyễn Hồng Dương, Ng Quốc Đ ng, C ng giáo Thế giới tri thức cơ ản, Nxb Từ điển bách khoa,
tr 9
Trang 151.1.2 Q á t nh Thi n Ch a giáo d nhập vào Việt Nam
Với sự lớn mạnh và phát triển không ngừng, Thiên Chúa giáo bắt đầu có sức ảnh hưởng và lan tỏa khắp đế chế Roma, tới châu u từ những thế kỉ đầu và đến Việt Nam
ởi các d ng Augustin , d ng Đa Minh, các thừa sai d ng Phanxic từ thế kỉ XVI một cách l t Cho đến đầu thế kỉ XVII, việc truyền giáo vào Việt Nam trở nên liên tục hơn do các thừa sai d ng Tên của Bồ Đào Nha, các thừa sai người Tây Ban Nha thuộc
d ng Đa Minh, người Pháp thuộc hội Truyền giáo nước ngoài Paris Trước khi đạo Thiên Chúa du nhập, Việt Nam đã là một đất nước có nền văn hóa định hình rõ nét với một hệ thống tín ngưỡng và t n giáo vững chắc từ lâu, vì thế khi vào Việt Nam, Thiên Chúa giáo đã có sự va chạm với nền văn hóa ản địa lâu đời ấy
Khái quát về quá trình du nhập của t n giáo này, có thể chia thành a thời kì:
1.1.2.1 Thời kì khai sinh và hình thành của đạo hi n h a ở iệt Na
Vào đầu thập niên 1500 với Hồng Y Jiménez de Cisncro, Công giáo Tây Ban Nha mạnh nhất châu u đẫ có sức ảnh hưởng lớn đối với Giáo triều La Mã Từ Manila, các thừa sai Đa Minh và Phanxico đã tiến qua Viễn Đ ng lấy Áo Môn làm cứ điểm xuất phát để đi vào Trung Hoa và Việt Nam
Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha là hai cường quốc hàng hải của châu u.9 Trong những năm 1510, 1511, 1557 họ đã chiếm được nhiều vùng đất như Goa (Ấn Độ), Macao (Trung Hoa), Malacca, Malaysia Các vùng như Ấn Độ, Philippines… lần lượt rơi vào v ng kiểm soát của Anh và Bồ Đào Nha Người Tây Ban Nha, từ Méxic tới đánh chiếm quần đảo và đặt tên là Philippines năm 1565 Cùng với quá trình bành trướng thuộc địa là quá trình truyền bá và mở rộng đạo Thiên Chúa lên các vùng đất này10
Từ cuối thế kỷ XV đầu XVI, các thương nhân phương Tây đã lui tới vùng Viễn
Đ ng để u n án Và tại đây, các thừa sai đã theo chân các tàu u n tới truyền giáo tại Việt Nam Việt Nam ấy giờ c n có tên là Đại Việt với hai chính quyền đối kháng nhau là Đàng Ngoài dưới quyền chúa Trịnh và Đàng Trong là của chúa Nguyễn Việt
Trang 16Nam tuy không phải là miền đất xứ Viễn Đ ng, nhưng cũng nhanh chóng được các
giáo sĩ quan tâm Một số thừa sai châu u từ Melaka đã đặt chân đến Hà Tiên, Bà Rịa
hay Quảng Nam do chúa Nguyễn trấn giữ vào thế kỉ XVI Dấu vết Tin Mừng đầu tiên
ở Việt Nam phải nhắc đến là thánh giá trên Cù Lao Chàm năm 1523 do một người Bồ Đào Nha tên Duarte Coelho khắc trên một phiến đá Đây như là dấu chỉ đầu tiên cho
sự bắt đầu của một tôn giáo mới ở Việt Nam
Theo Khâ đ nh Việt sử hông gi ương ục ghi lại thì năm 1533 dưới thời
vua Lê Trang T ng đã ra một chỉ dụ cấm đạo Thiên Chúa theo đó cho iết giáo sĩ I –
nê - khu đã theo đường biển vào giảng đạo tại làng ở Nam Định Năm 1533 được xem
là năm khởi đầu cho hoạt động truyền giáo tại Việt Nam Đến thế kỉ XVII, Việt Nam nằm dưới hai thế lực họ Trịnh – Nguyễn và không ngừng giao tranh, bối cảnh này đã khiến các thừa sai gặp nhiều trở ngại trong công cuộc truyền giáo của mình vào xứ Nam
Được truyền vào Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm 1555 – 1534 nhưng đến những năm 1615 – 1665, đạo Thiên Chúa mới có những nét nổi ật rõ rệt Bởi trong thời gian đầu truyền đạo, trên mỗi tàu buôn của các thương nhân nước ngoài luôn có một vài linh mục tuyên úy đi theo để dâng thánh lễ và cử hành các bí tích cho
họ, mỗi cuộc hành trình thường kéo dài từ a đến bốn tháng Kết thúc mỗi cuộc hành trình trên biển là họ tìm về đất liền, nơi mà có dân cư sinh sống để truyền đạo Tuy vậy, do không có thông dịch và không biết ngôn ngữ bản xứ nên việc truyền đạo rất khó khăn Buổi đầu đến Việt Nam, các linh mục chỉ có thể trao đổi một vài câu trong buôn bán hoặc hỏi xem người dân có muốn theo đạo hay không và rửa tội cho vài người theo đạo, và những cư dân ở đây lúc này chỉ mang danh có đạo chứ không biết
gì về đạo Vì thế, việc gieo Tin Mừng trên quê hương Việt Nam trong giai đoạn này kết quả đạt được kh ng đáng kể11
Chỉ sau khi các thừa sai d ng Tên thuộc Bồ khởi đầu c ng cuộc truyền giáo một cách liên tục, tại Đàng Trong từ đầu năm 1615, Đàng Ngoài 1627 và các đợt di dân
11
Lm Phêrô Nguyễn Thanh Tùng, Lịch sử thành lập Hàng Giáo Phẩm Việt Nam, Tr.14
Trang 17vào Nam Bộ của người Việt thì sự hiện diện của Thiên Chúa giáo mới được thấy tại vùng đất này12
Từ những năm 1615, các thừa sai d ng Tên đã theo tàu u n của Bồ Đào Nha và đặt chân lên Hội An Đó hai giáo sĩ Francois Buzomi và Diege Carvalho được cử đến Việt Nam, việc truyền á đạo Thiên Chúa mới thực sự bắt đầu Ở Đàng Trong, các thừa sai được chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1615 – 1635) cho tự do truyền đạo Tiếp đó Ma Cao cử hai giáo sĩ Francois Bareto và Francois de Pina sang tăng viện và
mở rộng địa bàn truyền giáo, số giáo dân ngày một đ ng Năm 1624 Ma Cao gửi tiếp sang Đàng Trong thêm 6 giáo sĩ do Ga riel de Mattos dẫn đầu, trong đó có giáo sĩ Alexandre de Rhodes (cha Đắc Lộ) – người có vai trò quan trọng trong việc xây dựng nền móng cho giáo hội Việt Nam
Trong những năm 1620 – 30, các thừa sai d ng Tên đến Đàng Ngoài và Đàng Trong nhờ một số giáo sĩ Bồ Đào Nha, mà ấy giờ Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn của hai Đàng lại đang cần thiết lập mối quan hệ hảo hữu với người Bồ để dựa vào thế lực của họ ở Á Đ ng và hơn hết là có thể mua vũ khí phục vụ cho cuộc giao tranh hai Đàng
Vào thập niên 1630 – 1640 với trận chiến cuối cùng của họ Trịnh – Nguyễn từ đây Nam Bắc bị chia đ i, lấy s ng Gianh (Quảng Bình) làm ranh giới Đàng Trong (từ
s ng Gianh trở vào phía Nam) và Đàng Ngoài (từ s ng Gianh trở ra phía Bắc) Thiên Chúa giáo Việt Nam vào giai đoạn qua phân này được Đức Giáo Hoàng Alexandro VII thiết lập hai giáo phận Đàng Ngoài (Bắc Hà) và Đàng Trong (Nam Hà)13 do 2 Giám mục Pallu và Lambert phụ trách Năm 1663 Hội thừa sai Paris ra đời nhằm đạo tạo các giáo sĩ thừa sai làm nhiệm vụ truyền giáo, mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển của Thiên Chúa giáo thế giới nói chung và Thiên Chúa giáo ở Việt Nam nói riêng
1 1 2 2 hi n h a gi o trong thời thử thách
Ở đàng Ngoài, dưới thời các chúa Trịnh Cương, Trinh Doanh, Trịnh Sâm và vua Cảnh Thịnh cùng nhà Tây Sơn ở miền Trung đã có nhiều vị thừa sai nước ngoài, linh
12 Nguyễn Nghị, Nguyễn Văn Trung, Trần Văn Giàu,Trần C ng Thạch, Thiên Chúa giáo tại Nam Bộ (P.7)
13
Cao Thế Dung, Việt Nam Công giáo sử tân biên (1553 – 2000), Tr.516 – 518
Trang 18mục lẫn giáo dân Việt Nam bị giết hại chỉ vì muốn bảo vệ đức tin với đạo
Ngay sau khi vua Quang Trung mất năm 1792, con trai ng là Quang Toản lên ngôi khi mới 10 tuổi, niên hiệu là Cảnh Thịnh Tất cả việc triều chính đều do quan lại nắm giữ, tranh giành quyền lực, xâu xé lẫn nhau gây mất đoàn kết nội bộ tạo điều kiện cho các thế lực trong nước nổi dậy
Trước tình hình đó, Nguyễn Phúc Ánh lại nhận được sự tin tưởng của người dân Nam Bộ cùng với sự giúp đỡ từ người Pháp để chống quân Tây Sơn và chúa Trịnh Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi lập ra nhà Nguyễn Nhờ sự giúp đỡ của Bá Đa Lộc14
mà Nguyễn Ánh đã giành lại được ngai vị nên đã cho phép các giáo sĩ tự do truyền giáo và hành đạo Đến năm 1803, Giám mục Labartette cho triệu tập Cộng đồng giáo phận để hoạch định công việc trấn hưng, phát triển và đào tạo linh mục bản xứ
Năm Gia Long lên ng i cũng là năm hai miền Bắc Nam giáo phận Đàng Trong hợp nhất lại dưới một chủ chiên Labartette Thiên Chúa giáo giáo Bắc Trung Nam thống nhất Giáo phận Nam Hà với 60,000 người, 20 linh mục, 15 nhà dòng Mến Thánh giá Ở giáo phận Đ ng Bắc Hà có số giáo dân đ ng nhất với 150,000 người, giáo phận Tây Bắc Hà thì có 20 giáo hạt Giáo phận Đàng Trong từ Bình Trị Thiên vào đến Hà Tiên và Cao Miên thì được hoàn toàn tự do tôn giáo15
Như vậy, Thiên Chúa giáo dưới triều Gia Long là giáo hội đ ng và trù phú nhất
Á Châu, từ khi đạo Thiên Chúa được truyền vào nước ta thì đây là lần đầu tiên các giáo sĩ được tự do đi lại và được thoải mái sống đạo Vua Gia Long còn ban hành chiếu dụ đặc ân cho Thiên Chúa giáo “cấm dân lương kh ng được hà hiếp người Giáo nhưng vua lại để cho các quan trong triều c ng kích đạo”16
Tuy nhiên, vua Gia Long không muốn theo đạo vì trong giáo lý của đạo Thiên Chúa có những mâu thuẫn với tín ngưỡng của tổ tiên và một số tập tục bấy giờ “Đạo Thiên Chúa rất hợp với đạo lý nhưng quá nghiêm khắc đối với tục đa thê Đối với ta, không thể chỉ lấy một vợ, mặc dù ta thấy là trị cả nước còn dễ dàng và ít mệt mỏi hơn
Trang 19là giữ cho gia đình ta được yên ấm”17 Những năm cuối triều đại, vua Gia Long vẫn
kh ng đụng chạm đến Thiên Chúa giáo nhưng triều đình thì ắt đầu e ngại và dè chừng Ít nhất Thiên Chúa giáo đã được tự do truyền bá và phát triển trong 18 năm bình yên
Từ sau đời vua Gia Long, Thiên Chúa giáo vấp phải những khó khăn và trở ngại lớn đó là những chính sách cấm đạo gay gắt của triều đình ởi ảnh hưởng từ ý thức hệ Nho giáo “trung quân ái quốc”, “nhất nam viết hữu, thập nữ viết v ” đời vua Tự Đức cũng như vậy
Dưới thời Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức đã có nhiều sắc chỉ nghiêm ngặt đối với đạo Thiên Chúa Ngày 1 – 1 – 1827, là ngày mở đầu cho màn kế hoạch diệt đạo của vua Minh Mạng Kế hoạch này được tiếp tục cho đến đời vua Tự Đức khi thực dân Pháp vào xâm lược nước ta Số người tử đạo trong giai đoạn này là một con số không nhỏ, trong đó 118 vị đã được phong thánh Tuy gặp nhiều thách thức là vậy nhưng với
l ng kiên định của các thừa sai lẫn các tín đồ, Thiên Chúa giáo vẫn tiếp tục được duy trì cho đến khi H a ước Giáp Tuất được kí kết năm 1874 với sự có mặt của vua Tự Đức thứ 27 cùng Lê Tuấn, Nguyễn Văn Tường của phía Việt Nam và thiếu tướng Dupré của ên Pháp
1.1.2.3 hi n h a gi o giai đoạn ph t tri n
Theo khoản 9 H a ước Giáp Tuất (15 – 3 – 1874), “Vua nước Nam nhận rằng đạo Gia T dạy người làm điều lành nên hủy ỏ hết các chỉ dụ cấm đạo, cho dân trong nước được tự do theo đạo và hành đạo”18 Như vậy, người C ng giáo đã được thừa nhận các giá trị về mặt công dân của mình như những công dân khác, các Giáo mục và thừa sai có quyền lưu th ng trong nước và trong các địa phận để giảng đạo19 Khi vào Việt Nam, bên cạnh việc thiết lập nền cai trị, thực dân Pháp cũng thi hành các chính sách tự do t n giáo, tạo điều kiện cho Thiên Chúa giáo phát triển ổn định
Trong nửa đầu thế kỷ XX, nhiều chủng viện được thành lập, số linh mục ngày càng tăng Đến năm 1933, cha Gioan Baotixita Nguyễn Bá T ng được phong làm Giám mục – vị Giám mục Việt Nam đầu tiên Năm 1960, Giáo hoàng Gioan XXIII
17
Lm Ant Nguyễn Ngọc Sơn, Giáo hội Công giáo Việt Nam trong dòng lịch sử Tr 192
18 LM Augustin Nguyễn Văn Trinh, Lịch sử giáo hội Việt Nam Tập 3, Tr.425
19
Nguyễn Hồng Dương – Ngô Quốc Đ ng, C ng giáo Việt Nam tri thức cơ ản (…_), Tr 53
Trang 20ban hành sắc chỉ thiết lập phẩm trật Giáo hội Công giáo Việt Nam với việc thành lập
ba giáo tỉnh ở Việt Nam là: Hà Nội, Huế và Sài G n Đồng thời, các địa phận Công giáo Việt Nam được nâng lên hàng Chính t a, đánh dấu thời kì phát triển mạnh mẽ của Thiên Chúa giáo trên toàn Việt Nam Tính đến năm 1933, ở Việt Nam đã có 13 địa phận với 16 giám mục, hơn 2000 linh mục, gần 4000 tu sĩ, 5000 nhà thờ và hơn 1 triệu giáo dân.20
Thiên Chúa giáo ngay từ khi du nhập vào Việt Nam đã gắn kết với sự ành trướng của các thế lực thực dân phương Tây, lúc đầu là Bồ Đào Nha sau là thực dân Pháp Đặc iệt là thái độ của các giáo sĩ thừa sai Pháp và một ộ phận giáo dân trong nước đối với cuộc xâm lực Việt Nam của thực dân Pháp giữa thế kỉ XIX đã khiến người dân Việt Nam nhìn nhận t n giáo này như k đồng minh của quân xâm lược Tuy nhiên, cuộc truyền á đạo Thiên chúa vào Việt Nam kh ng chỉ đem lại cho đất nước một niềm tin mới với một hệ thống luân lý giàu tính nhân ái, mà c n với tư cách
là một nhân tố văn hóa phương Tây, Thiên Chúa giáo đã chuyển tải đến Việt Nam một
số những thành tựu của nền văn minh phương Tây
Thi n Ch a giáo nh ư ng t ước thế kỉ XIX
ối cảnh kinh tế - chính trị - xã hội nh ư ng t ước thế kỉ I
Cũng như hầu hết các vùng đất khác ở Nam Bộ, Bình Dương – vùng đất trước kia vốn nằm trên lưu vực s ng Phước Long (s ng Đồng Nai ngày nay) và s ng Tân Bình (nay là s ng Sài G n) vẫn c n là vùng đất hoang sơ, “toàn là rừng rậm hàng ngàn dặm”21 Mãi đến cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII theo ước chân của những người khai hoang, vùng Đồng Nai – Gia Định mới dần trở nên s i động, đời sống vật chất – tinh thần của cư dân ở đây ắt đầu được hình thành
1 2 1 1 Kinh tế
Đất Bình Dương cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII vẫn c n là vùng đất hoang dã, chủ yếu là rừng rậm Với trình độ sản xuất c n thấp kém, đời sống cư dân ản địa dựa vào việc phá rừng làm nương rẫy kết hợp với săn ắt hái lượm, họ sống rải rác và canh tác theo phương thức du canh du cư
20 TS Nguyễn Văn Hiệp, Một số chuyên đề lịch sử Việt Nam tập I, tr 154
21 Lê Quý Đ n (1959), Phủ iên tạp lục, quyển IV, khoa Xã hội trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, tr.441
Trang 21Sang cuối thế kỷ XVI, lớp cư dân mới xuất hiện, họ là những lưu dân người Việt
từ miền Thuận Quảng vào theo đường s ng, đường rừng vào Nam để làm ăn sinh sống Thành phần lưu dân gồm những người nông dân nghèo khổ, thợ thủ công, tội phạm, người trốn lính, trốn thuế và cũng có những người theo đạo Lúc này, phương tiện đi lại chính yếu là bằng ghe xuồng ven sông hoặc bằng ngựa để đi trong rừng Buổi đầu vào đến Bình Dương, lưu dân sống rải rác dọc ven các con sông và cửa sông Nhận thấy nơi đây là vùng đất khá bằng phẳng, nằm giữa hai con sông lớn là sông Sài
G n và s ng Đồng Nai được lại bồi đắp phù sa màu mỡ bởi hệ thống kênh rạch chằng chịt của sông Sài Gòn nên rất thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp Vì vậy, cư dân sớm tập trung đ ng đúc ở vùng này
Khi vào đây, các lưu dân tự túc khai khẩn đất hoang, mở mang đất đai để trồng trọt Họ mang theo những kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước để phục vụ cho nhu cầu lương thực Đồng thời, họ phải lu n đấu tranh với thiên nhiên để tồn tại nơi rừng thiêng nước độc này
Tại đây, họ đã xây dựng nên những vùng canh tác có diện tích khá lớn, iến
mảnh đất hoang sơ thành những cánh đồng lúa “Đất Đồng-Nai phủ Gia-Đ nh có tiếng là nơi đất hoa mầu tốt vào bậc nhất giồng một hộc thóc th đuợc ba tră hộc thóc Vậy đủ biết ruộng ấy tốt biết nhường nào”22
Tuy nhiên, việc trồng lúa chỉ thích hợp ở những nơi đ ng ằng đât ùn trũng do vậy ở Bình Dương kh ng có những cánh đồng “c ay thẳng cánh” mà chỉ có những khu ruộng vừa và nhỏ Đây cũng là vùng thích hợp với các loại cây c ng nghiệp ngắn ngày, đặc iệt với đất phù sa cổ dọc các con s ng Sài G n, Đồng Nai rất phù hợp để trồng các loại cây ăn trái đặc sản
Dưới tác động từ chính sách khẩn hoang miền Nam của các chúa Nguyễn, cư dân Đàng Ngoài vào Nam ngày một đ ng Lớp lưu dân tiếp theo đã vào đây và tiếp tục mở mang đất đai Theo ghi nhận của Đại Nam nhất thống chí, Chợ Phú Cường, Bình Nhan Thượng và chợ Tân Uyên là 3 khu chợ nằm trên địa phần Bình Dương trong đó chợ Phú Cường là vùng tập trung tài nguyên lâm sản quan trọng Cùng với Phú Cường,
22 Lê Quý Đ n (1959), Phủ iên tạp lục, quyển IV, khoa Xã hội trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, trr
63
Trang 22Búng và Lái Thiêu cũng phát triển nhanh chóng, trở thành những khu thị tứ đ ng đúc, tấp nập
Như vậy, “ r n bước đường khai phá khẩn hoang người Việt từ miền Trung vào Đồng Nai – Gia Đ nh, dừng chân tr n đất Lái Thiêu Từ đó, họ rộng đ a bàn cư tr quanh vùng, dần dần hình thành nên làng, xóm, huyện Đây là những người chủ yếu từ Quảng Bình, Huế, Đà Nẵng, Quảng Na lưu dân vào Ngay từ khi mới đặt chân lên những miền đất đầy hoang vu, xa lạ, đầy rẫy hùm beo, rắn độc và biết bao hi m họa rình rập quanh mình, họ đ nhanh chóng vượt qua tất cả bằng ch nh lao động sáng tạo, bằng bàn tay và khối óc của mình Thế hệ này nối tiếp thế hệ h c đ tạo dựng nên xóm làng, cải biến đất đai hoang d thành những vùng đất trù phú và th nh vượng như ngày hô nay” 23
Có thể thấy, đất Búng từ một nơi toàn rừng với kênh rạch chằng chịt đã được lưu dân khai phá biến một vũng đất trũng thành một vùng đất màu mỡ, đầy sức sống Là điểm lí tưởng để lưu dân định cư lâu dài và phát triển Với thành quả của việc mở mang đất đai của lưu dân đã giúp cho sản xuất nông nghiệp của vùng đất Bình An xưa phát triển, tạo nền tảng cho cuộc sống của lưu dân ngày càng càng ổn định trên vùng đất mới
1 2 1 2 h nh tr
Từ đầu thế kỷ XVIII, cuộc giao tranh quyết liệt giữa hai tập đoàn phong kiến trịnh – Nguyễn kéo dài từ năm 1627 đến năm 1672 với nhiều trận đánh lớn liên tiếp đã khiến cả vùng Thuận Hóa suốt mấy năm liền mất mùa, đói kém “Nhà nước phải liên tục xuất lúa kho chẩn cấp cho dân đói, c n inh sĩ và nhân dân thì ly tán và sinh l ng hoan mang”24
Điều này đã uộc nhiều dân ngh o phải rời ỏ quê hương mình mà đi tìm đất sống khác
Trải qua nhiều thế kỷ nhập cư tự phát, khi chiến tranh tạm lắng xuống, để hợp pháp việc di dân cũng như muốn mở rộng ảnh hưởng của mình về phía Nam, mùa xuân năm Mậu Dần (1698) Nguyễn Hữu Cảnh theo lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu vào thiết lập hệ thống quản lý hành chính Lấy đất Nông Nại đặt làm Gia Định phủ, lập xứ
Trang 23Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lập xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn”25
Lúc đó, vùng Đồng Nai – Gia Định là vùng đất hoang hóa lại kh ng người cai quản đã trở thành nơi thu hút cư dân phiêu tán tìm đến Buổi đầu khi mới khai hoang, quy chế hành chính c n lỏng l o, người dân có quyền tự do lựa chọn đất để khẩn hoang, chính quyền kh ng can thiệp hay hạn chế, cư dân các vùng cúng được phép tự
do qua lại, sinh sống làm ăn xen kẽ, như người huyện Phước Long có thể sang lập nghiệp trong huyện Tân Bình, và người Tân Bình cũng có thể sang lập nghiệp ên huyện Phước Long26
Về sau đã cho “đặt ra các phường, ấp, xã, th n, chia cắt địa phận, chuẩn định thuế đinh, thuế điền và lập sổ ạ đinh, điền”27 Tiếp đó, Nguyễn Hữu Cảnh mộ dân từ châu Bố Chánh (nay là Quảng Bình) đi vào Nam lập nghiệp Từ đó, vùng đất này dần phát triển, cư dân ngày càng tập trung đ ng đúc
Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ng i, lập nên nhà Nguyễn Lấy hiệu là Gia Long Sau khi lên ngôi, vua bắt tay vào việc xây dựng các cơ quan quản lí từ cấp trung ương đến địa phương Ở vùng Đồng Nai – Gia Định, phủ Gia Định đổi thành trấn Gia Định Vùng đất thuộc Bình Dương ngày nay28 chia làm hai tổng Bình Chánh, An Thủy với
119 xã, th n, phường, ấp, điếm
Khi Gia Long mất vào năm 1802, Minh Mạng lên ngôi và thực hiện một cuộc cải cách hành chính Năm 1832, vua ra lệnh bãi bỏ thành Gia Định, lập ra xứ Nam Kì và cho đổi trấn thành tỉnh Nam Kì được chia làm sáu tỉnh Bình Dương lúc này là huyện Bình An của tỉnh Biên H a Bình An là nơi nhiều rộng đất nhất của tỉnh Biên Hòa Như vậy, đây là nơi cư dân n ng nghiệp tập trung đ ng nhất Và quanh vùng Thủ Dầu Một sau này như Phú Cường, Lái Thiêu, Phú Lợi hay vùng Tân Khánh, Tân Uyên, Cù
25 Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành th ng chí tập trung, ản dịch tiếng Việt Sài g n 1972, quyển I, tr.43
26 Nhiều tác giả (2013), Nam Bộ xưa và nay, NXB Thời đại, tr19
27 Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành th ng chí tập trung, ản dịch tiếng Việt Sài g n 1972, quyển I, tr.43
28
Thời đó nằm trong địa phận huyện Bình An, phủ Phước Long, trấn Biên Hòa
Trang 24Lao Rùa, là những xóm làng đ ng đúc của Bình Dương thuở đâu mở nước dười triều Nguyễn29
Từ chính sách khẩn hoang miền Nam cùng với việc thiết lập hệ thống hành chính của triều Nguyễn đã thu hút được đ ng đảo lưu dân từ Đàng Ngoài vào Đàng Trong khai hoang lập làng ở nhiều vùng như Gia Định, Đồng Nai Trong đó, Bình Dương cũng nhanh chóng được lưu dân đến khai khẩn lập làng Và sau thế kỉ XIX, cư dân Bình Dương đã phát triển nhanh chóng bởi được thiên nhiên ưu đãi Đồng thời, nhờ lớp lưu dân từ thế hệ này sang thế hệ khác di cư vào đây khai hoang phục hóa đã đến Bình Dương định cư lâu dài đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của vùng đất này
Trong những năm cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, lớp cư dân người Việt từ miền Bắc, miền Trung xiêu tán về đây lập nghiệp khá đ ng Họ là những lưu dân miền Thuận Quảng, thuộc nhiều tầng lớp xã hội từ n ng dân, thợ thủ c ng, dân ngh o đến những thầy lang, tù nhân, inh lính… vì nhiều nguyên nhân khác nhau mà chính yếu là xuất phát từ mâu thuẫn với triều đình phong kiến uộc phải rời ỏ quê nhà, tha hương vào phương Nam lập nghiệp Vùng Đồng Nai – Gia Định lúc đó c n hoang sơ, kh ng
ai làm chủ nên đã nhanh chóng thu hút những người dân phiêu tán Cư dân tại các vùng Phú Cường, Lái Thiêu, Tân Khánh đến định cư cùng lúc với cư dân Bến Nghé,
Cù Lao Phố Do vậy, người Việt ở Bình Dương có thể xem là những cư dân đầu tiên của cả miền Nam
Người Việt đến vùng đất Bình Dương, họ mang nét truyền thống của miền Bắc, miền Trung theo mình Ngoài việc sinh hoạt tâm linh gắn liền với tín ngưỡng thờ cúng
29
Phan Xuân Biên, Thủ Dầu Một – B nh Dương Đất lành chi đậu, nx Văn nghệ, TP HCM
30 Vườn Dzũ nay thuộc xã Tân H a, huyện Tân Uyên, Bình Dương, là dãy đồi nằm ven ờ phải s ng Đồng Nai
Trang 25tổ tiên, với trời đất, thánh thần, vạn vật thì t n giáo cũng được người dân quan tâm và xem đó như là chỗ dựa tinh thần mỗi lúc bế tắc trong cuộc sống thực tại của họ Ở vùng đất mới và đang trong quá trình thích ứng với điều kiện tự nhiên ở đây thì Phật giáo luôn có chỗ đứng trong mỗi người dân Phật giáo có mặt ở hầu hết các tỉnh của Việt Nam và xuất hiện ở Bình Dương khá sớm Lúc bấy giờ có hệ thống các ngôi chùa như Hội Khánh, chùa Núi Châu Thới, nhất là ngôi chùa Sắc Tứ Thiên
T n,…cùng với Phật giáo thì Thiên Chúa giáo cũng đã có mặt ở đây từ rất sớm Trong
đó có vùng Lái Thiêu, Búng,… “Thiên chúa giáo xuất hiện ở khu vực Lái Thiêu nói chung và An Thạnh nói riêng từ khá sớm Cuối thế kỉ XIX nhà thờ chợ Búng đã được
xây dựng, giáo sĩ người Pháp Joepheo đã đặt chân khắp vùng này Vào những ngày
cuối tuần, chuông nhà thờ đổ hồi, quy tụ các tín đồ về dưới chân chúa nghe linh mục giảng đạo…31”
Trong những người lưu dân từ Đàng Ngoài vào, có cả lưu dân người Thiên Chúa giáo đến định cư ở vùng Lái Thiêu và thành lập các họ đạo mà đầu tiên là họ Gò Số giáo dân khác đến vùng Búng, lập nên họ đạo Búng Về sau dưới tác động của chính sách cấm đạo, các giáo dân vì muốn bảo toàn đức tin nên buộc phải rời quê hương để lánh nạn Khi vào khẩn hoang miền Nam, họ không chỉ là những cư dân đầu tiên góp phần trong công cuộc mở đất ở phía Nam mà còn là những giáo dân đầu tiên góp phần truyền á Thiên Chúa giáo vào Đàng Trong nói chung và Bình Dương nói riêng
Cư dân đ ng đúc, làng xóm, chợ úa xuất hiện ngày một nhiều đã tạo nên sức sống mới cho mảnh đất hoang hóa ngày nào Sự giao lưu về các mặt kinh tế, văn hóa,
xã hội giữa các cộng đồng người ngày một phát triển Các khu chợ như Lái Thiêu, chợ Búng, chợ Phú Cường, chợ Thị Tính… là iểu hiện cho sức sống mạnh mẽ và sinh động trong quá trình sản xuất và trao đổi hàng hóa trên vùng đất mới Bình Dương Tìm đến Bình Dương – vùng đất lành chim đậu từ uổi “rừng thiêng nước độc”,
âm u hoang vắng uộc các lưu dân phải cùng đoàn kết để tồn tại, đồng thời trong m i trường thiên nhiên khắc nghiệt ấy, con người cần sự che chở và một chỗ dựa về mặt tâm linh Trong điều kiện đó, những lưu dân một phần duy trì truyền thống của văn hóa, tín ngưỡng làng xã như thờ Phật, thờ thần Thành hoàng, thờ ng tổ nghiệp… Mặt
31
Ban chấp hành Đảng bộ huyện Thuận An, L ch sử và truyền thống xã An Thạnh 1930 – 1945 (Sơ
thảo), 1988
Trang 26khác họ lại nhạy én trong việc tiếp thu và sáng tạo những văn hóa, tín ngưỡng mới như đạo Dừa, hay các đạo giáo Nam Bộ khác
Như vậy, Thiên Chúa giáo có mặt ở Bình Dương từ giữa thế kỉ XVIII, ắt đầu từ Lái Thiêu rồi lan nhanh ra các vùng lân cận như Búng, Phú Cường Từ đầu thế kỷ XVI – thế kỷ XVII, những nhóm lưu dân theo đạo “lác đác đến đây lập nghiệp tại vùng ven
s ng Đồng Nai, đồng ằng s ng Mê K ng…”32 Đồng thời trong khoảng thế kỷ XVII, việc truyền đạo của các nhà giáo sĩ phương Tây cũng giúp mở mang Thiên Chúa giáo vùng này
Tinh h nh Thi n Ch a giáo nh ư ng t ước thế kỉ XIX
Cuối thế kỉ XVI đầu thế kỉ XVII, nhiều thương nhân theo đạo cùng với các giáo
sĩ phương Tây đã đến vùng Viễn Đ ng giao lưu và u n án Đến năm 1615 Frangcois Bujomi và Diego Carvalho người Bồ Đào Nha thuộc d ng Tên vào Đàng Trong Việt Nam truyền giáo Lúc này ở Việt Nam đã có các d ng Đa Minh, năm 1616 hai giáo sĩ trên đã cải giáo được trên 300 tín đồ người Việt
Ở Đàng Trong, dưới tác động của chiến tranh, đã có đ ng đảo lưu dân Đàng Ngoài, kể lưu dân theo đạo Thiên Chúa đến đây lập nghiệp Họ lác đác đến đây lập nghiệp tại vùng ven s ng Đồng Nai, đồng ằng s ng Mê K ng… từ đầu thế kỷ XVII hay XVI Như vậy, số người giáo dân đến đây đã theo đạo rồi chứ kh ng phải tới đây rồi mới theo đạo33
Trong thư gửi Ban giám đốc Chủng viện truyền giáo Paris ngày 24 tháng 7 năm
1710, giám mục phó giáo phận đàng Trong La é viết “Có một miền gọi là Đồng Nai
(Dou – nai) ở giữa Cao Miên và Chiêm Thành, đây là vùng đ ng ằng đất tốt, khá rộng và dài, rừng rậm cây to, nơi mà người đàng Trong tới đây lập nghiệp từ 35 đến 40 năm nay T i nghĩ là đã có hơn 20.000 người đàng Trong tới đây, trong số đó có ít nhất 2.000 người Thiên Chúa giáo Cách đây 13 hay 14 năm có một cha d ng Tên người Bồ Đào Nha (Pires) đến đây, ng đã xây dựng một nhà thờ khá lớn…”
Năm 1666, các giáo sĩ thuộc hội thừa sai Paris được cử đến hoạt động ở vùng đàng Trong và tới các vùng như Cù Lao Phố, Biên H a Năm 1670 thừa sai Mahot làm
32
Địa chí Đồng Nai (tập 5: Văn hóa - xã hội) (2001), NXB Tổng hợp Đồng Nai
33 Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2012), Kỷ yếu hội thảo khoa học: Khoa học xã hội và phát triển
ền vững Đ ng Nam Bộ, tr.75
Trang 27giám mục đàng Trong, theo thống kê năm 1734 ở đàng Trong có 300 nhà thờ, 29 linh mục, 700 ổn đạo, 20 thầy giảng34 Lúc này thì Thiên Chúa giáo được xác định là đã
có mặt tại Đồng Nai với khoảng 2000 tín đồ Vùng Tân Triều (Đồng Nai), là nơi quy
tụ nhiều giáo dân, trở thành một trong những họ đạo xưa nhất và là nơi lui tới của Cha
Bá Đa Lộc, đến năm 1798 một chủng viện được thành lập tại đây sau chủng viện đầu tiên được xây dựng tại Lái Thiêu năm 179135
Ở Bình Dương, giữa thế kỉ XVIII tại Lái Thiêu, Họ G xuất hiện ng Phippe Nguyễn Văn Tấm và à Marie Nguyễn Thị sáng lập và truyền đạo Họ đạo Lái Thiêu được hình thành trước năm 1747 vì trước những năm 1747 Lái Thiêu đã nằm trong danh sách các họ đạo vùng Trấn Biên, với 400 giáo hữu đứng hàng thứ a của địa phận đàng Trong và có hai d ng tu gồm d ng Tên và d ng Phanxic 36 Nhà thờ họ đạo Lái Thiêu được lập tại chợ Cây Me, nơi có àn thờ Chúa do Đức cha Bá Đa Lộc dựng năm 1771 và Lái Thiêu trở thành trung tâm của cả giáo phận Năm 1788, Đức cha Bá Đa Lộc chuyển chủng viện Chanta oun từ Xiêm về Lái Thiêu và chọn Lái Thiêu làm trung tâm của giáo phận Đàng Trong Đến năm 1798 Đức Cha lại cho lập thêm một Đại chủng viện ở Lái Thiêu với 24 sinh viên, lúc này vai tr của Lái Thiêu với Thiên Chúa giáo toàn miền Nam càng trở nên quan trọng
Đến cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, đạo Thiên Chúa ở Đàng Trong đã dần ổn định và đi vào phát triển với một hệ thống tổ chức chặt chẽ Cùng với sự phát triển về
số lượng giáo dân, cơ sở thờ tự thì sự xuất hiện của các nhà d ng, chủng viện cũng thu hút nhiều giáo dân tham gia
Như vậy, Thiên Chúa giáo đã có mặt ở Bình Dương từ khá lâu trước khi Nguyễn Hữu Cảnh đến kinh lược vùng đất này Lái Thiêu là nơi đã hình thành các họ đạo Thiên Chúa sớm nhất ở Bình An và cũng có thể sớm hàng đầu ở phía Nam
Với sứ mệnh truyền giáo của mình, từ Lái Thiêu các vị thừa sai đã mang Tin Mừng truyền á đến nhiều nơi Từ nơi gần gũi, chỉ cách một con s ng như Tân Quy, đến một vùng đất hoang sơ trải dài từ Lái Thiêu lên Thủ Dầu Một và kéo dài đến tận
34 Ủy an nhân dân tỉnh Bình Dương (2010), Địa chí Bình Dương tập 4, NXB chính trị quốc gia
35 Nguyễn Nghị, Nguyễn Văn Trung, Trần Văn Giàu, Trần C ng Thạch, Thiên Chúa giáo Nam Bộ phần 3
36 Nguyễn Văn Ngoạn, Khoa học lịch sử Bình Dương, tập san số 2, Tr 49
Trang 28các vùng phía Bắc tỉnh s ng Bé Chính giáo xứ Lái Thiêu là nguồn cội hình thành nên các họ đạo mà đến nay phát triển thành các giáo xứ nhƣ Tân Quy, Bình H a, Tân Thới – Phú Long37
37 Kỉ yếu Giáo xứ Lái Thiêu, Tr.42
Trang 29CHƯƠNG II: GI O Ứ NG V TIẾN TR NH THI N CH A GI O U
NHẬP V O NH ƯƠNG 2.1 Địa danh Búng
Trước thế kỉ XVII Bình Dương ngày nay vẫn c n là vùng đất rất hoang vu, chỉ toàn rừng rậm và thú dữ, bấy giờ khu vực này có các tộc người Stiêng, Chăm, Khmer sinh sống, sau đó đến đầu thế kỉ XVII cư dân người Việt mới bắt đầu đặt chân đến đây
để khai phá và sinh sống Khi những lưu dân đầu tiên đầu tiên vào đây định cư ở ven
s ng Phước Long (s ng Đồng Nai ngày nay) và sông Tân Bình (sông Sài Gòn ngày nay) Từ đó, lần lượt nhiều lưu dân Việt đến khẩn hoang, sản xuất lập nghiệp và hình thành nên những điểm tụ cư đầu tiên trên đất Bình Dương dọc s ng Sài G n, trong đó
có vùng đất Búng đây là vùng có nhiều đầm trũng nước, xung quanh đất đai màu mỡ thuận lợi canh tác, những cư dân này đã gọi vùng này là Búng
Thời điểm xuất hiện địa danh Búng ở vùng đất Bình An xưa vẫn chưa được xác định cụ thể Có lẽ tên gọi Búng có từ khi những lưu dân đầu tiên vào khai phá và định
cư ở nơi này Bên cạnh đó cũng có nhiều quan điểm, cách giải thích tên gọi Búng trước nay cũng chưa thống nhất
Tác giả Huỳnh C ng Tín có định nghĩa Búng là “ ột đoạn sông, kênh phình ra
và sâu hoặc chỗ lõm sâu ở ng ba sông, ng tư nh” 38 Giả thuyết này xem ra có v
hợp lý, tuy nhiên xét trên cơ sở lịch sử và thực tế thì kh ng đúng
Trong cuốn Lịch sử họ đạo Búng có viết vùng đất họ đạo Búng xưa kia là vùng ngập nước không trồng trọt được bởi Búng được hình thành do khi xưa vùng này có nhiều đầm trũng nước Do có người đến đây gặp một cái vũng nước trũng giữa vùng đất thấp màu mỡ, họ ghi lại nhưng viết nhầm “vũng” thành “ ung” Người sau hiểu họ viết là “ ưng”, cùng với việc tìm hiểu vùng đất đó nên người ta gọi là “ úng”
Từ cuối thế kỉ XVI đầu thế kỉ XVII trở đi, dưới chính sách khẩn hoang của triều đình nên đất Bình An bấy giờ liên tục tiếp nhận nhiều luồng lưu dân đến đây, trong đó
có vùng Búng Khi dân cư đ ng đúc sản xuất ra nhiều sản phẩm, đã tạo điều kiện hình thành những nơi giao lưu u n án hàng hóa đầu tiên trên đất Bình Dương Chợ Búng lúc đó nằm gần vùng Bình Nhâm và vùng đất Búng khi xưa là vùng đất ưng và chợ
38
Hội ngôn ngữ học Việt Nam, Trường đại học Cần Thơ, Huỳnh Công Tín (biên soạn), Từ đi n từ ngữ Nam bộ, Nxb Khoa học Xã hội, 2009, Tr 219
Trang 30được hình thành trên chính vùng đất này nên gọi là chợ Bưng Nhưng khi Thực dân Pháp xâm lược chúng tiến hành thống kê dân số, địa bàn và lập lại các đơn vị hành chính Khi viết tên các đơn vị hành chính người Pháp viết ưng thành ung, người Việt lại đọc thành búng Dần dần cái tên chợ Búng trở nên quen thuộc và đi vào cuộc sống của người dân
Theo “Đ a chí tỉnh Sông Bé” do học giả Trần Bạch Đằng có lí giải: “Vùng nước
đọng, chảy chậm mà sâu, gọi là Búng Danh từ chung ấy trở thành tên riêng của con rạch thơ ộng, gần th xã Thủ Dầu Một, tiêu bi u cho sinh hoạt ở ven sông, khí hậu trong lành, đ giao lưu” 39
Theo tài liệu “B nh Nhâ những trang sử vàng truyền thống” vị thế địa hình
vùng đất Búng 40 khi xưa được miêu tả: “Đường số 13 cắt ngang qua An Thạnh, chia
x là hai vùng h c nhau: vùng gò và vùng bưng ùng gò trải dài một số đồi thấp, trên phủ đậm màu xanh của các luống rẫy, tre, trúc, cây nhiều bóng mát ùng bưng
có độ cao thấp hơn so với vùng gò, bao gồm nhiều sông con, kênh rạch chi ch t đổ nước về sông Sài Gòn Khác với vùng gò vốn có nhiều đất sét pha cát hoặc đất đỏ; ùng bưng chủ yếu là đất phù xa của các con sông, rất thích hợp trồng l a nước và cây ăn quả” 41
Về từ Bưng trong ấn phẩm “ ự v tiếng nói miền Na ” của học giả Vương Hồng Sển có định nghĩa là vùng “đất sình lầy lấp xấp nước, cá tôm ở nhiều, cỏ lác mọc loạn
xạ” 42
Mặt khác, căn cứ tài liệu lịch sử cũng như ản đồ cho thấy địa bàn vùng Búng nằm gần con sông Sài Gòn, giống như hai nơi định cư đầu tiên là Lái Thiêu và Bình Nhâm thì Búng cũng có nhiều kênh rạch chằng chịt Chính những kênh rạch này làm cho địa hình đất Búng bị cắt x , d ng nước từ sông Sài Gòn liên tục được chảy vào đất Búng, lâu ngày do bị ngập nước đã tạo điều kiện cho các loại cây cỏ dại mọc trên vùng
Trang 31đất này Đối chiếu với lịch sử về địa hình thì Búng khi xưa là vùng đất thấp, ngập nước
và nhiều cỏ dại
Có thể thấy rằng địa danh Búng được giải thích bằng nhiều cách như là một vùng đất thấp hay cách phát âm sai hoặc một cái úng nước Các nhận định còn lại tuy khác nhau nhưng có điểm chung đều nhắc đến vùng đất thấp, trũng nước Loại địa hình này xuất hiện nhiều ở Nam Bộ, có thể nói Búng ở đây được hiểu là một úng nước, ưng nước, tức là cái vịnh nhỏ và cạn của một con sông hay một d ng nước, vùng nước đọng, chảy chậm và sâu, cây cỏ mọc um tùm
Cuối thế kỉ XVIII, trong hoàn cảnh đất nước Trịnh – Nguyễn phân tranh, ở Nam
Kỳ thuộc trấn Biên Hòa, phủ Phước Long, Huyện Bình An (tức Lái Thiêu) có một tổng gọi là Bình Chánh Trong tổng có 12 xã, nằm sát dải ngạn sông Sài Gòn, khởi đầu
từ vàm Bà Lụa có ùng inh đến vàm Búng Từ vàm Búng đến vàm Lái Thiêu có xã Bình Nhâm, từ vàm Lái Thiêu đến vàm Bình Phước có hai làng Phú Long và Vĩnh Bình Ở những làng sống ven các rạch dân cư đ ng hơn những làng trong đất gồng,
từ vàm Búng đi vào thẳng theo hướng Đ ng thì có một vùng rộng lớn kêu bằng một cái ưng, trong ưng có nhiều cồn lớn nhỏ Trong ưng có nhiều đường nước gọi là đường long do trâu đi ăn cỏ quanh theo cồn mà tạo thành, chung quanh ưng quay về hướng Tây Nam giáp với ba làng An Thạnh, Bình Thuận và Bình Nhâm đa số là đất ưng Phía Đ ng Bắc giáp với Bình Giao và Bình Thuận với đất giồng, đá sỏi và rừng chồi thường gọi là gò cầy vì ở chính giữa gò có một cây dầu rất lớn nằm sát đường bộ
từ huyện Bình An tới phủ Phước Long thường gọi là Thủ hay Thủ Dầu Một Tuy nhiên thì một ưng nhỏ trong tổng Bình Chánh là vùng hoang vu chưa có người làm chủ.43Vào thời vua Gia Long, có một người tên Bình, quê quán ở Quảng Bình, sau khi
đỗ Bảng Nhãn, được cử chức Tri Châu ở một vùng đất phía Nam – Nam Bộ Sau mười hai năm ở quan trường ông cáo bệnh từ chức và trở về làm nghề Đ ng y với danh hiệu Đức Trọng Đường Ông thường theo các ghe bầu vào Nam làm thuốc, chữa bệnh và bán các loại thuốc quý, vì lý do đấy nên ông quen biết đến vùng Bến Sắn, Bố Mua Trong khi đi tìm cây làm thuốc từ vùng Lái Thiêu đến miệt Bà Trà – Tân Khánh, ông
đã gặp giữa khoảng này một úng nước lớn bao bọc bởi một khu đất thấp (đất ưng) rất phì nhiêu và rộng rãi Lúc đó, vùng này là vùng ẩm thấp mà người ta gọi là cái
43
Nguyễn Thới Linh (cháu 5 đời của ông Bình) (1965), Tiểu sử làng Hưng Định – Họ Búng, Tr 2-5
Trang 32Búng, có nhiều đường nước nhỏ gọi là đường long (hay còn gọi là “long mạch”) Từ cầu Cây Trâm, có con rạch lớn, ghe thuyền có thể đi tới vùng đất nghĩa trang họ đạo Búng ngày nay
Đến vùng Búng, ng để ý đến cái Búng nước đó và muốn lập cư khai khẩn, nhưng vì cha mẹ còn sống, ông không bỏ đi được Mãi đến khi ông ngoài 40 tuổi, cha
mẹ mất, ông mới quyết định rời quê hương cũ, mang theo vợ và 2 con, con gái tên Nguyễn Thị Hưng, với chồng là Lê Văn Quyền, và con trai là Nguyễn Văn Định, còn độc thân, cùng gia đình đến đây lập nghiệp cùng và một số người nữa, phần nhiều cũng theo đạo c ng giáo như ng Lúc đầu, ông tá túc ở nhà người dân ở Lái Thiêu dần dần, gia đình ng vào G Cầy (nay là vùng đất từ Bình H a, Lái Thiêu đến ngã tư Hòa Lân), chặt cây cắt tranh làm nhà ở khoảng đất cao, gần nghĩa trang họ đạo Búng ngày nay Khi định cư xong, ng Bình sắm trâu để làm ruộng, ngựa để di chuyển Con gái Nguyễn Thị Hưng và chồng là Lê Văn Quyền ra riêng ở Cầu Ngang Còn Nguyễn Văn Định là con trai thì cưới con gái Họ Võ ở Lái Thiêu Khi đã tạo nên sự nghiệp vững vàng, ông Bình cho con trai và con rể về quê miền Trung để vận động bà con thân thuộc vào xứ Búng lập nghiệp Cư dân ở vùng lân cận cũng đến Búng để sinh sống Vì vùng đất màu mỡ, sông rạch thuận tiện lưu th ng nên số gia đình tới sanh sống gia tăng nhanh Trong số chỉ có năm, mười gia đình là người ên Lương.44
Tạo được sự nghiệp, ông Bình cho con rể và con trai về quê miền Trung để kêu gọi bà con thân thuộc cùng vào Nam lập nghiệp, một số người ở vùng quanh thấy có cuộc qui dân lập ấp cũng đến Thấy có số đ ng người đến ở, ng Bình đi thương lượng với các xã xung quanh để phân chia ranh giới và xin đăng ký với Triều đình để lập một
xã mới Xã mới lấy tên là Hưng Định, xã thứ 13 trong tổng Bình Chánh dưới thời vua Gia Long Đầu tiên khai khẩn vùng đất nói trên, ông Bình là tiền hiền có công khai phá đất hoang, đứng ra lập thành xã
Ông lấy tên 2 đứa con đặt cho xã, người thời đó có thói quen hay cữ nói đến tên người lớn thì lấy làm lạ lắm, ông biết được nên mới giải thích, Hưng và Định là con của tôi, nay xã này phần lớn do bàn tay tôi tạo nên, nên nó cũng là con của tôi, con cháu sau này khi nói đến, chúng có dịp nhớ đến ông bà tổ tiên
44
Nhiều tác giả (1988), Kỉ niệm Đệ nhất bách chu niên 1888 – 1988 nhà thờ họ đạo Búng, Tr 15-16
Trang 33Xã được phân làm 3 ấp: Ấp HƯNG PHƯỚC (ở giữa)
Ấp HƯNG LỘC (ở l chén Chùm sao)
Ấp HƯNG THỌ (ở Cầu Ngang) Với ng Lê Văn Quyền làm Hương Cả, ng Nguyễn Văn Định làm Xã Trưởng
Vì làng mới Tân Tạo kh ng có ai đủ điều kiện nên hai ng cất một c ng sở tại Hưng Thọ, nơi này đặt 2 câu liễng đối toán chữ nho:
XU N CÚC THU ĐÀO HƯNG ĐỊA VINH HUÊ VÔ HẠN LẠC NGỌC ĐƯỜNG KIM MÃ ĐỊNH GIA NHỰT LỆ HỮU THỜI LAI
(Liễng đối này chỉ tồn tại tới nă 1945)
Cơ sở hành chánh xã thường được gọi là Nhà Việc, Trụ sở chánh gọi là Nhà Hội, được xây cất ở ấp Hưng Thọ, đối diện Cầu Ngang Nhà Việc ấp Hưng Phước ở tại ngã
a, góc đường nhà thờ quẹo v l chén Cây Sao, c n nhà Việc ấp Hưng Lộc ở gần cuối đường l chén45
Làng Hưng Định với phần đ ng dân cư là người giáo dân Thiên Chúa giáo được thành lập bở ông Nguyễn Văn Bình và chính thức thành lập năm 183646 Tuy nhiên trước đó, từ những năm 1750 đã có vài gia đình đến đây khẩn hoang và định cư Theo
ng Nguyễn Thới Linh cháu 5 đời của ông Bình cho rằng làng Hưng Định, Búng khai sinh sau thời Gia Long phục quốc là năm 1810 ằng chứng là theo di út của ng Tính
để lại, khi quy dân lập ấp xong xu i rồi lập sở gửi về Kinh xin thẩm phục và gia nhập tổng Bình Chánh
Cư dân đến vùng Búng định cư đa phần là giáo dân chạy trốn sự ách đạo của triều đình, vì muốn an toàn bảo vệ đức tin tôn giáo của mình, họ chấp nhận rời bỏ quê hương xứ sở, tìm đến vùng xa xôi h o lánh, thay tên đổi họ và bắt đầu một cuộc sống mới với một thân phận mới Vì lẽ đó con cháu khi muốn tìm về cội nguồn của mình đều gặp phải khó khăn, lâu dần những thông tin ấy cũng mai một và thất truyền
Có thể khẳng định rằng Búng là địa danh thông dụng để gọi vùng đất xã Hưng Định, nguyên do tại chỗ cầu Bà Hai bây giờ, hồi đó có một úng nước rộng lớn, nước chảy mạnh tới cầu Cây Trâm rồi theo ngã cầu Ngang chảy ra s ng Sài G n Vùng đất
Trang 34Búng là vùng thung lũng có nước, giống đầm lầy, có cây cối rừng rậm, chưa được khai hoang, dù Búng gần Gò Cầy với nhà thờ Họ G đã có từ lâu (thế kỷ XVIII), gần Lái Thiêu với số giáo dân là 400 vào năm 1747 Và cư dân đầu tiên khai khẩn là những người từ miền Trung vào, cộng thêm những người ở vùng lân cận đến vùng cái Búng làm ăn sinh sống, định cư lập làng và đồng thời là người công giáo, nên họ cũng qui tụ đọc kinh ở nhà
Ngày nay, Hưng Định là một phường thuộc thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dươngvới các khu phố là Hưng Phước, Hưng Lộc và Hưng Thọ Ngoài ra, Hưng Định cũng nổi tiếng với lò gốm Chòm Sao của người Hoa từ Triều Châu sang lập nghiệp và có những đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Bình Dương
Giáo ứ ng – một t ong những giáo ứ đầ ti n của Thi n Ch a giáo
nh ư ng
Lịch h nh thành giáo ứ ng
Con người có tổ, có t ng, Như cây có cội, như s ng có nguồn Được ph i thai từ thời Gia Long, đến nay giáo xứ Búng đã trải qua 200 tồn tại và phát triển cùng với những thăng trầm của giáo hội Với ề dày lịch sử ấy, giáo xứ Búng kh ng chỉ trở thành điểm tựa tinh thần vững chãi cho giáo dân nơi đây mà c n trở thành một họ đạo kì cựu trong số các họ đạo địa phương thuộc giáo phận Phú Cường
Nói đến xứ Búng, cựu cha sở Martin (Nghi)47
đã ghi lại như sau: “Vùng đất họ đạo Búng và Bình Sơn ngày nay là vùng đất xưa kia ngập nước, kh ng trồng trọt được Nhưng nhờ phù sa s ng Sài G n mà đất trở nên phì nhiêu, nên người Việt nhận ra và đến sinh sống ở đây Họ ỏ nơi đang sống vì lu n có chiến tranh và nhiều khó khăn phải chịu đựng Xứ Búng, gần Lái Thiêu, gần như có đủ điều kiện mà họ ao ước.”48
Cùng với sự phát triển của c ng cuộc khẩn hoang miền Nam, và việc trốn chạy
sự cấm đạo của triều đình phong kiến, kh ng ít những người Thiên Chúa giáo đã tìm
47
Sinh ngày 24/08/1851 tại Nimes nước Pháp Làm Cha sở Họ Đạo Búng từ năm 1901 – 8/1916
48 Nguồn http://hodaobung.com/Bai-viet/732/lich-su-ho-dao-bung-1.aspx, truy cập ngày 14/3/2015, 7h46
Trang 35đến vùng Búng Họ đều là những người đạo gốc Những người đầu tiên đến cư ngụ tại vùng cái Búng là các ng Hương, Tùng, Dũi, Ở49 Lạ lẫm nơi đất khách quê người, lại
là chốn rừng thiêng nước độc, nên họ lu n gắn ó, quy tụ với nhau làm ăn sinh sống, cùng nhau cầu nguyện Họ tích cực trồng trọt, khẩn hoang và nhanh chóng có cuộc sống ổn định Cùng với việc lập làng thì nhu cầu về một nơi thờ tự, duy trì niềm tin t n giáo cũng xuất hiện, người ta ắt đầu đặt vấn đề về việc xây cất nhà thờ
Trong những người đầu tiên đó phải kể đến ng Nguyễn Thới Bình, người Quảng Bình Qua mười hai năm trong quan trường, ông cáo bệnh từ chức về làm nghề bốc thuốc với danh hiệu Đức Trọng Trên con đường hành y của mình, ng Bình đã tìm đến vùng đất mới của phía Nam là Lái Thiêu – Bình Dương, ng đã gặp ở giữa khoảng này một úng nước lớn nằm gọn trong khu đất thấp rất phì nhiêu và rộng lớn Trong úng nước đó, có rất nhiều đường nước nhỏ, gọi là đường long hay còn gọi là long mạch Ông đã mang theo gia đình của mình đến đây lập nghiệp cùng với một số người theo đạo đến đây Và cũng có một gia đình nguyên quán ở Huế vốn dòng quyền quý,
đã từng ph vua giúp nước, đã di cư vào Nam, định cư ở xứ Búng Đó là gia đình của
ng Ant n Đoàn C ng Miêng và bà Anê Nguyễn Thị Thường Cuối đời Gia Long (1802 – 1820) hai ông bà rời quê quán, cùng các con vào Nam, định cư ở vùng Cầu Ngang Chính tại nơi ở mới này mà đứa con út là Phêr Đoàn C ng Quí50 đã được sinh
ra vào năm 182651
Chính ng Bình và những người giáo dân đến đây đầu tiên là cha đ của vùng Búng nói chung và họ đạo Búng nói riêng Nơi đây là vùng đất thấp, gần sông, di chuyển trên sông bằng ghe, rất dễ sống, đặc biệt là những cánh rừng rộng lớn có nhiều loại thuốc quý, rất thuận lợi cho việc bốc thuốc của ông Thời đó, có rừng Cò Mi rộng lớn, rậm rạp và có nhiều thứ thuốc quý hiện nằm ở vùng Đất Thánh bây giờ52 Ông
49 Nguồn http://hodaobung.com/Bai-Viet/732/Lich-Su-Ho-Dao-Bung-1.Aspx, truy cập ngày 14 3 2015, 21h15
50Năm 1858, cha Phêr Đoàn C ng Quí lãnh chức linh mục Là người con út của đất Búng, nên Ngài
về quê “vinh qui ái tổ” Ngài đã dâng thánh lễ một cách âm thầm ở Gò Cầy Ngài nán lại một thời gian ở nhà Ông Tín (cháu nội ông Bình)
51 Nguồn http://hodaobung.com/Bai-viet/732/lich-su-ho-dao-bung-1.aspx, truy cập ngày 15/3/2015, 7h
52
Phỏng vấn
Trang 36Bình gắn liền với vùng đất này như một cái duyên với nghề bốc thuốc của mình, chính
vì thế mà ông quyết định dừng chân định cư tại nơi này và đưa gia đình cùng với người quen vào đây lập nghiệp
Từ việc khai phá vùng đất mới, ng đã đứng ra lập làng, lấy tên hai người con của mình là Nguyễn Thị Hưng và Nguyễn Văn Định để đặt tên cho làng tức làng Hưng Định Việc lập làng Hưng Định có mối quan hệ mật thiết với việc hình thành họ đạo Búng Búng vốn là vùng thung lũng giống đầm lầy, chưa được khai hoang Cư dân đầu tiên khai khẩn đều là những người từ miền Trung vào, cùng với những người ở vùng lân cận đến vùng cái Búng làm ăn sinh sống, định cư lập làng và đồng thời là người công giáo, nên họ cũng qui tụ đọc kinh ở nhà53 Là vùng đất gần sông, thuận tiện lưu
th ng, đất đai lại màu mỡ nên số cư dân đến đây sinh sống ngày một đ ng – chủ yếu là người có đạo54
, một họ đạo mới dần được hình thành
Là một người có đạo, lại là người mở lối cho cư dân tìm đường đến đây nên ng Bình lúc này vừa là Hương cả trong làng vừa là ng trùm của họ đạo Nhận thấy nhu cầu về một nơi để thờ tự và cử hành các thánh lễ, ng Bình quyết định cho xây dựng nhà thờ để các giáo dân có nơi hội họp và cầu nguyện, đây là nhà thờ đầu tiên của cả
họ đạo Nhà thờ được xây dựng bằng cây cột chôn, và lợp bằng tranh, dựng tại bến ghe Tám gần nhà ng Bình nay là khu Đất Thánh để tiện cho ng trong việc tr ng coi
và tiếp đón các Linh mục Họ đạo lúc này được gọi tên là họ đạo Ghe Tám vì nơi đây gần con suối lớn, lại có nhiều ghe thuyền đi lại, có ý kiến khác lại cho rằng vì vùng Búng có cây sao rất to, giáo dân đã chặt cây ấy, đóng thành một chiếc ghe có chiều dài đến tám tầm, nên người ta đặt là họ đạo Ghe Tám55 Giai đoạn này, giáo dân có khoảng 300 người, đều là đạo gốc và là người từ xứ Trung Kì vào sinh sống
Vì được lợp ằng tranh, nên khi mái tranh hư phải người ta mới cất một nhà thờ khác Nhà thờ thứ hai này được cất trên phần đất của ông Ràng ở ngã ba Dốc Sỏi bây giờ vì là chỗ đ ng dân cư, thuận tiện qua lại, nhà thờ cũng được gọi là nhà thờ Dốc
Trang 37Sỏi Nhà thờ này bị bỏ hoang khá lâu trong thời kỳ cấm đạo56 dưới thời vua Tự Đức nên đã ị sập Dù là mảnh đất c n đang chờ đợi àn tay những người đi khai hoang lập
ấp nhưng những chính sách cấm đạo khắt khe của triều đình phong kiến cũng có ảnh hưởng ít nhiều Mọi hoạt động t n giáo đều phải né tránh sự kiểm soát gắt gao của quan quân triều đình, kh ng ít giáo dân đã “tử vì đạo”, nhưng cũng có nhiều người vì
kh ng chịu được cực hình mà ỏ đạo Theo cuốn L ch sử Họ đạo B ng57 có ghi: “Có khoảng 30 người có đạo vì sợ nhục h nh n n đ đạp lên Thánh Giá, và b đưa đi phân tán ở chung trong làng người lương đ họ theo dõi Có hai ông là ông Trí và ông Lõi không chấp nhận hành vi chối đạo như tr n, n n b bắt và người ta khắc trên má hai chữ “ ả Đạo” và thả họ ra”
Trong thời kì đó, có thánh Linh mục Phêr Đoàn C ng Quí đã đổ máu ra vì đức
tin tại Châu Đốc năm 1895 Ông là con trai của Ant n Đoàn C ng Miêng và à Annê
Nguyễn Thị Thường vốn thuộc d ng dõi quyền quí, nguyên quán ở Đàng Ngoài, đã từng ph vua giúp nước Vào cuối đời Gia Long khoảng từ năm 1802 đến 1820, hai
ng à cùng vài người con di cư vào Nam , ngụ tại Búng, tỉnh Thủ Dầu Một Tên của các anh chị của Phêr Quí là: Thới, Bường (gái), Đã, Rạng, Báu Và tại đây, Phêr Đoàn C ng Quí – con út trong 6 người con, đã được sinh ha vào năm 1826, tại họ Búng, thuộc làng Hưng Định, tổng Bình Chánh, tỉnh Thủ Dầu Một58
Sau khi đi du học 7 năm tại Đại Chủng viện Pinăng (Mã Lai), năm 1855 ng trở
về quê hương, lúc ấy vua Tự Đức đang cấm đạo rất gay gắt Lại vốn là người có đạo đức, l ng nhiệt tình và cần cù nên thầy đã đi săn sóc và an ủi giáo dân trong thời kì đầy thách thức ấy Năm 29 tuổi, Đức cha Lef re (Ngãi) cho thầy chịu chức cắt tóc, và
hai năm sau chịu chức Phó tế Đến th ng 9/1858, Đức ha truyền chức Linh ục cho thầy tại nhà thờ hủ Dầu Một Sau đó, Cha đã về Búng để “vinh qui ái tổ tại G
Cầy59
56 Nguồn http://hodaobung.com/bai-viet/732/lich-su-ho-dao-bung-1.aspx, truy cập ngày 15 3 2015, 21h45
57 Ban iên soạn giáo xứ Búng (2007), Lịch sử Họ đạo Búng, lưu hành nội ộ
58 Giáo xứ Búng, Kỉ niệm đệ nhất ách chu niên 1888 – 1988, nhà thờ họ đạo Búng, lưu hành nội ộ,
tr 20
59 Nguồn http://hodaobung.com/Bai-viet/732/lich-su-ho-dao-bung-1.aspx, truy cập ngày 17/3/2015, 9h10
Trang 38Sau khi giảng đạo ở Lái Thiêu, Gia Định, Biên H a, cha Quí được cử làm phó sở Cái Mơn đúng lúc cuộc tử đạo được diễn ra Vừa đến nhậm sở được a tháng thì quân lính đến vây d ng Mến Thánh Giá, để truy ắt các giáo sĩ Kh ng ắt được giáo sĩ, quân lính đã ắt các nữ tu Biết tin các nữ tu ị tra tấn trong ngục tù, cha lu n tìm cách cứu giúp họ nhưng ất lực vì cuộc lùng ắt giáo sĩ rất gắt gao, lại kh ng được cha ề trên vùng Borelle cho phép nên cha Phêr Qui đã phải cải trang thành dân thường để
có thể đi lại thăm hỏi và làm phép í tích cho họ nhằm làm dịu ớt đi những nỗi đâu thể xác cũng như tinh thần cho các nữ tu và cha
Vào ngày 7 – 1 – 1859, trong một lần ị quân lính ao vây truy ắt, cha đã ị ắt trói cùng 32 ổn đạo trong làng về Châu Đốc Đứng trước mặt quan Tổng đốc, cha Quí vẫn kiên quyết kh ng từ ỏ đạo
“Lần khác quan nói với cha: Thầy là người thanh liêm, nhân từ, đức hạnh, tại sao lại mê theo tà đạo, hãy nghe ta mà ỏ đạo đó đi!
Cha Quí trả lời:
- Dạ, thưa quan, t i là người giảng dạy đạo này, sao lại có thể ỏ đạo cho được?
Vả nữa, đây là chính đạo, vì chỉ dạy điều tốt lành, chứ kh ng phải là tà đạo như quan hiểu lầm đâu”60
Và đến ngày 31 – 7 – 1859, ản án tử hình dành cho cha Phêr Quí được tiến hành “Cha mặc áo tốt nhất, ung dung và đĩnh đạc đi đến pháp trường, có quan quân đi trước, giáo hữu đi sau Một tên lính vác th , lâu lâu lại cất tiếng rao: Tự Đức thập tam,
An Giang tỉnh, Kỷ Vị niên, thất nguyệt, sơ nhị nhật Th : Đạo trưởng Đoàn C ng Quí tùng gian đạo, đạo chủng; đạo thư; ất khẳng quá khóa; Vi phạm quốc pháp; luật hình trảm quyết Tư th ”61
Thi hài của ngài được an táng ở nhà thờ Năng Gù, sau được cải táng đem về chủng viện Cù Lao Giêng vào năm 1959, nhân dịp Bách chu niên cuộc tử đạo của Ngài
Trang 39Để tưởng nhớ đến tinh thần tử vì đạo, l ng nhân đức của ngài, Đức Thánh Cha
Pi X đã phong Ngài lên ậc Á Thánh vào ngày 2 – 5 – 1909, đến năm 1960, giáo dân
đã dựng một tượng đài đầy uy nghi trước nhà thờ Búng – nơi ch n nhau cắt rốn của Thánh Quí và đến năm 1988, Ngài đã được Đức Thánh Cha Gioan Phaol II phong lên
ậc Hiển Thánh
Bên cạnh đó, nhiều giáo dân đã chạy nạn đến các vùng lân cận, nhất là Sài G n
Ông Lê Nguyễn Văn Quý viết trong Những họ đạo cổ xưa ở Sài Gòn trang 149 như
sau: “Tại Xóm Chiếu, dân chúng ỏ nhà ỏ cửa chạy hết ng Hương Thế qui tụ được vài chục người theo đạo Thiên Chúa, rồi dần dần, những ổn đạo từ Lái Thiêu, Búng, Thủ Đức chạy đến khá đ ng Ông Hương Thế cổ động cất một nhà thờ tạm tại rạch Cây Bàng…”62 Nhiều người ị chết trong quá trình di tản vì dịch tả, thiếu ăn, thiếu chổ ở Ngày 17 02 1859 Pháp chiếm thành Sài G n nhưng các nơi xung quanh như Tân Định, Thị Ngh , Chí H a, Hóc M n, Thủ Đức, Lái Thiêu, Búng thì vẫn c n dưới
sự kiểm soát của quan quân triều đình Việt Nam, cho đến ngày đồn Chí H a thất thủ vào ngày 25 02 1861 thì họ mới hết kiểm soát Vì cho rằng người c ng giáo tiếp tay với Pháp nên trong suốt a năm (1859 – 1862) người có đạo đã lãnh chịu kh ng iết
ao nhiêu gian khổ vì đạo63 Ông Tín – cháu nội ng Bình cùng con trai là Định phải chạy lên Bố Mua định cư với nghề ốc thuốc nam Ông đã chữa ệnh nhiều người khắp các vùng Đá Trắng, Hố Sao, Bào Ao, Nước Vàng… trong khi gặp gỡ ệnh nhân,
ng đã giới thiệu đạo cho họ Tại đây ng vẫn tiếp tục giữ đạo, kể chuyện đạo Chúa cho dân chúng và cùng với cha sở lo việc đạo, nhà thờ thứ hai vì lẽ đó mà ị ỏ hoang Qua những lần ghé thăm ệnh nhân và gieo mầm đức tin, ng Câu Tín làm quen với cha Henry Azémar đã thỉnh thoảng đến giảng Đạo Giat ở Bố Mua Cha Henry Azémar gửi áo cáo cho Đức cha Địa Phận Tây Đàng Trong64 mong muốn chấp thuận cho việc mở mang việc truyền giáo nơi ng Câu Tín cư trú Tháng 9 năm 1860, Đức
Trang 40Cha đã cử hai cha phụ tá là cha Piere Amoux và cha Jean Eveillard đến vùng Bố Mua
để quy tụ và lập họ nhánh Bố Mua trực thuộc Họ Đạo Búng.65
Năm 1859, Pháp đánh chiếm Gia Định Sau khi kháng chiến thất ại, Huế phải
ký hiệp ước 1862 nhượng cho Pháp 3 tỉnh Biên H a, Gia Định, Định Tường (Mỹ Tho) Triều đình phải kí với Pháp h a ước Nhâm Tuất ngày 05 06 1862, trong đó có khoản qui định về tự do t n giáo Hiệp ước Nhâm Tuất năm 1862 tạm khép lại thời kì ách đạo, mở ra một giai đoạn ổn định cho Thiên Chúa giáo, những giáo dân chạy nạn ngày nào giờ tìm đường trở về với họ đạo Ghe Tám xưa Họ cho xây dựng nhà thờ mới gần cầu Cây Trâm, đây là ng i nhà thờ thứ a, nằm gần chợ Búng Và cũng từ đây
họ đạo Ghe Tám đổi tên thành họ đạo Búng66 Buổi đầu, xứ đạo vẫn chưa có Linh mục chánh xứ để coi sóc việc tham dự Thánh lễ và lãnh các Bí Tích đều được cử hành ở Thủ Dầu Một dưới sự hướng dẫn và coi sóc của Linh mục Ro ert, cũng có một số linh mục thường xuyên lui tới và thăm viếng việc sống đạo của giáo dân
Đến năm 1862, Linh mục Francois Rémi Lizé được cử đến Búng, nhưng cha cũng chỉ ở đây được khoảng một năm, đến năm 1863 cha Gioan Khiêm được cử đến
để thay thế và cũng chỉ một năm sau vì vấn đề sức khỏe mà cha kh ng thể tiếp tục
c ng việc ở Búng Mãi đến năm 1867, cha Ant n Nguyễn Văn Võ67 được ủy nhiệm về coi sóc họ đạo Búng và trở thành vị cha sở đầu tiên của Búng Trước đó, Búng chưa hề
có một vị linh mục chánh xứ chính thức, các cha chỉ lui tới, ở một vài tháng rồi lại đi Như vậy có thể thấy năm 1867 là mốc xác định sự thành lập của giáo xứ Búng với việc
đón cha sở đầu tiên về giáo xứ, c n trước đó là sự hình thành các họ đạo Trong L ch
sử Họ đạo B ng, tác giả có khẳng định mốc thời gian thành lập giáo xứ Búng là năm
1875, tuy nhiên sau đó, với quá trình tiếp tục tìm hiểu về lịch sử giáo xứ mình, tác giả phát hiện được thư ủy nhiệm của cha Antôn Võ68, trong đó ghi nhận cha Antôn Võ
Mỗi linh mục khi được cử về làm chánh xứ một khu vực nào đều có thư ủy nhiệm ghi rõ năm được
cử về, người trong đạo gọi là “ ài sai”