MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trên thế giới cũng như ở Việt Nam hiện nay, tự chủ đại học (TCĐH) là xu hướng tất yếu để đổi mới và phát triển giáo dục đại học (GDĐH) hiện đại. TCĐH đã trải qua lịch sử phát triển hàng trăm năm, gắn với sự phát triển của các trường đại học (TĐH) trong bối cảnh có sự thay đổi căn bản mối quan hệ giữa Nhà nước và TĐH dưới tác động của điều kiện chính trị - kinh tế - xã hội trên phạm vi toàn cầu cũng như ở từng quốc gia. Sự thay đổi căn bản của GDĐH từ chức năng sản sinh ra tri thức trở thành một ngành/lĩnh vực mang tính dịch vụ và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nguồn đầu vào cho hoạt động của mọi ngành/nghề/lĩnh vực trong xã hội cũng như lĩnh vực quản lý nhà nước (QLNN) đã đặt ra yêu cầu cần có sự điều chỉnh lại mối quan hệ hai chiều giữa Nhà nước và TĐH. Cụ thể, trong mối quan hệ với TĐH, Nhà nước phải ngày càng giảm dần sự can thiệp trực tiếp vào hoạt động quản trị, quản lý của các trường để trao quyền tự chủ nhiều hơn cho TĐH. Ngược trở lại, TĐH trong mối quan hệ với Nhà nước buộc phải tăng cường sự tự chủ và trách nhiệm giải trình (TNGT) đối với mọi hoạt động giáo dục - đào tạo (GDĐT) trên cơ sở tiếp thu các yếu tố hợp lý, hiệu quả từ hoạt động QLNN. Sự điều chỉnh có tính kết hợp hai mặt này của mối quan hệ Nhà nước - TĐH được duy trì và phát triển qua mô hình TCĐH, trong đó, vai trò truyền thống của Nhà nước là quản lý trực tiếp trường đại học công lập (TĐHCL) dần chuyển sang vai trò phi truyền thống là giám sát, hướng dẫn hoạt động GDĐT của các TĐH. Sự chuyển đổi khách quan này diễn ra ở mọi quốc gia và Việt Nam cũng không là ngoại lệ. Trong bối cảnh chung đó, thời gian qua ở Việt Nam, môi trường thể chế về TCĐH đã có những chuyển biến tích cực. Hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh TCĐH đã được ban hành, như Luật Giáo dục (2005); Luật Giáo dục đại học (2012); Điều lệ Trường đại học (2014); Nghị định “Quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập” (Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006); Nghị định “Quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập” (Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015); Nghị quyết “Về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập, giai đoạn 2014-2017” (Nghị quyết số 77/NQ-CP ngày 24/10/2014); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật GDĐH (Luật số 34/2018/QH14 ngày 19/11/2018); Nghị định “Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học” (Nghị định số 99/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019); Nghị định “Quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập” (Nghị định số 120/2020/NĐ-CP ngày 07/10/2020)... Cùng với hệ thống thể chế, đã có nhiều chủ trương lớn về TCĐH cho thấy rõ quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước ta trong việc thúc đẩy tiến trình TCĐH của các TĐHCL. Nghị quyết số 29 Ban Chấp hành Trung ương tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8 khóa XI ngày 4/11/2013 (gọi tắt là Nghị quyết số 29) thống nhất chỉ đạo nhiệm vụ, giải pháp cho toàn hệ thống GDĐT của cả nước phải nhanh chóng: Đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo, bảo đảm dân chủ, thống nhất; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục - đào tạo; coi trọng quản lý chất lượng. Xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục - đào tạo và trách nhiệm quản lý theo ngành, lãnh thổ của các bộ, ngành, địa phương. Phân định công tác quản lý nhà nước với quản trị của cơ sở giáo dục và đào tạo. Đẩy mạnh phân cấp, nâng cao trách nhiệm, tạo động lực và tính chủ động, sáng tạo của các cơ sở giáo dục - đào tạo [13]. Trên mọi bình diện, TCĐH đặt ra không ít những yêu cầu mới về cả tư duy, l ý luận cũng như hoạt động thực tiễn của hệ thống QLNN về GDĐH và các TĐHCL. Song, cho đến nay, hiệu quả TCĐH của các TĐHCL, nhất là hiệu quả thực hiện tự chủ về tổ chức của các trường vẫn đang tồn tại khá nhiều vấn đề, trong đó: Công tác đổi mới hệ thống tổ chức các đơn vị sự nghiệp công lập còn chậm. Quy hoạch mạng lưới đơn vị sự nghiệp công lập chủ yếu còn theo đơn vị hành chính, chưa chú trọng quy hoạch theo ngành, lĩnh vực, đặc điểm vùng miền và nhu cầu thực tế. Hệ thống tổ chức các đơn vị sự nghiệp còn cồng kềnh, manh mún, phân tán, chồng chéo; quản trị nội bộ yếu kém, chất lượng, hiệu quả dịch vụ thấp [14]. Nhận định của Nghị quyết Trung ương số 19 nêu trên về thực trạng tổ chức của các đơn vị sự nghiệp công lập phản ánh khá rõ những vấn đề liên quan tới thực hiện tự chủ về tổ chức của TĐHCL, cụ thể:
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN TUẤN HƢNG
THỰC HIỆN TỰ CHỦ VỀ TỔ CHỨC
CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI - 2021
Trang 2M ỤC LỤC
Trang
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
THỰC HIỆN TỰ CHỦ VỀ TỔ CHỨC CỦA TRƯỜNG ĐẠI
1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài đối với những vấn đề lý luận trong
thực hiện tự chủ về tổ chức của trường đại học công lập 9 1.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước đối với những vấn đề lý luận trong
thực hiện tự chủ về tổ chức của trường đại học công lập 15 1.3 Tình hình nghiên cứu ở trong nước liên quan đến thực tiễn thực hiện tự
chủ về tổ chức của trường đại học công lập ở Việt Nam 25 1.4 Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu liên quan đến thực hiện tự chủ
về tổ chức của trường đại học công lập ở Việt Nam 29
Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN TRONG THỰC HIỆN TỰ CHỦ
VỀ TỔ CHỨC CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP Ở
Chương 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN TỰ CHỦ VỀ TỔ CHỨC CỦA
3.1 Hiện trạng chính sách và thể chế thực hiện tự chủ về tổ chức của
trường đại học công lập ở Việt Nam 85
Trang 33.2 Thực tiễn triển khai thực hiện tự chủ về tổ chức của các trường đại học
công lập ở Việt Nam 105 3.3 Những vấn đề đặt ra trong thực tiễn thực hiện tự chủ về tổ chức hiện
nay của các trường đại học công lập ở Việt Nam 112
Chương 4: CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN TỰ CHỦ VỀ TỔ
4.1 Quan điểm và định hướng trong bảo đảm thực hiện tự chủ về tổ chức
của trường đại học công lập ở Việt Nam 127 4.2 Các giải pháp bảo đảm thực hiện tự chủ về tổ chức của trường đại học
công lập ở Việt Nam 133
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
GDĐH : Giáo dục đại học GDĐT : Giáo dục - đào tạo HĐT : Hội đồng trường NCS : Nghiên cứu sinh QLNN : Quản lý nhà nước TCĐH : Tự chủ đại học TĐH : Trường đại học TĐHCL : Trường đại học công lập TNGT : Trách nhiệm giải trình
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
3.1 Hiện trạng thể chế thực hiện tự chủ về tổ chức của TĐHCL ở Việt
Nam (Trước khi Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật GDĐH năm 2012 - Luật số 34) 86 3.2 Một số hạn chế của thể chế thực hiện tự chủ về tổ chức của TĐHCL
ở Việt Nam (Giai đoạn trước khi Quốc hội ban hành Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật GDĐH năm 2012 - Luật số 34) 91 3.3 Hiện trạng thể chế thực hiện tự về chủ tổ chức của TĐHCL đã
được sửa đổi, bổ sung 93 3.4 Hiện trạng thể chế nội bộ điều chỉnh thực hiện tự chủ về tổ chức
3.5 Thực tiễn triển khai thực hiện tự chủ về tổ chức của các TĐHCL
không theo cơ chế của Nghị quyết 77/2014/NQ-CP 108 3.6 Tham chiếu cơ cấu thành viên của các trường tự chủ theo Nghị
quyết số 77/2014/NQ-CP 119 4.1 Ba trụ cột trong hệ thống thực thi TNGT của TĐHCL 156
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do ch ọn đề tài
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam hiện nay, tự chủ đại học (TCĐH) là xu hướng tất yếu để đổi mới và phát triển giáo dục đại học (GDĐH) hiện đại TCĐH đã trải qua lịch sử phát triển hàng trăm năm, gắn với sự phát triển của các trường đại học (TĐH) trong bối cảnh có sự thay đổi căn bản mối quan hệ giữa Nhà nước và TĐH dưới tác động của điều kiện chính trị - kinh tế - xã hội trên phạm vi toàn cầu cũng như ở từng quốc gia Sự thay đổi căn bản của GDĐH từ chức năng sản sinh ra tri thức trở thành một ngành/lĩnh vực mang tính dịch vụ và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nguồn đầu vào cho hoạt động của mọi ngành/nghề/lĩnh vực trong xã hội cũng như lĩnh vực quản lý nhà nước (QLNN) đã đặt ra yêu cầu cần có sự điều chỉnh lại mối quan hệ hai chiều giữa Nhà nước và TĐH Cụ thể, trong mối quan hệ với TĐH, Nhà nước phải ngày càng giảm dần sự can thiệp trực tiếp vào hoạt động quản trị, quản lý của các trường
để trao quyền tự chủ nhiều hơn cho TĐH Ngược trở lại, TĐH trong mối quan hệ với Nhà nước buộc phải tăng cường sự tự chủ và trách nhiệm giải trình (TNGT) đối với mọi hoạt động giáo dục - đào tạo (GDĐT) trên cơ sở tiếp thu các yếu tố hợp lý, hiệu quả từ hoạt động QLNN Sự điều chỉnh có tính kết hợp hai mặt này của mối quan hệ Nhà nước - TĐH được duy trì và phát triển qua mô hình TCĐH, trong đó, vai trò truyền thống của Nhà nước là quản lý trực tiếp trường đại học công lập (TĐHCL) dần chuyển sang vai trò phi truyền thống là giám sát, hướng dẫn hoạt động GDĐT của các TĐH Sự chuyển đổi khách quan này diễn ra ở mọi quốc gia và Việt Nam cũng không là ngoại lệ
Trong bối cảnh chung đó, thời gian qua ở Việt Nam, môi trường thể chế về TCĐH
đã có những chuyển biến tích cực Hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật điều
chỉnh TCĐH đã được ban hành, như Luật Giáo dục (2005); Luật Giáo dục đại học
(2012); Điều lệ Trường đại học (2014); Nghị định “Quy định quyền tự chủ, tự chịu
trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị
sự nghiệp công lập” (Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006); Nghị định “Quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập” (Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày
14/02/2015); Nghị quyết “Về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở giáo
dục đại học công lập, giai đoạn 2014-2017” (Nghị quyết số 77/NQ-CP ngày
Trang 824/10/2014); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật GDĐH (Luật số
34/2018/QH14 ngày 19/11/2018); Nghị định “Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học” (Nghị
định số 99/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019); Nghị định “Quy định về thành lập, tổ chức lại,
giải thể đơn vị sự nghiệp công lập” (Nghị định số 120/2020/NĐ-CP ngày 07/10/2020)
Cùng với hệ thống thể chế, đã có nhiều chủ trương lớn về TCĐH cho thấy rõ quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước ta trong việc thúc đẩy tiến trình TCĐH của các TĐHCL Nghị quyết số 29 Ban Chấp hành Trung ương tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8 khóa XI ngày 4/11/2013 (gọi tắt là Nghị quyết số 29) thống nhất chỉ đạo nhiệm
vụ, giải pháp cho toàn hệ thống GDĐT của cả nước phải nhanh chóng:
Đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo, bảo đảm dân chủ, thống nhất; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục - đào tạo; coi trọng quản lý chất lượng Xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục - đào tạo và trách nhiệm quản lý theo ngành, lãnh thổ của các bộ, ngành, địa phương Phân định công tác quản lý nhà nước với quản trị của cơ sở giáo dục và đào tạo Đẩy mạnh phân cấp, nâng
cao trách nhiệm, tạo động lực và tính chủ động, sáng tạo của các cơ sở giáo
dục - đào tạo [13]
Trên mọi bình diện, TCĐH đặt ra không ít những yêu cầu mới về cả tư duy, lý luận cũng như hoạt động thực tiễn của hệ thống QLNN về GDĐH và các TĐHCL Song, cho đến nay, hiệu quả TCĐH của các TĐHCL, nhất là hiệu quả thực hiện tự chủ
về tổ chức của các trường vẫn đang tồn tại khá nhiều vấn đề, trong đó:
Công tác đổi mới hệ thống tổ chức các đơn vị sự nghiệp công lập còn chậm Quy hoạch mạng lưới đơn vị sự nghiệp công lập chủ yếu còn theo đơn vị hành chính, chưa chú trọng quy hoạch theo ngành, lĩnh vực, đặc điểm vùng miền và nhu cầu thực tế Hệ thống tổ chức các đơn vị sự nghiệp còn cồng kềnh, manh mún, phân tán, chồng chéo; quản trị nội bộ yếu kém, chất lượng, hiệu quả dịch vụ thấp [14]
Nhận định của Nghị quyết Trung ương số 19 nêu trên về thực trạng tổ chức của các đơn vị sự nghiệp công lập phản ánh khá rõ những vấn đề liên quan tới thực hiện tự chủ về tổ chức của TĐHCL, cụ thể:
Trang 9Thứ nhất, cách tiếp cận đối với quyền tự chủ về tổ chức của TĐHCL Tự chủ
về tổ chức là một trong bốn trụ cột cơ bản của quyền TCĐH, phản ánh bản chất tư cách pháp lý tự chủ của một đơn vị sự nghiệp công lập và một tổ chức đại học Việc thực hiện tự chủ về tổ chức chịu sự tác động trực tiếp từ thẩm quyền QLNN của chủ thể quản lý trực tiếp TĐHCL Đây là quyền tự chủ có điều kiện, nhưng việc vận hành quyền tự chủ này liệu có cần phải đánh đổi bằng kết quả thực hiện tự chủ về tài chính của TĐHCL hay không thì vẫn còn có những cách hiểu và tiếp cận khác nhau
Thứ hai, trong hoạt động quản lý công, tự chủ về tổ chức của TĐHCL được
thực hiện trên cơ sở mối quan hệ phân cấp/ ủy quyền hợp lý, hiệu quả giữa Nhà nước
và TĐHCL Nhưng việc phân vai và thực tiễn thực hiện sự phân vai này qua thực thi chức năng QLNN về GDĐH và thực hiện chức năng quản trị, quản lý TĐHCL vẫn chưa loại bỏ hết các rào cản về thể chế, về năng lực, về mô hình và phương thức quản trị, quản lý TĐHCL Đó là chưa kể đến sự không tương thích của nguồn lực, bộ máy,
hệ thống quản trị với hiệu quả của các hoạt động quản trị, quản lý nhà trường trong điều kiện thực hiện tự chủ về tổ chức của TĐHCL
Thứ ba, kết quả thí điểm thực hiện TCĐH về cả bốn phương diện: Thực hiện
nhiệm vụ chuyên môn học thuật; tổ chức; nhân sự; tài chính và tài sản của nhóm các
trường theo Nghị quyết “Về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở giáo
dục đại học công lập, giai đoạn 2014 - 2017” (Nghị quyết số 77/NQ-CP ngày
24/10/2014) đã cho thấy khá rõ những mặt mạnh và mặt hạn chế về tổ chức bộ máy của các TĐHCL trong điều kiện áp dụng cơ chế thực hiện tự chủ về tổ chức
Thứ tư, việc đúc rút kinh nghiệm từ cơ chế thí điểm của nhóm các trường theo
Nghị quyết số 77 để đẩy mạnh tiến trình TCĐH toàn diện đối với các cơ sở GDĐH công lập, trong đó có các TĐHCL đã được Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật GDĐH (Luật số 34/2018/QH14 ngày 19/11/2018) đặt ra, theo đó, đến thời điểm sau tháng 8 năm 2020, các cơ sở GDĐH công lập phải hoàn thành việc thành lập Hội đồng trường (HĐT), cơ quan quyền lực tối cao của nhà trường để triển khai thực hiện TCĐH một cách toàn diện Khi các TĐHCL xúc tiến việc thành lập HĐT để thực hiện tự chủ về
tổ chức thì đã nảy sinh không ít vấn đề như: (1) Chuyển giao quyền lực từ Hiệu trưởng sang HĐT; (2) mối quan hệ giữa HĐT với Đảng ủy và Hiệu trưởng; (3) Chủ tịch HĐT có phải là người đứng đầu HĐT hay không? (4) Xác định ai là người đứng đầu TĐHCL?
Trang 10(5) Cơ chế thực hiện thẩm quyền của chủ thể quản lý trực tiếp TĐHCL tại HĐT và thực thi chức năng QLNN về GDĐH; (6) vấn đề đổi mới mô hình, phương thức quản trị đại học của các TĐHCL trong thực hiện cơ chế tự chủ về tổ chức Hàng loạt vấn đề nêu trên hiện chưa có sự đầu tư nghiên cứu, tiếp cận và chuẩn bị một cách bài bản về nhiều phương diện, nhất là từ phương diện lý luận, thể chế quản lý công và thực tiễn thực hiện tự chủ về tổ chức của nhiều TĐHCL
Từ thực tế trên thì việc đặt vấn đề nghiên cứu sâu sắc, toàn diện đối với thực hiện tự chủ về tổ chức của TĐHCL ở Việt Nam dưới nhiều góc độ, nhất là góc độ quản lý công là vô cùng cần thiết, có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực tiễn Với tầm nhìn đó,
nghiên cứu sinh (NCS) đã lựa chọn vấn đề “Thực hiện tự chủ về tổ chức của trường
đại học công lập ở Việt Nam” để thực hiện luận án tiến sĩ, chuyên ngành quản lý công
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Luận án hướng tới mục đích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn trong thực hiện tự chủ về tổ chức của TĐHCL ở Việt Nam, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm góp phần tạo ra những thay đổi tích cực cả về lý luận cũng như hiệu quả hoạt động thực tiễn đối với quá trình hiện thực hóa quyền tự chủ này của các TĐHCL trong thời gian tới
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
* Về lý luận
Nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận về tự chủ tổ chức và thực hiện tự chủ về tổ chức của TĐHCL (khái niệm, đặc điểm TCĐH; khái niệm, đặc điểm của tổ chức của TĐHCL trong cơ chế TCĐH; bản chất mối quan hệ giữa Nhà nước và TĐHCL trong thực hiện tự chủ về tổ chức của TĐHCL; nội dung, công cụ, thiết chế, phương thức, TNGT của TĐHCL trong thực hiện tự chủ về tổ chức; kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới trong thực hiện tự chủ về tổ chức của TĐH)
* Về thực tiễn
- Nghiên cứu thực trạng nhận thức của các cơ quan nhà nước, TĐHCL và các bên liên quan đối với thực hiện tự chủ về tổ chức của TĐHCL
- Nghiên cứu thực trạng thể chế, thực tiễn và các giải pháp bảo đảm thực hiện
tự chủ về tổ chức của TĐHCL thời gian tới
Trang 113 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Lý luận thực hiện tự chủ về tổ chức của TĐHCL ở Việt Nam hiện nay;
- Thực trạng chính sách, thể chế, thiết chế và thực tiễn thực hiện tự chủ về tổ chức của TĐHCL ở Việt Nam hiện nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu thực hiện tự chủ về tổ chức của
TĐHCL từ sau khi Luật GDĐH năm 2012 có hiệu lực cho đến nay
- Về đối tượng và nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu lý luận, thể chế, và
thực tiễn thực hiện tự chủ về tổ chức bộ máy mà không mở rộng nghiên cứu các vấn đề thực hiện tự chủ về tổ chức nhân sự của nhóm TĐHCL trực thuộc sự quản lý của Bộ
tự chủ về tổ chức
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Thứ nhất, các phương pháp thu thập, tổng hợp, phân tích thông tin, dữ liệu về
đối tượng nghiên cứu, phù hợp với phạm vi nghiên cứu Cụ thể, luận án tiếp cận công trình nghiên cứu đã công bố, các chính sách, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; các báo cáo quốc tế - quốc gia; quy chế quản lý nội bộ và thực tiễn quản trị, quản lý hiện nay về tổ chức TĐHCL ở Việt Nam để có căn cứ, cơ sở cho việc phân tích, tổng hợp,
hệ thống hóa và luận giải các vấn đề lý luận, thực tiễn thuộc nhiệm vụ nghiên cứu của
luận án
Thứ hai, phương pháp nghiên cứu dự báo, phỏng vấn sâu đối với một số các
nhà khoa học đồng thời là những giảng viên đang làm công tác quản lý trong TĐHCL thuộc một số lĩnh vực (đào tạo ngành luật; đào tạo tư pháp; đào tạo về quản lý công; đào tạo về quản lý về lao động - xã hội) để giải quyết một trong số nội dung được xác
Trang 12định là đóng góp của luận án liên quan đến quan điểm và đề xuất giải pháp bảo đảm thực hiện tự chủ về tổ chức của các TĐHCL (tại phụ lục 4 của luận án)
Ngoài ra, phương pháp liên hệ, so sánh, tổng kết, đúc rút kinh nghiệm từ thực
tiễn cũng sẽ được sử dụng trong quá trình hoàn thành luận án
5 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
* Câu hỏi nghiên cứu thứ nhất: Hệ thống lý luận quản lý công về tự chủ tổ
chức của TĐHCL ở Việt Nam hiện nay được hiểu và tiếp cận như thế nào?
* Giả thuyết nghiên cứu thứ nhất: Tự chủ về tổ chức là một trong bốn trụ cột
cơ bản của quyền TCĐH, được tiếp cận là quyền tự quyết định mục tiêu, sứ mạng, tầm nhìn và cách thức vận hành tổ chức bộ máy của TĐHCL; có mối tương quan theo chiều nghịch/chiều thuận với thẩm quyền QLNN về GDĐH và các lĩnh vực tự chủ về thực hiện nhiệm vụ học thuật, nhân sự, tài chính - tài sản của TĐHCL; thể hiện bản chất tư cách pháp lý của một cơ sở GDĐH công lập và tổ chức đại học Sự phân cấp/ủy quyền của Nhà nước và tư cách pháp lý là cơ sở của quyền tự chủ về tổ chức của TĐHCL; điều kiện để TĐHCL thực hiện tự chủ về tổ chức là phải có HĐT, có quy chế tổ chức
và hoạt động, có sự phân cấp tự chủ cho các đơn vị thuộc/trực thuộc
* Câu hỏi nghiên cứu thứ hai: Hệ thống lý luận quản lý công về thực hiện tự
chủ về tổ chức của TĐHCL ở Việt Nam hiện nay được hiểu và tiếp cận như thế nào?
* Giả thuyết nghiên cứu thứ hai: Thực hiện tự chủ về tổ chức của TĐHCL trên
cơ sở nguyên tắc, nội dung, thể chế, thiết chế, phương thức phù hợp, mang lại hiệu quả cho thực hiện TCĐH; tương thích giữa hệ thống QLNN về GDĐH với mô hình, phương thức thực hiện tự chủ về tổ chức của TĐHCL; (ii) phù hợp giữa năng lực quản trị, quản lý nhà trường với điều kiện, yêu cầu, nội dung, nhiệm vụ thực hiện tự chủ về
tổ chức của từng TĐHCL; hiện thực hóa mục tiêu kép là thực hiện sứ mạng, tầm nhìn
của TĐHCL và đổi mới toàn diện hệ thống GDĐH Việt Nam
* Câu hỏi nghiên cứu thứ ba: Cần nhận diện và đánh giá như thế nào về thực
trạng hệ thống chính sách, thể chế, thiết chế thực hiện tự chủ về tổ chức của TĐHCL ở Việt Nam hiện nay? Đâu là những khó khăn vướng mắc, hạn chế và nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc, hạn chế trong thực hiện tự chủ về tổ chức của TĐHCL?
* Giả thuyết nghiên cứu thứ ba: Hệ thống chính sách, thể chế chung của Nhà
nước, thể chế, thiết chế quản trị, quản lý nội bộ của TĐHCL ở Việt Nam hiện nay đã có
Trang 13nhiều những thay đổi tích cực, tiệm cận với xu hướng phát triển của các TĐHCL trên thế giới; những khó khăn, vướng mắc, hạn chế và nguyên nhân của khó khăn, vướng mắc, hạn chế trong thực tiễn thực hiện tự chủ về tổ chức của TĐHCL được nhận diện
từ nhiều phương diện (chính sách, thể chế, thiết chế, tư duy, năng lực, nguồn lực, phương thức QLNN về GDĐH, quản trị, quản lý tổ chức bộ máy của các nhà trường)
Câu hỏi nghiên cứu thứ tư: Thực tiễn thí điểm thực hiện cơ chế tự chủ về tổ chức
của nhóm TĐHCL theo Nghị quyết 77/2014 và thực tiễn triển khai thực hiện tự chủ về tổ chức của TĐHCL ở Việt Nam như thế nào? Đâu là những vấn đề đang đặt ra cho TĐHCL?
Giả thuyết nghiên cứu thứ tư: Kết quả thu được của nhóm các TĐHCL thí
điểm áp dụng cơ chế tự chủ theo Nghị quyết 77/2014 là một trong số căn cứ quan trọng
để thay đổi cách tiếp cận của các chủ thể QLNN và cơ sở GDĐH công lập về TCĐH; khó khăn, vướng mắc, hạn chế về thực hiện tự chủ tổ chức của TĐHCL từ quá trình thí điểm đã được Luật số 34 tháo gỡ một phần căn bản nhưng thực tế triển khai thực hiện
tự chủ về tổ chức của TĐHCL hiện vẫn đang phải đối diện với nhiều vấn đề liên quan đến cách hiểu và áp dụng thể chế mới theo Luật số 34; sự thiếu thống nhất và đồng bộ của luật chuyên ngành và luật liên quan về TCĐH; năng lực QLNN về GDĐH; năng lực, mô hình, phương thức quản trị, quản lý hệ thống tổ chức nhà trường trong điều kiện triển khai đồng loạt việc thực hiện tự chủ về tổ chức của TĐHCL theo Luật số 34
* Câu hỏi nghiên cứu thứ năm: Quan điểm và giải pháp thực hiện tự chủ về tổ
chức của TĐHCL ở Việt Nam thời gian tới?
* Giả thuyết nghiên cứu thứ năm: Việc thực hiện tự chủ về tổ chức của
TĐHCL trong thời gian tới phải đảm bảo dựa trên quan điểm khoa học, nhất quán, rõ ràng, với những giải pháp tổng thể, khả thi, đáp ứng yêu cầu trước mắt cũng như về lâu dài đối với hiệu quả QLNN về GDĐH trong cơ chế TCĐH và hiệu quả quản trị, quản
lý TĐHCL triển khai thực hiện tự chủ về tổ chức
6 Những đóng góp mới của luận án
6.1 Đóng góp về nghiên cứu lý luận
- Làm sáng tỏ bản chất tự chủ về tổ chức và thực hiện tự chủ về tổ chức của TĐHCL;
- Góp phần tạo ra sự thay đổi tích cực về nhận thức; phương thức tổ chức và triển khai thực hiện tự chủ về tổ chức của TĐHCL;
Trang 14- Đóng góp một số khái niệm khoa học cốt lõi trong lĩnh vực quản lý công đối
với thực hiện tự chủ về tổ chức của TĐHCL
6.2 Đóng góp về nghiên cứu thực tiễn
Đánh giá, phân tích, luận giải những bất cập, hạn chế đối với thực hiện tự chủ
về tổ chức của TĐHCL thời gian qua, từ đó đóng góp cho việc định hướng và đề xuất giải pháp khả thi, hiệu quả, phù hợp để dần hoàn thiện cơ chế thực hiện tự chủ về tổ
chức của TĐHCL ở Việt Nam thời gian tới
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
- Về lý luận, luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu đối với lĩnh vực
thực hiện tự chủ về tổ chức của TĐHCL Các nghiên cứu của luận án nhằm chỉ ra bản
chất, yêu cầu và vấn đề phải thực hiện đối với tự chủ về tổ chức của TĐHCL Luận án chỉ rõ yêu cầu, nội dung và kết quả cần đạt được trong thực hiện tự chủ về tổ chức của các TĐHCL
- Về thực tế, luận án đề xuất giải pháp hữu ích trong thực hiện tự chủ về tổ chức của các TĐHCL ở Việt Nam thời gian tới Luận án sau khi hoàn thành có giá trị tham khảo đối với các TĐHCL tại Việt Nam trong việc xây dựng và phát triển hệ thống quản trị, quản lý tổ chức, phù hợp với cơ chế TCĐH tại Việt Nam thời gian tới
8 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến thực hiện tự chủ về
tổ chức của trường đại học công lập ở Việt Nam
Chương 2: Những vấn đề lý luận trong thực hiện tự chủ về tổ chức của trường
đại học công lập ở Việt Nam
Chương 3: Thực tiễn thực hiện tự chủ về tổ chức của trường đại học công lập ở
Việt Nam
Chương 4: Giải pháp bảo đảm thực hiện tự chủ về tổ chức của trường đại học
công lập ở Việt Nam
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN THỰC HIỆN
TỰ CHỦ VỀ TỔ CHỨC CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM
1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài đối với những vấn đề lý luận trong
thực hiện tự chủ về tổ chức của trường đại học công lập
1.1.1 Đối với sách tham khảo
* Shattock Michael, năm 2006, “Managing good governance in higher
education, Open University Press, McGraw - Hill Education, United Kingdom ( Quản trị giáo dục đại học hiệu quả): Đây là công trình nghiên cứu có giá trị về tổ chức của
TĐH từ góc nhìn thiết chế Ở nội dung chương 2 (Nguồn gốc và sự phát triển của quản trị đại học hiện đại), tác giả đã phân tích một số mô hình quản trị đại học, như Oxbridge, Scotland, Quản trị đại học công dân, Giáo dục Đại học Tập đoàn và Quản trị Đại học Hoa Kỳ Tác giả cũng đi sâu phân tích về vai trò của Hiệu trưởng và Phó hiệu trưởng đại học cùng trưởng đơn vị thuộc đại học Tác giả cũng nêu lên vấn đề quản trị đại học và môi trường thay đổi Tác giả quan tâm bàn về chiến lược của các đại học và Nhà nước Cuốn sách bàn đến vấn đề quản trị đại học hiệu quả trong thực tiễn, như vấn
đề bổ nhiệm Hiệu trưởng; giám sát quyền điều hành, vấn đề đánh giá hiệu quả và hiệu
suất; vấn đề về xung đột lợi ích và áp lực thay đổi trong quản trị đại học
* Frankh.T.Rhodes, năm 2009, “Creation of the Future - Tạo dựng tương lai,
vai trò của các viện đại học Hoa Kỳ”, Nhà xuất bản Văn hóa Sài Gòn: Cuốn sách phân
tích nhiều nội dung liên quan đến công việc của một TĐH, như nội dung về Hội đồng trường (HĐT)/Hội đồng quản trị, trách nhiệm của HĐT là quản trị theo kiểu “nhúng mũi vào nhưng bỏ tay ra” [39, tr 507] chứ không phải quản lý Tác giả cũng phân tích
rõ vai trò của HĐT nằm ở chức năng tuyển chọn, bổ nhiệm, đưa ra đánh giá và không ngừng hỗ trợ Hiệu trưởng quản lý, điều hành TĐHCL Cuốn sách chỉ ra các thành tố căn bản làm nên mối quan hệ then chốt giữa HĐT và Hiệu trưởng
* Clark Kerr, năm 2013, “The uses of the university - Các công dụng của đại
h ọc”, Nhà xuất bản Tri thức Các nghiên cứu của tác giả về GDĐH Hoa Kỳ trước hết
là “những thông tin, phân tích, đánh giá, khái quát hóa một cách chân thực, khoa học
về sự thay đổi diện mạo của Đại học Hoa Kỳ qua những dấu mốc lịch sử” [23, tr 31-32]
Trang 16Một nhận xét rất cần được quan tâm khai thác về công dụng của đại học khi nghiên cứu
về quyền TCĐH, đó là đại học có tác dụng hữu hiệu cho xã hội hay phản hữu hiệu tùy theo cách sử dụng nó Nó thay đổi căn bản xã hội nếu thực hiện được đầy đủ các chức năng hàn lâm bình thường của nó mà qua đó, nó đã có chỗ đứng ngàn năm Nhưng mọi
sự thao túng đại học vào mục tiêu chính trị sẽ thay đổi bản chất đại học xấu đi hơn là
nó thay đổi tốt cho xã hội [23, tr 35] “Hôm nay chúng ta đứng vững Nhưng ngày mai khoa học sẽ tiến thêm một bước nữa và lúc đó, sẽ không thể có sự khẩn cầu xét lại một
bản án được dành cho những kẻ không được giáo dục và Kerr khẳng định đó là công dụng của giáo dục” [23, tr 35-36]
Trong cuốn sách, tác giả đã viện dẫn đến phát biểu của Kerr về TCĐH một cách ngắn gọn nhưng chứa đựng nhiều ý nghĩa: “Tôi không tin vào nguyên tắc rằng bởi
vì có một thống đốc mới nên cần có một Chủ tịch đại học mới Điều này không bao giờ
xảy ra ở các đại học công tốt ở Hoa Kỳ Đó là khía cạnh tự chủ (của đại học) Đại học
có thể phụng sự cho nhân loại tốt nhất khi được quản lý dài hạn bằng (nguyên tắc quyền) tự chủ” [23, tr 69-70] Đề cập quyền TCĐH, Kerr nhấn mạnh: “Một đại học
được quản lý một phần dựa trên tự do Một đại học không thể được quản lý như một Nhà nước cảnh sát” [23, tr 69] Tiếp cận từ góc độ quản lý công về TCĐH cho thấy,
những phân tích của Kerr về một số nhân sự đại học cực kỳ có giá trị tham khảo cho luận giải về thực hiện tự chủ tổ chức TĐHCL Tác giả đã chính xác khi cho rằng, Viện trưởng đại học (mà ở Việt Nam là Hiệu trưởng) là nhân sự hoạt động ở vị trí vừa phải đối diện nhiều hướng cùng một lúc, vừa phải xoay xở để không “quay lưng” lại với bất
cứ bên nào Theo tư duy khoa học quản lý công, đây là một nhận xét khoa học tinh tế
và quan trọng, điều mà nếu chỉ tiếp cận từ góc độ thể chế TĐH chưa chắc đã nhận diện
rõ vấn đề Trong bối cảnh thay đổi lớn của các TĐH ở Mỹ cũng như ở nhiều nước và ngay cả ở Việt Nam, tác giả đã rất có lý khi cho rằng, “Viện trưởng trở thành vị trung tâm hòa giải giữa các giá trị của quá khứ, các viễn cảnh của tương lai và những thực tế
của hiện tại” [23, tr 144]
Từ những nghiên cứu về cuốn sách, có thể rút ra nhận xét quan trọng có giá trị
tham chiếu đối với luận án, đó là những đánh giá chân thực, bản chất và khoa học về vị trí
chủ chốt trong TĐH ở hai trong số những vị trí cốt lõi là Hiệu trưởng và giảng viên Giảng viên là máy cái trong cỗ máy TĐH, Hiệu trưởng là máy trưởng để chỉ đạo vận hành cỗ
Trang 17máy đó và vì vậy, trong điều kiện TCĐH, hai vị trí này nên được tiếp cận, phát triển và quản lý như thế nào để hiệu quả và chất lượng nhất? Đây là những luận giải có ý nghĩa cung cấp nguồn thông tin quý khi đề cập đến vấn đề giải pháp tăng cường nguồn lực
của tổ chức TĐHCL trong điều kiện thực hiện tự chủ về tổ chức ở Việt Nam
* Iwinska Julia, Matei Liviu, năm 2014, University autonomy - A practical
handbook, Central European University, Hungary (C ẩm nang Tự chủ đại học): Một
trong những điểm nhấn quan trọng của cuốn sách tham khảo này là tìm câu trả lời cho câu hỏi lớn, các khía cạnh của TCĐH là gì? Cuốn sách cũng làm rõ mức độ tự chủ mà các TĐH được hưởng từ sự kiểm soát của Nhà nước, tác động đáng kể đến năng lực
quản lý các chiến lược phát triển phức tạp, xác định các chính sách và sắp xếp tổ chức phù hợp với các đơn vị hỗ trợ cần thiết, nguồn nhân lực và tài chính TĐH ngày càng được công nhận là động lực thúc đẩy cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội trong khu vực phát triển Nhận thức về cách các TĐH có thể đóng góp cho sự đổi mới của khu vực và sự phát triển kinh tế thông qua hợp tác với doanh nghiệp, chính quyền địa phương và các
chủ thể khác tại địa phương (ESMU, 2010)
Trong phần ba của cuốn sách, tác giả đề cập đến thực tiễn tự chủ với những ví
dụ của các quốc gia và TĐH Có thể nhận thấy phần này của cuốn sách cung cấp những kinh nghiệm tốt từ thực tế của các quốc gia Cụ thể, khi đề cập đến tự chủ quyết định
về quản trị nội bộ và cơ cấu tổ chức thì các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, cấu trúc quản trị
và lãnh đạo của các TĐH chịu sự điều chỉnh của khung pháp luật quốc gia Trong hầu
hết các trường hợp, khung cơ bản dành cho cho các cơ quan ra quyết định (cơ quan chủ quản chính trong một TĐH) được quy định trong các luật hoặc nghị định liên quan Nhưng đồng thời các TĐH vẫn có thể có một số quyền tự chủ trong việc áp dụng khung pháp lý quốc gia, mà một trong số đó là tự chủ trong xây dựng và phát triển thể
chế điều chỉnh nội bộ của TĐHCL
Một kinh nghiệm rất đáng chú ý từ nghiên cứu của công trình này liên quan đến vấn đề mô hình chủ yếu thiết lập quản trị đại học nội bộ trong các TĐH ở châu Âu
Chẳng hạn, 15 hệ thống (trong số 28) có một cơ cấu điều hành kép, thường bao gồm một cơ quan đại diện nội bộ (như Hội đồng khoa học) và một Hội đồng đại học (thiên
về bên ngoài nhiều hơn) Trong các mô hình quản trị kép, quyền và năng lực ra quyết định được phân chia giữa hai cơ quan Các vấn đề học thuật thường thuộc về năng lực
Trang 18của hội đồng khoa học, trong khi các vấn đề chiến lược liên quan đến Hội đồng đại học Sự phân chia năng lực và thẩm quyền ra quyết định giữa hai loại cơ quan chủ quản
có thể khác nhau đáng kể Trong một số trường hợp, ví dụ như ở một số tiểu bang của Đức, hội đồng đại học (thiên về bên ngoài) chỉ có vai trò tư vấn, trong khi thẩm quyền
ra quyết định chính thuộc về Hội đồng khoa học được bầu (nội bộ)
Một nội dung khác mang tính chất kinh nghiệm về tự chủ tổ chức cũng được
đề cập trong cuốn sách này, đó là tự do xác định cấu trúc học thuật nội bộ (như các Khoa; Trung tâm) Các TĐH trong hầu hết các hệ thống GDĐH của châu Âu (trong 18 trên 28 phân tích) có thể tự do quyết định cấu trúc học thuật nội bộ của họ Điều này liên quan đến việc thành lập, số lượng và tên của các đơn vị học thuật (ví dụ: các khoa, trường học, v.v ) Khía cạnh tự chủ này cũng bao gồm sáp nhập hoặc đóng cửa các khoa học thuật nằm trong thẩm quyền tự chủ của TĐH trong hầu hết các trường hợp
Một khía cạnh khác của kinh nghiệm quốc tế về tự chủ tổ chức bộ máy, nhân
sự TĐH công lập được nhìn thấy khá rõ ở nội dung các nghiên cứu trong cuốn sách này
là vấn đề tự do lựa chọn lãnh đạo TĐH (người đứng đầu điều hành) Cuốn sách chỉ ra
có bốn cách chính để bổ nhiệm người đứng đầu điều hành tại các TĐH ở châu Âu Một
là, Hiệu trưởng TĐH được bầu bởi một cơ quan bầu cử đại học lớn với quy mô đại diện
rộng, bao gồm nhân viên học tập và hành chính, và sinh viên Hai là, Hiệu trưởng được
bầu chọn một cách dân chủ bởi cơ quan quản lý của TĐH (thường là Hội đồng khoa
học, tức là cơ quan quyết định các vấn đề học thuật) Ba là, Hiệu trưởng được bổ nhiệm
bởi hội đồng TĐH (cơ quan quản lý quyết định các vấn đề chiến lược) Bốn là, Hiệu
trưởng được chỉ định thông qua quy trình hai bước kết hợp, bao gồm cả hội đồng khoa
học và HĐT
Còn một cách tiếp cận khác là Hiệu trưởng/quản lý điều hành của trường được
chỉ định/lựa chọn bởi một cơ quan quản lý (hội đồng quản trị hoặc HĐT), hoặc được
lựa chọn bởi cơ quan học thuật kiểu hội đồng khoa học là hai cách tiếp cận phổ biến như nhau Tại 8 quốc gia, trong đó có Vương quốc Anh, Ireland, Đan Mạch và Thụy Điển, quy trình chọn lọc được thực hiện bởi HĐT (thường bao gồm các thành viên bên ngoài) 4 quốc gia còn lại, bao gồm Pháp, Hungary, Slovakia và Bồ Đào Nha thì người lãnh đạo hàng đầu của TĐH được lựa chọn bởi một cơ quan quản lý được bầu theo
kiểu hội đồng khoa học
Trang 19* Karl Jaspers, năm 2016, “Ý niệm đại học”, Nhà xuất bản Hồng Đức: Cuốn
sách tập trung bàn về thiết chế đại học trong mối quan hệ với Nhà nước và xã hội
Cuốn sách phân tích mối quan hệ giữa TĐH với Nhà nước/Chính phủ theo cả chiều thuận và chiều nghịch, tức TĐH vừa thuộc Nhà nước, vừa tồn tại độc lập và không mang tính nhà nước Theo tác giả cuốn sách thì TĐH đòi hỏi một quyền tự do giảng
dạy, Nhà nước bảo đảm cho đại học quyền được theo đuổi những công trình nghiên cứu và giảng dạy mà không chịu sự kiểm soát của những phe phái chính trị hoặc một
áp lực từ các ý thức hệ chính trị, triết lý hay tôn giáo Nói cách khác thì TĐH là một học đường đặc biệt, bởi Nhà nước và xã hội luôn dành cho nó sự quan tâm tích cực Đặc biệt, cuốn sách dành hẳn một chương để phân tích về mối quan hệ giữa tổ chức đại
học với Nhà nước, theo đó, Nhà nước chỉ làm chức năng giám sát về sự độc lập tổ chức của TĐH TĐH về phía mình sẵn sàng thừa nhận chức năng này của Nhà nước trong
chừng mực không có sự xung đột với mục tiêu lý tưởng của nhà trường Có thể nhận thấy, những phân tích của công trình nghiên cứu này đã phần nào lý giải rõ hơn về bản
chất lý luận của mối quan hệ giữa Nhà nước và TĐH
* Bugaian Larisa, Reilly John E., Turcan Romeo V, năm 2016, “Rediscovering
university autonomy - The global market paradox of stakeholder and educational values in higher education, Palgrave Macmillan, United States of America ” (Tái khám phá v ề tự chủ đại học): Luận điểm chính của các tác giả trong công trình này những là
hiểu biết đầy đủ hơn về TCĐH chỉ có thể có được thông qua một cái nhìn toàn diện về mối quan hệ tương tác, phức tạp giữa các bên liên quan và chính sách, có thể củng cố
và kéo về hai hướng ngược nhau Cuốn sách khái niệm hóa quan điểm toàn diện trong một mô hình về thể chế TCĐH Mô hình này tập hợp bốn trụ cột truyền thống của tự chủ và năm mối quan hệ: Chính phủ - Đại học; Giảng viên - Đại học; Giảng viên - Sinh viên; Đại học - Doanh nghiệp và Quốc tế - Đại học Mỗi mối quan hệ này, đặc trưng cho các điểm tương tác bên ngoài và bên trong giữa TĐH hiện đại và các bên liên quan chính, không chỉ tác động tới bốn trụ cột mà còn liên quan và ảnh hưởng lẫn nhau và tăng cường sự hiểu biết đối với cách tự diễn giải về tự chủ Các tác giả phát hiện ra một thực tế là quan niệm và mục tiêu tự chủ hơn của các TĐHCL và chính phủ thực chất có
sự khác nhau nhất định, dù cả hai bên đều sử dụng cùng một thuật ngữ tự chủ Do tiếp tục là nguồn cung cấp kinh phí chính của TĐH, Chính phủ mong đợi TĐH thực hiện
Trang 20yêu cầu, thực thi các chiến lược và chính sách của Chính phủ trên nền tảng một mối quan hệ hợp đồng hiệu quả mà không bao gồm các quy định cụ thể TĐH thì muốn tự chủ và độc lập trong phát triển mục tiêu riêng để cạnh tranh; để thành lập liên minh, sát nhập và đối tác trong nước, trong khu vực và quốc tế; để tìm kiếm cách thức đảm bảo
sự độc lập lớn hơn về tài chính Mức độ mà một TĐH có thể khai thác và phát triển quyền
tự chủ của mình phụ thuộc sâu sắc vào sự quản lý, lãnh đạo và quản trị của trường đó
Do sự khác biệt về chất lượng và hiệu quả của các cơ quan quản lý và sự lãnh đạo và quản lý của một trường, sẽ có sự khác biệt đáng kể giữa các trường trong cách họ phản ứng với các cơ hội và thực hiện quyền tự chủ một cách hiệu quả và sáng tạo
Các nghiên cứu trong cuốn sách này còn đưa ra nhận xét rằng, các tương tác (mối quan hệ) không chỉ xác định cách thức tự chủ vận hành trong thực tế mà còn cả cách các mối quan hệ có thể đồng thời góp phần tăng cường hoặc hạn chế quyền tự chủ Thông qua các trường hợp quốc tế, các tác giả đã khám phá sự phức tạp của quyền
tự chủ, mà hiểu rộng ra là được thể hiện trong các từ tự do và độc lập Các tác giả nhận thấy, tự chủ không chỉ phát sinh từ khung pháp lý quy định hoạt động của trường mà còn từ mối quan hệ tương tác phức tạp giữa các bên liên quan và các chính sách có thể củng cố và kéo giãn theo hai hướng ngược nhau Từ đó, nghiên cứu của các tác giả cũng nêu ra việc làm thế nào để cả Chính phủ và TĐHCL đều có thể quản lý tốt mối quan hệ của từng bên
Theo nghiên cứu của các tác giả cuốn sách thì bản chất và mức độ TCĐH được điều chỉnh chủ yếu trong mối quan hệ giữa Nhà nước và TĐH Các cơ quan nhà nước kiểm soát sự điều hành và cơ cấu tổ chức của các TĐH Nhà nước nắm thẩm quyền bổ nhiệm hoặc miễn nhiệm Hiệu trưởng TĐH Do đó, mức độ tự chủ hiệu quả của TĐH bị ảnh hưởng mạnh bởi chất lượng của quản trị đại học Có thể nhận thấy, cuốn sách tập trung nhiều vào việc phân tích các mối quan hệ thuộc cơ cấu bên trong và bên ngoài của TĐH để giúp cho việc nhận diện rõ hơn các mối quan hệ này trong cơ chế TCĐH
* Philip G Altbach, Liz Rusberg và Laura E Rumbley, năm 2019, “Xu hướng
giáo d ục đại học toàn cầu theo vết một cuộc cách mạng học thuật”, Nhà xuất bản Đại
học Quốc gia Hà Nội: Cuốn sách lý giải toàn cảnh về GDĐH toàn cầu trong nửa sau
thế kỷ 20 cho đến nay, với vai trò to lớn của Nhà nước đối với cuộc chạy đua phát triển
chất xám vĩ đại nhất của các TĐH trong thế kỷ 21
Trang 211.1.2 Đối với bài nghiên cứu
* Su-Yan Pan, Hong Kong University Press, năm 2009, “Tự chủ đại học, nhà
nước và những thay đổi xã hội ở Trung Quốc”, người dịch: Phạm Thị Ly, Thông tin
Giáo dục quốc tế và so sánh của Đại học Hoa Sen, số 2.2010 Bài viết đưa ra khá nhiều cách tiếp cận truyền thống về TĐH theo quan điểm của học giả phương Tây, như Hetherington (1953); Newman (1959); Clark (1994); Martin (1972); Ordorika (2003) Bài viết phản ánh việc lý thuyết hóa mối quan hệ giữa Nhà nước và TĐHCL dựa trên kinh nghiệm và thực tiễn của các TĐH phương Tây
* Abd Rahman Ahmad, Alan Farley, Moonsamy Naidoo, năm 2012, Analysis
of Government - University relationship from the perspective of Agency Theory,
Journal of Education and Practice (Phân tích m ối quan hệ giữa Trường Đại học và Chính ph ủ từ góc độ lý thuyết ủy quyền), Tạp chí Giáo dục và Thực hành, Tập 3 (số 6):
Bài viết thảo luận về các khía cạnh chung của Lý thuyết ủy quyền, sự liên quan của nó
với việc nghiên cứu mối quan hệ giữa Chính phủ và TĐHCL Các tác giả đã chỉ ra lý
do cho sự phù hợp của Lý thuyết ủy quyền đối với quan hệ Chính phủ - TĐHCL
1.2 Tình hình nghiên c ứu ở trong nước đối với những vấn đề lý luận trong
th ực hiện tự chủ về tổ chức của trường đại học công lập
1.2.1 Đối với sách tham khảo
* Phạm Phụ (2004), Về khuôn mặt mới của giáo dục đại học Việt Nam, Nhà
xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh: Với tính chất là tập hợp của nhiều bài viết thì phần rất đáng chú ý trong tài liệu của GS Phạm Phụ năm 2004 là những trao đổi về cơ chế HĐT ở TĐHCL Có rất nhiều mô hình và nhiều tên gọi khác nhau để
chỉ HĐT, như Board of Trustees, Board of Regents, Board of Governors, University Board, University Council, University Court, v.v nhưng tất cả đều có bản chất là một
“Hội đồng cai quản” (Governance), có thẩm quyền cao nhất trong cơ cấu của một TĐHCL Các nghiên cứu đi sâu vào luận giải chức năng, nhiệm vụ của HĐT với những quyết định tập thể trong vai trò làm cầu nối giữa nhà trường và chủ sở hữu cộng đồng;
là thiết chế được chủ sở hữu cộng đồng ủy thác cả về quyền sử dụng, quyền đại diện pháp lý lẫn một phần quyền định đoạt lợi ích phát sinh để đảm bảo giá trị kinh tế - xã
hội của nhà trường, đáp ứng được những nhu cầu và những quan tâm của chủ sở hữu
Trang 22cộng đồng Những luận giải của các tác giả đã chỉ ra một nút thắt về lý luận đối với TCĐH từ góc nhìn về tổ chức TĐHCL
Bên cạnh đó, các tác giả cũng nhận diện về mối quan hệ trong nhà trường, theo
đó, HĐT là thiết chế có trách nhiệm tối cao đối với xã hội, còn về mặt thẩm quyền thì chỉ đứng sau chủ sở hữu cộng đồng và Nhà nước Một nhiệm vụ quan trọng của HĐT
là bầu chọn Hiệu trưởng
Các bài viết cũng đề cập đến cách thức kiểm soát hoạt động trong nhà trường
với nguyên tắc chỉ kiểm soát những chính sách đã được thiết lập và qua ba cách: (1) Báo
cáo của Hiệu trưởng về các chính sách đã được thiết lập, (2) sử dụng người kiểm tra bên ngoài trường về một chính sách cụ thể nào đó, phổ biến là cách sử dụng kiểm toán trong tài chính và (3) thanh tra trực tiếp hay thanh tra tại chỗ của HĐT về một chính sách nào đó, có thể bằng cách lựa chọn ngẫu nhiên hay quy định định kỳ
Cuốn sách đề cập chủ đề dịch vụ GDĐH có là một dạng hàng hóa hay không? Theo các tác giả, GDĐH thường được Nhà nước cung cấp một phần và thị trường cung
cấp một phần Cũng có nghĩa là Nhà nước gánh chịu chi phí một phần, người dân gánh chịu chi phí một phần Vậy, cũng không bất hợp lý khi quan niệm dịch vụ GDĐH là
một loại hàng hóa và không đánh đồng hoàn toàn giáo dục là hàng hóa, bởi giáo dục luôn có ý nghĩa nhân văn Đây cũng chính là một trong những luận điểm cần thiết để
luận giải một cách rộng sâu về mối quan hệ nền tảng điều chỉnh cơ chế tự chủ và TNGT của TĐHCL
Cuốn sách đề cập đến vấn đề cơ cấu và tổ chức quản lý hệ thống Theo cách tiếp
cận của cuốn sách, để quản lý hệ thống GDĐH, mô hình phân cấp quản lý giữa trung ương
và các cơ sở đại học của các nước khá khác nhau Nhưng nhìn chung, đa số các nước có cách phân chia thẩm quyền theo kiểu “đuôi nặng”, nghĩa là thẩm quyền tập trung chủ yếu
ở cấp khoa/bộ môn/giảng viên hoặc ở cấp TĐHCL Nếu nói riêng ở cấp TĐH thì TĐHCL thường có một HĐT là một hội đồng quyền lực để quản trị nhà trường Về thủ tục ra quyết định, thường phối hợp cả ba mô hình theo kiểu Hiệp hội (Collegium), kiểu hành chính và
kiểu doanh nghiệp với trọng số khác nhau tùy loại TĐH Việt Nam trái lại, về mặt tổ chức quản lý, thẩm quyền tập trung nhiều ở cấp Bộ chủ quản, nghĩa là phân chia thẩm quyền theo kiểu “đầu nặng” Về nội dung quản lý, chưa chú trọng đúng mức việc xây dựng chính
Trang 23sách công GDĐH và tính hiệu quả/ hiệu suất của cả hệ thống Còn nói riêng, ở cấp TĐHCL, quyền lực chủ yếu tập trung vào Ban Giám hiệu, ra quyết định cơ bản theo kiểu hành chính Trong khi đó, vấn đề trách nhiệm xã hội của các TĐHCL lại gần như chưa được đặt ra Đây là nhận xét về hạn chế của TCĐH ở Việt Nam với góc nhìn quản lý công khá chuẩn xác, giúp cho NCS khai thác thêm trong luận án của mình
Cuốn sách đề cập đến vấn đề xây dựng chính sách công về GDĐH Khi nói về chính sách công đối với GDĐH thì khó khăn mang tính thế kỷ, xuyên quốc gia đối với
mọi TĐHCL là bài toán cân bằng giữa chất lượng, hiệu quả và chi phí tài chính Cuốn sách đưa ra tư duy hiện đại về GDĐH, với cách tiếp cận, trong thời đại ngày nay, nếu không coi giáo dục là hàng hóa, con người, xã hội, TĐH sẽ không biết cư xử với nó thế nào cho đúng Rốt cuộc sẽ là chắp vá, cắt dán và sửa chữa lung tung Đây liệu có phải
là điểm mấu chốt của cơ sở khoa học để luận giải cho những nút thắt về tự chủ - QLNN
về GDĐH, tự chủ và TNGT của TĐH hay không cũng chính là một câu hỏi lý luận mà NCS cần quan tâm trong luận án của mình
Cuốn sách có những gợi ý khoa học cho phép luận giải về cơ sở của mối quan
hệ quản lý công về GDĐH, đó là vấn đề GDĐH và công bằng xã hội Cuốn sách chỉ ra kinh nghiệm của một số nước có trình độ phát triển GDĐH tương tự như Việt Nam khi nghiên cứu vấn đề công bằng xã hội trong GDĐH phải đồng thời với cả ba nhóm vấn
đề: (1) Mối quan hệ giữa công bằng xã hội, chất lượng và hiệu quả (tài chính); (2) các
chỉ số công bằng xã hội (giới tính, vùng miền, sắc tộc, trạng thái kinh tế - xã hội ) trong thực trạng và sự biến thiên của chúng trong quá trình mở rộng GDĐH; (3) các
yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận, được tham dự GDĐH
Về cơ bản, cuốn sách có diện phổ quát khá rộng và sâu về TCĐH theo cách
tiếp cận hệ thống bộ máy thể chế với nền tảng lý luận là mối quan hệ giữa Nhà nước và TĐHCL từ góc nhìn bản chất, vai trò của cả hai phía trong thực thi và đáp ứng nhu cầu
về quyền được học tập của người dân trong xã hội Cuốn sách cung cấp tri thức cần
thiết cho việc nghiên cứu về TCĐH liên quan đến tổ chức, với một số gợi ý rất quan
trọng về cơ chế vận hành mối quan hệ bên trong và bên ngoài khi TĐHCL tự chủ và thực hiện TNGT về tổ chức, về ứng xử của các chủ thể giao, phân quyền (Nhà nước)
và chủ thể nhận ủy quyền để thực hiện quyền TCĐH (TĐHCL) trước hàng loạt các vấn
Trang 24đề đặt ra đối với quyền lợi và sự hiện diện của chủ thể thứ ba (người học - cộng đồng
xã hội); vấn đề lợi ích và giải quyết xung đột lợi ích giữa các bên; vấn đề trách nhiệm
nhà nước đối với an sinh xã hội; vấn đề chất lượng, hiệu quả GDĐH và bài toán về tài chính phục vụ bộ máy, nhân sự, hoạt động GDĐT trong điều kiện tự chủ…
* Đinh Tuấn Minh, năm 2017, “Thị trường hóa cung ứng các dịch vụ công tại
Vi ệt Nam”, Nhà xuất bản Tri thức Với tính chất như báo cáo thuộc Dự án “Phát triển
n ền kinh tế thị trường Việt Nam”, do Viện Friedrich Naunman Việt Nam tài trợ, cuốn
sách cung cấp một khuôn khổ phân tích dựa trên thị trường kinh tế học một thể chế mới như là công cụ để phát triển và có giá trị tham khảo rất quan trọng cho hoạt động cung ứng vụ công trong lĩnh vực GDĐH tại Việt Nam
* Phạm Thị Thanh Hải, năm 2018, “Tự chủ đại học trong bối cảnh đổi mới
giáo d ục” (nghiên cứu trường hợp Đại học Quốc gia Hà Nội), Nhà xuất bản Đại học
Quốc gia: Cuốn sách là tập hợp của một số các bài nghiên cứu về TCĐH ở Việt Nam
từ thực tiễn của một số TĐH
* Nguyễn Xuân Xanh, năm 2019, “Đại học - Định chế giáo dục cao thay đổi
th ế giới”, Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh: sách giới thiệu những vấn
đề chung liên quan đến TCĐH trong bối cảnh đổi mới GDĐH
* Nguyễn Mạnh Hùng, Trần Khánh Đức (đồng chủ biên), năm 2020, “Quản trị
t rường đại học thông minh 4.0 và xếp hạng đại học theo mô hình QS”, Nhà xuất bản
Đại học Quốc gia Hà Nội: Sách gồm 12 chương, trong đó có những nội dung đề cập
trực tiếp đến vấn đề QLNN về GDĐH; về lý thuyết tổ chức và quản trị nhà trường hiện
đại, vốn là một trong những đích hướng đến của thực hiện tự chủ về tổ chức của TĐHCL
1.2.2 Đối với bài nghiên cứu
* Lương Xuân Hà, năm 2007, “Đại học Pháp đối diện trước quyền tự chủ” tại
Tạp chí Tia sáng (số 22) Bài viết chứa đựng những thông tin quan trọng liên quan đến
Luật về quyền TCĐH được ban hành ở Pháp Bài viết cho thấy một thực tế mà GDĐH Pháp phải đối diện, đó là TCĐH đồng nghĩa với việc TĐHCL phải tự bơi, tự quyết định số phận của mình, chấp nhận quy luật của thị trường
* Trần Thị Bích Liễu, năm 2007, “Các cơ sở để cụ thể hóa cơ chế tự chủ, tự
ch ịu trách nhiệm của các trường đại học ở Việt Nam”, Tạp chí Giáo dục (số 174), bài
Trang 25viết tập trung luận giải cơ sở lý luận của tự chủ, tự chịu trách nhiệm TĐHCL, đó là dựa trên nền tảng vận hành của kinh tế thị trường, yêu cầu xã hội và quyền lợi của con người Bài viết nhấn mạnh trách nhiệm của TĐHCL dựa trên quy luật của thị trường (công khai thông tin, xây dựng năng lực và cấp kinh phí dựa trên kết quả hoạt động)
* Lâm Quang Thiệp, năm 2017, “Về mô hình quản trị và quản lý cho giáo dục
đại học Việt Nam”, đăng tại “Kỷ yếu Hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một
s ố điều của Luật giáo dục đại học”: Bài viết phân tích về mối quan hệ giữa HĐT và
Hiệu trưởng TĐHCL, theo đó HĐT lãnh đạo và quản trị TĐH qua Hiệu trưởng chứ không phải trực tiếp tác động đến bộ máy của Hiệu trưởng Bài viết còn chỉ ra khó khăn khi áp dụng mô hình quản trị và quản lý mới ở các TĐHCL ở Việt Nam thời gian tới
* Đặng Ứng Vận, năm 2017, “Tự chủ đại học Việt Nam: Nội dung, nguồn lực
và trách nhi ệm”; Đặng Văn Định, năm 2017, “Tự chủ đại học, thực trạng và giải pháp ”; Đặng Bá Lãm, năm 2017, “Tọa đàm về thực trạng và các giải pháp hoàn thiện chính sách, pháp lu ật tự chủ đại học”, tại “Hội nghị Tham vấn chuyên gia về tự chủ đại học”: Theo các tác giả, điều quan trọng đối với TCĐH về tổ chức là Hiệu trưởng
luôn được chính nhà trường chọn Do vậy, khi bàn về HĐT, tác giả đã chỉ rõ một số hạn chế của thiết chế HĐT hiện nay
* Nguyễn Quang Giai, năm 2018, “Tự chủ đại học và mô hình quản trị đại học
t ự chủ” tại “Kỷ yếu Hội thảo Giáo dục 2018 về giáo dục đại học - chuẩn hóa và hội
nh ập quốc tế” Bài viết nêu quan điểm nghiên cứu về TCĐH thường tập trung vào mối
quan hệ hay mức độ kiểm soát của Nhà nước đối với cơ sở GDĐH, từ đó giúp có sự nhận diện tính ưu việt của TCĐH là đề cao sứ mạng tuyên bố, chú trọng chất lượng, phát huy nội lực, khai thác ngoại lực, liên tục đổi mới, quản trị hiệu quả, chú trọng chất lượng
* Trần Ngọc Giao, năm 2018, “Quản lý nhà nước về giáo dục đại học thực
tr ạng trong sự so sánh và một số đề xuất”, đăng tại “Kỷ yếu Hội thảo Giáo dục 2018: Giáo d ục đại học - Chuẩn hóa và Hội nhập quốc tế” Bài viết phân tích bản chất của
QLNN về GDĐT là sự đảm bảo những cam kết của Nhà nước đối với sự phát triển của GDĐT, đưa ra so sánh về thực hiện cam kết này trong mối tương quan với một số quốc gia ở khu vực châu Á, từ đó nhận xét sự tương đồng giữa Việt Nam và những quốc gia này trong tiếp cận thực hiện tự chủ về tổ chức trên thể chế và sự bất cập trong thực hiện
thể chế này hiện nay
Trang 26* Phạm Thị Thu Hồng, năm 2019, “Kinh nghiệm quốc tế về cơ chế tự chủ của
các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực giáo dục và hàm ý cho Việt Nam”, đăng
tại “Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Cơ chế tự chủ đại học đối với các trường đại học công
l ập, vấn đề đặt ra và vai trò của Kiểm toán nhà nước” Bài viết cung cấp thông tin về
sự hình thành TCĐH ở một số nước, như Hàn Quốc, Indonexia, Thái Lan, trên cơ sở
đó, đưa ra ý kiến có tính tham khảo cho Việt Nam, như chính phủ khuyến khích các đơn vị cung cấp dịch vụ công phải sáng tạo, tập trung vào việc cung cấp dịch vụ theo cách mới Đây là gợi ý tốt cho luận án khi bàn về giải pháp nâng cao năng lực của TĐHCL trong thực hiện tự chủ về tổ chức
1.2.3 Đối với luận án
* Phan Huy Hùng, năm 2011, “Quản lý nhà nước theo hướng đảm bảo quyền
t ự chủ, tự chịu trách nhiệm của các trường đại học ở Việt Nam”, chuyên ngành Quản
lý Hành chính công, Học viện Hành chính Quốc gia, Hà Nội: Trong luận án, TCĐH nói
chung và tự chủ về tổ chức nói riêng được giải quyết theo hướng gắn chặt với mối quan
hệ đa chiều giữa sứ mệnh, tầm nhìn, vai trò của TĐH và QLNN về GDĐH, trong đó TĐH mang lại lợi ích công, góp phần quan trọng vào sự phát triển quốc gia, còn Nhà nước có trách nhiệm tạo môi trường đảm bảo phát huy tốt nhất vai trò của TĐH Thách thức của TCĐH hay rào cản của cơ chế ra quyết định này có liên quan đến mối quan hệ phân quyền giữa Nhà nước và TĐH Nhận thức từ phía Nhà nước khi thực hiện thẩm quyền quản lý GDĐH rất dễ dẫn đến khả năng bị tuyệt đối hóa, theo cả hai hướng:
Hoặc đề cao, hoặc gây e ngại từ phía chủ thể trao quyền “Rào cản chính trị” của mối quan hệ giao và phân quyền giữa Nhà nước và TĐH có liên quan đến sự tự vệ quốc gia,
với sự luận giải cho những băn khoăn rằng, khi giao quyền cho TĐH, liệu Nhà nước có thoái thác trách nhiệm của mình? Đây là điểm sáng về lý luận của luận án Từ đó, luận
án định nghĩa về TCĐH là khả năng hành động chủ động mang tính pháp lý về các mặt
học thuật, tài chính, tổ chức và nhân viên của tổ chức TĐH, là điều kiện cần để giúp các TĐH thực hiện tốt sứ mệnh của mình, nó có tính tương đối và chịu ảnh hưởng bởi chiến lược điều kiện hệ thống GDĐH của Nhà nước Khái niệm tự chịu trách nhiệm theo luận án là trách nhiệm báo cáo hay giải thích kết quả hoạt động một cách ngay
thẳng và trung thực cho các bên liên quan trong việc cung cấp dịch vụ GDĐH và sử
Trang 27dụng nguồn lực Vấn đề điều kiện và sự cân bằng tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo tác
giả là sự đánh đổi, trả giá, tự do trong khuôn khổ, quyền bình đẳng trong cơ chế vận hành quyền của ba bên trong quan hệ cung cầu về dịch vụ đào tạo
Luận án tập trung nghiên cứu lý luận về QLNN đảm bảo tự chủ, tự chịu trách nhiệm của TĐH, làm rõ khái niệm QLNN từ góc độ lý luận chung, khoa học quản lý công và quản trị học, trên cơ sở ba trụ cột là chủ thể, khách thể và mục tiêu QLNN về GDĐH Luận án nêu được vai trò là “bà đỡ” của QLNN đối với TCĐH thông qua việc
tạo dựng môi trường đảm bảo cho sự hiện thực hóa TCĐH, giảm thiểu sự can thiệp sâu vào chức năng vốn thuộc về TĐH, để TĐH tăng cường năng lực cạnh tranh và vượt qua những thách thức ban đầu của quá trình TCĐH Luận án chưa đi sâu phân tích mặt thuận lợi và hạn chế của vai trò này, mặc dù đã phân tích khá cơ bản nội dung, phương
thức QLNN về GDĐH đảm bảo quyền TCĐH, nhất là thông qua 4 mô hình quản lý vĩ
mô Luận án đã giới thiệu kinh nghiệm QLNN về GDĐH đảm bảo quyền tự chủ ở Pháp, Trung Quốc, Singapore, Hoa Kỳ Luận án dành một phần đáng kể số trang nghiên cứu để bàn về QLNN trong GDĐH đảm bảo quyền TCĐH, thông qua ba nhóm nội dung là cơ cấu tổ chức và thẩm quyền QLNN về GDĐH; cơ chế tự quản và sự quản
lý của nhà nước; thực trạng đảm bảo của Nhà nước đối với TĐH
Luận án nêu và làm sáng tỏ những đề xuất về giải pháp đổi mới QLNN đảm
bảo TCĐH Luận án đề cập đến mô hình QLNN đảm bảo quyền TCĐH theo hướng tái
cơ cấu tổ chức và thẩm quyền QLNN về GDĐH với ba lớp: (1) Lớp QLNN về GDĐH thông qua quyền hành pháp thuần túy, đó là quản lý và điều hòa; (2) lớp quản lý trung gian thực hiện chính sách với các tổ chức đệm độc lập; (3) lớp quản lý do TĐH thực
hiện thực hiện chức năng bán tự chủ, bán độc lập, giảm thiểu sự chỉ đạo cùng lúc từ nhiều ngành đối với cùng nội dung công việc của TĐH, phi tập trung một số nội dung quản lý,
có sự tách biệt giữa quản lý vĩ mô và quản lý với tư cách chủ sở hữu TĐH của Nhà nước Phân định chức năng QLNN với chức năng cung cấp dịch vụ GDĐH Luận án nêu được tên gọi của các đầu mục thuộc nội dung xây dựng chính sách can thiệp phù
hợp với hoàn thiện thể chế TCĐH mà chưa đi sâu giải quyết thấu đáo từng vấn đề
Tựu chung, QLNN hoàn toàn có thể được thực thi theo cách bảo vệ và thúc đẩy TCĐH với điều kiện có sự hiện hữu của môi trường phù hợp TCĐH thời điểm
Trang 28những năm 2007 tại Việt Nam đang tồn tại với tư cách vấn đề hơn là giải pháp để nâng vai trò cũng như hiệu quả hoạt động của TĐH Việc tăng TCĐH phải song hành với phi tập trung những công việc thuộc phạm vi quản trị của TĐH và đảm bảo TCĐH phải trên cơ sở thực hiện đồng bộ các giải pháp (giải quyết tốt mối quan hệ giữa QLNN, quản trị đại học tự chủ và trách nhiệm xã hội của cả Nhà nước và TĐH), tái cơ cấu tổ
chức và thẩm quyền quản lý nhà nước về GDĐH, xây dựng cơ chế đệm
* Lương Văn Hải, năm 2012, “Vai trò Nhà nước trong mở rộng quyền tự chủ
c ủa các trường đại học công lập Việt Nam”, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Trường Đại học
Kinh tế Quốc dân, Hà Nội: Đề cập đến quyền TCĐH, luận án dựa trên cơ sở gắn với
vấn đề phân cấp Luận án chỉ ra căn cứ quan trọng đầu tiên để Nhà nước trao quyền cho một chủ thể pháp luật nào đó là tính tự chịu trách nhiệm Luận án cho rằng, TCĐH
là phương thức thực hiện việc ủy quyền quản lý trong mối quan hệ giữa Nhà nước và
TĐH Luận án nghiên cứu các nguyên tắc giao quyền TCĐH Luận án luận giải quan
điểm, luận cứ của việc Nhà nước mở rộng quyền TCĐH từ chính sứ mệnh của TĐH trong việc huy động trí tuệ và tâm huyết của cả xã hội Mở rộng quyền TCĐH vừa là yêu cầu tự thân của TĐH, vừa là yêu cầu tự thân của Nhà nước trong việc san sẻ gánh
nặng của quản lý vi mô để tập trung vào chức năng, nhiệm vụ quản lý vĩ mô đối với GDĐH Nhưng cách hiểu này cần cân nhắc, bởi thực chất thì tự chủ hay không tự chủ
sẽ không thể chỉ nhìn từ yếu tố chi phối hoạt động mà còn phải từ quyền tự quyết, tự do hành động của TĐH Luận án đã nêu ra bốn phương thức (hoặc bốn mô hình) QLNN trong điều kiện mở rộng quyền TCĐH (mô hình Nhà nước kiểm soát; mô hình Nhà nước giám sát; mô hình tự chủ đại học tuyệt đối; mô hình hỗn hợp) Luận án chỉ ra căn
cứ lựa chọn mức độ tiêu thức về quyền TCĐH (tính chịu trách nhiệm - tính hiệu quả - tính hiệu lực) Cơ sở để đo lường chính là hệ thống mục tiêu trong và mục tiêu ngoài
của quản lý GDĐH từ góc nhìn của Nhà nước, TĐH và xã hội
Luận án tiếp cận chức năng QLNN đối với TĐH tại Việt Nam trên cơ sở bốn chức năng (định hướng, tổ chức, tạo môi trường, kiểm tra/ kiểm soát/ điều chỉnh) Đây chính là gợi mở tốt của luận án để NCS tiếp tục làm sâu sắc thêm trong luận án của mình Luận án cũng đề cập đến vấn đề kinh nghiệm quốc tế trong việc Nhà nước mở
rộng quyền TCĐH Từ đây, luận án đi sâu phân tích để chỉ ra bản chất của của hệ
Trang 29thống GDĐH của Hoa Kỳ, đó là tính đa dạng của hệ thống GDĐH, phong phú về chức năng để có giá trị giúp phục vụ cho nhu cầu phát triển đa dạng của xã hội Sự phát triển
đa dạng và nhanh chóng đó được điều khiển bởi không phải sự chỉ đạo thống nhất của
quốc gia mà bởi sự lựa chọn từ cơ chế cạnh tranh của thị trường Đây là điểm cần nghiên cứu tới đây của NCS khi đặt vấn đề có thể ứng dụng vào Việt Nam hay không
Luận án chỉ ra cơ sở giữ ổn định cho sự phát triển, được thiết kế bởi các lực liên kết bên trong chứ không phải bằng những tác động áp đặt trực tiếp từ bên ngoài
Vậy vấn đề cần nghiên cứu tiếp tục đó là việc thiết kế, tạo sức mạnh cho lực liên kết bên trong như thế nào? Nói cách khác, vấn đề về thiết kế hệ thống tổ chức và một hệ
thống quản lý TĐH phù hợp, tương thích và đủ hiệu lực, hiệu quả để TĐH thành công
và đáp ứng yêu cầu xã hội khi cung cấp dịch vụ đào tạo cho xã hội, song hành với chức năng xã hội khác của một tổ chức công lập đặc thù của Nhà nước
Luận án cũng đã cung cấp thông tin quan trọng và hữu ích đối với mô hình
quản lý GDĐH của Nhật Bản Trước đây, mô hình này là sự trái ngược lại với mô hình
của Hoa Kỳ, bởi nó nặng về tính tập trung và thống nhất quốc gia Các hoạt động GDĐT phụ thuộc phần nhiều vào ngân sách nhà nước Nhân sự và tổ chức của trường đều nằm dưới sự quản lý của Nhà nước Cho đến thời điểm năm 2004, tất cả các TĐH quốc gia của Nhật Bản đều chuyển đổi thành công ty đại học quốc gia, các quy định về ngân sách, nhân sự được bãi bỏ Thay đổi về tổ chức đáng lưu ý nhất là trường có Hội đồng quản trị và Chủ tịch Hội đồng quản trị chính là người có quyền lực cao nhất Thành quả
gặt hái được từ tiến trình đổi mới của đại học Nhật Bản rất đáng suy ngẫm từ phương
diện kinh nghiệm quốc tế đối với Việt Nam, đó là có những TĐH ở Nhật Bản đã được
xếp hạng vào top vị trí 100 TĐH uy tín nhất thế giới Luận án còn luận giải về kinh nghiệm của các TĐH ở châu Âu Luận án cung cấp thông tin về việc phần lớn các TĐH
ở châu Âu được quyền quyết định cơ cấu quản trị mà ít có sự can thiệp của pháp luật,
sử dụng cơ cấu quản trị kép, bao gồm Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành phố và Ban giám hiệu Nhà trường được tự lựa chọn hay miễn nhiệm vị trí Hiệu trưởng
Luận án đã có khá nhiều thông tin, phân tích và lập luận sâu sắc về nền tảng lý luận, kinh nghiệm quốc tế về vai trò của Nhà nước trong việc mở rộng quyền TCĐH Quan điểm quyền tự chủ của TĐH là phương thức thực hiện việc ủy quyền quản lý
Trang 30trong mối quan hệ giữa TĐH và Nhà nước mà luận án đưa ra cần được nghiên cứu tiếp
tục về tính khoa học và sự phù hợp với bản chất của TCĐH Về lý luận, xây dựng các
lực liên kết bên trong và xử lý những tác động áp đặt trực tiếp từ bên ngoài như thế nào
để không làm biến dạng quyền TCĐH, đồng thời phát triển bền vững và vận hành hiệu quả quyền TCĐH Lực liên kết bên trong có đồng nghĩa với thể chế, thiết chế và hệ
thống quản trị tổ chức bộ máy, nhân sự TĐH hay không, có vận hành theo nguyên lý tự chủ và trách nhiệm xã hội của TĐH hay không?
1.2.4 Đối với bài đăng trên Website
* Đoàn Mạnh Cương, “Đổi mới quản lý Giáo dục Việt Nam trong nền kinh tế
th ị trường”, http://daotaovhttdl.vn/articledetail.aspx?sitepageid=627&articleid =453,
đăng ngày 18/01/2017 Bài viết đưa ra những cách nhìn nhận tổng thể đối với quan
điểm về giáo dục Việt Nam trong bối cảnh đất nước và thế giới hiện nay để từ đó có cách tiếp cận phù hợp đối với hoạt động QLNN về giáo dục, yếu tố cốt yếu mà luận án
cần xem xét tới khi phân tích vấn đề lý luận cũng như thực tiễn của mối quan hệ giữa Nhà nước và TĐHCL Bài viết cung cấp những kiến thức cơ bản để vận dụng vào luận
án khi đánh giá các yếu tố tác động tới cơ chế TCĐH ở Việt Nam
* Trần Quốc Toản, “Một số vấn đề về cơ chế tự chủ của các trường đại học”,
dai-hoc, ngày phát hành 13/12/2018 Bài viết tập trung phân tích nội hàm quyền tự chủ
http://hdll.vn/vi/nghien-cuu -trao-doi/mot-so-van-de-ve-co-che-tu-chu-cua-cac-truong-về tổ chức của TĐHCL từ đa diện góc tiếp cận và gắn với thực tiễn lịch sử phát triển TCĐH ở Việt Nam Tác giả bài viết thẳng thắn chỉ rõ những hạn chế trong tư duy tiếp
cận về cơ chế này ở Việt Nam như hoặc quá coi trọng quyền tự chủ của TĐHCL, hoặc
vẫn muốn quản chặt các TĐHCL từ phía cơ quan QLNN về GDĐH Bài viết đi sâu phân tích bản chất và nội dung của TCĐH từ góc nhìn của quyền hạn và trách nhiệm
nhà nước đối với GDĐH trong mối tương quan với bản chất và nội dung của quyền
quản trị, quản lý TĐHCL Bài viết còn phân tích cụ thể TNGT của TĐHCL trong quá trình hiện thực hóa quyền TCĐH Từ đó, bài viết đã đưa ra những bình luận sâu sắc về vai trò của Nhà nước và TĐHCL trong cơ chế TCĐH
* Tạp chí Tổ chức nhà nước, “Trao quyền tự chủ đại học của Nhật Bản và kinh
nghi ệm đối với Việt Nam”,
Trang 31https://tcnn.vn/news/detail/45861/Trao-quyen-tu-chu-dai-hoc-cua-Nhat-Ban-va-kinh-nghiem-doi-voi-Viet-Nam.html, ngày đăng: 02/12/2019 Bài
viết trao đổi những thông tin hữu ích về mô hình quản trị đại học tự chủ ở Nhật Bản,
với xuất phát điểm từ thực trạng của nền giáo dục để có những thay đổi về chính sách
và thể chế điều chỉnh GDĐH theo hướng áp dụng mô hình tập đoàn trong quản trị đại học ở Nhật Bản Bài viết cung cấp các thông tin cập nhật về mô hình quản trị hiện nay
của các TĐH ở Nhật Bản, với điểm nhấn đáng lưu ý là việc tăng quyền quyết định cho
Chủ tịch trường và giảm các quyết định mang tính chất tập thể đã thể hiện rõ tầm quan
trọng của chế độ lãnh đạo cá nhân, đảm bảo mọi vấn đề được quyết định nhanh và Chủ tịch là người đứng đầu chịu trách nhiệm về các quyết định của mình Thực tế này dường như có sự khác biệt với cách tiếp cận về Chủ tịch HĐT và HĐT ở Việt Nam
hiện nay Một kinh nghiệm khác từ Nhật Bản là Hội đồng quản lý là hội đồng có cả các chuyên gia bên ngoài trường tham gia vào điều hành quản lý ở nhiều nội dung khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi trường
1.3 Tình hình nghiên c ứu ở trong nước liên quan đến thực tiễn thực hiện
t ự chủ về tổ chức của trường đại học công lập ở Việt Nam
1.3.1 Đối với bài nghiên cứu
* Trần Đức Viễn, năm 2018, “Hội đồng trường trong tiến trình tự chủ đại
h ọc”, đăng tại Kỷ yếu Hội thảo giáo dục năm 2018: “Giáo dục đại học - Chuẩn hóa và
h ội nhập quốc tế”, Ủy ban Văn hóa, giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng và
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Bài viết tập trung phân tích về thiết chế HĐT trong tiến trình TCĐH ở Việt Nam trước khi Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật GDĐH (Luật số 34) Bài viết chỉ ra khá nhiều những quan
ngại, hạn chế, bất cập về HĐT, đánh giá nguyên nhân khách quan, chủ quan của các
hạn chế, bất cập đó Bài viết cũng nêu ra một số khuyến nghị chính sách rất thiết thực
để có sự nhận diện lại về TCĐH và vai trò của HĐT trong điều kiện Luật số 34 sẽ được
hiện thực hóa trong hệ thống cơ sở GDĐH công lập
* Trần Đình Khôi Nguyên, năm 2019, “Thực trạng thí điểm tự chủ đại học trong
định hướng triển khai Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học”,
đăng tại “Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Cơ chế tự chủ đại học đối với các trường đại học
công l ập, vấn đề đặt ra và vai trò của Kiểm toán nhà nước” Bài viết tập trung đánh
Trang 32giá thực trạng thực hiện tự chủ đại học của nhóm trường thực hiện thí điểm tự chủ theo Nghị quyết số 77NQ-CP/2014; cung cấp thông tin về thực hiện tự chủ của 23 trường
với các mặt tự chủ trong đó có tự chủ về tổ chức Bài viết nêu những vấn đề đặt ra trong bối cảnh đã sửa đổi Luật GDĐH năm 2012, trong đó có đề xuất đáng chú ý là kiểm soát vai trò của HĐT đối với thực hiện quyền TCĐH
* Hồ Thanh Phong, năm 2019, “Tổng quan về tự chủ và quản trị đại học ở Việt
Nam ”; Nguyễn Mậu Hùng, năm 2019, “Mô hình quản trị và phương thức tự chủ của
h ệ thống giáo dục đại học thế giới và khả năng ứng dụng đối với hệ thống giáo dục đại
h ọc Việt Nam trong thời gian tới”, đăng tại “Kỷ yếu Hội thảo quốc gia về thúc đẩy
qu ản trị và tự chủ đại học hướng đến thực hiện Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Lu ật Giáo dục đại học 2018” Theo nhận định của tác giả Hồ Thanh Phong, mô hình
quản trị đại học ở Việt Nam sau năm 2013 đã có đổi mới căn bản theo hướng đổi mới
từ hệ thống GDĐH cho đến thành phần, cấu trúc, cơ chế quản lý lãnh đạo, các hoạt động GDĐH, phù hợp với mô hình quản trị đại học hiện đại, chuyên nghiệp, có sự phối hợp nhiều loại quyền lực, đa dạng hình thức sở hữu và đầu tư, có sự phân cấp, phân quyền trong cơ quan QLNN đồng thời trao quyền tự chủ cho các TĐHCL đang phải cạnh tranh
về nguồn lực đầu vào và chất lượng đầu ra Còn tác giả Nguyễn Mậu Hùng cho rằng,
“tự chủ đại học là một phương thức tổ chức hoạt động chứ không phải là chìa khóa vạn năng cho mọi vấn đề của tất cả các nền giáo dục đại học trên thế giới” [20, tr 127]
* Phạm Tất Thắng, năm 2019, “Hoàn thiện pháp luật và đổi mới cơ chế tài
chính nh ằm đẩy mạnh quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam”, tại
“Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Cơ chế tự chủ đối với các trường đại học công lập - Vấn
đề đặt ra và vai trò của kiểm toán nhà nước” Bài viết trao đổi thông tin Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật GDĐH 2018, đó là đã sửa đổi căn bản nội dung về TCĐH theo hướng, tạo hành lang pháp lý để đẩy mạnh TCĐH Sự thay đổi căn bản của Luật số 34 nằm ở quy định về tăng cường phân cấp quản lý cho TĐHCL và tăng thực quyền cho HĐT
* Nguyễn Hữu Đức, năm 2020, “Tự chủ đại học và trách nhiệm giải trình của
chủ sở hữu cơ sở giáo dục đại học”, đăng tại “Kỷ yếu Hội thảo giáo dục Việt Nam
2020: Tự chủ trong giáo dục đại học - Từ chính sách đến thực tiễn”, Ủy ban văn hóa
Trang 33giáo dục Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng: Bài viết có sự phân tích sâu sắc về nhiều
góc độ của thực hiện TNGT, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến hệ thống giám sát và TNGT của HĐT Tác giả phân tích thực trạng thiếu bộ công cụ giám sát các hoạt động GDĐH Tác giả cung cấp thông tin liên quan đến quan điểm tiếp cận theo bộ tiêu chí UPM, đó là giá trị đạo đức, tinh thần khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, trao đổi sinh viên
và chuyển đổi số Tác giả bài viết chia sẻ quan điểm về việc Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương cần thực hiện tốt trách nhiệm đại diện chủ sở hữu nhà nước trong hoạt động đầu tư cũng như điều hành vĩ mô để đảm bảo sự phát triển thống nhất của hệ thống GDĐH quốc gia song song với thực hiện tốt chức năng và vai trò của HĐT để mang lại giá trị thực sự cho thực hiện tự chủ về tổ chức của TĐHCL
* Nguyễn Văn Hưng, năm 2020, “Giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về
tự chủ tại các trường đại học công lập đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đại học”, đăng
tại “Kỷ yếu Hội thảo giáo dục Việt Nam 2020: Tự chủ trong giáo dục đại học - Từ
chính sách đến thực tiễn”, Ủy ban văn hóa giáo dục Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng
Bài viết nghiên cứu và đưa ra một số giải pháp có tính thực tiễn và khả thi nhằm hiện thực hóa TCĐH và tự chủ về tổ chức ở Việt Nam, thời kỳ hậu sửa đổi, bổ sung Luật GDĐH
* Nguyễn Văn Phúc, năm 2020, “Sự tự chủ bền vững của trường đại học nhìn
từ lý thuyết tổ chức”, đăng tại “Kỷ yếu Hội thảo giáo dục Việt Nam 2020: Tự chủ trong giáo dục đại học - Từ chính sách đến thực tiễn”, Ủy ban văn hóa giáo dục Thanh niên,
Thiếu niên và Nhi đồng: Bài viết thể hiện quan điểm khoa học xác đáng, đó là TCĐH vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của TĐH Quan điểm này có giá trị cơ bản đối với sự nhận diện về TCĐH và thực hiện tự chủ về tổ chức của một TĐHCL Có như vậy, cả
cơ quan QLNN về GDĐH cũng như các TĐHCL mới có sự hiểu đúng và thực hiện đúng về hai mặt của TCĐH Bài viết đi sâu phân tích một số nội dung lý luận về việc thực hiện sự tự chủ của các TĐH từ góc nhìn về tổ chức Tác giả đã chỉ ra một số những vướng mắc trong cơ chế thực hiện sự tự chủ của các TĐH ở Việt Nam hiện nay
do chưa có sự rõ ràng về vai trò, chức năng chủ sở hữu của Nhà nước và vai trò quản trị, điều hành hoạt động GDĐT của TĐHCL Theo tác giả bài viết, đây chính là một trong số nguyên nhân vì sao có việc duy trì quá lâu sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động quản trị, quản lý về tổ chức của TĐHCL
Trang 34* Trần Đức Viễn, năm 2020, “Mối quan hệ giữa cơ quan chủ quản và trường
đại học”, đăng tại “Kỷ yếu Hội thảo giáo dục Việt Nam 2020: Tự chủ trong giáo dục đại học - Từ chính sách đến thực tiễn”, Ủy ban văn hóa giáo dục Thanh niên, Thiếu
niên và Nhi đồng: Bài viết tập trung nhận diện thực trạng mối quan hệ giữa cơ quan QLNN về GDĐH và các TĐHCL từ góc độ lịch sử, quan niệm xã hội, từ sự chưa rõ ràng của cơ chế định hướng thị trường trong GDĐH tại Việt Nam… Bài viết đưa ra một số kiến nghị, trong đó đáng chú ý là kiến nghị về nâng cao năng lực hoạt động của HĐT; làm rõ mối quan hệ giữa HĐT và cơ quan quản lý có thẩm quyền; vấn đề cùng vào cuộc và đồng hành của các cơ quan QLNN đối với các nhà trường trong công cuộc TCĐH
1.3.2 Đối với luận án
* Nguyễn Thị Thu Hà, năm 2012, “Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về
giáo dục đại học”, Luận án tiến sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội: Trong luận án,
quan niệm QLNN về GDĐH là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các hoạt động GDĐH, do các cơ quan QLNN tiến hành để thực hiện chức năng, nhiệm vụ do Nhà nước ủy quyền, nhằm phát triển sự nghiệp GDĐH, duy trì trật tự, kỷ cương, thực hiện mục tiêu đổi mới cơ bản và toàn diện GDĐH ở Việt Nam Việc phân cấp QLNN, quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở GDĐH là quá trình thiết kế lại hệ thống và các quy định về trách nhiệm, quyền hạn và tính tự chịu trách nhiệm trong hệ thống giáo dục Quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở GDĐH được pháp luật bảo đảm
Kinh nghiệm quốc tế về quản lý GDĐH, như của Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật
Bản, Nga được luận án tập trung khai thác để chứng mình cho xu hướng phân cấp, phân quyền trong quản lý GDĐH, trên cơ sở sử dụng pháp luật là thước đo chuẩn mực
để điều chỉnh hoạt động GDĐH, khuyến khích xã hội hóa GDĐH nhưng nhà nước vẫn giữ vai trò điều chỉnh
Liên quan đến vấn đề hiệu lực QLNN đối với GDĐH ở nước ta hiện nay, luận
án đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu lực QLNN về GDĐH, nhất là triết lý đổi mới Trên cơ sở triết lý giáo dục hiện đại, cần đổi mới tư duy QLNN về GDĐH cho phù hợp với nhu cầu đổi mới và hội nhập, chỉ rõ những yếu tố tiêu cực để loại bỏ dần,
Trang 35thay vào đó là những yếu tố tích cực, phù hợp với điều kiện thực tế của GDĐH nước ta
và xu thế chung của thế giới
Luận án nhìn nhận vấn đề TCĐH từ góc độ phân cấp giữa các chủ thể liên
quan trong hoạt động QLNN về GDĐH, chú trọng vào đề xuất về phân cấp QLNN về
GDĐH theo đối tượng và theo chức năng, nhiệm vụ Luận án đúc rút kết luận quan
trọng trong nâng cao hiệu lực QLNN về GDĐH phải đạt được các mục tiêu hoàn thiện môi trường pháp lý, đổi mới cơ quan quản lý ở cấp Bộ, đổi mới hệ thống GDĐH và quan trọng hơn là phải bảo đảm quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội thực chất của các
TĐH, cao đẳng trong mọi lĩnh vực hoạt động
* Nguyễn Trọng Tuấn, năm 2019, “Quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại
học công lập ở nước ta hiện nay”, Luận án tiến sĩ Luật học: Luận án làm rõ cơ sở lý
luận về TCĐH cùng các khái niệm liên quan, như quyền TCĐH, điều kiện, vai trò của quyền TCĐH; làm rõ thực trạng việc thực hiện quyền TCĐH của các cơ sở GDĐH công lập ở Việt Nam hiện nay Đồng thời, luận án cũng đề xuất các kiến nghị, giải pháp, khuyến nghị về việc hoàn thiện pháp luật và các công cụ quản lý khác để tăng cường quyền tự chủ cho các cơ sở GDĐH công lập
1.4 Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu liên quan đến thực hiện tự
chủ về tổ chức của trường đại học công lập ở Việt Nam
1.4.1 Liên quan đến những vấn đề lý luận trong thực hiện tự chủ về tổ chức
c ủa trường đại học công lập ở Việt Nam
Các công trình đã cơ bản hình dung được khái niệm, đặc điểm, cơ sở, nội dung
của TCĐH từ các góc độ khác nhau, trong đó có góc độ tự chủ về tổ chức của TĐHCL Các phân tích, lập luận trong các công trình đã công bố mà NCS tiếp cận được cho
thấy, xu hướng TCĐH hiện nay là xu thế tất yếu trong phát triển GDĐH hiện đại
Đối với thực hiện tự chủ về tổ chức của TĐHCL, phần lớn công trình này đều
có sự thống nhất về nhận thức lý luận rằng, cơ sở để thực hiện quyền tự chủ về tổ chức của TĐHCL là dựa trên và chịu sự chi phối sâu sắc của mối quan hệ giữa thẩm quyền QLNN về GDĐH với quyền tự chủ trong quản trị, quản lý và vận hành hệ thống tổ chức của TĐHCL Các công trình đã công bố đều nêu lên vai trò, ý nghĩa, điều kiện để Nhà nước ủy quyền, san sẻ một phần thẩm quyền QLNN về GDĐH cho TĐHCL thông
Trang 36qua phương thức, nội dung, cách thức vận hành thẩm quyền quản lý tự chủ của TĐHCL Lý thuyết ủy quyền được nhận diện là nền tảng lý luận cơ bản đối với quyền
tự chủ và thực hiện quyền về tổ chức của TĐHCL Nhiều cách tiếp cận, nhiều mô hình, kinh nghiệm quốc tế và trong nước về vấn đề này đã được đề cập ở mức độ khác nhau
Từ đây, việc khẳng định TCĐH và tự chủ về tổ chức là quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm
xã hội của TĐHCL đã được xem xét, luận giải khá rõ nét và đa dạng về nhận thức luận Các công trình đã nghiên cứu, phân tích, luận giải một cách cơ bản, bước đầu về sứ
mệnh, cơ cấu, bản chất và cơ chế vận hành của thiết chế HĐT trong mối quan hệ với cơ quan QLNN về GDĐH và Hiệu trưởng TĐH, đồng thời phản ánh vướng mắc và thực
trạng thiếu hiệu quả của thiết chế HĐT
1.4.2 Liên quan đến những vấn đề thực tiễn thực hiện tự chủ về tổ chức của trường đại học công lập ở Việt Nam
Các nghiên cứu khẳng định thành tựu thể chế đối với thực hiện TCĐH nói chung và thực hiện tự chủ về tổ chức của TĐHCL nói riêng là kết quả của sự đổi mới trong tư duy nhận thức và quy định cụ thể về phân cấp, phân quyền từ bộ/ngành chủ quản đã thúc đẩy TĐHCL bước đầu sắp xếp, rà soát, cơ cấu lại tổ chức nhà trường Các công trình đã công bố phân tích đa góc độ hiện trạng chung, riêng của thể chế thực hiện TCĐH và tự chủ về tổ chức của các cơ sở GDĐH công lập nói chung, trong đó có các TĐHCL, chỉ ra hạn chế lớn nhất của môi trường thể chế điều chỉnh việc thực hiện tự chủ
về tổ chức của các TĐHCL ở Việt Nam thời gian qua Đã có sự thống nhất chung trong
kết quả nghiên cứu về thể chế TCĐH ở Việt Nam là nhận diện những vấn đề cần rà soát, sửa đổi, bổ sung và tiếp tục phải được hoàn thiện đối với thể chế này ở Việt Nam
thời gian tới, trong đó nổi lên khá nhiều những vấn đề mang tính thời sự cấp bách đối
với thực hiện TCĐH ở Việt Nam giai đoạn tới đây, như mô hình và phương thức hoạt động của HĐT được thiết lập và điều chỉnh như thế nào trong thể chế nội bộ của các TĐHCL; thống nhất trong triển khai thực hiện các quy định liên quan đến tự chủ về tổ chức trong các TĐHCL theo quy định của Luật số 34; tái thiết, quản lý, duy trì, phát triển mô hình QLNN về GDĐH trong điều kiện các TĐHCL thực hiện tự chủ về tổ chức; vấn đề rà soát, thống nhất các quy định của luật chuyên ngành và luật liên quan trong
điều chỉnh việc thực hiện tự chủ về tổ chức của TĐHCL ở Việt Nam thời gian tới
Trang 37Các công trình đã chỉ ra nguyên nhân, cách thức mà Chính phủ nhiều quốc gia
đã sử dụng trong mối quan hệ với TĐHCL Các nghiên cứu cũng khẳng định, đối với
thực hiện TCĐH ở Việt Nam hiện nay, không có mô hình mẫu để các TĐHCL có thể
áp dụng rập khuôn, do đó, muốn đổi mới toàn diện GDĐH trong tình hình mới thì TĐHCL chỉ có thể làm tốt sứ mệnh của mình khi phát triển trong môi trường thể chế, văn hóa và quản lý công phù hợp với điều kiện tự chủ và thực thi TNGT của từng trường Cần có sự “đổi vai” thực sự, hiệu quả trong quản trị, quản lý, điều hành tổ chức
và hoạt động của TĐHCL, theo đó, Nhà nước phải linh hoạt không chỉ trong vai trò quản lý GDĐH tầm vĩ mô mà còn ở tư cách “Nhà đầu tư” thông thái và có trách nhiệm
xã hội đối với những công việc mà TĐHCL đang thay Nhà nước thực hiện để đáp ứng nhu cầu học tập của toàn xã hội Muốn vậy, TĐHCL phải là chủ thể chính trong quản
lý, điều hành tổ chức và hoạt động GDĐH, chịu trách nhiệm trước các chủ thể liên
quan đến hoạt động này
1.4.3 Những vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu trong luận án
* Đối với những vấn đề lý luận và thể chế
Hầu hết các công trình nghiên cứu đã công bố mà luận án tiếp cận được cho
thấy một thực tế, các khía cạnh lý luận về TCĐH nói chung được tập trung nghiên cứu, luận giải khá nhiều, với những cấp độ sâu rộng khác nhau Trái ngược với kết quả nghiên cứu về TCĐH nói chung, lý luận trong thực hiện tự chủ về tổ chức bộ máy của TĐHCL ở Việt Nam đến thời điểm hiện tại hầu như có rất ít công trình nghiên cứu chuyên sâu, trực diện và tổng thể về lĩnh vực này Chính vì vậy, trong khuôn khổ của
luận án chuyên ngành quản lý công, những vấn đề lý luận trong thực hiện tự chủ về tổ
chức của TĐHCL sẽ phải giải quyết một cách cơ bản và chuyên sâu như sau:
(1) Khái niệm, đặc điểm tự chủ về tổ chức của TĐHCL;
(2) Khái niệm, đặc điểm, nội dung, hình thức, nguyên tắc, công cụ, điều kiện,
yếu tố tác động, phương thức thực hiện tự chủ về tổ chức của TĐHCL ở Việt Nam;
(3) Tiếp tục làm sâu sắc mối quan hệ giữa Nhà nước và TĐHCL trong thực
hiện TCĐH;
(4) Tiếp tục làm sâu sắc vai trò của Nhà nước đối với TĐHCL trong điều kiện
thực hiện quyền tự chủ về tổ chức;
Trang 38(5) Tiếp tục nghiên cứu vấn đề “phân vai” giữa thực hiện chức năng QLNN về GDĐH với tự chủ thực hiện thẩm quyền quản trị, quản lý tổ chức bộ máy của TĐHCL,
từ đó làm sâu sắc chức năng định hướng, tổ chức, tạo môi trường, kiểm tra, kiểm soát, điều chỉnh của Nhà nước trong mối quan hệ với TĐHCL;
(6) Làm rõ vị trí, vai trò của thực hiện quyền tự chủ về tổ chức trong mối quan
hệ với các mặt tự chủ khác của TĐHCL ở Việt Nam thời gian tới
Giải quyết cơ bản, thấu đáo những vấn đề lý luận nêu trên cũng chính là những đóng góp mới về lý luận của luận án đối với hệ thống các vấn đề lý luận về TCĐH nói chung, thực hiện tự chủ về tổ chức của cơ sở GDĐH công lập nói riêng tại Việt Nam
Ngoài ra, luận án cũng đặt trọng tâm vào việc nghiên cứu về thể chế điều chỉnh
việc thực hiện tự chủ về tổ chức của TĐHCL ở Việt Nam Luận án đặt mục tiêu phải
nhận diện, đánh giá được những kết quả, hạn chế, sự bất cập, nguyên nhân của những
bất cập, hạn chế hiện hữu trong thể chế thực hiện tự chủ về tổ chức của các TĐHCL ở
Việt Nam hiện nay Trên cơ sở tổng hợp các thông tin, số liệu về hiện trạng thể chế
thực hiện tự chủ về tổ chức của các TĐHCL hiện nay ở Việt Nam, luận án bước đầu đánh giá, chỉ ra những điểm còn phải tiếp được hoàn thiện đối với với cả hệ thống thể
chế chung của Nhà nước cũng như thể chế nội bộ của TĐHCL trong thực hiện tự chủ
về tổ chức của TĐHCL Luận án phân tích, luận giải những đề xuất hợp lý đối với hoàn thiện thể chế quản lý công về GDĐH và cân bằng giữa năng lực tự chủ tổ chức với chất
lượng và hiệu quả hoạt động GDĐH của TĐHCL
* Đối với hệ giải pháp đảm bảo thực hiện tự chủ về tổ chức của TĐHCL ở
Vi ệt Nam
Lôgic xuyên suốt nội dung các vấn đề lý luận, thể chế, môi trường, điều kiện
thực hiện tự chủ về tổ chức của TĐHCL trong luận án này là việc đề xuất giải pháp
trọng tâm, trước mắt và lâu dài để đảm bảo hiệu quả thực hiện tự chủ về tổ chức của TĐHCL ở Việt Nam thời gian tới Đây là những giải pháp được đề xuất và luận giải
từ cả hai góc độ: (1) Hệ thống QLNN về GDĐH; (2) tổ chức bộ máy của TĐHCL tại
Việt Nam Các nguyên cứu về lý luận thực hiện tự chủ tổ chức của TĐHCL trong luận án này được tiếp cận bằng tư duy, lý luận quản lý công mới và quản trị, quản lý đại học hiện đại
Trang 39về tổ chức của TĐHCL tại Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo (2020 - 2030)
Trong thời gian tới, những nghiên cứu đối với thực hiện tự chủ về tổ chức của TĐHCL tại Việt Nam có ý nghĩa và giá trị ứng dụng rất thiết thực cho hệ thống QLNN
về GDDH và mỗi TĐHCL Bởi vì, thời gian qua, đã và đang tồn tại một quan niệm khá phổ biến về TCĐH, đó là thực hiện tự chủ về tài chính có ý nghĩa quyết định đối với việc Nhà nước giao quyền tự chủ về tổ chức cho các cơ sở GDĐH công lập Đây là một trong số những tư duy lý luận, pháp lý cần được thay đổi khi đặt nó trong mối quan hệ với vấn đề thực hiện tự chủ về tổ chức của TĐHCL Đó cũng là trọng tâm về lý luận cần được giải quyết trong luận án này
Trang 40C hương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN TRONG THỰC HIỆN TỰ CHỦ VỀ TỔ CHỨC
CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM
2.1 Tự chủ đại học ở Việt Nam
2.1.1 Khái niệm tự chủ đại học
Các TĐHCL hiện nay đã thay đổi mạnh mẽ từ mục tiêu đến mô thức hoạt động Phần lớn TĐHCL hiện không còn thụ động trông chờ vào sự bao cấp hoàn toàn của Nhà nước mà đã tự mình tiến về phía thị trường, thể hiện tính chất của mô hình cung cấp dịch vụ đặc thù trong xã hội Xu hướng các TĐHCL từng bước cơ cấu lại hai giá trị nội tại là hàng hóa công và lợi ích tư đã trở lên phổ biến trên thế giới cũng như ở Việt Nam Ý nghĩa lợi ích tư của GDĐH ngày càng rõ ràng, tất yếu, hiện hữu chính đáng và thích hợp trong cơ chế TCĐH Vậy TCĐH là gì? Lịch sử hàng trăm năm của TCĐH (university autonomy) trên thế giới và gần 20 năm qua ở Việt Nam đã cho thấy
sự đa diện trong cách tiếp cận đối với TCĐH
Xét trên phương diện QLNN về GDĐH thì trước khi tiếp cận TCĐH cần hiểu
rõ khái niệm tự chủ Theo cách hiểu thông thường từ góc độ cá nhân thì tự chủ là tự quản lý, điều hành công việc của mình, không bị ai chi phối Còn ở góc độ của tổ chức thì tự chủ là đề cập tới sự hiện hữu của một tổ chức có sự độc lập hoặc có khả năng tự quản lý bộ máy tổ chức và hoạt động của chính tổ chức Với cách hiểu đó, tự chủ gắn với một tổ chức đại học (tức TCĐH) trước hết được nhận diện là yêu cầu về phía Nhà nước Trong tương quan so sánh với phương thức QLNN truyền thống về GDĐH thì
TCĐH là phương thức mới, đồng bộ, nhằm kiến tạo, duy trì và phát triển môi trường GDĐH trong trạng thái vận hành linh hoạt, theo hướng mở và hội nhập, tuân theo sự điều chỉnh của pháp luật, sự điều tiết của quy luật thị trường để cải thiện chất lượng và hiệu quả hoạt động của TĐHCL Việc gia tăng nhu cầu xã hội đối với mở rộng khuôn
viên đại học, chuyển đổi từ giáo dục tinh hoa sang giáo dục đại chúng, kết hợp với sự khủng hoảng kinh tế toàn cầu những năm 70 của thế kỷ XX đã làm giảm đáng kể khả năng hỗ trợ từ phía Nhà nước đối với hệ thống phúc lợi xã hội và cung cấp dịch vụ công đạt tiêu chuẩn, chất lượng, hiệu quả cho người dân, trong đó có dịch vụ GDĐH [55] Tình hình này đã buộc Nhà nước phải tính đến sự thay đổi căn bản cơ chế quản lý